Friday, February 23, 2018

Trà sớm với Tết xưa!

Image result for Trà sớm với Tết xưa!Đối với tôi ngày ấy, hình như cái gì vui, cái chi ngon, cái chi hay đều gắn liền với mới, với Tết như áo mới, quần mới, trò chơi mới, tiền lì xì mới. Cho nên từ khi tiếng của bà phát âm chậm rãi chữ “năm mới” vọng lên trong căn nhà, có một nỗi mừng khấp khởi làm nao lòng, và chờ đợi dấy lên từ lúc não nao…


GS. TS Thái Kim Lan. Ảnh: tapchisonghuong.vn

“Tết” đối với tôi hồi trẻ thơ hình như luôn gắn liền với chữ “mới”. “Năm mới”, như bà tôi thường bảo khi tháng Chạp đã nghiêng, ánh nắng pha màu trăng lấp ló bên kia sông, kéo lên đỉnh núi Kim Phụng từ đồi Hà Khê. Ấy là lúc nắng “mới” lên, sau mấy tháng mưa dầm lê thê. Một buổi sớm mai còn ngái ngủ trong mùng, nghe bà nói vọng sang bên gian chái phía tây, dặn dò mấy bác sửa soạn lá dong, lá chuối, đong nếp, chuẩn bị mứt món đón Tết, mừng năm mới.

Có lẽ đối với người lớn, “mới” mang ý niệm thời gian như dòng sông Hương đang chảy ngoài kia, mải miết sóng dồn sóng triền miên - năm cũ bước sang năm mới, - có một biến chuyển sắp xảy ra, một bước nhảy thể tính, thay đổi đời người, thay đổi vận mệnh trong hướng lạc quan, hi vọng. Tiễn đưa năm cũ để đón năm mới đối với người lớn là một lễ nghi mang nhiều bí nhiệm, liên quan đến trời đất cỏ cây con người...  

Còn đối với tôi ngày ấy, hình như cái gì vui, cái chi ngon, cái chi hay đều gắn liền với mới, với Tết như áo mới, quần mới, trò chơi mới, tiền lì xì mới. Cho nên từ khi tiếng của bà phát âm chậm rãi chữ “năm mới” vọng lên trong căn nhà, có một nỗi mừng khấp khởi làm nao lòng, và chờ đợi dấy lên từ lúc não nao… Đợi đến năm mới... nghe sao nó lâu hơn cả thế kỷ... trong trái tim non... Bao nhiêu giấc mơ quấn tròn theo chữ mới ấy nhỉ?... Mà phải đợi... ôi lâu! Dạo ấy đời sống còn đơn sơ, mơ ước cũng thật giản dị vô cùng, một đồng xu mới, một con tu huýt đất sét mới nặn, một đôi guốc mộc còn thơm mùi gỗ mới, áo mới, quần mới... Những điều chưa có đều được mắc vào cành cây mùa xuân... với nỗi ngóng mong...

Cho đến sáng mồng một Tết, khi được mẹ mặc cho áo mới, quần mới, tôi mới biết mùi “mới” lạ thế nào, đó là mùi vải quyến còn thơm sợi vải bông gòn ngai ngái mà nếu không vì... năm mới... thì tôi đã giãy nảy không chịu mặc vào, trẻ nít thường ưa áo cũ, vì ghiện hơi áo quen thuộc ngọt ngào, nhưng cũng chỉ vì hai chữ năm mới, thấy mình như người lớn mà lau chau đòi mặc. Khi mặc vào thì thấy người mình cứng đơ như búp bê biết đi. Cái áo hắn mới chi mà lạ!  

Khi nút áo cuối cùng được cài xong thì đã thấy các anh chị con bác con cô suýt soát tuổi xúng xính ngoài hiên, bộ dạng khác với thường ngày, tay chân lúng ta lúng túng, đi chập chững từng bước một, nhưng mặt ai cũng hí hửng nghênh nghênh, bộ tịch ngượng nghịu buồn cười...trong bộ cánh mới tinh...”


Chén trà sớm của tôi hôm nay đã nguội trong tay, mà tôi còn lan man... lẩm cà lẩm cẩm với cũ mới mô tê... như nói mớ trong mê, nếu không có tiếng rơi trịch của đóa hải đường trên sân đất và nắng sớm len qua buồng hoa cau mới trổ, khẽ rớt lên thềm, làm chói mắt. Mới biết tôi đang ngồi đây, trên nền cũ ngôi nhà xưa ấy, như mỗi lần trở về, uống chén trà hoa mộc với cảm giác mình có thể ngồi mãi nơi đây, cả tháng liền năm, hương trà nhấp đượm một thứ hạnh phúc đến từ cội rễ ngàn xưa… nối mãi đến ngàn sau.

