Sunday, April 30, 2017

Bài viết hay(4856)

Một trong những cái dở nhất của ngành văn hoá - giáo dục VC là không dạy cho người sinh ra và lớn lên dưới chế độ CSVN biết nói "cám ơn"và "xin lỗi" nên từ thằng Tổng bí thư cho đến đứa học trò mẫu giáo đã không biết nói "cám ơn"và "xin lỗi". Giá như họ biết nói "cám ơn"và "xin lỗi" thì có lẽ VN sẽ khá hơn rất nhiều. 

Những ngày ấy, mỗi người

30/4/1975 là biến cố của một đất nước, nhưng ngày đó cũng là biến cố riêng của nhiều con người.
Trong dòng chảy tán loạn từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang vào Sài Gòn... có vô vàn những câu chuyện chưa kể. Nguyễn Thị Xuân Phương, cựu phóng viên truyền hình Bắc Việt kể lại rằng bà kinh hoàng nhìn thấy xác thường dân nằm ngập và kéo dài suốt từ đèo Hải Vân xuống Đà Nẵng cũng với dòng người đi bộ, chạy... để tránh Việt Cộng. Còn phóng viên Trần Mai Hạnh của Thông Tấn Xã Việt Nam, người có mặt tại buổi trưa 30/4 với chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc Lập, vừa ra một cuốn sách về 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, đã nói rằng cuối cũng thì điều ông tâm nguyện để lại, là sự thật.
Thỉnh thoảng, tôi vẫn tự hỏi vậy thì vào những thời khắc ấy - kể cả sau đó, những người tôi biết - hay không quen - đang như thế nào, làm gì?
Gia đình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể rằng khi ngày 30/4 ập đến, chương trình biểu diễn tại Nhật của đoàn Hoàng Thi Thơ vẫn chưa chấm dứt, vì vậy ông bị kẹt ở lại, sau đó định cư ở Mỹ. Nhưng con và cháu ông thì lại có cơ hội chứng kiến nhiều điều mà đến mấy năm sau vẫn chưa thể kể cho nhau nghe, vì không thể có thư từ liên lạc, rồi đến khi có, cũng không dám kể gì cho nhau, vì thư luôn bị kiểm duyệt.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là Hoàng Mỵ Thi Thoa và Hoàng Thi Thanh bất ngờ nhìn thấy một đám đông lính Bắc Việt và những thành phần "băng đỏ" đứng trước ngôi nhà của mình tại quận 1, đập cửa, quát tháo. Hai em nhỏ vị thành niên này cùng người cậu của mình bị buộc phải ra khỏi nhà ngay lập tức vì đang ở trong "nhà của tên có tội với nhân dân Hoàng Thi Thơ, nên đã bị chính quyền cách mạng trưng thu".
Tất cả mọi người được sự khoan hồng nên có được 5 phút để trở vào ngôi nhà của mình, lấy 2 bộ quần áo cho mỗi người và ra đi, không kịp đốt nén hương từ giã ông bà. Dĩ nhiên, ngay cả việc đi lấy quần áo cũng có người cầm súng theo kiểm soát vì sợ hai em nhỏ này cất giấu hay tẩu tán tài sản.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gạt nước mắt ra khỏi nhà của mình, đi cùng một người cậu về Gò Vấp, tới một căn nhà khác của ông Hoàng Thi Thơ. Nơi đó, một người em họ của ông Thơ xuất thần trở thành người của cách mạng, chiếm nhà và chỉ mặt Hoàng Vinh, người cháu của ông Thơ nói là đi cho mau, tha không bắt lại vì "khoan hồng", dù là người nhà của Hoàng Thi Thơ, là thành phần "truỵ lạc".
Với Phương, người nhạc sĩ của đôi song ca Lê Uyên Phương lừng danh, thì ông hoàn toàn rơi vào một cú sốc khác thường. Việc chứng kiến một Sài Gòn hỗn loạn và đổ nát, những con đường vất vưởng xác người cùng với loa phóng thanh ra rả về khái niệm "giải phóng" khiến ông bước sang một giai đoạn khác.
Những cảm hứng về nhạc tình, hiện sinh và mộng mơ bị chôn vùi theo mất mát của Sài Gòn. Lê Uyên Phương yêu đương dịu dàng ngày nào giờ đây hình thành hai tập ca khúc Con người, một sinh vật nhân tạo (1973-1975). Mỗi ngày ông ngồi ở cafe vỉa hè, đi bộ dọc theo những con đường phơ phất lá me xanh quen thuộc nhưng giờ đầy các họng súng AK, và tự mình chiêm nghiệm về một thời đại của những kẻ cùng tiếng nói nhưng khác mạch sống.
Cũng như nhiều nhạc sĩ khác bị cú sốc thời cuộc và chuyển khuynh hướng sáng tác tình ca sang hiện thực ca như Phạm Duy (Tỵ nạn ca), Ngô Thuỵ Miên (Em còn nhớ mùa xuân, Biết bao giờ trở lại), Anh Bằng (Nổi lửa đấu tranh, Saigon Kỷ Niệm), Lam Phương (Chiều Tây Đô), Trầm Tử Thiêng (Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, Một ngày Việt Nam)... Phương là một nhạc sĩ khá đặc biệt khi ông dành rất nhiều thời gian viết về những chuyển động quanh mình, về một thế giới mở và tang thương của hàng triệu người Việt, qua tập ca khúc Trại tỵ nạn và các thành phố lớn.
Những ngày ấy, mỗi người, mang vội theo những điều thương mến nhất, bỏ lại tài sản, bỏ lại quê hương... gạt nước mắt chạy đi về vô vọng. Ca sĩ Khánh Ly chạy đến chiếc tàu đi di tản, hành lý quan trọng nhất mà bà mang theo là hai vali đầy những lá thư tình trong đời bà - những lá thư không chỉ là tình yêu mà chứa cả khung trời thơ mộng và bình yên của miền Nam Việt Nam đã mất.
Nhiều văn nghệ sĩ táo tác như bầy kiến bị phá tổ, chạy đến nhà nhau để hỏi thăm tin tức từng ngày về số phận của mình, số phận của thành phố mình đang sống. Họ thì thào với nhau về những biến động khó hiểu từng ngày như Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca vừa bị bắt... Rồi ai đó bị thẩm vấn, và ai đó đã lặng lẽ xuống tàu giờ không còn nghe tin tức.
Thương gia đình, không nỡ bỏ xuống tàu vượt biên, nhạc sĩ Y Vân tiễn một người bạn thân lên đường. Nhưng đó lại là một chuyến tàu vĩnh biệt. Và đó là điều khiến ông trầm uất suốt nhiều năm liền, một ký ức sâu thẳm sau 1975.
Trong một lần nói chuyện với các anh chị đã qua thời khắc 1975, tôi nói đùa rằng một ngày nào đó nên lập một giải thưởng vô địch về người vượt biển nhiều nhất, vì tôi đã từng biết một chị người Công giáo ở khu Hoà Hưng đã tìm cách đi vượt biên 25 lần nhưng đều thất bại. Im lặng nhìn tôi trong tíc tắc, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn chỉ nhà văn Võ Quốc Linh, nói "đây, người vượt biển 26 lần". Rồi chỉ vào mình, anh Tuấn nói "còn mình, là 27 lần".
Vài năm sau 1975, khi nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn tốt nghiệp thủ khoa ngành sư phạm ở Nha Trang, khi bạn bè rủ nhau vui mừng lên bục nhận bằng, thì hiệu trưởng đến bên, ghé tai buồn rầu nói với anh Tuấn "con đừng lên nhận bằng. Công an đã đến tịch thu bằng vì nói gia đình con có vấn đề về lý lịch và có người đi vượt biên".
Nhiều năm sau, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn lang thang khắp các bờ biển miền Nam để tìm đường ra khỏi nước. Niềm tuyệt vọng và khát vọng tự do là sức mạnh lớn nhất giữ anh sống sót qua các trại tù khắc nghiệt nhất.
Ở trại tù nhốt người vượt biển tại Phú Yên, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn bị một cai tù tàn ác luôn tìm cách đẩy anh vào lao khổ, thậm chí dù biết anh là giáo viên, vẫn bắt anh làm công việc mỗi ngày phải hốt phân, gánh đi đổ cho cả trại. Đó là thời gian như địa ngục. Thân thể của ông có tắm bao nhiêu lần cũng không hết mùi hôi, những vết thương nhỏ nhất cứ lở loét chứ không thể lành.
Chuyến đi thứ 27, cuối cùng, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn đến được Úc. Anh xin nhận thêm công việc tiếp nhận và giúp đỡ và người tỵ nạn mới đến, như trả ơn cho những ngày tháng tự do của mình.
Một đêm nọ, nghe tin có một chuyến tàu vượt biên vừa đến. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ra nơi tiếp nhận. Khi đang đi lướt qua những người vừa cập bến, anh bất chợt nhìn thấy một gương mặt quen thuộc mà anh khó có thể quên trong đời: đó chính là viên công an cai tù đã hành hạ anh. Sững người nhìn viên cai tù ấy, ngược lại, nhân vật đó cũng bối rối quay mặt đi, né cái nhìn của anh Tuấn.
Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ôm đầu suy nghĩ suốt nhiều giờ, rồi chọn cách gặp riêng nhân vật cán bộ cai tù đó để hỏi thẳng rằng hắn muốn gì khi đến đây. Chỉ cần một lời tố cáo, cán bộ đó có thể bị trục xuất về Việt Nam, hoặc sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ và đưa ra toà vì tội từng tra tấn và hành hạ tù nhân.
Sợ hãi và tuyệt vọng, viên cán bộ thú thật là hắn đã lỡ yêu một người phụ nữ đã có gia đình là "Mỹ Nguỵ" nên không còn cách nào khác là từ bỏ tất cả, cùng người yêu vượt biển, mà không ngờ có kết cục như hôm nay.
Khi kể cho tôi nghe chuyện này, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ngừng giây lát, rồi nói rằng "không biết bây giờ tay đó sống ở đâu đó, trên nước Úc này". Anh đã im lặng và điền hồ sơ cho viên cán bộ cộng sản đó cùng người yêu của hắn tỵ nạn ở Úc. Vết thương chưa bao giờ của anh, một người bị hành hạ trong trại giam cũng như bị xô đẩy ra khỏi đất nước mình, cũng đã thanh thản chữa lành với lòng tha thứ.
Thật nhiều điều để ghi lại, từ hàng triệu người sống sót sau biến cố tháng 4/1975. Cứ vào thời điểm này, nhà nước Việt Nam gọi là đại lễ và tổ chức ăn mừng. Còn hàng triệu người Việt khác thì vào tưởng niệm, như buộc phải coi lại cuốn phim bi kịch chung cũng như những đoạn phim cay nghiệt của riêng mình.
Những ngày ấy, mỗi người. Những cuốn phim một chủ đề nhưng có muôn vạn phiên bản ray rứt đến nhiều đời sau.
Và trong một ngày ăn mừng "đại lễ" của nhà nước Việt Nam, tôi chợt nhớ đến viên cán bộ cai tù vô danh ấy. Tôi tự hỏi, ông ta sẽ đứng đâu giữa lằn ranh ngày 30/4 mỗi năm ấy? — tuankhanh

