Monday, September 27, 2010

Một thời xa xưa & Giai thoại(1)

Bảo Đại -vị vua cuối cùng của VN - là con của ai ?

Khi chế độ quân chủ đang còn (trước 1945), chuyện thân thế không chính thống của vua Bảo Đại chỉ tồn tại qua cửa miệng. Từ sau 1975 thì dư luận được định hình bằng chữ nghĩa sách vở đàng hoàng. Trong nước, có nhiều tác giả viết về đề tài này (Nguyễn Đắc Xuân, Phạm Khắc Hòe, Phan Thứ Lang), ngoài nước thì có Nguyễn Lý Tưởng, Trần Gia Phụng, và chính người viết cũng có một vài dòng qua Chuyện cung đình nghe kể lại. Trong cuốn Bảo Đại, vua cuối cùng Triều Nguyễn (nxb Đà Nẵng, 2004), tác giả Phan Thứ Lang đã có mục Bảo Đại con ai (tr. 12-23) để duyệt lại toàn bộ vấn đề này, trong đó ông đã trích dẫn khá nhiều tài liệu của hai tác giả Nguyễn Đắc Xuân và Phạm Khắc Hòe. Vì vậy, để tiện cho độc giả hải ngoại tra cứu, tôi chỉ trích dẫn lại từ Phan Thứ Lang vì thấy sách này có lưu hành ở Hoa Kỳ.
Trong bài viết Chuyện cung đình nghe kể lại đăng trên niên san Tiếng Sông Hương, Dallas, 1997, tôi có nói sơ qua về chuyện mệ ngoại tôi kể thời hàn vi của bà Cúc (Bà Từ Cung, thân mẫu vua Bảo Đại).
Bà ngọai tôi húy là Hồ Thị Thìn, sinh năm 1880. Bà người ở Vạn Vạn, có hàng quán ở chợ An Cựu, thường cung cấp thực phẩm cho phủ Phụng Hóa nên có dịp vào ra nơi này, có cơ hội chuyện trò với kẻ ăn người làm trong đó nên mới nghe được câu chuyện để kể lại cho cháu nghe. Vào thời điểm câu chuyện xảy ra, hầu như chưa có cái tên Cúc, mọi người đều gọi bà là chi Út.Bà tôi kể: một đêm nọ, sau khi dự tiệc ở lầu Sứ (Tòa Khâm Sứ) về, ông hòang (tức vua Khải Định về sau) ngó bộ ngà ngà và hứng tình , gọi anh người hầu, biểu : “Coi có đứa mô ở dưới đó, kêu lên cho ta một đứa.” Người hầu vâng lịnh đi kiếm. Thường thì trong phủ có hai ba chị, nhưng hôm đó chị thì đi ra ngoài có việc, chị thì có tháng, chỉ một mình chị Út rảnh rang sạch sẽ nên được kêu lên hầu . Sau đó chị Út có thai. Đức Thánh Cung (mẹ đích) và Đức Tiên Cung (mẹ đẻ) khi biết chị Út có thai, liền mở một cuộc tra hỏi gắt gao. Vì cái bụng chị Út đã lùm lùm, nên các ngài cho đào cái hố nông, bắt chị Út nằm sấp bụng xuống đó cho an tòan rồi mới sai nhịp roi vào mông mà hỏi tội. Dù bị đánh nhưng trước sau chị Út cũng chỉ một mực khai là có thai với ông hòang. Hỏi ngày tháng gần nhau, chị Út khai ra, hai bà biểu ghi sổ và hăm rằng “Nếu sau ni mi đẻ không đúng ngày đúng tháng thì ta chém đầu ba họ.” Chị Út khóc lóc cam đoan là đúng sự thật. Hai bà đem việc này hỏi lại ông hòang thì ông cũng công nhận đúng y như vậy. Sau sinh ra vua Bảo Đại, tính ngày tháng đúng y như đã khai nên hai ngài mới công nhận.
Nội dung câu chuyên mệ ngoại tôi kể cũng tương tự như các tài liệu đã dẫn. Cái điều mà dư luận đồn đãi là ông hoàng Phụng Hóa ( vua Khải Định sau này) bất lực nên không thể nào có con được, và dường như dư luận này nở rộ sau năm 1916, khi ngai vàng bỗng may mắn lọt vào tay ông hoàng Phụng Hóa.