Để xin lỗi cho chén trà muộn này - và những câu cà kê -  trăm dâu chỉ một tội này mà thôi, xin đổ lỗi này cho...  màu nắng ấy! Nắng mới! Mà hình như chỉ có ở Huế mới có thứ nắng này. Lạ lẫm như chưa bao giờ thấy, như hư như thực có thể xui mơ giữa ban ngày. Chén trà của tôi rung động trong nắng thấp thoáng gần xa. Màu nắng mới đang mông lung choàng lên buồng hoa cau, rải trên lá nhãn lá vải lấp lánh màu sáng tựa ánh trăng, mơ hồ trên dòng nước huyền hoặc khói sương sau hơn chín mươi ngày trót mưa. Ai trải qua ba tháng mưa dầm ở Huế, mưa và mưa như không thể dứt, sợi liền sợi, giọt nối giọt, khi ồ ạt khi thánh thót, khi nhẹ như tiếng ru, khi não nuột những thở dài, khi tấm tức nghẹn ngào, khi ủ dột u sầu, mờ mịt tối tăm luôn cả tâm hồn, mới biết nắng về như một ân huệ hồi sinh. Khi mặt trời vừa vén mây. thả lơ lửng vài sợi nắng trên con sông bao phen chìm lỉm trong mưa, chậm rãi nâng núi vươn cao trong một thứ ánh sáng hầu như không thật... khu vườn với cây lá bỗng hiện ra ảo mộng như trong cổ tích. Cổ tích mà có thật trên thế gian. Bởi ánh nắng ấy chỉ ban ơn cho những ngày xuân ở Huế. Cho nên tôi thường gọi nó là nắng Tết. Cho nên khi nắng hé lên toả khắp không gian, ta có thể kêu lên “nắng như Tết... Tết đã về ngoài ngõ...”

Như một lễ nghi ngoài nghi lễ, sáng mùng một Tết, sau giờ chúc thọ các ông bà, các bác, các cô, anh chị em chúng tôi kéo nhau ra sân khoe với nhau áo mới, đủ màu hồng vàng xanh đỏ những vạt áo tay áo sột soạt còn cứng nước hồ mới toanh. Áo đứa mô cũng đẹp hết! So áo xong rồi chụm đầu lại với nhau mở bao lì xì đếm cho nhau những tờ bạc mới toanh. Bà và mẹ không thiên vị với đứa trẻ nào, 2 tờ bạc mới được đếm lui đếm tới thành... như nhiều hơn!  Bạc mới thời ấy thơm ghê! Chả là tôi đã nhiều lần đưa tờ bạc lên mũi hít để nghe rõ mùi nó mới ra làm sao!  

Thế rồi cả bọn kéo nhau ra ngoài ngõ, đi xem Tết. Bức tranh tết Huế ngày xưa quả khác với ngày nay. Trên con đường dọc bờ sông Hương, con đường đến chùa Linh Mụ nhẹ hẫng tiếng chuông hành hương ngày mồng một Tết, rải rác những hột nổ xanh đỏ tím vàng của buổi cúng đêm giao thừa nhà nhà đã tung ra theo với lời khấn nguyện “trời quang mây tạnh, phước lộc hằng hà” và xác pháo mừng xuân tưng bừng tô điểm vui mắt người đi…

Dòng sông Hương chung thủy dải nước lao xao xanh màu lục thúy, núi Kim Phùng xanh màu xanh da trời bát ngát đàng xa, và nắng đan bóng tre trên con đường đất làm vui chân khách vãn cảnh chùa, những tà áo mới màu sắc muôn vẻ vờn bay trong gió. Nhìn là thấy hân hoan, hớn hở trong lòng khiến cho cảm thấy bình an dưới thế.

Xa xa dưới chợ Kim Long tiếng trống chầu giòn giã trong gió thoảng của gánh hát bội ngày xuân, tiếng hát bài chòi theo sóng nước dạt đến tận Hà Khê...   

Cảnh vui Tết ngày xưa cũng khác với cảnh Tết thời nay, rộn ràng mà không hỗn loạn xô bồ. Xế trưa mồng một Tết đã thấy dưới bóng cây đa hay lũy tre những đám đông tụ lại quây quanh những bàn bài vụ, bàn bầu cua cá cọp, bàn nhất lục, thử vận đỏ đen trong những ngày đầu năm. Cảnh tượng thanh bình, hoan lạc. Ngoài đình có bài chòi, trong gia đình chúng tôi chơi bài tới, đổ xăm hường. Những cuộc chơi thử vận đỏ đen này được cho phép trong ba ngày Tết. Chơi bài ngày Tết không đồi trụy như tứ đổ tường, không khủng hoảng tinh thần như những thứ cá độ, không phá sản như các sòng bạc casino.


Chơi đùa cũng là một cách thể hiện tính xã hội của hiện sinh tại thế, nó thuộc tính người, từ lúc trẻ thơ. Chơi cũng là một cách xã giao giữa người với người. Ở đây tính xã hội nằm trên bình diện thả lỏng, tự nguyện không ép buộc, trong khuôn khổ đồng thuận “chơi” cùng với nhau, có thể tăng thêm phẩm chất cuộc sống chung thay vì sát phạt, chém nhau. Giải trí cần thiết cho con người, và cách thể hiện giải trí như thế nào bộc lộ phẩm chất văn hóa của con người.