Viết cho tháng Tư

+Nhớ hồi còn ở nhà mình chơi với một chị bạn là dân Hà Nội, chị bạn lại có mấy người bạn đều sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, trong đó có hai người mình còn nhớ khá rõ.
Một người sang Ý theo diện lập gia đình, sống ở Ý nhiều năm, nhìn bên ngoài thì trông như người phương Tây với tóc nhuộm vàng hoe, chuyên mặc đầm, thích khiêu vũ, nhưng đầu óc thì chẳng hội nhập chút nào với xã hội văn hóa, tư tưởng tự do dân chủ ở nước người; vẫn rất “đỏ”, tích cực bênh nhà nước VN, về nước bỏ tiền ra làm một tập thơ lèng xèng trong đó chủ đề là ca ngợi ngày 1 tháng Năm, 19 tháng Năm, 2 tháng Chín v.v…Ví dụ, nhớ có lần mọi người nói chuyện sinh viên, dân chúng đi biểu tình chống Trung Quốc bị nhà nước sách nhiễu, bắt bớ, vị này ngay lập tức nói liền: Bắt là phải, cho chúng nó đi biểu tình để chúng nó làm loạn à.
Vị thứ hai cũng “đỏ” không kém, suốt ngày tự hào một thời từng là văn công mang dép râu đi vào chiến trường những năm chống Mỹ, nghe ai “nói xấu” nhà nước VN là lập tức đứng dậy bỏ về, không thích “đế quốc Mỹ”, thường hay nói mình chả thích sống ở nước ngoài, đời sống con người thiếu tình cảm lắm, chỉ thích ở VN thôi…
Thế nhưng cái vị sống ở Ý thì vẫn ở Ý là chính, còn cái vị không thích sống ở nước ngoài kia ngoảnh qua ngoảnh lại vài năm sau khi mình hỏi thăm chị bạn thì hóa ra đã kịp lấy một ông Việt kiều và sang Mỹ sống. Thỉnh thoảng vẫn về VN, vẫn kể tội ông chồng, kêu không hợp đủ thứ, nhưng vẫn không ly dị, mới năm ngoái đây đã giơ tay tuyên thệ, đầy long trọng, đầy tự hào khi được là công dân Mỹ!
Trên đây chỉ là hai mẩu chuyện nhỏ về hai con người cũng bình thường trong xã hội, mình còn gặp biết bao nhiêu người khác, sinh ra và lớn lên hoàn toàn trong chế độ này, gia đình con em cách mạng, bây giờ vừa có cơ sở làm ăn ở nước ngoài vừa đi đi về về làm ăn, thăm gia đình trong nước. Những người này bản thân họ và con cháu họ vừa được hưởng đời sống văn minh, y tế, giáo dục tốt ở nước ngoài, vừa muốn về chơi, làm ăn kiếm tiền thêm trong nước. Ngồi với những người không thích chế độ thì họ nói theo giọng của những người đó, cũng phê phán nhà nước, phẫn nộ vì những trái tai gai mắt trong xã hội. Ngồi với đám quan chức, công an thì họ lại nói theo ngôn ngữ của đám quan chức, công an…, chỉ trích, lên án đám hải ngoại chống phá nhà nước, đám "dân chủ" kích động nhân dân âm mưu phá hoại sự ổn định của đất nước...
Đó là chưa nói đến những người có quyền có chức, có vị thế trong guồng máy của nhà nước cộng sản, đám tư bản “đỏ”, con ông cháu cha thụ hưởng mọi bổng lộc của chế độ, có thể nói không ngoa rằng hơn 70% đám này cũng có cơ sở bãi đáp sẵn ở nước ngoài, dù vẫn đang còn ngồi ở VN để tiếp tục vơ vét, nhưng hễ về hưu hoặc có biến là vù ngay sang nước khác sống ung dung. Thế là ở trong nước vừa sung sướng vì ngồi trên đầu trên cổ nhân dân, tha hồ chia chác, vơ vét, mà lại vẫn sướng khi đã hạ cánh ở nước người.
Không nhớ chính xác ai đó nói, những người “cộng sản” làm cách mạng không phải để giải phóng nhân dân mà là để giải phóng chính họ!
+Năm 1954, hơn triệu người dân chạy từ Bắc vô Nam (nếu mà được phép cho đi thoải mái, con số này chắc chắn cao hơn nhiều). Những ngày cuối cuộc chiến, hàng trăm ngàn người từ miền Trung hớt hơ hớt hải, tất tả chạy về Sài Gòn, nơi trú ẩn cuối cùng, trong khi đoàn xe của quân đội Bắc Việt đuổi sát sau lưng và đạn pháo nhắm thẳng vào đoàn người tay không, bồng bế nhau chạy. Có những người may mắn hơn chạy thoát trong những chuyến máy bay sang Mỹ hay trên những con tàu lênh đênh sang nước khác.
Quân đội Bắc Việt đuổi đến tận Sài Gòn. Sài Gòn mất.
Chỉ một thời gian ngắn sau, hàng triệu người bỏ nước ra đi, trong đó một nửa cập bến an toàn, một nửa bỏ xác dưới đáy biển sâu. Và trong suốt hơn 40 năm qua, dòng người ra đi đó vẫn chưa hề dừng lại, chỉ có điều là bây giờ người ta ra đi bằng nhiều con đường khác nhau.
Nhưng điều trớ trêu nhất là bây giờ trong hàng ngũ bỏ nước ra đi, đông không kém là những người của “bên thắng cuộc” và con cháu họ. Và còn chua chát hơn, những người của “bên thua cuộc” trước đây hầu hết ra đi với hai bàn tay trắng, còn bây giờ những người “chiến thắng” thì hầu hết mang theo cả mớ tài sản “khủng” cướp được của nhân dân và của việc bán rẻ đất nước!
Vậy có cái ngày 30.4.1975 để làm gì? Cả một cuộc chiến tranh dài hai mươi năm với cái giá máu xương quá đắt của hàng triệu người ngã xuống và một đất nước tan hoang, kiệt quệ, một món nợ khổng lồ với các nước Liên Xô, Trung Cộng và khối XHCN mà đảng cộng sản phải trả cả vốn lẫn lời hàng chục năm sau chưa hết, để làm gì?
Câu trả lời thật ra rất đơn giản: Là để đất nước này, nhân dân này thuộc toàn quyền sử dụng của đảng và nhà nước cộng sản, thậm chí chỉ thuộc về một nhúm người, để họ có quyền chia chác, cho thuê, cầm cố, đem vay, bán rẻ, cho không…ai thì cho, muốn làm gì thì làm, muốn đè đầu cưỡi cổ hơn 90 triệu người dân như thế nào tùy ý!
Mục tiêu lớn nhất của đảng cộng sản trước ngày 30.4.1975 là cướp quyền lực, giành quyền lực hay nói cách khác, giành toàn quyền lãnh đạo đất nước, bằng mọi giá. Mục tiêu lớn nhất của đảng sau ngày 30.4.1975 là giữ quyền lực, bằng mọi giá. Quyền lợi của đất nước, của nhân dân chưa bao giờ được đếm xỉa đến!
+Ngày 30.4.1975 là ngày cả dân tộc VN kết thúc một cuộc chiến tranh cho đến giờ vẫn chưa thể thống nhất được tên gọi là gì, với cái giá phải trả quá đắt, để từ đó bước vào một chế độ độc tài toàn trị tồi tệ và phá hoại nhất trong lịch sử VN.Song Chi.

Việt Nam cần một "Ngày xin lỗi"

Có thể đây là một giấc mơ, nhưng là một giấc mơ đẹp cho nên cứ thả lỏng tâm hồn mà rung động với nó.
Nguồn cảm hứng bắt đầu từ "Thanksgiving, Lễ Tạ ơn" của Mỹ.
Người Mỹ có ngày lễ mà ý nghĩa của nó không cần phải bàn cãi cũng thấy tính nhân bản của xã hội Mỹ đã tác động lên văn hóa của một đất nước có hàng trăm chủng tộc khác nhau nhưng cách ứng xử hình như chỉ còn có một: chia sẻ và biết ơn.
Lễ Tạ ơn làm cho dân tộc này lớn mạnh. Nó san sớt những ân huệ mà thượng đế ban cho nó và người nhận được những ân huệ ấy hướng mắt lên chốn xa xăm mà tạ ơn một cách chân thành tự đáy lòng và sự chân thành ấy lan tỏa trong mỗi gia đình người Mỹ. Ý nghĩa thật của ngày lễ hòa vào mọi nhà, kể cả những di dân chân ướt chân ráo mới tới đất nước này biết được rằng họ đang hưởng thụ ân sủng của thượng đế và ân sủng ấy không kỳ thị bất cứ màu da nào trên xứ sở này. Mọi người đều bình đẳng chia sẻ niềm vui ấy.
Chưa có ai nói rằng sự lớn mạnh của đất nước do công của một cá nhân, lãnh tụ nào của nước Mỹ mặc dù quốc gia này không thiếu những lãnh tụ thực sự vĩ đại. George Washington vĩnh viễn là một vĩ nhân, được tôn trọng và biết ơn nhưng chưa bao giờ được tôn thờ hay đòi hỏi phải có những lễ lạc to lớn hầu vinh danh cho cá nhân ông. Lý do đơn giản: tôn sùng lãnh tụ làm cho đất nước, con người tụt hậu. Mãi ăn theo một nấm mồ, lăng tẩm sẽ quên mất rằng tương lai không thuộc về người đã chết.
Việt Nam có rất nhiều lễ lạc nhưng cho tới nay chưa có một ngày lễ nào kết nối cả đất nước vào một ý nghĩa chung, ý nghĩa có thể thay đổi diện mạo một dân tộc vượt lên trên cái thường được người dân đồng tình và chính phủ thích thú: kinh doanh, hưởng thụ và tự sướng.
Sự phân rẽ ngay trong các ngày lễ cho thấy đất nước chưa bao giờ vượt qua được lằn ranh thù hận. Ngày quốc khánh nào hợp lý nhất của Việt Nam? Phải gọi ngày 30 tháng 4 là ngày gì mới đồng thuận cho cả trong lẫn ngoài? Sinh nhật của lãnh tụ có ý nghĩa gì khi chính cái tiểu sử của ông hay bà ấy có vấn đề nghiêm trọng bởi ý đồ làm mới và sửa đổi chi tiết nhân cách một cách không lương thiện? Tại sao lại có ngày Quân đội nhân dân khi quân đội chỉ là công cụ do người dân đóng góp tiền bạc xương máu để bảo vệ quốc gia đất nước?
Việt Nam thiếu một ngày lễ làm lành với nhau. Làm lành để tự chữa những vết thương lịch sử.
Làm lành để tự rửa sạch vết bẩn trong tâm hồn của mỗi công dân. Làm lành để ấp ủ và hâm nóng lại đạo đức trong đám đông. Làm lành với nhau để thấy rằng không có ai trong cộng đồng là hoàn hảo và vì vậy chỉ có làm lành mới có thể trám được vết nứt giữa người với người, nhất là đồng bào đồng chủng.
Làm lành không thể được thực hiện một cách chung chung, đại trà qua các phong trào ồn ào khoa trương và kệch cỡm. Làm lành không thể được đưa ra từ kẻ mạnh đối với người yếu đuối trong khi hai tay khoanh chặt trước ngực với tư thế chủ nhân.
Làm lành mà không xin lỗi thì vô ích. Một nụ cười cầu tài kiểu Trung Quốc chỉ làm người nhận quên trong một thời khắc mà không có bất cứ sự chia sẻ nào tự đáy lòng. Làm lành bằng nụ cười giống như lấy cát chà xóa vết dơ trên chén đĩa vừa mới ăn xong. Sạch bởi áo giác và vết dơ vẫn còn đó.
Xin lỗi là hành động thiết thực nhất chứng tỏ sự làm lành từ tâm nguyện.
Xin lỗi không những làm lành vết nứt giữa hai đối tượng mà nó còn tự hoàn thiện cho người nói tiếng xin lỗi trong việc làm, cách cư xử hàng ngày của mình. Xin lỗi làm cho người ta lương thiện hơn, cẩn thận hơn trong từng công việc hàng ngày.
Trong buổi sáng tinh mơ của Ngày xin lỗi, Việt Nam choàng dậy với người nông dân ở thôn quê khi vỗ vào đầu con trâu của mình và nói với nó rằng, xin lỗi con ta đã tận dụng sức lực của con nhiều quá, thôi thì mình ráng thêm chút nữa để mùa lúa năm nay tốt tươi mà con không quỵ ngã nửa chừng nhé.
Ngày xin lỗi làm tiếng rao hàng của người mua gánh bán bưng trong trẻo và yêu đời hơn vì trong thâm họ biết rằng chắc ai đó sẽ xin lỗi mình hôm nay khi lỡ miệng nói những điều không phải.
Quốc hội Việt Nam bắt đầu Ngày xin lỗi với cái cúi đầu tập thể thật sâu trước cử tri của mình. Xin lỗi về những sai sót, bất cẩn và vô trách nhiệm nằm sâu thẳm trong từng đại biểu. Cái cúi đầu ấy không làm cho Quốc hội nhỏ lại mà ngược lại dù bị o ép thế nào đi nữa trong lương tâm của họ sẽ tự gióng lên tiếng chuông tự trọng của lời xin lỗi.
Chính phủ bắt đầu Ngày xin lỗi trong tâm thế của người công chức chứ không phải là lãnh đạo theo ngữ nghĩa quan quyền. Hãy thật sự suy nghĩ trước khi xin lỗi về điều gì đang làm cho người dân đau khổ và trách nhiệm ấy phải được công khai nhận lãnh qua lời xin lỗi chân thành.
Trong Ngày xin lỗi, báo chí nghỉ nửa ngày vào buổi sáng như một cách tĩnh tâm, suy nghĩ và xin lỗi về trách nhiệm của mình đối với độc giả. Lời xin lỗi ấy sẽ được công khai trên trang nhất tờ báo vào bản tin buổi chiều sẽ cho thấy tầm cao và bản lĩnh của từng tờ báo.
Không những học sinh xin lỗi thầy cô giáo mà từng bậc cha mẹ cũng xin lỗi con cái về những hành xử bất công đối với chúng. Tu sĩ xin lỗi giáo dân, tín đồ. Người công nhân xin lỗi chủ nhân về những gì mình sai phạm.
Chủ nhân không phải là gỗ đá để không thấy rằng trong cả năm qua không làm gì quá đáng đối với công nhân và lời xin lỗi nếu không được đưa ra đáp trả họ sẽ nhận lại bằng những cái nhìn khinh bỉ.
Không có ai là không có lỗi trong xã hội và Ngày xin lỗi là cơ hội để từng người nhìn lại một năm đầy những lỗi lầm.
Người Kinh nếu có cơ hội lên vùng sâu vùng xa hãy thốt lời xin lỗi với đồng bào thiểu số của mình ngay cả khi trong mỗi cá nhân người Kinh không trực tiếp làm ra lỗi gì. Cái lỗi duy nhất mà trong mỗi người Kinh phải chịu là không tác động lên chính quyền đủ mạnh để có chính sách nâng đỡ những tộc người nghèo khó hơn họ, yếu ớt hơn họ và nhất là bị bao vây cô lập bởi núi rừng, dốt nát và lạc hậu hơn họ.
Và Ngày xin lỗi không thể thiếu những lời xin lỗi cần thiết và ý nghĩa nhất: Lời xin lỗi đối với hàng triệu đồng bào trực tiếp hay gián tiếp bị thúc đẩy, xua đuổi ra khỏi đất nước Việt Nam.
Lời xin lỗi từ những ai đã từng mù quáng hô hào các cuộc chiến tranh thần thánh gây ra cái chết cho hàng triệu chiến binh cả hai miền đất nước cũng như để lại hậu quả cho người còn sống. Xin lỗi cho người sống, kẻ chết là cách hàn gắn hố phân ly và khi ngày lễ ý nghĩa này trở thành truyền thống sẽ là niềm tự hào dân tộc chứ không phải từ những tự hào vớ vẩn nào khác.
Người Nhật có cái cúi đầu thật sâu, Người Mỹ gắn liền trên môi câu xin lỗi khi tiếp xúc với xã hội. Việt Nam mỗi năm chỉ có một ngày xin lỗi nhưng nếu cả nước cùng xin lỗi thì sự vượt qua được tâm lý tự kỷ ít nhiều trong mỗi con người không đáng là niềm tự hào hay sao?— canhco