Người thì nói rằng đó là con của ông Hường Đề, một người, kể về thế thứ ở vai ông (Miên, Hường, Ưng, Bửu, Vĩnh, theo Đế hệ thi : Hường Đề/Bưủ Đảo) nhưng lại là bạn rất thân của ông hoàng Phụng Hóa, và như vậy thì vua Khải Định đã nhận chú làm con [1] . Kẻ thì đồn rằng đó là con của Thừa Mai, một người hầu của ông hoàng; thậm chí, có kẻ nói rằng đó là con của ông Dương Quang Lược, em ruột của bà Tiên Cung [2] Đóng góp vào rừng tin đồn này hẳn người trung thực thì ít mà kẻ ác cảm với ông hoàng thì nhiều, lại được người hiếu sự khuyếch đại nên dễ lan xa, phổ biến. Chính vì những tin đồn này nên khi vua Khải Định bày tỏ ý định lập Hoàng tử Vĩnh Thụy làm Đông cung Thái tử, Tòa Khâm sứ Trung kỳ đã phải điều tra cặn kẽ rồi mới chấp thuận.
Cụ Trần Trọng Phúc, một nhân sĩ lão thành người Huế ở Mountain View, Bắc California, vốn có bà con cả hai bên, phía bà Tiên Cung và cà bà Từ Cung, biết rất nhiều chuyện của Huế xưa. Trong cuộc nói chuyện ngày 25/4/2005 tại nhà riêng và những lần điện đàm sau đó , đã cho biết những chi tiết khác về quảng đời thơ ấu, hàn vi của bà Cúc. Theo cụ Phúc, qua lời kể lại của bà nội, thời hàn vi bà Cúc có tên là Khế, vì là con út nên mới gọi là Út. Cái tên Cúc mới có sau khi gá nghĩa với ông hoàng Phụng Hóa cho lịch sự. Mẹ bà Cúc có một đời chồng trước sinh ra ông Tứ Huề [3] Sau khi chồng chết, bà về ở với chị ruột, là vợ ông Phủ Tích, rồi làm lẻ ông này, sinh ra bà Cúc. Ông Tứ Huề có công bồng ẳm săn sóc em gái khác cha khi còn nhỏ nên khi nên danh phận, bà Cúc không bao giờ quên ơn, thường giúp đở mọi cách. Bà Cúc còn có một người anh cùng cha khác mẹ là ông Hường Khanh. Ông hoàng Phụng Hóa khi còn tiểm để là một người ham chơi, các món bài bạc không thiếu, vì vậy thường mắc nợ. Một trong những chủ nợ đó là bà Phủ Tích. Người thường được sai đi đòi nợ là bà Cúc. Không phải khi nào ông hoàng cũng có tiền để trả nợ nên phải lui tới nhiều lần.
Trong một lần như thế, gặp lúc ông hoàng đang tắm, ông kêu bà Cúc vào kỳ cọ rồi hứng tình mà sinh ra có con. Khi bà Cúc sanh Hoàng tử Vĩnh Thụy, chính bà nội cụ Phúc và ông Hường Khanh là hai người lo chăm nuôi săn sóc. Trong thời gian có bầu, bà Cúc vẫn ở tại phủ Phụng Hóa; người ta cất một cái chòi nhỏ ở góc vườn, xa khuất nơi ăn ở thường ngày để làm chỗ “nằm nơi” (sinh đẻ) cho bà Cúc [4] Mặc dầu sinh con trai và tính ngày tính tháng thi đúng như đã khai nhưng hai bà Tiên Cung và Thánh Cung vẫn chưa công nhận ngay đứa bé sơ sinh là cháu. Một hôm Bà Chúa Tám [5] tới thăm. Thấy cái chòi lấp ló ở góc vườn bèn hỏi hai bà. Hai bà nói đó là “chòi cất cho con Khế nằm nơi”. Bà Chúa Tám nghe nói thế bèn đi ra thăm. Sau khi thăm xong, trở vô, bà khen “cái mặt nó giống anh tui [6] như đúc, mà răng để thiếu tả thiếu áo tội nghiệp” Hai bà Tiên Cung và Thánh Cung nghe vậy mới động lòng, nhìn nhận là cháu và sai đem áo cũ của các bà ra cho để làm tả và may xơ (áo) cho cháu. Vì cái ơn này nên khi có quyền hành, vua Khải Định đã trả ơn bằng cách can thiệp với người Pháp cho Bà Chúa Tám được độc quyền mở sòng bài lớn nhất ở Huế mà trước 1945 ở Huế ai cũng biết tiếng “Sòng bài Bà Chúa Tám”..
Ngày nay việc truy tầm phụ hệ không còn là chuyện khó khăn vì đã có phương pháp xét nghiệm DNA chính xác. Tôi tin rằng sẽ có lúc người ta làm được việc đó nếu có dịp thu được mẫu sinh học của hai vua Khải Định và Bảo Đại và hậu duệ.
Ở đây, tôi chỉ muốn nêu lên vài điểm rất thực tế mà đang khi say sưa đồn đãi theo ý riêng hay dưới sự chi phối của nhãn quan chính trị [7], người ta đã vô tình hay cố ý bỏ qua để nói cho sướng miệng. Những thực tế đó sẽ được đặt thành câu hỏi, và khi trả lời câu hỏi có nghĩa là tiếp cận được sự thật.
1) Làm sao giải thích cho ổn về sự giống nhau về ngoại hình giữa Khải Định và Bảo Đại?