Cho nên ngày Tết chúng tôi được chơi bài, ăn thua với những đồng tiền mới, gia tài “kếch xù” gồm mấy đồng bạc mới được lì xì. Cứ Tết này qua Tết khác, tôi thuộc lòng các môn chơi bài ngày Tết đến nỗi nằm mơ từ chốn tha hương: con ngựa hồng, con trâu xanh, con voi trắng, ếch vàng, tôm hồng, cá bạc, con heo đen, con rùa xanh trên tấm gỗ vuông vẽ hình các con thú của bàn bài vụ. Những ngày năm ấy, bọn trẻ đùa vui trên ngõ, quay lui quay tới đã thấy anh H. sà vào bàn bài vụ bên vệ đường. Anh H. mê bài vụ đến nỗi ngồi lì ở đó quên cả ăn cơm và có nhiều khi đi về với những đồng bạc rủng rỉnh trong túi mặt mày hớn hở chia cho chúng tôi nhưng cũng có khi sạch bách tiền lì xì, sạch luôn cả tiền mượn chúng tôi. Còn chị tôi mê bài tới. Bài tới, nguồn gốc của trò chơi bài chòi, gồm những quân bài có tên những sinh hoạt và hiện vật ngày thường, biểu hiện thú chơi dân dã: thầy, trò, ngủ trưa, gióng, gối, trường hai, trường ba, sáu tiền, tám tiền, thường chơi 6 người trong gia đình, đem lại nụ cười cắn chỉ trầu cau của bà, mẹ, chị, anh, em, ở mỗi tiếng hô quân bài, kèm theo những câu thơ trào phúng làm những người cùng chơi cười hỉ hả. Vào những ngày ấy, người ta không khóc nhỉ! Nghe như tiếng cười còn đọng quanh cột nhà! Chị tôi thích bài tới vì chị thường gặp hên, năm mô cũng “tới rồi” (tiếng hô khi thắng cuộc, hết quan bài rác, còn con bài chực được người cùng chơi đánh trúng) với nụ cười đẹp nhất của chị từ thuở ngày xưa! Còn tôi mê nhất đổ xăm hường...

Chén trà nguội ngắt trong tay và mưa bắt đầu lạt sạt trên lá chuối bên song, trời hửng sáng từ lâu mà câu chuyện nghìn lẻ một đêm chưa dứt, ký ức tôi đang kỳ kéo níu tôi quay về với tiếng leng keng của sáu hột súc sắc của bộ xăm hường, một trò chơi tiêu biểu của gia đình Huế vào dịp đầu năm. Đầu năm nếu ai đổ ra mặt hường (mặt tứ của con súc sắc được bôi màu đỏ) là hên, đổ ra ông trạng (tứ hường) thì năm mới công danh thành đạt, đổ ra ngũ hường là công danh hiển hách, đổ ra lục phú là giàu to (lùa hết cả làng!), đổ ra lục phú hường, hoạ hiếm nhất trong trò chơi này, được lùa hết cả làng mà còn có nghĩa đại đại phú kếch xù, ăn gấp đôi, nhưng người Huế thường cho rằng, đỏ quá hóa thành đen, đổ lục hường xui, năm mới phải đề phòng! Xăm hường là một trò chơi phản ảnh ít nhiều nhân sinh quan của chốn cố đô kinh kỳ, giấc mơ trạng nguyên, tiến thân của mỗi người trong xã hội, ẩn nấp trong trò chơi này, vận đỏ đen của đời người và niềm hi vọng tiến lên phía trước... đồng thời với quan niệm sống trung đạo ngay cả trong lúc chơi, không nên đỏ quá, mà thành xui! Xăm hường với lũ trẻ chúng tôi ngày ấy làm thích thú vì tiếng reo của súc sắc trên tô sứ xưa nghe leng keng vui tai đến bây giờ còn vẳng lại… Ngày Tết mà không nghe tiếng bát sứ kêu lanh canh do hột súc sắc quăng xuống là... chưa phải Tết ở Huế tôi...
Image result for Trà sớm với Tết xưa!

Cho đến bây giờ, bên trời Tây tôi vẫn còn giữ bộ xăm hường xưa quý giá ngày ấy, vẫn bày ra ngày Tết để chơi với con cháu và với cả những người bạn Đức, họ cũng bắt chước hô nhất hường nhị hường. Trong những lần chơi, tôi vẫn còn nghe xen lẫn tiếng hôm nay tiếng của ngày xưa ấy với những kỷ niệm lạ lùng, mà mỗi khi nhớ về, có thể rớt nước mắt vì thương…

Mưa đã tạnh cơn rồi, bình trà vừa cạn, nghe điện thoại reo và tiếng Kim Chi hỏi “Chị ơi chiều nay có đổ xăm hường?”. Tiếng trong trẻo như tiếng của ai một thời thơ dại.
GS. TS Thái Kim Lan