Bài viết hay(4855)

Bạn hỏi tui: Sao ngày xưa tui ưa viết bài dài lê thê nhưng bây giờ lại viết ngắn ngủn vậy? Đơn giản: ngày xưa còn trẻ còn siêng, bây giờ già rồi lười biếng, dành sức lo cho con. Viết có được xu nào đâu mà ham viết dài? Bởi vậy cứ gõ vài chữ cho xong là phải lo cho con rồi chứ ở không đâu mà dông dài nhiều chuyện. Vả lại viết dài thì ai rảnh đâu mà thèm đọc cho mệt!

Vụ Đinh La Thăng: ‘Giây phút quan trọng cho Việt Nam’

Bí thư Thành ủy TPHCM Đinh La Thăng tiếp ngoại trưởng Mỹ John Kerry hôm 13/1. Bản quyền hình ảnh Getty Images

Một nhà nghiên cứu người Mỹ đưa ra những nhận định sơ khởi sau khi Ủy viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị thi hành kỷ luật.
Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, thi hành kỷ luật với đương kim Bí thư Thành ủy TPHCM hôm 27/4.
Nói với BBC, chuyên gia Jonathan London từ Đại học Leiden, Hà Lan, nhận định:
“Với những người đứng ngoài vòng trong cùng của chính trị Việt Nam, không thể biết chính xác những gì đang xảy ra bên trong Bộ Chính trị. Sẽ khờ dại nếu cứ đồn đoán cá nhân nào trong Bộ Chính trị đóng vai trò thúc đẩy cuộc điều tra này.
“Điều thú vị và quan trọng hơn về vụ này, và phần nào đó cũng giúp giải thích những chuyện khác và giúp ta lạc quan, là cách câu chuyện phát triển, và những gì nó cho ta biết về Việt Nam hiện nay.
“Hãy nhớ lại. Các cáo buộc và bằng chứng có thể tin được về sai phạm phát tán ra trong xã hội Việt Nam, tạo nên lo ngại của công chúng, thúc đẩy cuộc điều tra. Toàn bộ diễn ra mà chẳng có thảo luận gì thực sự trên báo chí nhà nước.
Một câu hỏi đặt ra là vì sao cuộc điều tra đã kéo dài như vậy”.

Chống tham nhũng

“Cũng chưa rõ câu chuyện này có ý nghĩa gì cho Việt Nam và chiến dịch chống tham nhũng của nhà nước.
“Có thể ý nghĩa của nó là chống tham nhũng, nếu muốn có hiệu quả, phải tạo điều kiện cho báo chí chuyên nghiệp hơn, tạo ra các kênh cho công chúng tham gia chống tham ô như đã thấy ở Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan. Ở những nước đó, công dân và nhà báo có thể đóng góp chống tham ô mà không sợ bị trả thù.
“Cũng có thể nó có ý nghĩa là tại Việt Nam, không ai ở trên luật pháp một khi mức độ tố cáo sai phạm và bằng chứng đạt đến ngưỡng nào đó và được tung ra trong dân chúng.
“Dù thế nào, và dù vụ này có tiến triển ra sao, đây là giây phút có lẽ sẽ đóng vai trò quan trọng cho Việt Nam.
“Có lẽ lạc quan hơn cả, đây là giây phút để nhà nước và xã hội nhận thức rằng để giám sát hành vi của doanh nghiệp nhà nước, thì các chính sách đòi hỏi minh bạch, giải trình thì cần thiết đấy nhưng chả đủ. Cần thêm dân chúng được cho quyền. Và cần thêm nền báo chí có trách nhiệm, chuyên nghiệp và cũng có trách nhiệm giải trình.
“Trong trường hợp ông Đinh La Thăng, bằng chứng tung lên không gian công cộng rốt cuộc đang được lắng nghe. Chúng ta cần nhớ rằng nếu không nhờ những tiếng nói dũng cảm trong xã hội dân sự, việc lắng nghe bằng chứng này chắc chả xảy ra.
“Từ chuyện này, cái chúng ta cần không phải là nền văn hóa chính trị dựa trên tin đồn kết hợp bằng chứng cùng cáo buộc tự do lan truyền. Cái chúng ta cần là sự dũng cảm đưa đất nước đến những cải tổ định chế, trong đó nỗ lực chống tham nhũng nhận được sự quan tâm và ủng hộ cần thiết của công chúng”.

Những ngày ấy, mỗi người


30/4/1975 là biến cố của một đất nước, nhưng ngày đó cũng là biến cố riêng của nhiều con người.