Cha con giống nhau là thường; cha cao mà sinh con thấp và ngược lại; cha mập mà sinh con ốm và ngược lại; là những điều cũng thường thấy và vốn không mấy khi gây thắc mắc ở người đời, nhưng một khi đã nói rằng giữa hai bên không phải là cha con mà lại giống nhau thì cần phải có lời cắt nghĩa hợp lý mới được, chứ không thể nói bừa như một người nào đó nói rằng vì em của bà Tiên Cung (mẹ vua Khải Định) là ông Dương Quang Lược lấy bà Cúc sinh ra vua Bảo Đại nên mới có sự giống nhau đó.
Sự giống nhau đó không những người Pháp công nhận mà ngay cả người xa lạ với chốn cung đình như cụ Vương Hồng Sển một khi được thấy tận mắt hai bố con bằng xương bằng thịt cũng đã viết “…thậm chí con ruột của ông giống ông như khuôn đúc, mà miệng thế gian ăn mắm ăn muối vẫn đồn không phải thật con.” (Vương Hồng Sển, sđd, tr.289)
Ngày nay, qua hình ảnh, chúng ta cũng có thể nhận ra nét giống nhau của hai nhân vật này thể hiện qua chiều cao và khuôn mặt, nhất là cái mũi. Cả hai đều có cái mũi cao và kín, cả hai đều có chiều cao không hổ thẹn với người Pháp, dù một bên gầy ốm và một bên mập mạp. Thế là thế nào? Xin xem hình.


2)Ông hoàng Phụng Hóa (vua Khải Định) nhận con người khác làm con vì lòng hiếu đối với mẹ ?
- Người ta nói rằng vì để tỏ lòng hiếu đối với hai bà mẹ, vì muốn làm vui lòng hai bà mẹ mà phải dựng kịch bản có con [8]Vua Khải Định được đào tạo trong nền văn hóa cổ. Hẳn vua dư biết rằng “Bất hiếu hữu tam, vô tự vi đại” -- trong ba điều bất hiếu thì việc không có con nối dõi là tội lớn nhất – nhưng đồng thời vua cũng phải biết rằng để tỏ lòng hiếu với hai bà mẹ bằng cách nhận con người khác làm con, thì đều này lại càng bất hiếu đối với cha mẹ và tổ tiên dòng họ hơn nữa! Nhất là khi nhận con của một người vai ông để làm con thì quả là cương thường điên đảo. Nếu ông hoàng Phụng Hóa là một người duy vật, thì điều này có xảy ra cũng không lạ. Dẫu rằng trong lịch sử, đã có một Trần Thủ Độ vì muốn bảo vệ ngai vàng cho Nhà Trần nên đã buộc người trong họ lấy nhau, chấp nhận loạn luân, nhưng ở trường hợp của một người chưa đánh mất lương tâm, vẫn còn biết tôn trọng những giá trị đạo đức cổ truyền như ông hoàng Phụng Hóa, làm gì mà phải táng tận luân thường đến thế? Ông có thể che mắt thế gian nhưng ông không thể che mắt tổ tiên. Vả chăng, ông hoàng Phụng Hóa không phải là người duy nhất trong dòng họ lâm vào cảnh vô tự. Ông dư biết rằng tiền bối của ông là vua Tự Đức, vốn nổi tiếng là người con hiếu đối với thân mẫu là Thái hậu Từ Dũ, cũng vô tự, phải nuôi cháu gọi bằng bác[9] làm con để chờ kế vị, và đâu có giải quyết vấn đề một cách vô đạo như vậy? Vậy nên thuyết “mượn người đúc cốt” để “tráng men” làm con là vì lòng hiếu với mẹ, muốn làm vui lòng mẹ, là một thuyết không hợp lý, nếu không nói là quá gượng ép.
3)Liệu ông hoàng Phụng Hóa có vì một mưu đồ tương lai mà nhận con người khác làm máu thịt của mình không?