Xíu mại sốt cà chua

Image result for Xíu mại sốt cà chuaXíu mại là một trong những món ăn của người Trung Quốc. Ở Việt Nam món xíu mại được chế biến theo phong cách đặc trưng của ẩm thực Việt Nam, trông giống thịt viên, món này thường được dùng với cơm hoặc kẹp vào bánh mì.Image result for Xíu mại sốt cà chua
PHẦN 1: CHUẨN BỊ NGUYÊN LIỆU
- Thịt xay: 350-400g, nên chọn phần nạc dăm có cả mỡ và khi xay chú ý xay nhuyễn hơn so với các món khác.
- Hành tây: 1-2 củ khoảng 100g
- 1 ổ bánh mì
- 1 trái cà chua
- 150ml sốt cà chua
- 1 nhánh hành lá
- 1 nhánh mùi
- 100ml sữa tươi không đường.
- Các gia vị như bột nêm, tiêu, dầu ănImage result for Xíu mại sốt cà chua
Xíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 1
PHẦN 2: CÁCH LÀM XÍU MẠI SỐT CÀ CHUA
Bước 1: Bánh mì xé miếng, sau đó ngâm vào sữa tươi khoảng 10 phút cho bánh mềm. Sau đó bóp nhỏ.
Xíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 2
Bước 2: Hành tây gọt vỏ, rửa sạch, xắt nhỏ.
Xíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 3
Bước 3: Cà chua rửa sạch, bỏ lõi và hạt sau đó xắt hạt lựu nhỏ. Hành lá, rau mùi bỏ rễ, rửa sạch, xắt nhỏ.
Xíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 4
Bước 4: Cho các nguyên liệu thịt xay, bánh mì, hành tây cùng chút bột nêm, hạt tiêu vào trộn thật đều, để khoảng 5-7 phút cho ngấm gia vị. Chú ý chừa lại khoảng 1 thìa hành tây.
Xíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 5
Bước 5: Lấy 1 cái đĩa lớn, thoa một lớp dầu ăn lên bề mặt đĩa để khi hấp thịt không bị dính. Sau đó lấy hỗn hợp thịt ở trên viên thành những viên tròn vừa ăn, xếp thịt viên lên đĩa, thực hiện đến khi hết thịt.
Bước 6: Cho thịt vào hấp khoảng 10 phút cho chín. Bạn có thể hấp bằng xửng hấp hoặc dùng mang bao thực phẩm bao kín rồi cho lò vi sóng quay khoảng 5-7 phút là được. Gạn tách riêng phần nước thịt (nếu có).Image result for Xíu mại sốt cà chua
Xíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 6
Bước 7: Bắc chảo lên bếp, thêm 1 thìa dầu ăn sau đó cho phần hành tây còn lại vào phi thơm. Tiếp đó cho cà chua vào đảo kỹ, rồi cho phần sốt cà chua và phần nước khi hấp thịt vào cùng. Nêm nếm vừa ăn, cho những viên thịt đã hấp chín vào đảo đều, đun nhỏ lửa cho thịt ngấm sốt và đến khi nước sốt sền sệt là được. Tắt bếp, cho thịt ra đĩa cùng với nước sốt sau đó rắc xíu hành lá, rau mùi lên trên là được.
Image result for Xíu mại sốt cà chuaXíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 7
Xíu mại ăn nóng cùng cơm hoặc bánh mì rất ngon. Những viên thịt ngọt, đậm đà, thơm ngon, đẹp mắt thực sự hấp dẫn, đặc biệt là các bé.
Xíu mại sốt cà chua ngon đến miếng cuối cùng - Ảnh 8
Chúc các bạn thành công với cách làm xíu mại sốt cà chua thơm ngon cho gia đình thưởng thức!
Theo Chun Chun Mai (Khám phá)

Hẻm lính

Không ngờ ở ngay thành phố Sài Gòn giờ này lại còn có cái hẻm được gọi tên như vậy. Khó tin quá. Nghe người dân, hay những người sống quanh đó gọi là hẻm “lính”, ai chẳng ngạc nhiên. Ừ, mà hẻm “lính” gì? “Lính” VNCH hay lính “mang dép râu”? Lẽ dĩ nhiên là hẻm “lính chế độ cũ”. Bác Bẩy Bán Chè trả lời tỉnh bơ như thế. Gọi là Bác Bẩy Bán Chè, vì tên bác là Bẩy, lại bán chè. Giản dị chỉ có thế. Ít ra, bác Bẩy đã bán chè ở đầu hẻm này được bốn muơi năm rồi, bác mới nghỉ bán vài năm nay vì đã tới tuổi. Đến đầu hẻm, hỏi nhà Bác Bẩy Bán Chè là ai cũng biết, hay nếu gặp bác Bẩy, hỏi những người sống trong hẻm, bác sẽ chỉ cho rành mạch.
Rất lấy làm lạ. Sao lại gọi là Xóm “Lính”, hả bác? Có thấy có ông “lính” nào đâu? Sao chính quyền không “dẹp”’đi cho rồi?
Bác Bẩy sẽ nhìn người nói câu đó như dò hỏi, trước khi trả lời một cách úp mở:
-Đâu có được.

Thế là, càng nghĩ, càng thắc mắc. Bác Bẩy gần như là “Thủy Tổ” ở đây. Bác đã lớn tuổi, cả đời buôn bán. Tuy tiếng tăm không được nổi bằng Ngã Ba Chú Ía hay Ngã Tư An Nhơn (?), hẻm lính có nhiều nét đặc biệt không giống ai.
Image result for Hem linh - Ha Viet Hung
Đã vậy, hẻm “lính” còn mang một tấm bảng xanh, chữ trắng, với hàng chữ “Khu Phố Văn Hóa” thật “hoành tráng” nữa mới kỳ. Tấm bảng này do anh Công An Khu Vực (CAKV) tên Tân, với sự giúp sức của một anh bạn trong cơ quan, lễ mễ khiêng từ trên Phường tới, rồi đi “vận động” mấy anh thanh niên trong hẻm dựng lên. Cũng may, Phường chỉ cách hẻm lính một đoạn không mấy xa.

Chính mấy người trong hẻm cũng không hiểu vì sao “hẻm” lại đổi thành “khu phố”. Thôi thì, dù sao “khu phố” vẫn oai hơn “hẻm”. Chỉ khổ một điều, từ ngày cái “hẻm” được đổi thành “khu phố văn hóa”, anh CAKV xuống nhiều hơn. Anh có vẻ quan tâm đặc biệt đến cái hẻm này. Người trong hẻm thường xuyên đi họp hơn. Khi thì anh hô hào giữ vệ sinh chung, khi thì anh cổ động phong trào phòng cháy chữa cháy, khi thì khuyến cáo vấn đề “người lạ” trà trộn trong hẻm. Buổi họp nào cũng được mọi người trong hẻm “nhất trí”, vỗ tay rào rào.