Trong dòng chảy tán loạn từ Huế, Đà Nẵng, Nha Trang vào Sài Gòn... có vô vàn những câu chuyện chưa kể. Nguyễn Thị Xuân Phương, cựu phóng viên truyền hình Bắc Việt kể lại rằng bà kinh hoàng nhìn thấy xác thường dân nằm ngập và kéo dài suốt từ đèo Hải Vân xuống Đà Nẵng cũng với dòng người đi bộ, chạy... để tránh Việt Cộng. Còn phóng viên Trần Mai Hạnh của Thông Tấn Xã Việt Nam, người có mặt tại buổi trưa 30/4 với chiếc xe tăng tiến vào dinh Độc Lập, vừa ra một cuốn sách về 4 tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh, đã nói rằng cuối cũng thì điều ông tâm nguyện để lại, là sự thật.
Thỉnh thoảng, tôi vẫn tự hỏi vậy thì vào những thời khắc ấy - kể cả sau đó, những người tôi biết - hay không quen - đang như thế nào, làm gì?
Gia đình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ kể rằng khi ngày 30/4 ập đến, chương trình biểu diễn tại Nhật của đoàn Hoàng Thi Thơ vẫn chưa chấm dứt, vì vậy ông bị kẹt ở lại, sau đó định cư ở Mỹ. Nhưng con và cháu ông thì lại có cơ hội chứng kiến nhiều điều mà đến mấy năm sau vẫn chưa thể kể cho nhau nghe, vì không thể có thư từ liên lạc, rồi đến khi có, cũng không dám kể gì cho nhau, vì thư luôn bị kiểm duyệt.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ là Hoàng Mỵ Thi Thoa và Hoàng Thi Thanh bất ngờ nhìn thấy một đám đông lính Bắc Việt và những thành phần “băng đỏ” đứng trước ngôi nhà của mình tại Quận 1, đập cửa, quát tháo. Hai em nhỏ vị thành niên này cùng người cậu của mình bị buộc phải ra khỏi nhà ngay lập tức vì đang ở trong “nhà của tên có tội với nhân dân Hoàng Thi Thơ, nên đã bị chính quyền cách mạng trưng thu”.
Tất cả mọi người được sự khoan hồng nên có được 5 phút để trở vào ngôi nhà của mình, lấy 2 bộ quần áo cho mỗi người và ra đi, không kịp đốt nén hương từ giã ông bà. Dĩ nhiên, ngay cả việc đi lấy quần áo cũng có người cầm súng theo kiểm soát vì sợ hai em nhỏ này cất giấu hay tẩu tán tài sản.
Hai đứa con của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ gạt nước mắt ra khỏi nhà của mình, đi cùng một người cậu về Gò Vấp, tới một căn nhà khác của ông Hoàng Thi Thơ. Nơi đó, một người em họ của ông Thơ xuất thần trở thành người của cách mạng, chiếm nhà và chỉ mặt Hoàng Vinh, người cháu của ông Thơ nói là đi cho mau, tha không bắt lại vì “khoan hồng”, dù là người nhà của Hoàng Thi Thơ, là thành phần “truỵ lạc”.
Với Phương, người nhạc sĩ của đôi song ca Lê Uyên Phương lừng danh, thì ông hoàn toàn rơi vào một cú sốc khác thường. Việc chứng kiến một Sài Gòn hỗn loạn và đổ nát, những con đường vất vưởng xác người cùng với loa phóng thanh ra rả về khái niệm “giải phóng” khiến ông bước sang một giai đoạn khác.
Những cảm hứng về nhạc tình, hiện sinh và mộng mơ bị chôn vùi theo mất mát của Sài Gòn. Lê Uyên Phương yêu đương dịu dàng ngày nào giờ đây hình thành hai tập ca khúc Con người, một sinh vật nhân tạo (1973-1975). Mỗi ngày ông ngồi ở cafe vỉa hè, đi bộ dọc theo những con đường phơ phất lá me xanh quen thuộc nhưng giờ đầy các họng súng AK, và tự mình chiêm nghiệm về một thời đại của những kẻ cùng tiếng nói nhưng khác mạch sống.
Cũng như nhiều nhạc sĩ khác bị cú sốc thời cuộc và chuyển khuynh hướng sáng tác tình ca sang hiện thực ca như Phạm Duy (Tỵ nạn ca), Ngô Thuỵ Miên (Em còn nhớ mùa xuân, Biết bao giờ trở lại), Anh Bằng (Nổi lửa đấu tranh, Saigon kỷ niệm), Lam Phương (Chiều Tây Đô), Trầm Tử Thiêng (Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng, Một ngày Việt Nam)... Phương là một nhạc sĩ khá đặc biệt khi ông dành rất nhiều thời gian viết về những chuyển động quanh mình, về một thế giới mở và tang thương của hàng triệu người Việt, qua tập ca khúc Trại tỵ nạn và các thành phố lớn.
Những ngày ấy, mỗi người, mang vội theo những điều thương mến nhất, bỏ lại tài sản, bỏ lại quê hương... gạt nước mắt chạy đi về vô vọng. Ca sĩ Khánh Ly chạy đến chiếc tàu đi di tản, hành lý quan trọng nhất mà bà mang theo là hai vali đầy những lá thư tình trong đời bà - những lá thư không chỉ là tình yêu mà chứa cả khung trời thơ mộng và bình yên của miền Nam Việt Nam đã mất.
Nhiều văn nghệ sĩ táo tác như bầy kiến bị phá tổ, chạy đến nhà nhau để hỏi thăm tin tức từng ngày về số phận của mình, số phận của thành phố mình đang sống. Họ thì thào với nhau về những biến động khó hiểu từng ngày như Doãn Quốc Sỹ, Duyên Anh, Nhã Ca vừa bị bắt... Rồi ai đó bị thẩm vấn, và ai đó đã lặng lẽ xuống tàu giờ không còn nghe tin tức.
Thương gia đình, không nỡ bỏ xuống tàu vượt biên, nhạc sĩ Y Vân tiễn một người bạn thân lên đường. Nhưng đó lại là một chuyến tàu vĩnh biệt. Và đó là điều khiến ông trầm uất suốt nhiều năm liền, một ký ức sâu thẳm sau 1975.
Trong một lần nói chuyện với các anh chị đã qua thời khắc 1975, tôi nói đùa rằng một ngày nào đó nên lập một giải thưởng vô địch về người vượt biển nhiều nhất, vì tôi đã từng biết một chị người Công giáo ở khu Hoà Hưng đã tìm cách đi vượt biên 25 lần nhưng đều thất bại. Im lặng nhìn tôi trong tích tắc, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn chỉ nhà văn Võ Quốc Linh, nói “đây, người vượt biển 26 lần”. Rồi chỉ vào mình, anh Tuấn nói “còn mình, là 27 lần”.
Vài năm sau 1975, khi nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn tốt nghiệp thủ khoa ngành sư phạm ở Nha Trang, khi bạn bè rủ nhau vui mừng lên bục nhận bằng, thì hiệu trưởng đến bên, ghé tai buồn rầu nói với anh Tuấn “Con đừng lên nhận bằng. Công an đã đến tịch thu bằng vì nói gia đình con có vấn đề về lý lịch và có người đi vượt biên”.
Nhiều năm sau, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn lang thang khắp các bờ biển miền Nam để tìm đường ra khỏi nước. Niềm tuyệt vọng và khát vọng tự do là sức mạnh lớn nhất giữ anh sống sót qua các trại tù khắc nghiệt nhất.
Ở trại tù nhốt người vượt biển tại Phú Yên, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn bị một cai tù tàn ác luôn tìm cách đẩy anh vào lao khổ, thậm chí dù biết anh là giáo viên, vẫn bắt anh làm công việc mỗi ngày phải hốt phân, gánh đi đổ cho cả trại. Đó là thời gian như địa ngục. Thân thể của ông có tắm bao nhiêu lần cũng không hết mùi hôi, những vết thương nhỏ nhất cứ lở loét chứ không thể lành.
Chuyến đi thứ 27, cuối cùng, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn đến được Úc. Anh xin nhận thêm công việc tiếp nhận và giúp đỡ và người tỵ nạn mới đến, như trả ơn cho những ngày tháng tự do của mình.
Một đêm nọ, nghe tin có một chuyến tàu vượt biên vừa đến. Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ra nơi tiếp nhận. Khi đang đi lướt qua những người vừa cập bến, anh bất chợt nhìn thấy một gương mặt quen thuộc mà anh khó có thể quên trong đời: đó chính là viên công an cai tù đã hành hạ anh. Sững người nhìn viên cai tù ấy, ngược lại, nhân vật đó cũng bối rối quay mặt đi, né cái nhìn của anh Tuấn.
Nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ôm đầu suy nghĩ suốt nhiều giờ, rồi chọn cách gặp riêng nhân vật cán bộ cai tù đó để hỏi thẳng rằng hắn muốn gì khi đến đây. Chỉ cần một lời tố cáo, cán bộ đó có thể bị trục xuất về Việt Nam, hoặc sẽ bị chính quyền sở tại bắt giữ và đưa ra toà vì tội từng tra tấn và hành hạ tù nhân.
Sợ hãi và tuyệt vọng, viên cán bộ thú thật là hắn đã lỡ yêu một người phụ nữ đã có gia đình là “Mỹ Nguỵ” nên không còn cách nào khác là từ bỏ tất cả, cùng người yêu vượt biển, mà không ngờ có kết cục như hôm nay.
Khi kể cho tôi nghe chuyện này, nhạc sĩ Hoàng Ngọc Tuấn ngừng giây lát, rồi nói rằng “không biết bây giờ tay đó sống ở đâu đó, trên nước Úc này”. Anh đã im lặng và điền hồ sơ cho viên cán bộ cộng sản đó cùng người yêu của hắn tỵ nạn ở Úc. Vết thương chưa bao giờ của anh, một người bị hành hạ trong trại giam cũng như bị xô đẩy ra khỏi đất nước mình, cũng đã thanh thản chữa lành với lòng tha thứ.
Thật nhiều điều để ghi lại, từ hàng triệu người sống sót sau biến cố tháng 4/1975. Cứ vào thời điểm này, Nhà nước Việt Nam gọi là đại lễ và tổ chức ăn mừng. Còn hàng triệu người Việt khác thì vào tưởng niệm, như buộc phải coi lại cuốn phim bi kịch chung cũng như những đoạn phim cay nghiệt của riêng mình.
Những ngày ấy, mỗi người. Những cuốn phim một chủ đề nhưng có muôn vạn phiên bản ray rứt đến nhiều đời sau.
Và trong một ngày ăn mừng “đại lễ” của nhà nước Việt Nam, tôi chợt nhớ đến viên cán bộ cai tù vô danh ấy. Tôi tự hỏi, ông ta sẽ đứng đâu giữa lằn ranh ngày 30/4 mỗi năm ấy?
FB Tuấn Khanh

Bóng ma Việt Nam vẫn còn sống

Hàng tháng nay, báo chí trong và ngoài nước (đặc biệt là ở Mỹ) tiếp tục bình luận về Chiến tranh Việt Nam, như “đến hẹn lại lên” (khi sắp đến 30/4). Hãng phim Florentine sắp chiếu (trên PBS, 9/2017) bộ phim tài liệu 10 tập “Vietnam War” (Ken Burns & Lynn Novick). Có lẽ “Bóng ma Viêt Nam” vẫn còn sống, tiếp tục ám ảnh người Mỹ và người Việt.
Ngày 30/4/1975, khi cuộc chiến kết thúc, lúc chiếc xe tăng số 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập, và Tổng thống cuối cùng của VNCH Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, tôi đang ngồi trong một phòng họp tại Amsterdam (dự một hội nghị quốc tế vì hòa bình). Tôi đã khóc vì cuộc chiến đẫm máu kết thúc, tuy chưa biết các bạn tôi trong “Trại David” sống chết ra sao khi sân bay Tân Sơn Nhất bị pháo kích. Đáng nhẽ lúc đó tôi còn trong đó cùng với họ, nếu số phận không lôi tôi ra khỏi đó trước khi cuộc chiến kết thúc. Một cảm giác vui buồn lẫn lộn.
Ngày 30/4/1985, tôi vào Sài Gòn để tham gia sự kiện “kỷ niệm 10 năm kết thúc chiến tranh”. Đó là một kỷ niệm khó quên khi lần đầu tiên sau chiến tranh, mấy trăm nhà báo Mỹ đã quay trở lại, và Việt Nam lại xuất hiện trên màn hình radar quốc tế. Người ta gọi đó là “cuộc đổ bộ” của báo chí Mỹ (US media invasion), một sự kiện làm nhiều người buồn vui lẫn lộn, như báo hiệu đất nước đang trở mình đổi mới (tại Đại hội Đảng VI, tháng 12/1986).

Ngày 30/4/1995, nhân dịp “kỷ niệm 20 năm kết thúc chiến tranh”, tôi đã nhận lời tham gia một nhóm nhà báo làm diễn giả tại các sự kiện kỷ niệm ngày 30/4 tại Mỹ và Việt Nam. Đó là một dịp để nhìn lại quá khứ và nhìn tới tương lai, khi bình thường hóa Mỹ-Việt đang trở thành hiện thực, sau khi tiến trình đó đã thất bại hai lần (năm 1978 và năm 1993).
Năm 1995, Robert McNamara xuất bản cuốn sách “Hồi tưởng” (“In Retrospect: the Tragedy and Lessons of Vietnam”, Robert McNamara, Vintage Books, 1995). Trong cuốn sách đó, McNamara đã “thừa nhận 11 sai lầm” trong Chiến tranh Việt Nam. Nhưng tại sao ông ấy phải chờ 30 năm sau mới nhận ra và thừa nhận sai lầm mà George Ball (nguyên Thứ trưởng Ngoại giao) đã nhận ra từ trước khi Tổng thống John Kennedy quyết định can thiệp vào Việt Nam? George Ball đã cố khuyên can Tổng thống từ bỏ ý định đưa quân chiến đấu vào Việt Nam, nhưng lúc đó không ai thèm nghe ông ấy (trong đó có McNamara). Nên nhớ lúc đó McNamara là một trong những người Mỹ “thông minh và tài giỏi nhất” (“the Best and the Brightest”, David Halberstam, Random House, 1972). Phải chăng đó chính là sự “Ngạo mạn về Quyền lực” (“the Arrogance of Power”, William Fulbright, Random House, 1967)?
Nhiều người Mỹ gọi thái độ ứng xử đó của McNamara là thiếu tử tế (indecent). Tôi tán thành và (trong một buổi nói chuyện tại Mỹ) đã nói rằng nếu 20 năm sau chúng ta vẫn nói về quá khứ mà không nói về tương lai, thì cũng là thiếu tử tế và thiếu khôn ngoan. Đó có thể là lần cuối cùng tôi tham gia bàn luận về “ngày kết thúc chiến tranh”, vì từ ngày đó tôi không tham gia các lần kỷ niệm sau này nữa, mặc dù các bạn báo chí còn sống sót (gọi là “Old Hacks”) vẫn tụ tập tại Sài Gòn vào ngày 30/4. Nếu buộc phải có mặt thì tôi không biết nói gì.
Cách đây 2 năm, nhân kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh, tôi đã viết 2 bài về hệ quả của chiến tranh (“40 năm sau: Hệ quả Chiến tranh”, Viet-studies, 30/4/2015 và “40 năm: Lịch sử đang lặp lại”, Việt-studies, 24/6/2015). Điều đáng nói là 40 năm sau, người Mỹ và người Việt cuối cùng đang làm những gì mà đáng lẽ họ phải làm từ năm 1978 khi hai nước đã tiến gần đến bình thường hóa (chỉ còn gang tấc). Nhưng đáng tiếc là điều đó đã không xảy ra, cho tới năm 1995 (mới bắt đầu) và năm 2016 mới hoàn toàn bình thường hóa, khi tổng thống Obama thăm Việt Nam và tuyên bố bỏ hoàn toàn “cấm vận vũ khí” (arms ban). 
Nay 42 năm đã trôi qua, nhưng “Bóng ma Việt Nam” vẫn chưa chết, tiếp tục ám ảnh nước Mỹ và Việt Nam. Đại học Fulbright (FUV) là một câu chuyện hay đáng mừng, nhưng Bob Kerey là một câu chuyện dở đáng lo, như bị ma ám. Đó là một thực tế đáng buồn. Nước Mỹ thời Donald Trump đầy bất ổn, và bất định. Tại Việt Nam, các phe phái và các nhóm lợi ích tiếp tục tranh giành quyền lực quyết liệt như có nội chiến, dù người ta có thừa nhận hay không. Tiếng súng Yên Bái (8/2016) là một cảnh báo về cực đoan và bạo lực leo thang. Trong khi thảm họa môi trường Miền Trung do Formosa gây ra (4/2016) làm cả nước khủng hoảng, sự cố Đồng Tâm đã làm cả nước bức xúc, cho đến khi quả bom được tháo ngòi (22/4/2017). Hội nghị Trung ương 5 & 6 cũng gần như “Đại hội Giữa kỳ”, không khác mấy Đại hội XII. Kỷ luật ông Đinh La Thăng là tiếng súng mở màn cho một trận chiến mới giành quyền lực.
Cộng đồng người Việt tại Mỹ vẫn đang tiếp tục bị phân hóa, sau khi PBS chiếu bộ phim tài liệu “Terror in Little Saigon” (Frontline & ProPublica, PBS, 3/11/2015) liên quan đến vụ sát hại 5 ký giả gốc Việt tại Mỹ (cách đây hơn 30 năm, nghi là do “K-9” của “Mặt Trận” gây ra). Gần hai năm qua, Nguyễn Thanh Tú (con trai ký giả Đạm Phong) đã tiếp tục điều tra để tố giác kẻ chủ mưu, để “tìm công lý cho cha”. Trong một cuộc họp báo tại Little Sài Gòn (17/3/2017) Nguyễn Thanh Tú đã tố cáo đích danh “Việt Tân” đã sát hại cha mình.
Trong khi hai nước cựu thù (Mỹ và Việt Nam) đã bình thường hóa, và đang trở thành đối tác chiến lược, thì người Việt vẫn chưa thể hòa giải được với nhau, dù với người còn sống hay đã chết. Không những thế, người Việt trong cùng một bên, thậm chí cùng một đảng, cũng mâu thuẫn nặng nề, coi nhau như kẻ thù không nhìn mặt. Phải chăng cực đoan và thù hận là di sản của chiến tranh, đã ăn vào máu người Việt, như một nghiệp chướng?
Năm 2005, ông Võ Văn Kiệt nói, “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”. Đó là một suy nghĩ đúng, dù muộn còn hơn không. Nhưng đáng tiếc suy nghĩ đó chỉ là một thiểu số trong một đất nước mà tư duy cực đoan và hận thù vẫn còn ngự trị giới cầm quyền. Tranh giành quyền lực giữa các nhóm lợi ích vẫn đang diễn ra quyết liệt như nội chiến, nên buồn nhiều hơn vui.
30/4/2017Nguyễn Quang Dy