Nếu ông hoàng Phụng Hóa nhận con người khác làm máu thịt không phải do lòng hiếu đối với mẹ, thì vì động cơ gì? Dọn đường đi đến ngai vàng chăng? Theo Phạm Khắc Hòe, sau khi truất phế vua Thành Thái vào năm 1907, trong một cuộc họp giữa Khâm sứ Trung kỳ và các quan lớn của triều đình Huế, người Pháp muốn chọn ông hoàng Phụng Hóa lên thay nhưng nhiều đình thần phản đối, không muốn chọn người “vô tự” làm vua, do đó phải chọn vua Duy Tân. [13] Phải chăng vì biết chỗ thiếu sót này nên ông Hoàng Phụng Hóa đã kiếm con người khác lấp vào chỗ trống để chuẩn bị điều kiện thuận lợi cho tương lai?Như ta đã biết, hoàng tử Vĩnh Thụy sinh ngày 22/10/1913 (23 tháng 9 Quí Sửu). Nếu lấy 9 tháng 10 ngày mang thai làm chuẩn thì việc hai bên nam nữ gần nhau để đem lại hài nhi đó phải xảy ra vào đầu năm 1913. Vào cái thời điểm 1913 đó, đầu năm hay cuối năm cũng thế, tình hình an ninh và chính trị của Đông Dương rất ổn định, địa vị của vua Duy Tân rất vững vàng, chính quyền bảo hộ rất yên tâm về ông vua trẻ đang lớn này. Đó không phải là điều kiện thuận lợi để cho ông hoàng Phụng Hóa nuôi một hy vọng mơ hồ về ngai vàng tương lai để mà thúc đẩy đi kiếm con. Vì vậy, nghi vấn này đặt ra cũng không có cơ sở vững vàng . François de Tessan, khi viết bài giới thiệu về vua Khải Định, đăng trên Revue de Paris, có nói rằng đang khi sống một cuộc đời khiêm tốn bên bờ sông An Cựu, ông hoàng Phụng Hóa không dám mơ tới một ngày kia ngai vàng tới tay [14]Thế nên, trong bài viết Chuyện cung đình nghe kể lại tôi đã có viết vắn tắt rằng:“Giữa những chuyện đồn đãi về nguồn gốc vua Bảo Đại, tôi nghĩ rằng người ta quên một điều rất quan trọng, đó là việc hoàng tử Vĩnh Thụy được sinh ra và được công nhận là chính thống ngay từ khi vua Khải Định đang còn tiềm để, nghĩa là đang còn là một ông hoàng ngồi chờ thời. Đang là một ông hoàng chờ thời, vậy mà đã toan tính nuôi con người khác để chờ kế vị? Làm sao có chuyện ngược đời đến thế?”Khi viết về thời thơ ấu của vua Bảo Đại, Trần Gia Phụng đã có một kết luận về thân thế của nhân vật này như sau:“Nói cho cùng, về mặt pháp luật, khi hai người kết hôn thành vợ chồng, người vợ sinh con mà người chồng không thắc mắc khiếu nại gì về lai lịch đứa con; và nếu người con đó khi đủ 18 tuổi không kiện tụng để truy nguyên nguồn gốc của mình, thì người con đó đương nhiên là con của cặp vợ chồng này. Trong trường hợp vua Khải Định, nhà vua nhận Vĩnh Thụy là con mình, đã hết lòng lo lắng cho tương lai của Vĩnh Thụy. Khi lớn lên, Vĩnh Thụy, tức vua Bảo Đại, rất hãnh diện là con của vua Khải Định. Ngoài ra, sự ra đời của ông Vĩnh Thụy còn được còn được hai bà mẹ của ông hoàng Bửu Đảo (tức vua Khải Định) chính thức thừa nhận. Vậy là toàn thể thành viên trong gia đình ông Khải Định hoàn toàn cùng một ý kiến về việc này, thì không có gì để nói thêm về lai lịch của ông Bảo Đại. Chỉ khi nào một người bị chính cha mình từ bỏ vì bất hiếu hay có vợ con mà giấu diếm, giết vợ, chối con, giao cho người khác nuôi như Hồ Chí Minh mới đáng bàn cải cả về pháp lý lẫn về đạo đức.” [15]
Một cáo phó trên báo Le Monde (Pháp) cho biết hoàng thái tử Bảo Long đã qua đời vào ngày 28-7-2007 tại Bệnh viện Sens, lễ an táng trong vòng thân thích của gia đình vào ngày 2-8-2007. Ông Bảo Long hưởng thọ 71 tuổi, qua đời sau thân phụ ông đúng 10 năm (1997-2007). Ông Bảo Long là con vua Bảo Đại - hoàng đế cuối cùng của vương triều Nguyễn.
Nguyễn Phúc Bảo Long sinh ngày 4-1-1936 tại điện Kiến Trung trong Đại nội Huế. Năm Bảo Long 3 tuổi được phong hoàng thái tử (7-3-1939) và bắt đầu học với một vị hoàng tộc uyên bác thuộc phủ Tuy Lý Vương là nhà văn Ưng Quả.
Hoàng thái tử Bảo Long qua đời không có người thừa kế, nên người em út của ông là hoàng tử Bảo Thăng (sinh 1943) được tiếp nhận tất cả tài sản và những bảo vật của triều Nguyễn do ông làm chủ từ sau ngày thân mẫu ông là hoàng hậu Nam Phương qua đời (1963) đến nay. Ngoài người em trai là hoàng tử Bảo Thăng, ông còn ba cô em gái cùng cha cùng mẹ là các công chúa Phương Mai, Phương Liên và Phương Dung. Tất cả đều ở Pháp.