Chú Chín Xương được cử làm Tổ Trưởng Dân Phố. Mọi người tỏ ra hài lòng. Ít ra tiếng nói và ý kiến của mình còn được bảo vệ và đóng góp. Nghe nói, có nơi, Tổ Trưởng Dân Phố là bà bán xôi, con ở hay anh xích lô. Nghe có vẻ “giai cấp vô sản” gặp thời. Ngoài ra, anh Tân còn để ý đến cô Mai, cô cháu nội của chú Chín Xương. Cô Mai có nước da trắng, dễ nhìn. Cô không đẹp lồ lộ, nhưng có duyên, nhất là có tư cách hơn nhiều người khác. Hiện cô là Thư ký Kế toán của một công ty xuất nhập khẩu. Khi vừa tốt nghiệp Tú Tài phần hai (bây giờ gọi là Phổ thông trung học), cô thi vào Trường Y, nhưng bị rớt vì “lý lịch có vấn đề”. Từ đó cô thất vọng, không còn muốn thi vào đâu hết. Một mình cô bươn chải đi làm, nuôi cả ông bà nội. Cô lại là người hiền lành, dễ mến, ăn nói nhỏ nhẹ. Gặp ai, cô cũng nhanh nhẩu chào trước. Cô được lòng mọi người trong hẻm. Anh CAKV lại có cảm tình với cô. Anh có nước da bánh mật, nhưng khoẻ mạnh, sức học han chế, đâu lớp 3 hay lớp 4 gì đó, rồi anh bỏ học vì khó quá và nhà lại nghèo nữa. Anh là người thành thật, “có sao nói vậy”.

Hỏi anh, nếu mai mốt “thôi” làm cho cách mạng, tính làm nghề gì, anh trả lời tỉnh bơ, không cần suy nghĩ:

-Thì…đạp xe ba bánh. Tưởng anh nói chơi cho vui chuyện, ai ngờ anh nói thiệt.

Sau này nhiều nguời chứng kiến, sau khi được Phường “thải” ra, anh mua ngay, hay có nguời cho, một chiếc xe ba bánh, thế là anh đạp tối ngày. Ai thuê gì, làm nấy. Anh lại còn được “ cách mạng” cho đi học nữa. Nghe nói anh có bằng Luật sư hệ tại chức (Hệ vừa làm vừa học). Ghê chưa? Kể ra anh cũng giỏi thật, biết “vươn lên trong cuộc sống” hay biết “khắc phục mọi khó khăn”.

Anh luôn tìm cách tới hẻm để mong tiếp xúc với cô Mai. Chỉ nhìn thôi, cũng bớt nhớ rồi. Còn nói, thì anh vẫn chưa “dám”. Cứ nhìn mắt cô, hay đứng trư ớc mặt cô, anh lại thấy “sợ”, còn biết nói năng gì nữa. Nhưng mỗi đêm, anh đều ngủ không yên. Anh thấy việc lựa cách nói chuyện với cô Mai còn khó hơn đánh “Đế Quốc Mỹ” nữa. Cầm cây AK còn dễ hơn nhiều, muốn bắn đâu là bắn, loạn xạ cả lên, tứ hột sen.

Trong hẻm có mấy nhà có thân nhân sống ở nước ngoài, biết anh là dân “vô sản chuyên chính”, một đời “phục vụ cách mạng”, trên chỉ có mỗi hàm răng, duới chẳng có gì, thỉnh thoảng, họ lại “tặng” anh một hai món đồ, như cái bàn chải, kem đánh răng, cục sà bông... Anh lấy hết, không từ chối một món nào, và cũng quên, không cần cám ơn người cho. Có người cắc cớ hỏi, chú Tân ghét bọn Mỹ xâm lược, sao lại thích đồ Mỹ? Anh mỉm cười, nói một câu gọn lỏn: “Tôi ghét đế quốc Mỹ, chứ đâu có ghét đồ Mỹ”. Ai cũng biết anh nói như vậy là ngang phè, nhưng mọi người đều mỉm cười hay gật đầu thông cảm.

Một bữa tháng tư, UBND Quận tặng Phường anh một con heo để “ăn mừng chiến thắng”, nhưng Phường anh chỉ có mấy người, đếm đi đếm lại, trên đầu ngón tay, “tiêu thụ” sao cho hết. Vì thế, con heo được giữ lại, cho ăn vỗ, mai mốt bán, được nhiều tiền hơn. Lẽ dĩ nhiên, anh là người có đầy đủ “phẩm chất cách mạng” hơn ai hết trong Phường để săn sóc con heo. Từ đó, giờ giấc anh dành đi thăm Khu phố và cô Mai cũng bị bớt đi. Đó là một “thất thoát” lớn.