Bài viết hay(4854)

30/4 năm nay có nhiều điều khiến tui vui hơn bao giờ hết. Có bao giờ dân VN dám bắt nhốt công an làm con tin? Có bao giờ dân VN dám cầm cờ VNCH phất lên công khai? Có bao giờ dân VN dám công khai phê phán lãnh đạo đảng một cách bất kính? Có bao giờ dân VN dám tập họp cả ngàn người biểu tình chống đối? Có bao giờ dân VN dám vạch mặt lũ sâu dân, mọt nước như bây giờ? Vậy thì tui có thể hy vọng chứ không còn tuyệt vọng nữa, ít ra cũng mơ được thấy CSVN sụp đổ trước khi tui chết. Hỏi sao không vui.

Giới trẻ Nghệ An xuống đường bảo vệ môi trường trong ngày 30/4

Vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 2017, thay vì kỷ niệm “Ngày Giải phóng” như chính quyền yêu cầu, các bạn trẻ Giáo xứ Phú Vinh ở huyện Yên Thành, Giáo xứ Song Ngọc ở huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã xuống đường tuần hành kêu gọi người dân bảo vệ môi trường, và đuổi Formosa cút khỏi Việt Nam.

Tại Giáo xứ Phú Vinh, đông đảo các bạn trẻ đã cầm các banner có biểu ngữ: “yêu cầu khởi tố Formosa và đồng bọn”, “hãy trả lại biển sạch cho chúng tôi”, “Formosa hãy cút khỏi Việt Nam”, đến bao giờ trên mâm cơm chúng tôi mới có cá”, “why kill citizens to serve Formosa”,…. Họ mặc áo có in logo “No Formosa” và tuần hành xuống đường kêu gọi mọi người dân ý thức bảo vệ môi trường.
Một bạn trẻ cho phóng viên SBTN biết: “giới trẻ Giáo xứ Phú Vinh và đông đảo người dân xung quanh đã bắt đầu nhận ra sự thật, can đảm làm chứng cho Công Lý - Hoà Bình, và xuống đường bày tỏ tiếng nói nguyện vọng chính đáng của mình. Hôm nay, đoàn người đã tuần hành qua các ngã đường trong khu vực Giáo xứ Phú Vinh ở xã Đô Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An và vừa đi vừa hát các bài hát: “trả lại cho dân”, “Việt Nam tôi đâu”,… hô lớn các khẩu hiệu “Formosa cút khỏi Việt Nam”.
Tại Giáo xứ Song Ngọc, các bạn trẻ, học sinh đã cầm các banner có biểu ngữ: “lẽ nào vì Formosa mà bán đứng dân Việt”, “Formosa cút khỏi Việt Nam”,… cầm cờ ngũ sắc và hát vang các bài hát về chủ đề nhân quyền, quyền tự tôn dân tộc và tham gia tuần hành trên các ngã đường quanh Giáo xứ.
Nhà cầm quyền địa phương đã huy động lực lượng công an, an ninh và cảnh sát mật đến theo dõi tình hình. Được biết, trong những ngày qua, nhà cầm quyền tỉnh Nghệ An đã huy động lực lượng cảnh sát cơ động, khoảng 8,000 lính của sư đoàn K20, nhiều xe chở quân về “án binh” ở huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu thuộc địa bàn khu vực Nghệ An.
Nguyên Nguyễn / SBTN

ASEAN ra tuyên bố chung nêu việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông

Ảnh chụp các lãnh đạo ASEAN dự hội nghị thượng đỉnh tại Manila (Philippines) ngày 29/04/2017. REUTERS/Mark Crisanto/Pool

Hôm nay, 29/04/2017, tại cuộc họp thượng đỉnh ở Manila, thủ đô Philipines, các lãnh đạo ASEAN đã đạt được một bản tuyên bố chung trong đó có nêu lên vấn đề Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở Biển Đông và quân sự hóa các đảo này, mặc dù Bắc Kinh đã nỗ lực gây tác động để gạt bỏ những vấn đề đó ra khỏi văn kiện của ASEAN.
Tuy nhiên, cũng như tại thượng đỉnh năm ngoái ở Lào, các lãnh đạo ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, đối tác thương mại hàng đầu của khối này. Bản tuyên bố cũng không nói đến việc Bắc Kinh bị thua trước Tòa Trọng tài Thường trực. Xử đơn kiện của Philippines, tòa này đã ra phán quyết đầu tháng 7 năm ngoái cho rằng Trung Quốc không có cơ sở pháp lý để khẳng định quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong Đường 9 đoạn.
Hồ sơ Biển Đông quả là đã được thảo luận sôi nổi trong hậu trường Hội nghị thượng đỉnh ASEAN tại Manila. So sánh khác biệt về cách nói về Biển Đông giữa bản dự thảo ban đầu về tuyên bố chung đúc kết hội nghị với bản cuối cùng vào hôm nay, 29/04/2017, thì thấy ngay điều đó.
Trong bản dự thảo đầu tiên được Chủ tịch Hội nghị là Philippines đưa ra thảo luận, đã có hai vấn đề bị bỏ qua: việc Trung Quốc bồi đắp đảo nhân tạo và quân sự hóa Biển Đông, và phán quyết tháng Bẩy năm 2016 của Tòa Trọng tài Thường trực La Haye về Biển Đông. Tuy nhiên, ngay từ trưa nay, trong một bản dự thảo mới mà các hãng thông tấn ngoại quốc đọc được, vấn đề quân sự hóa các đảo nhân tạo đã được ghi nhận trở lại, dù theo thông lệ, Trung Quốc không hề bị nêu đích danh.
Theo hãng tin Anh Reuters, hai nguồn tin ngoại giao ASEAN đã tiết lộ rằng có bốn quốc gia thành viên ASEAN không đồng ý với việc xóa bỏ các từ ngữ “cải tạo đất và quân sự hóa”, đã có trong bản Tuyên bố chung Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN tại Lào vào năm ngoái.
Hãng Reuters đã dẫn hai nguồn tin ngoại giao ASEAN cho biết là trong những ngày qua, Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila đã tăng cường vận động các quan chức Philippines để tìm cách thay đổi nội dung của Tuyên bố chung Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN. Một nguồn tin xác nhận rằng phía Philippines đã bị phía Trung Quốc áp lực rất dữ dội.
Theo hãng tin Anh, Bắc Kinh không muốn thấy bất cứ điều gì mà họ cho là nói đến việc Trung Quốc mở rộng bảy hòn đảo nhân tạo mà họ chiếm giữa tại quần đảo Trường Sa, và xây dựng trên đó nào là phi đạo, nhà chứa máy bay, đài radar, bệ phóng tên lửa… Trung Quốc cũng không muốn thấy nhóm từ “các tiến trình ngoại giao và pháp lý”, gợi đến phán quyết của Tòa Trọng tài La Haye mà Bắc Kinh phủ nhận.
Nhưng một số nước ASEAN đã không chịu khuất phục. Theo hãng tin Pháp AFP, giới ngoại giao tại Manila khẳng định rằng trong các cuộc họp, các nước này đã cố tìm cách làm cho bản tuyên bố cứng rắn hơn đối với các hành động của Bắc Kinh, dẫn đến việc đưa một số từ ngữ trở lại vào văn kiện.
Một nhà ngoại giao đã tiết lộ với AFP rằng chính Việt Nam đã yêu cầu đưa trở lại nhóm từ liên quan đến hành động quân sự hóa và cải tạo đất vào trong dự thảo tuyên bố chung.
Một nhà ngoại giao khác đã nói với AFP rằng: “Không thể cho rằng ASEAN đã hoàn toàn đầu hàng trước sức ép của Trung Quốc”.
Trước đó, trong bài phát biểu khai mạc Thượng đỉnh Manila, Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte đã không đả động gì đến Biển Đông, mà chỉ nói đến Hồi giáo cực đoan, cướp biển, chống ma túy và nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau… Đặc biệt ông kêu gọi các lãnh đạo ASEAN hợp lực chống ma túy để tiêu diệt tệ nạn này “trước khi nó tiêu diệt xã hội chúng ta”. Chiến dịch bài trừ ma túy do ông Duterte phát động bị quốc tế phản đối, do đã có hàng ngàn người bị sát hại trong thời gian qua.
Trước cuộc họp thượng đỉnh ASEAN, trả lời hãng tin Reuters, Tổng Thư ký ASEAN, ông Lê Lương Minh cho rằng Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) cần phải mang tính ràng buộc pháp lý để ngăn chận “những hành động đơn phương”). ASEAN và Trung Quốc hy vọng là trong năm nay sẽ đạt được thỏa thuận về bộ quy tắc nói trên. Nhưng theo Reuters, một số nhà ngoại giao ASEAN tỏ vẻ hoài nghi về thực tâm của Bắc Kinh trên vấn đề này.

Trung Quốc sửa đổi luật về bản đồ để củng cố thêm yêu sách chủ quyền


Bản đố Trung Quốc (ảnh minh họa). Wikimedia

Trung Quốc ngày 27/04/2017 thông qua một đạo luật về bản đồ đã được sửa đổi để củng cố thêm và làm rõ các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh, đồng thời quy định những hình phạt mới nặng nề hơn để “hù dọa” những người nước ngoài dám thực hiện công việc khảo sát mà không có sự cho phép chính quyền. Văn bản sửa đổi này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc chuẩn y với mục tiêu là bảo toàn các thông tin địa lý Trung Quốc.
Theo hãng tin Anh Reuters, dưới danh nghĩa bảo vệ an ninh quốc gia, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã thúc đẩy một loạt luật lệ mới trong lãnh vực bảo toàn an ninh và bí mật quốc gia vốn đã bị rất nhiều quy định chi phối. Trong số các luật lệ mới này, có luật đặt các tổ chức phi chính phủ dưới quyền kiểm soát của Bộ Công An và một bộ luật về an ninh mạng, như đòi hỏi các doanh nghiệp phải lưu trữ các dữ liệu quan trọng tại Trung Quốc.
Các đạo luật này đã bị quốc tế phê phán là nhằm trao cho Nhà nước Trung Quốc quyền hạn rộng rãi trong việc cấm các công ty nước ngoài vào hoạt động trong những lãnh vực mà Bắc Kinh cho là “trọng yếu”, hoặc để trấn áp đối lập trong nước.
Theo phát ngôn viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc, việc điều chỉnh luật về bản đồ nhằm giúp cho chính người Trung Quốc hiểu rõ hơn về lãnh thổ của mình. Đối với nhân vật này, những bản đồ đã “vẽ sai biên giới”, ví dụ như xem Đài Loan là một quốc gia hay không thừa nhận đòi hỏi của Trung Quốc ở Biển Đông, là “những vấn đề đã tác hại một cách khách quan đến sự toàn vẹn lãnh thổ Trung Quốc”. Chính quyền Bắc Kinh luôn luôn coi Đài Loan là một tỉnh ly khai, và còn coi hầu như toàn bộ Biển Đông là thuộc chủ quyền Trung Quốc từ nghìn xưa.
Phát ngôn viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết thêm là bộ luật mới được điều chỉnh cho phép tăng cường việc kiểm soát dịch vụ bản đồ trên mạng, đòi hỏi là bất cứ ai muốn đăng hay công bố bản đồ quốc gia phải tuân theo chuẩn mực của Nhà nước Trung Quốc.
Theo ông Tống Triều Chế (Song Chaozhi), Phó Cục trưởng Cục Khảo sát và Bản đồ Trung Quốc, cơ quan ngoại quốc nào muốn vẽ bản đồ hay tiến hành khảo sát địa lý ở Trung Quốc đều phải làm rõ là họ không đụng chạm vào bí mật quốc gia hay gây nguy hại đến an ninh quốc gia Trung Quốc.
Còn Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nhạc Trung Minh (Yue Zhongming) thì đe dọa: Cá nhân hay nhóm nước ngoài vi phạm luật có thể bị phạt đến 1 triệu yuan - 145.000 đô la, một khoản tiền phạt to lớn nhằm mục tiêu răn đe.Mai Vân