Người đã “lái” vua Bảo Đại vào con đường chính nghĩa
(Dân trí) - Cụ Phạm Khắc Hoè được các nhà nghiên cứu đánh giá là người đã “lái” vua Bảo Đại trong thời khắc lịch sử, người nói thay vị vua này những tư tưởng lớn. Cụ đã góp phần làm sụp đổ chế độ phong kiến theo “một cách riêng”…

Rất nhiều tham luận đã được các nhà nghiên cứu có tên tuổi mang tới buổi sinh hoạt của Hội Sử học với chủ đề tưởng niệm cụ Phạm Khắc Hoè (15/3/1902 – 22/06/1995), diễn ra ngày 12/3.

Trong tham luận của mình, GS Sử học Đinh Xuân Lâm nhìn nhận, nguyên Đổng lí Ngự tiền văn phòng triều đình nhà Nguyễn, cụ Phạm Khắc Hoè, là người đã làm được việc củng cố lòng tin của vua Bảo Đại đang hoang mang cực độ sau Cách mạng tháng Tám và giành giật được vị vua này ra khỏi sự bao vây của bọn bán nước và cướp nước định lợi dụng nhà vua để lừa bịp nhân dân, gây khó khăn cho bước tiến của dân tộc.

GS Lâm khái quát rằng, từ nhận thức đúng đắn con đường phải đi theo của đất nước, của nhân dân trong bối cảnh lúc bấy giờ, cụ Phạm Khắc Hoè đã cố gắng “lái” vua Bảo Đại đi vào con đường chính nghĩa.

Được giao nhiệm vụ soạn thảo bài Chiếu kêu gọi động viên toàn dân, cụ Phạm Khắc Hoè đã nói thay cho vua Bảo Đại một tư tưởng lớn: “Muốn củng cố nền độc lập của nước nhà và bảo vệ quyền lợi của dân tộc, Trẫm sẵn sàng hi sinh về tất cả các phương diện. Trẫm để hạnh phúc của dân Việt Nam lên trên ngai vàng của Trẫm. Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”.

Chính cụ Phạm sau đó đã soạn thảo Chiếu thoái vị cho vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam. “Cụ đã góp phần thúc đẩy sự sụp đổ của chế độ phong kiến từ bên trong, tuy là ngấm ngầm nhưng vô cùng quan trọng, vì đã tránh được mọi sự xung đột, đổ vỡ…”, GS Đinh Xuân Lâm đánh giá.

GS Vũ Ngọc Khánh cho rằng, hành động của Phạm Khắc Hoè hoàn toàn là sự giác ngộ của một thân sĩ, sự giác ngộ của con người tri thức Việt Nam giữa buổi giao thời. Cũng theo GS Khánh, cụ Phạm là người đã góp phần làm nên lịch sử, theo một cách riêng, tuy “không giống những hào kiệt anh hùng, không đất lệch trời nghiêng, nhưng cũng là “xoay vần cuộc thế””.