Ngày xưa, “quân số” hẻm lính đông lắm, gần như đầy đủ các binh chủng thuộc QLVNCH, nhưng chỉ gồm HSQ trở xuống. Họ là dân tứ xứ đến lưu trú. Thỉnh thoảng lại có một người “ngã ngựa”, tức là “đền nợ nước”. Những lúc đó, cả hẻm để tang người khuất, không riêng một nhà nào. Khi một nhà gặp khó khăn, cả hẻm lăn sả vào giúp. Đó là cái tình của hẻm lính. Sau 1989, các Sĩ quan lục tục kéo nhau đi hết, theo chương trình HO, chỉ còn lại các Hạ Sĩ Quan, binh sĩ và Thương binh QLVNCH. Theo bà Khúc Minh Thơ, Hội Trưởng Hội Tù Nhân Chính Trị, hai chữ H.O. do chính phiá “bên kia” đặt ra. Đấy chỉ là tên gọi một chương trình dành cho các Sĩ Quan VNCH ở “tù” từ ba năm trở lên, được ra khỏi VN, do Mỹ và phiá “bên kia” đề xướng. Chữ H.O. không phải là Humantarian Operation như nhiều người vẫn tưởng.

Có nhiều nhà đã từng là nơi đặt áo quan của những người nằm xuống từ khắp bốn vùng chiến thuật. Họ thật sự hy sinh cho quê hương này. Ngày xa xưa đó, đã có những tiếng khóc thút thít hay gào to, hòa lẫn với khói nhang, tiếng đọc kinh, tiếng kèn, tiếng sáo, tiếng nhị… vang lên khắp con hẻm. Và, có những nhà lính QLVNCH “nghèo rớt mùng tơi”, không kiếm ra tiền ma chay, đành nhờ sự giúp đỡ của bà con chòm xóm.

“Chính quyền mới” nhiều khi cũng thấy “gai mắt” về cái hẻm lính này, mấy lần định dẹp đi. Thỉnh thoảng Phưòng lại tạo ra những khó khăn để những người trong hẻm giải quyết chơi, như cúp điện, cúp nước. Những người trong hẻm “khắc phục” được cả, Phường đành thôi. Thấy họ không làm gì mình, mình cũng không nên làm gì họ. Dĩ hoà vi qúy mà. Thực ra, dẹp cái hẻm này không phải là khó, nhưng họ muốn giữ uy tín với bàn dân thiên hạ, nên cứ ngậm đắng nuốt cay, chờ dịp tốt.

Ngày xưa, cái hẻm nhỏ có khoảng ba mươi căn nhà, đã có tới mười tám căn là lính, hay con cháu (hậu duệ) của lính. Còn những người có cảm tình với VNCH nhiều lắm, kể ra không hết.
Đến giờ, người tràn đầy, hay nói theo kiểu anh CAKV, “người lạ” trà trộn trong hẻm. Chẳng những “người lạ” trà trộn trong hẻm mà “người lạ” còn ngang nhiên nhập cư nữa. Chẳng ai dám hó hé gì. Có người vượt biên thất bại, vắng nhà chừng 1-2 ngày, về lại, là mất ngay. Có kiện thưa cũng chỉ như “con kiến kiện củ khoai”. Có người bỏ hết công việc, chạy đi chạy lại cả hai mươi năm, sau cùng, vẫn công cốc. Nhà cửa bây giờ “hót” lắm, không ở, là có người khác ở dùm ngay.

Chú Chín Xương là lính Tiểu Đoàn 7, TQLC, QLVNCH. Chú bị thương trong trận tái chiếm cổ thành (Former Citadel) ở Quảng Trị năm 1972. Ngày đó, chú oai phong lắm. Nghe nói mấy đứa nhỏ trong hẻm thích chú như điếu đổ. Mỗi khi nghe tin chú nghỉ phép, tụi nhỏ đến nhà, bu lại bên chú, ngồi cứng hàng ba, hay chật cả nhà. Chú thường kể những chuyện “oánh nhau” cho tụi trẻ nghe. Chú có lối kể chuyện chậm rãi, lôi cuốn người nghe. Mấy đứa nhỏ mê mệt, cứ hả miệng ra mà nghe, mắt không chớp. Những lúc đó, chú cũng say sưa kể, mơ màng nhìn về phương trời xa, ở đó có ai, nếu không phải là bạn bè đồng đội của chú?

Rồi chú lập gia đình với thím Xương, hai người có một cậu con trai tên Chiến , rồi chiến tranh diễn biến to hơn, chú bị thương. Không ai nghe kể chú bị thương như thế nào, chính chú cũng không muốn kể lại. Chỉ biết sau đó chú ngồi xe lăn, đi lại thập bề khó khăn. Chuyện đi lại trong nhà, đều do vợ chú đẩy. Đã mấy năm, chú không ra ngoài. Mọi chuyện đều do vợ chú kể lại. Khi nghe kể về ngày 30 tháng tư, năm 75, chú đã không cầm được nước mắt. Chú khóc một mình, khóc cho đồng đội đã nằm xuống cho quê hương này, khóc vì chiếc xe lăn đã cản trở chú. Chú đã ngơ ngác khi nghe có những người ra đi. Con trai chú thím vác đơn đi xin việc làm, nhưng ở đâu nó cũng đều bị từ chối khéo vì lý do lý lịch. Trong khi chán nản, nó tình nguyện đi Thanh Niên Xung Phong. Rồi lấy vợ ở cùng một đơn vị. Mấy tháng sau, nó đạp phải mìn, nát chân trái, bị cưa. Nghe tin chồng bị cưa mất một chân, vợ nó bỏ đi ngay tức thì. Hai chú thím bưng mặt gào khóc. Lúc đó cô Mai còn quá nhỏ. Có hàng triệu người phải rời xa quê hương, ra đi với haì bàn tay trắng vì thấy không thể sống mất tự do.