Bầu cử Pháp: Mở cửa hay bế quan tỏa cảng

Cả Âu châu nín thở: trong một tuần nữa, cử tri Pháp sẽ lựa tổng thống mới, giữa Emmanuel Macron, người ủng hộ Liên hiệp Âu châu và bà Marine Le Pen, chủ trương bế quan toả cảng, muốn rút khỏi Liên hiệp, rút khỏi khối tiền tệ Âu châu.
Sau kết quả vòng đầu, Âu châu thở phào, nhẹ nhõm, tin rằng Tổng thống Pháp sẽ mang tên Emmanuel Macron, 39 tuổi, không đảng phái, ứng cử viên ủng hộ Liên hiệp Âu châu tích cực nhất. Một tuần sau, hôm nay (30/04), người ta lại bắt đầu lo ngại: vấn đề không phải đơn giản như vậy, và kết quả chung kết không chắc chắn như người ta tưởng. Marine Le Pen, 48 tuổi, cực hữu, vẫn là một đe dọa đối với Macron

Một trái bom

Tối Chủ nhật, 23/4, gần 80% cử tri Pháp bỏ phiếu vòng đầu, lựa hai người vào chung kết trong số 11 ứng cử viên. Người ta hồi hộp chờ kết quả, như chờ xổ số, vì trong thời gian gần đây, không ai đoán được phản ứng giờ chót của cử tri. Nhưng kết quả lần này đã đúng như dự đoán: Macron về đầu với 24% số phiếu, Le Pen về nhì, 21%. Hai ứng cử viên của Đảng Cộng hòa (LR, Les Républicains) và Đảng Xã hội (PS, Parti Socialiste) bị loại.

Lần đầu tiên, hai đảng chính trị chính yếu, đã thay nhau cầm quyền từ một nửa thế kỷ đã bị loại ngay vòng đầu. Độc giả ngoài nước Pháp, để có một ý niệm, có thể tưởng tượng một cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ không có ứng cử viên của Đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ. Hai chính đảng, nền tảng của hệ thống chính trị Pháp, ngày nay là một đống gạch vụn. Đảng Cộng Hoà, hữu phái (LR, Les Républicains) được coi là đảng sẽ đương nhiên nắm chính quyền thay Đảng Xã hội đã thất bại sau 5 năm cầm quyền, chỉ chiếm 20% phiếu bầu. Thê thảm hơn nữa, Đảng Xã hội, tả phái, rơi xuống đáy vực: 6%!
Nước Pháp choáng váng: cuộc bầu cử vòng đầu là một big bang chính tri. Cử tri thẩy vào thùng phiếu một trái bom, làm nổ tung hệ thống chính trị cũ, đưa vào vòng chung kết hai ứng cử viên tự nhận là “hors système” (ngoài hệ thống): Emmanuel Macron, không đảng phái và Marine Le Pen, cực hữu. Nước Pháp chia làm hai, không nhận ra nhau. Một nửa, cử tri của Macron, những người thích ứng với thế giới hóa. Một nửa, cử tri của Le Pen, những người bị bỏ quên, những người đứng bên lề, muốn quay lại quá khứ, tìm lại một nước Pháp đã mất. Hơn là việc chọn lựa giữa hai chính sách kinh tế, cuộc bầu cử vòng hai sẽ là một lựa chọn giữa hai thế giới: thế giới đóng kín, quốc gia chủ nghĩa của đảng cực hữu của Le Pen và thế giới mở rộng của Macron.
Những ngày đầu, người ta nghĩ Macron sẽ thắng dễ dàng. Các ứng cử viên bị loại vòng đầu sẽ kêu gọi bỏ phiếu cho Macron để loại Le Pen “kẻ thù của chế độ Cộng hòa”, và cử tri sẽ dồn phiếu cho Macron.
Cách đây 15 năm, ông bố của Marine Le Pen, Jean Marie Le Pen, người sáng lập đảng cực hữu Front National (FN, Mặt trận Quốc gia) cũng đã lọt vào vòng hai, nhưng cử tri đã dồn phiếu cho Chirac và ông này đã thắng cử với tỷ số gần như trong một cuộc bầu cử kiểu Nga Xô viết. Trong những cuộc bầu cử địa phương gần đây, FN thắng lớn vòng đầu, nhưng vào chung kết đều thua nặng. Dân Pháp, mặc dù bất mãn với một hệ thống chính trị mệt mỏi, với nạn thất nghiệp kinh niên, với vấn đề di dân, với hậu quả của thế giới hoá, vẫn chưa muốn nhẩy vào một cuộc phiêu lưu với một đảng cực đoan. Đó cũng là điều ghi nhận ở các nước láng giềng như Đức, Hoà Lan: cực hữu lên như diều nhưng chưa đủ để nắm chính quyền. Người ta nghĩ dân Pháp cũng chưa muốn phiêu lưu như cử tri Mỹ khi mời ông Trump vào Nhà Trắng. Liên hiệp cần nước Pháp, vì dù bệnh hoạn, nước Pháp, cùng với Đức, vẫn là hai nước cột trụ của Liên hiệp. Sau Đức, Pháp là nước đông dân nhất (66 triệu trên 500 triệu của cả Liên hiệp), mạnh nhất về kinh tế. Pháp là nước đứng mũi chịu sào cho Âu châu về gánh nặng quân sự, hầu như đơn thương độc mã trong những chiến dịch chống khủng bố Hồi giáo ngoài lãnh thổ Âu châu.
Những diễn biến trong tuần qua khiến Âu châu lo ngại. Nhiều dấu hiệu cho thấy chuyện Macron thắng cử không dễ dàng như người ta tưởng. Cái gọi là “front républicain “(mặt trận cộng hoà), cả nước đoàn kết chống đảng quá khích cực hữu FN đã bắt đầu lung lay. Khi Le Pen bố lọt vào vòng hai, năm 2002, hàng triệu người đổ xuống đường chống FN, coi như một đại họa của nước Pháp, một đe dọa cho dân chủ, cho chính thể Cộng hòa. Tất cả các đảng phái, nghiệp đoàn, xã hội dân sự, báo chí, các nhà lãnh đạo tôn giáo, trí thức, nhân sĩ, muôn người như một đã đoàn kết lên tiếng chống FN.

“Mặt trận Cộng hòa lung lay”

Thời thế đã thay đổi. Bao nhiêu nước đã chẩy dưới cầu. Sau khi hất ông bố để nắm chức chủ tịch FN, cô con gái, Marine, đã thay đổi chiến lược, biến FN từ một nhóm chính trị quá khích thành một đảng chính trị có tham vọng chiếm chính quyền. Ông bố tuyên bố vung vít, chống Do Thái, chống Ả Rập, chống người da đen, công khai kỳ thị chủng tộc, bào chữa cho Phát xít Đức, ủng hộ chủ nghĩa thực dân, cô con gái thận trọng hơn, đóng vai ôn hòa hơn. Dần dần, cái sợ FN phai đi, FN trở thành một nhóm chính trị như những đảng chính trị khác. Món hàng ăn khách nhất của FN là chính sách chống di dân, chống thế giới hóa. Chính sách đó đã được nhiều người ủng hộ khi nạn thất nghiệp gia tăng, khi những đụng chạm với người Ả Rập, người da đen là chuyện thường nhật, đã giúp FN trở thành một trong hai chính đảng lớn nhất, sau những cuộc khủng bố đẫm máu của Hồi giáo quá khích.
Cái khiến cử tri Pháp vẫn còn e dè với FN là chính sách bế quan tỏa cảng, muốn ra khỏi Liên hiệp Âu châu. Dân Pháp chỉ trích Liên hiệp, coi đó là một Liên hiệp không phải của nhân dân Âu châu, mà là Liên hiệp của thế lực kinh tài, nhưng vẫn muốn ở lại, vì ý thức rằng nước Pháp quá nhỏ để có thể một mình đối đầu với thế giới hoá. Ra khỏi hệ thống đồng tiền Euros, có thể đưa tới lạm pháp ít nhất 20%, đánh thuế nặng hàng nhập cảng sẽ có hậu quả tai hại đối với một quốc gia sống nhờ xuất cảng. Le Pen ý thức được điều đó, tỏ thái độ ôn hoà hơn, tuyên bố chuyện ra khỏi Liên hiệp sẽ qua trưng cầu dân ý, và sẽ thương lương với các nước Âu châu trong 2,3 năm, trước khi đi tới quyết định.
‘‘Mặt trận Cộng hòa” ngày nay đã lung lay. Sau khi Marine Le Pen lọt vào vòng hai, chỉ có vài nhóm nhỏ biểu tình. Giáo hội Công giáo không kêu gọi bỏ phiếu cho Macron, vì không muốn mất lòng với giáo dân, đa số bầu cho Fillon, Đảng Cộng hòa, đã bị loại từ vòng một. Lãnh tụ cực tả Jean Luc Mélenchon, đã chiếm 19% số phiếu trong vòng đầu, đáng lẽ phải là người chống FN tích cực nhất, đã không chọn lựa giữa Le Pen và Macron, kết án Macron là người của thế lực kinh tài, ngược lại Dupont Aignant, Chủ tịch Đảng Debout La France, đã liên kết với FN với lý do Macron là người phe tả, đã làm Bộ trưởng của Tổng thống xã hội đương nhiệm François Hollande và sẽ tiếp tục chính sách của Hollande. Đó là lần đầu tiên một chính khách “Cộng hòa” hợp tác với một đảng cực hữu, một ranh giới chưa ai dám bước qua. Nhất là Dupont Aignant (gần 5% phiếu vòng đầu) vẫn tự nhận là “gaulliste”, người trung thành với De Gaulle, quên rằng những người sáng lập ra FN là những người chống, tới độ đã ám sát hụt De Gaulle. Sự thực là Marine Lepen, cần đồng minh, đã hứa trao chức thủ tướng cho Dupont Aignant nếu đắc cử Tổng thống.
Diễn biến mỗi ngày có thể thay đổi kết quả cuộc bầu cử Tổng thống vòng chung kết tuần tới (Chủ nhật 07/04). Một cuộc khủng bố, số người không đi bầu gia tăng, sẽ làm cán cân thiên về phía Le Pen. Cho tới giờ này, người ta tin rằng Macron sẽ thắng cử, nhưng nếu thắng cử một cách khít khao, ông Tổng thống 39 tuổi, thiếu kinh nghiệm, không có hệ thống đảng phái làm hậu thuẫn, sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhất là nếu không có đa số ở Quốc hội trong cuộc bầu cử lập pháp trong tháng tới. Macron tin rằng nếu dân Pháp bầu ông làm Tổng thống, đương nhiên sẽ đưa người của ông vào Quốc hội. Điều đó không có gì bảo đảm, nhất là đây là lần đầu Đảng En Marche của Macron, mới thành lập từ một năm nay, đưa người ra tranh cử.
Tóm lại, ít ai biết nước Pháp sẽ đi về đâu trong những ngày tới
Paris, 30/4Từ Thức

Bài viết hay(4853)

Trong khi VN kỷ niệm 42 năm sau biến cố 30.4.1975, Trump cũng đánh dấu 100 ngày làm TT Mỹ với những thành công và thất bại. Trước hết, biểu tình giữa kẻ bênh vs người chống làm đường phố downtown LA kẹt xe khiến tui về nhà đón con trễ là ...bực mình chửi Trump rồi. Thứ 2, Trump dọa cúp tiền liên bang dành cho Cali là tui thấy ghét Trump ngay. Thứ 3, thời buổi khoa học kỹ thuật hiện đại mà cứ khăng khăn xây tường thay vì xài drone là tui thấy Trump chẳng biết gì về tài đào tường khoét vách của dân Mễ rồi. Thứ 4, tăng thuế dân trung lưu như tui mà giảm thuế cho đám nhà giàu là đủ chọc cho tui tức cành hông quá đi. Thứ 5, sau 100 ngày, Trump là con người như thế nào mà sao nhiều người vẫn cuồng tín mù quáng ủng hộ Trump thì hỏi sao tui không cười. 

42 năm-giá trị của một “chiến thắng” và những vết thương chưa thể lành

42 năm sau biến cố 30.4.1975, có vô vàn câu hỏi về cuộc chiến tranh đã qua, về thực tại đất nước, vẫn tiếp tục làm nhức nhối trái tim những ai có lòng với đất nước, dân tộc. Người viết bài này chỉ muốn đặt lại hai câu hỏi:
+Trong cuộc chiến VN, người Mỹ tất nhiên đã thua, VNCH tất nhiên đã thua, nhưng rốt cuộc đảng cộng sản VN có phải đã chiến thắng?
Đã có rất nhiều bài viết của người VN và người nước ngoài nhận định về “chiến thắng” của đảng cộng sản VN ngày 30.4.1975, nhưng nhìn lại, điều đó chả có gì đáng phải tự hào ngây ngất, tạo nên niềm “kiêu ngạo cộng sản” suốt một thời gian dài. Bởi vì đó là một “chiến thắng” dựa trên vũ khí, tài chính, sự viện trợ tối đa từ Liên Xô, Trung Cộng, và phe XHCN, đồng thời lợi dụng, khai thác lòng yêu nước của người VN để tuyên truyền dối trá, bóp méo sự thật, khiến hàng triệu con người lao vào cuộc chiến mà cứ tưởng mình đang đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam bị kềm kẹp dưới ách Mỹ ngụy và để xây dựng một đất nước công bằng, ngàn lần tốt đẹp hơn. Nếu không có sự viện trợ đó và không có sự tuyên truyền dối trá đó, đảng cộng sản có thắng không?
Chưa kể, “đánh ngoại xâm bằng ngoại nhân”, vi phạm Hiệp định Paris, quyết tâm cưỡng chiếm miền Nam bất chấp VNCH lúc đó là một thực thể quốc gia độc lập, bất chấp ý nguyện của người dân miền Nam, thực tế là một hành động xâm lược cho dù biện minh bằng lý do thống nhất đất nước (bởi vì người miền Nam có muốn thống nhất theo cách đó hay không?). Và vì vậy chả có gì để tự hào cả.
Thứ hai, thắng trong chiến tranh, nhưng bại trong hòa bình, đảng cộng sản đã thất bại trên nhiều khía cạnh. Thất bại trong việc thu phục nhân tâm, đất nước thống nhất nhưng lòng người chưa bao giờ thôi chia rẽ. Thất bại trong việc xây dựng VN trở thành một quốc gia độc lập, tự do, hạnh phúc, giàu mạnh; không những thế, VN dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản sau cuộc chiến còn tiếp tục phải lao vào hai cuộc chiến tranh khác với Khơ Me Đỏ và Trung Cộng, bị mất thêm nhiều đất đai, lãnh thổ lãnh hải vào tay Bắc Kinh.
Thất bại trong việc thực hiện và xây dựng đất nước theo mô hình thể chế chính trị và lý tưởng xã hội chủ nghĩa/cộng sản chủ nghĩa mà ban đầu họ theo đuổi. Ngược lại, họ đã lẳng lặng từ bỏ, phản bội tất cả những lý tưởng, tuyên ngôn, tuyên bố, mục tiêu ban đầu đó, điều chỉnh, chắp vá mô hình thể chế hiện tại như một sự cóp nhặt nửa vời giữa nền kinh tế tự do, thị trường của phe tư bản, nhưng vẫn giữ lại sự lãnh đạo duy nhất của đảng theo thể chế độc tài.
Thất bại trong việc tiêu diệt những giá trị của chế độ VNCH, ngược lại, theo thời gian, những giá trị, ảnh hưởng trong văn học, âm nhạc, tư tưởng tự do, nhân bản… của VNCH vẫn tiếp tục lan tỏa; hình ảnh lá cờ vàng vẫn tiếp tục tồn tại trong cộng đồng người Việt tỵ nạn tại nhiều quốc gia, được chính phủ nhiều nước công nhận đó là lá cờ đại diện cho cộng đồng người Việt tỵ nạn, và thậm chí, thỉnh thoảng lá cờ vàng còn xuất hiện ngay trong nước. Ngày càng ngày người dân càng mất lòng tin và ngao ngán, chán ghét chế độ, nhà cầm quyền.
Như thế có thể gọi là chiến thắng hay không?
+Vì sao người Việt vẫn tiếp tục nói về ngày 30.4.1975?
“Bên thắng cuộc” tất nhiên là vẫn tiếp tục ăn mừng hàng năm, để tiếp tục tuyên tuyền về “tính chính danh” và “công lao” thống nhất đất nước của đảng cộng sản, đặc biệt khi thực trạng đất nước ngày càng tệ hại, rối beng, lòng dân đa phần mất lòng tin vào đảng, vào nhà cầm quyền thì lại càng phải rầm rộ ăn mừng, “ăn mày dĩ vãng”.
“Bên thua cuộc” cũng có những lý do. Bởi theo thời gian, khi đảng và nhà nước cộng sản ngày càng chứng tỏ đó là một tập đoàn cai trị độc tài, yếu kém, bất lực, tham nhũng và phá hoại nặng nề đất nước; khi sự tụt hậu thê thảm về mọi mặt của VN so với các nước láng giềng trong khu vực và so với thế giới, khi độc lập-tự do-hạnh phúc chưa bao giờ thực sự có trên đất nước này và những quyền tối thiểu của con người vẫn còn bị chà đạp…thì nỗi đau, sự tiếc nuối về một cuộc chiến tranh vô nghĩa, về sự bức tử của một quốc gia dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng đã có những nền móng của một xã hội dân chủ, văn minh và nhân bản, về những cơ hội bỏ lỡ của đất nước, những chữ “nếu” oan nghiệt được đặt ra…càng làm trái tim người Việt nhức nhối.
Người miền Nam đã chấp nhận thua. Đã giao lại cả một quốc gia VNCH thuộc vào loại phát triển so với các nước chung quanh vào thời điểm ấy cho “bên thắng cuộc”. Nhưng “bên thắng cuộc” đã không biết cách thắng. Bằng việc áp đặt một mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị và mô hình kinh tế quốc doanh bao cấp quan liêu học theo Liên Xô, cộng với vô số những chính sách sai lầm về văn hóa, giáo dục, tư tưởng, những chính sách trả thù, phân biệt đối xử với người miền Nam…kết quả là chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh tế miền Nam bị phá sản, cả nước rơi vào cảnh đói nghèo, thậm chí đứng trên bờ vực của sự chết đói, và hàng triệu người bỏ nước ra đi..
Sau 42 năm, đảng và nhà nước cộng sản không những không biết nhìn lại, thành tâm hối lỗi vì những tội ác, những chính sách sai lầm, không những không thành tâm hòa hợp hòa giải mà cũng không hướng tới tương lai, dũng cảm lựa chọn con đường thay đổi thể chế chính trị lỗi thời bằng biện pháp hòa bình, như nhiều nước và mới đây là Myanmar đã thực hiện, vì quyền lợi và tương lai của đất nước, dân tộc. Ngược lại, đảng và nhà nước cộng sản vẫn quyết liệt bám giữ quyền lực bằng mọi giá, tiếp tục bám lấy mô hình thể chế chính trị độc tài toàn trị, tiếp tục phá nát đất nước bởi sự ngu dốt, tham lam, tham nhũng, về ngoại giao thì tiếp tục đưa VN vào con đường lệ thuộc lâu dài và yếu thế về mọi mặt trước Trung Cộng.
Chính vì thế mà trong lúc nhiều dân tộc khác, quốc gia khác, có thể dễ dàng khép lại quá khứ sau một cuộc nội chiến, ví dụ như nước Mỹ sau cuộc nội chiến Nam-Bắc thế kỷ XIX, Đông Đức và Tây Đức sau ngày thống nhất, còn VN thì không dễ. Chính vì thế mà người VN vẫn cứ còn tiếp tục nói về ngày 30.4-dù đã 42 năm. Lòng người vẫn chia rẽ sâu sắc. Và khi nào đảng cộng sản còn tồn tại, khi nào thể chế chính trị này còn tồn tại thì vết thương còn mãi chưa lành.
Từ lâu, sự tồn tại của nhà nước cộng sản đã trở thành lực lượng phản động, kìm hãm sự phát triển của VN, đảng cộng sản càng nằm quyền lâu dài thì khoảng cách giữa VN và các nước khác càng lớn, hệ lụy do đảng cộng sản gây ra và để lại càng nặng nề, VN càng mất nhiều thời gian để làm lại từ đầu.
Câu hỏi là người Việt chúng ta còn phải tiếp tục nói về những chuyện như thế này cho đến bao lâu nữa? Bao giờ thì một giai đoạn lịch sử đen tối sẽ thực sự khép lại và một chương mới, tươi sáng hơn cho dân tộc, sẽ mở ra?Song Chi.