Người thứ hai mấy đứa nhỏ thường nhắc tới là chú Hạp. Chú Hạp là Hạ Sĩ Nhất Liên Đoàn Nhẩy Dù. Chú đi lính từ những năm rất sớm. Chú đã đánh nhiều trận, hầu như trận nào cũng thắng. Chú hãnh diện về binh chủng của mình.

Trong trí óc non nớt của những cậu bé ngày đó (hiện nay đã là những ông già), hẻm lính còn nhiều người tài giỏi nữa, nào là anh Xuân Biệt Động Quân, anh Tứ Biệt Cách 81, chú Hai Sư Đoàn 18 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo tử thủ tại Xuân Lộc trước khi mất vào tay phiá “bên kia”, anh Thoại Lôi Hổ... Họ rủ nhau gia nhập toàn những thứ “dữ dằn”, những đơn vị từng làm phiá “bên kia” khiếp viá một thời.
Image result for Hẻm lính
Một buổi chiều, khi người trong hẻm đã đi làm về, anh Tân đến hẻm lính, thông báo họp tổ dân phố, và nhân dịp này, định đánh bạo bầy tỏ nỗi lòng với cô Mai, cháu nội chú thím Xương. Lúc đó, thím Xương đang bận trong bếp, còn chú Xương đang ngồi trên xe lăn trong phòng. Kể ra, anh Tân cũng bạo người ra phết.

-Mai, tôi muốn nói với Mai một chuyện.

Mai lấp lửng trả lời:

-Ủa? Anh nói đi. Tôi đâu biết anh muốn nói gì.

Linh tính như báo trước một việc không mấy suôn sẻ. Nhưng anh Tân lại nghĩ “đã phóng lao, phải theo lao”.

-Mai à…

Mai nói như đùa giỡn:

-Tôi thấy anh khá rào đón đấy. Anh nói đi.

Anh Tân thật sự sượng sùng. Anh ta tỏ ra lúng túng:

-Mai làm tôi mất hứng…

-Ơ kìa… Tôi nghĩ những chuyện anh muốn nói với tôi, anh nên giữ kỹ thì hơn. Tôi rất kính mến anh, nhưng tôi còn phải làm việc nuôi ông bà nội tôi nữa chứ. Mỗi người trong chúng ta đều có một bổn phận.

Anh Tân chỉ nghe đến đó.

Dân trong hẻm chẳng biết chuyện gì xẩy ra, nói chuyện vui như pháo. Chẳng mấy khi họp tổ dân phố lại được giải tán sớm như vậy. Tụi nhỏ đang chơi bên ngoài, vỗ tay, cười hinh hích.

Ngồi sau mấy tấm ván phân chia phòng khách và phòng ngủ, chú Xương nghe rõ mồn một lời cô cháu nội nói với anh CAKV. Chập sau, Mai đi vào, nói bâng quơ, nhưng là với chú Xương:

-“Giấy rách, phải giữ lấy lề” chứ? Lành cho sạch, rách cho thơm”, mà, ông nội.

Chú Xương nhìn ra cửa sổ, không biết nói gì. Có những chiếc lá rơi ngoài kia.

Hà Việt Hùng

Mai cua nhồi thịt



Mai cua nhồi thịt là một món ăn khá hấp dẫn, còn có một tên gọi rất “Tây” là “cua farci”. Người Pháp thường làm nhiều món “farci” (nhồi) cho bữa cơm gia đình như: bắp cải nhồi thịt (chou farci), cà chua nhồi thịt, gà nhồi, cổ vịt nhồi, cua nhồi.... Những món “nhồi” này từ lâu nay đã trở nên quen thuộc với người Việt Nam và được chế biến lại ít nhiều cho hợp khẩu vị. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có cách làm các món “nhồi” riêng và nói chung là món nào cũng ngon cả. Hôm nay trên trang Bếp Hồng Gia Đình, chúng ta sẽ làm món Mai Cua Nhồi Thịt.
Cua là loại hải sản được người Việt Nam ưa thích. Những ngày cuối tuần hay vào các dịp lễ lớn, cua được buôn về rất nhiều tại các chợ Á Châu quanh khu vực Little Sài Gòn.Tại đây, người mua có thể chọn lựa từ những con cua Canada thật lớn cho tới những con ghẹ sống ngoay ngoảy xếp đều trong thùng giấy. Để làm món cua nhồi cho hoàn hảo từ nội dung cho tới hình thức, chúng ta cần phải có sẵn những chiếc mai cua trung bình là 5 inch như mai cua ghẹ. Vậy sau một bữa “nhâm nhi” món ghẹ hấp với muối tiêu chanh, xin các bạn giữ lại những chiếc mai cua đẹp, rửa sạch, cất vào tủ đá để dành cho món Mai Cua Nhồi Thịt.
Khi đã có sẵn mai cua rồi, phần chuẩn bị làm món cua nhồi nhanh và dễ vì thịt cua có thể dùng loại bán sẵn, cua đông lạnh hay gỡ thịt từ càng cua King Crab. Có nhiều cách làm nhân để nhồi trong mai cua, cách làm gần đây nhất người Việt đã làm tựa như nhân trong chả giò. Thường thì nhiều cua sẽ ngon nên cứ 2 phần cua thì thêm vào 1 phần thịt heo hoặc gà xay và phần còn lại sẽ là hành tây, nấm hương, mộc nhĩ... nhưng không thể thiếu ruột bánh mì đã ngâm mềm trong sữa. Phần ruột bánh mì này chính là bí quyết giúp cho nhân thịt không bị cứng khi chiên trên chảo hay bỏ trong lò nướng. Món mai cua nhồi thịt này khi hoàn tất sẽ thơm phưng phức và được các em nhỏ ưa thích vì không những ngon, lại có cảm tưởng ăn hết một con cua mà không phải lo gỡ vỏ.
Xin mời các bạn chuẩn bị cho thực đơn cơm gia đình hôm nay có thêm món mai cua nhồi thịt.