Tháng Tư về, tôi mặc niệm tháng Tư

Những ngày tôi còn nhỏ, lúc đó quê hương mới vừa thay đổi (mà bây giờ tôi hiểu đó là một biến cố lịch sử), bà thường không bao giờ mua cá biển vào tháng Tư, cả nhà không ăn cá cho đến hết tháng Tư, qua giữa tháng Năm bà mới cho ăn cá trở lại. Bà không giải thích điều này, nhưng bà nói đó là một việc tâm linh, sau này lớn lên con sẽ hiểu!
Cũng như lúc còn nhỏ, tôi nhớ đinh ninh cái bến xe khách quốc doanh cùng những chiếc xe chạy bằng than, khói bốc mù mịt, bám đầy hai lổ mũi, người ngồi xe sợ nhất là phải ngồi cuối băng ghế trái (phía tài xe, gần lò than). Bà dắt tôi đi thăm ông cậu, ra đến thành phố, tôi ở nhà ông cậu (em ruột của bà) chơi với mấy bà dì (con ông cậu). Mỗi lần đi, bà mang đùm đề gạo, chuối bồ hương, gà cho ông. Và đương nhiên là bà phải xin giấy phép của ủy ban xã để khỏi bị thuế vụ tịch thu, phạt tiền khi khám xe.
Và cũng trong hàng chục lần thăm ấy, có một lần, sau đó bà đã không bao giờ đến thăm em trai của mình nữa. Tôi nhớ lần đó ông cậu đưa tôi và bà ra bến xe bằng chiếc Honda Đam (tịch thu được ‘sau giải phóng’) về nhà. Đến nơi, như mọi lần, ông đứng chơi, trò chuyện với bà một chút cho đến lúc xe chạy thì vẫy tay tạm biệt bà cháu tôi. Thời đó xài tiền kên (từng đồng xu bằng nhôm, loại năm xu, một hào, hai hào, năm hào và một đồng). Thường thì đi xe chừng vài hào, cao nhất cũng chỉ năm hào. Hai bà cháu đang đứng thì có hai người đàn ông cụt chân ghé đến ngửa tay xin tiền bà, bà nhìn họ rồi lấy ra hai hào cho hai người. Ông cậu thấy vậy, quát: “Sao chị lại cho tiền bọn thương binh ngụy này! Để chúng nó chết đói đi là vừa!”. Bà im lặng, không nói gì, bà chỉ xoa đầu tôi, nói: “Ông cậu nói chơi đó con, không có chi đâu!”.
Và đó cũng là lần cuối cùng tôi và bà đi thăm ông cậu, sau này lớn lên, rồi làm ăn, có vợ con, tôi đi ra phố cũng nhiều, nhưng chưa có lần nào tôi mời hay rủ mà bà chịu đi ra phố. Mãi cho đến khi bà bệnh, đưa bà ra bệnh viện thành phố, bà cũng chỉ nằm cho đến khi thấy khỏe đôi chút là bằng mọi giá phải về nhà. Và, buồn nhất của tôi, có lẽ là cái lần bà nằm lâu, thật lâu ở bệnh viện thành phố, cho đến khi tôi đưa bà về trong im lặng, mặc dù bà chẳng đòi về như mọi lần, trên đường đưa bà về, mọi ký ức thành phố, ký ức hai người thương binh chế độ cũ nhìn bà đầy chia sẻ và cảm thông sau khi bà bị người em (vốn là quan chức to trong chế độ Cộng sản) la mắng chỉ vì bà tặng tiền cho họ. Và, không hiểu sao lúc đó, trên xe cứu thương chạy chậm, để đèn báo hiệu “người về”, tôi lại nhớ đến tháng Tư không ăn cá của bà!
Mãi cho đến bây giờ, trong những gì tôi hiểu biết về tháng Tư, tôi mới thấy điều bà đã nhìn thấy và đã mang theo nơi cỏ xanh, rằng biển tháng Tư buồn lắm, và những con cá tháng Tư cũng buồn, chúng mang một điều gì đó thật khó nói. Bởi biển tháng Tư, dù bây giờ, lúc đó hay một ngàn năm nữa, những tiếng kêu, những nỗi đau nơi đáy sâu đại dương hay những oan khuất lịch sử sẽ còn đau, mãi đau chẳng thể nguôi. Đau như những ngôi mộ trên bờ biển An Dương, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế, nơi mà bên này doi đất, cồn cát là phá Tam Giang, bên kia là trùng dương xa lắc, đây cũng là nơi mà tháng Hai năm 1975, có hàng triệu người chen chúc nhau lên tàu và có hàng trăm ngàn người thoát ra đại dương, hàng vài chục ngàn người bỏ mạng giữa đại dương và có hàng ngàn người không ra kịp trùng dương, phải bỏ mạng trên ngọn sóng, xác của họ xô dạt vào bờ, người dân thôn An Dương đã tìm họ trên khắp bờ biển để đào hào, chôn qua quýt khi đêm về.
Mãi đến hơn ba mươi năm sau, ông Nguyễn Công Thiện, một người giàu lòng nhân ái đã tự bỏ một số tiền không nhỏ, sau đó kêu gọi mọi người trong làng góp thêm tiền để cải táng khu mộ tập thể cả trăm người, trong đó toàn sắc phục lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có một xác nữ quân nhân được chôn riêng, những người nam quân nhân đều chôn chung trong một túi vải bạt lớn. Những vị này sau đó được cải táng lên đồi cao, được nhang khói mỗi dịp Rằm, đầu tháng và lễ lạc, Tết nhứt.
Ông Thiện không kể gì với chúng tôi mặc dù ông từng khẳng định đã chứng kiến cả một chiếc tàu chưa kịp ra khơi thì bị pháo kích và chìm, họ chết rất nhiều, xác trôi dạt vào bờ, xác trôi theo gió mùa Tây Nam, vào tận Đà Nẵng, Quảng Nam, đặc biệt Cù Lao Chàm, Hội An cũng có rất nhiều xác mang quân phục… Chúng tôi nghe nhiều thông tin khác nhau, nhiều nguồn tin nói về cái chết của họ, có người nói vài trăm người chết, có người nói cả ngàn người chết, có người nói chừng một trăm người… Nhìn chung, số lượng người chết thì người già kể khác, trung niên kể khác. Nhưng nguyên nhân chết thì chung, đó là bị pháo kích chìm tàu, xác trôi khắp nơi.
Tháng Tư về, tự dưng tôi thấy buồn, thấy yêu và đau vì biển, biển mang nặng máu, thân xác và linh hồn của thế hệ đi trước, của những tâm hồn yêu tự do hay sợ hãi trận gió mới có gì đó tựa như thù hận và man rợ, của những linh hồn vĩnh viễn tự do nơi đại dương, tiếng hát tự do của họ hòa cùng lời ca của đại dương ẩn mật mà thiên thu sầu hận.
Tháng Tư về, tự dưng tôi thấy buồn vì nhớ bà của tôi, bà đã đi xa, thật xa, tôi không bao giờ có thể gặp bà nữa, và cũng không bao giờ được nghe bà nói đầy vẻ bí mật rằng “Con nhớ lớn lên, có vợ có con rồi cũng cố gắng đừng ăn cá vào tháng Tư nghe con, tháng đó tội lắm…”. Và tôi càng không thể hiểu hơn vì một nỗi buồn khác của bà, đầy mâu thuẫn mà tôi không tiện nêu ra ở đây. Dường như với bà, không có biên kiến, không có thù hận, không có bên thắng bên thua, chỉ có những con cá đói, vô tình đã ăn những đồng loại ngang tuổi bà hoặc đáng tuổi em út, con cháu bà trong một mùa tháng Tư. Và bà không ăn cá vào tháng này như để nhắc cho riêng mình một điều gì đó thật đau, khó nói!
Tháng Tư về, tôi buồn nhưng cũng có chút nguôi ngoai vì bà đã đi xa, thật xa trước khi biển chết, trước khi bà phải chứng kiến con cháu của bà không những ngưng ăn cá vào tháng Tư mà cả năm nay, chẳng có con cá nào trong cái nồi kho cá của bà để lại.
Tháng Tư về, biển quê hương đã chết, nó chết và mang màu tang tóc, bởi quá khứ, bởi hiện tại, bởi đâu đó vi vu trong gió chiều, trên đồi thông, bên bờ biển, tôi đã nghe những khúc hát, tôi nghe tiếng rì rào của lá, tôi nghe tiếng vi vu của điều gì đó tựa như có người đang thì thầm kể lại mỗi nỗi buồn, một nỗi oan khuất nào đó giữa trùng dương.
Tháng Tư về, tôi mặc niệm tháng Tư!

Một tuần trước ngày bầu cử tổng thống Pháp

Sáng hôm nay đột nhiên hàng loạt tin nhắn tới tấp đến trên điện thoại của tôi. Chưa kịp qua ngạc nhiên thứ nhất thì lại ngạc nhiên thêm một lần nữa : tất cả những tin nhắn ấy là của cùng một người, một giáo viên Pháp dạy trung học phổ thông, bà buồn phiền và lo lắng nhắn cho tôi rằng những người Việt Nam xung quanh bà sẽ bỏ phiếu cho Le Pen.
Nước Pháp đang ở thời điểm nóng bỏng, đúng một tuần nữa sẽ kết thúc chiến dịch bầu cử tổng thống, và người Pháp sẽ phải chọn giữa hai ứng viên đã qua vòng một : Emmanuel Macron, người sáng lập phong trào En Marche ! (Lên Đường !) và Marine Le Pen, lãnh đạo đảng Front National (Mặt trận dân tộc).
Vì sao nữ giáo viên người Pháp này cảm thấy buồn phiền và thất vọng khi những người Việt Nam mà bà biết quyết định bỏ phiếu cho Le Pen ? Vì đối với bà, cùng với Le Pen, nền dân chủ ở Pháp sẽ bị đe doạ nghiêm trọng, chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc sẽ phát triển, điều đó cũng có nghĩa là thù hận và bạo lực sẽ gia tăng trong toàn xã hội, mà trước tiên là sẽ gia tăng trong trường học. Không phải chỉ một mình bà giáo viên này nghĩ như vậy, rất nhiều người Pháp khác chia sẻ nỗi lo lắng này. Tôi sẽ trở lại với vấn đề này khi có dịp.
Tôi trả lời bà ấy rằng, theo quan sát của tôi, số người Pháp bỏ phiếu cho Macron sẽ nhiều hơn số người Pháp bỏ phiếu cho Le Pen, và trong cộng đồng người Việt có thể cũng sẽ như vậy, chỉ vì bà không biết những người Việt Nam đó mà thôi.
Dĩ nhiên, người ta không thể phủ nhận một thực tế : các khủng hoảng kinh tế và xã hội ở Pháp, các cuộc khủng bố dã man diễn ra trong những năm vừa qua, thất nghiệp gia tăng, đời sống khó khăn… khiến cho số người ủng hộ đảng cực hữu của Le Pen tăng lên đáng kể, và Marine Le Pen đã lập một kỷ lục mà trước bà Front National chưa từng làm được : lọt vào vòng hai của kỳ bầu cử với số phiếu cao. Sau Brexit ở Anh và sau thắng lợi của Tổng thống Trump ở Mỹ, người ta không còn dám chắc vào điều gì, và vì thế nỗi lo lắng trước khả năng một đảng cực hữu lên nắm quyền đang lan rộng trong xã hội Pháp.
Cá nhân tôi cũng không thể dám chắc vào một phỏng đoán nào. Mặc dù, hồi đại hội XII của Đảng cộng sản Việt Nam, tôi là một trong số rất ít người cho rằng Tổng bí thư ĐCS sẽ tiếp tục giữ chức vụ này chứ không phải là cựu thủ tướng (mở ngoặc để nói thêm rằng, lúc đó những dấu hiệu mà tôi nhìn thấy là những dấu hiệu tích cực, và tôi ý thức được rằng tôi cũng có thể sai lầm như tất cả mọi người) ; và trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ, các phân tích cá nhân cũng khiến cho tôi nghĩ rằng Trump có thể sẽ là người thắng cử, và đã đề cập đến khả năng ấy trong bài blog « Lãnh tụ hay lãnh đạo » viết vào ngày 30/10/2016, tức là trước ngày bầu cử của Mỹ. Mặc dù thế, tôi cũng không thể dám chắc về một phỏng đoán cho kết quả bầu cử ở Pháp lần này.
Tuy nhiên, dù không thể đoan chắc, các phân tích của tôi ngả theo hướng Macron sẽ thắng cử. Và tôi có nói phỏng đoán này từ năm 2016 với một số người. Vì sao phỏng đoán của tôi đi theo hướng này, khi mà Macron là một ứng viên còn rất trẻ, tuổi dưới 40, không thuộc hệ thống nào, không tả, không hữu, không có sự ủng hộ của các bộ máy đảng, nghĩa là không có sự ủng hộ của các lực lượng chính trị truyền thống, bị hoài nghi là thiếu kinh nghiệm, bị các đối thủ chính trị cho rằng đó là ứng viên của hệ thống tài chính, ngân hàng, và cho rằng thành công của ông chỉ là thành công về phương diện truyền thông… ?
Một số lý do sau đây khiến tôi cho rằng sau một tuần nữa tổng thống Pháp sẽ là Macron.
Nước Pháp có ba truyền thống : văn chương (nghệ thuật nói chung), cách mạng, và chủ nghĩa nhân văn. Nhờ ba truyền thống này mà chủ nghĩa quốc-xã, chủ nghĩa phát-xít không phát triển được ở Pháp, (dù rằng Pháp cũng bị ảnh hưởng bởi các khuynh hướng này, và dù rằng chủ nghĩa tư bản Pháp thì cũng giống như mọi chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới) ; đồng thời đảng cộng sản Pháp cũng rất khác các đảng cộng sản toàn trị kiểu Nga Xô-viết hay Đông Âu.
 Macron, chưa biết ông sẽ hành động như thế nào nếu được bầu làm tổng thống, nhưng trong các diễn văn của chiến dịch tranh cử ông chứng tỏ rằng rất hiểu các truyền thống này. Cuốn sách trình bày chương trình tranh cử được đặt tiêu đề là « Révolution », ngay sau khi xuất bản (24/11/2016) được lọt vào tóp 5 cuốn sách bán chạy nhất, đầu tháng 12/2016. Bản thân việc đứng ra thành lập một phong trào chính trị hoàn toàn không gắn với truyền thống tả-hữu trong chính trị Pháp cũng có thể được xem là một bước nhỏ mang tính cách mạng. Một phát ngôn của Macron về tội ác của chủ nghĩa thực dân gây trãnh cãi và gây chỉ trích, tuy nhiên, những người theo tinh thần nhân văn của Victor Hugo hay tinh thần các nhà văn từng phản đối chiến tranh Algérie thì lại rất ủng hộ. Một vài dẫn chứng như vậy để nói rằng Macron rất hiểu các truyền thống Pháp và tinh thần Pháp (cũng không có gì lạ, vì ông từng là phụ tá cho triết gia Paul Ricoeur) và đã vận dụng những điều này để tạo nên một thành công mà sáu tháng trước rất ít người hình dung tới.
Ngoài ra, nếu sống trong lòng xã hội Pháp sẽ nhận thấy một nỗ lực bền bỉ của người Pháp, nỗ lực kháng cự lại nỗi sợ hãi, kháng cự lại sự thù hận và tình cảm bài ngoại có thể nảy sinh sau các cuộc khủng bố, nỗ lực bảo vệ các giá trị dân chủ và tự do. Nỗ lực đó sẽ kháng cự lại các phong trào mang tính phản dân chủ. Nỗ lực đó là biểu hiện của tinh thần nhân văn được thể hiện trong đời sống thực, trong đời sống hàng ngày của người Pháp, chứ không phải chỉ là trong sách vở.
Tinh thần nhân văn đó thể hiện trong các tin nhắn của bà giáo viên mà tôi nhận được sáng nay.
Paris, 30/4/2017
Nguyễn Thị Từ Huy