Vật liệu để làm cho 4 phần ăn:
- 4 con cua ghẹ hay 4 chiếc mai cua đã hấp chín, lấy hết gạch bên trong và rửa sạch sẽ.
- 2 cup thịt cua.
- 1 cup thịt heo hay gà xay.
- 1 lát bánh mì sandwich.
- 1 chút sữa tươi để ngâm bánh mì.
- 1 củ hành hương cắt mỏng.
- ¼ cup hành tây cắt vụn.
- ½ muỗng cà phê muối.
- ¼ muỗng cà phê hạt tiêu xay.
- 1 lòng đỏ trứng gà.
- 2 cup dầu chiên
- 1 muỗng cà phê xì dầu
- 1 ít nấm hương, mộc nhĩ, bún tầu ngâm nở, cắt nhỏ.
- rau ngò, muối, tiêu, chanh.

Cách làm:Image result for 4 chiếc mai cua đã hấp chínCua ghẹ mua về rửa sạch, hấp trong xửng nước sôi

- Cua ghẹ mua về rửa sạch, hấp trong xửng nước sôi từ 10 đến 12 phút là chín (các loại hải sản không nên nấu chín quá sẽ bị khô mất ngon).
- Gỡ cua lấy thịt và lấy cả phần gạch cua - phần mai cua chùi rửa sạch sẽ.

Image result for Gỡ cua lấy thịt và lấy cả phần gạch cua

- Đặt chảo nhỏ lên bếp với 1 muỗng canh dầu ăn, chờ dầu nóng phi với củ hành hương cắt mỏng cho thơm rồi cho thịt cua vào đảo sơ với chút hạt tiêu.
- Ruột bánh mì ngâm qua sữa tươi cho nở, vắt sơ, cắt nhỏ.
- Thịt xay trộn lẫn với ¼ cup hành tây cắt vụn và hạt tiêu.

Image result for Gỡ cua lấy thịt và lấy cả phần gạch cua

- Trong một cái tô, trộn đều tất cả thịt cua + thịt xay + ruột bánh mì + 1 lòng đỏ trứng gà (nếu muốn, vào lúc này có thể cho thêm 1 chút nấm hương, mộc nhĩ, bún tầu ngâm nở, cắt nhỏ).
- Đắp phần nhân đã trộn vào trong từng chiếc mai cua cho đầy.

Image result for Gỡ cua lấy thịt và lấy cả phần gạch cua

- Đặt mai cua đã nhồi vào trong microwave, bấm 3 phút cho chín sơ phần thịt.

Image result for Gỡ cua lấy thịt và lấy cả phần gạch cua

- Đặt chảo lên bếp với 2 cup dầu ăn, chiên cua cà hai mặt cho thật thơm và chín. Nếu mai cua nhồi nhiều thịt quá, cần phải cho vào chảo ½ cup nước sôi và đậy nắp lại, vặn nhỏ lửa mới có thể chín bên trong được. Phần nhân còn dư cho luôn vào chảo, nhớ cho thêm 1 muỗng cà phê xì dầu và chút đường cho có vị ngọt.

Image result for Gỡ cua lấy thịt và lấy cả phần gạch cua

- Món mai cua nhồi thịt ăn nóng với muối tiêu chanh, chút đồ chua và rau ngò. Món này có thể dùng với cơm trắng nhưng ăn “vã” là ngon nhất.
Cua biển chọn loại cua thịt, rửa sạch, hấp chín, bóc riêng mai dùng bàn chải nhỏ cọ sạch để ráo nước, phần còn lại gỡ lấy thịt. Thịt nạc thăn rửa sạch, thái miếng mỏng, băm nhỏ. Cho thịt thăn, thịt cua vào cối dùng chày quết thật nhuyễn. Thì là, rau răm nhặt rửa sạch, băm nhỏ. Gừng tươi bỏ vỏ thái chỉ nhỏ. Rắc thì là, rau răm, gừng sợi vào thịt rồi nêm thêm hạt nêm thịt heo Maggi Ngon Ngon, hạt tiêu cho vừa ăn. Xúc nhân thịt vào mai cua rồi miết kỹ để thịt nằm chắc vào mai sau đó xếp vào vỉ hấp cách thủy. Khoảng 20 phút, khi mặt thịt đã chín, dùng tăm nhọn xăm thử nếu thấy nước trong chảy ra là đã chín. Mai cua nhồi thịt hấp ăn nóng, kèm với nước chấm pha dấm, tỏi ới.
Lưu ý:
Theo như vật liệu ở trên, thường thì nhân bao giờ cũng dư và có thể nhồi đủ cho 6 cái mai cua lớn. Làm những món nhồi nên ước lượng vật liệu trước khi trộn nhân kẻo nhiều quá. Nếu có thì giờ, mua ghẹ tươi về hấp rồi gỡ thịt và lấy mai để nhồi luôn thì rất ngon và rẻ tiền vì ghẹ tuy nhỏ nhưng ngọt và chắc thịt. 
Chúc các bạn thành công và ăn ngon miệng.