“Ông chưa được đánh giá như là những nhân vật lịch sử, nhưng lịch sử không thể quên ông được”, GS Khánh kết thúc bài tham luận của mình.

Nhà thơ Hữu Thỉnh nhìn nhận về cụ Phạm xoay quanh quan niệm văn, sử triết bất phân của người xưa. Theo nhà thơ, tác phẩm Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc của cụ Phạm Khắc Hoè là một ví dụ điển hình về văn trong sử, sử trong văn.

Là một người trong cuộc, đảm nhận một chức vụ rất quan trọng trong triều đình Huế, cụ Hoè với kiến văn rộng rãi, trí nhớ tuyệt vời và óc quan sát sắc sảo đã làm sống lại các sự kiện dồn dập, đầy kịch tính trong cơ quan đầu não của triều đình Huế.

Theo ông Hữu Thỉnh, giá trị khoa học của cuốn sách rất cao và rất quí báu mà tác giả có may mắn lớn vừa là chứng nhân vừa là tác nhân trong các sự kiện đó. Vai trò của cụ Hoè lớn hơn nhiều một sử quan, bởi: “một sử quan nhiều lắm là được chứng kiến, còn Cụ vừa là người chứng kiến, người trong cuộc, người góp phần làm nên cái sự kiện ấy”.

Tác phẩm của Cụ cũng thể hiện một lối văn khúc triết, đĩnh đạc và giàu sức biểu cảm…

Nhà thơ Hữu Thỉnh kết lại tham luận của mình: “Khó nhất của hồi kí là nói về bản thân mình, nhưng cụ Hoè đã vượt qua cái khó ấy một cách ngoạn mục. Cụ không chỉ nói cái đúng, cái thuận của bản thân, Cụ còn nói rất kĩ về cuộc đấu tranh nội tâm, cả những dằn vặt, những suy tính đời.
Chuyện về người hầu vua Bảo Đại
Hàng ngày, du khách thập phương đến Dinh 3 ở thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng), nơi một thời vua Bảo Đại và gia đình từng ở sẽ bắt gặp một ông lão với tác phong điềm đạm, đang cần mẫn cắm hoa, lau chùi những kỷ vật quý giá. 83 tuổi đời, trải qua biết bao biến cố, giờ đây ông Nguyễn Đức Hòa là nhân chứng sống lịch sử duy nhất còn lại nơi đây.

13 tuổi vào cung

Vì nhà nghèo nên năm 13 tuổi ông Hòa được cha mẹ nhờ một người bác họ trông coi đội kỵ mã cho vua Bảo Đại xin vào cung giúp việc. Dù còn ít tuổi, nhưng cậu bé rất chăm chỉ và nề nếp, được thái hậu Từ Cung Hoàng Thị Cúc rất quý mến.
Năm 1949, thực dân Pháp đưa vua Bảo Đại về Đà Lạt, vì được tin cẩn nên Nguyễn Đức Hòa được sai theo để phục vụ vua. Trong đoàn tùy tùng lúc đó có 20 người, nhưng ông được giao nhiệm vụ chính. Vua Bảo đại rất quý người hầu cận của mình, đi đâu vua cũng cho theo. Ông Hòa kể, vua Bảo Đại rất mê săn bắn, những cánh rừng ở Tây Nguyên ông đều ghé qua. Mỗi lần đi, phải chuẩn bị rất chu đáo, đoàn tháp tùng hơn cả chục người gồm nấu ăn, phục vụ nghỉ ngơi, lái xe. Có lần vua đi săn ở tận Đắc Lắc cả tháng mới về.

Ông Nguyễn Đức Hòa - nhân chứng sống duy nhất còn lại ở Dinh 3

Vua Bảo Đại thích đi săn bằng voi, biết chuyện này vị tù trưởng tên R’leo K’num ở Buôn Đôn đã tặng cho vua một con bạch tượng quý hiếm để đi săn. Nhưng sau này, không hiểu vì nguyên nhân gì, con bạch tượng này đã bỏ vào rừng, biệt tăm tung tích từ đó.

Trong cuộc đời của mình, vua Bảo Đại có khá nhiều phụ nữ gần gũi. Nhưng bắn duyên nhiều nhất với ông có lẽ là Mộng Điệp, Phi Ánh và Ra Ni. Nguyễn Đức Hòa được vua yêu quý nên được giao nhiều việc, ngay cả chuyện chuẩn bị giường gối cho vua nghỉ ngơi. Khi ông lấy vợ, đã được Bảo Đại cho 2.000 đồng (lúc đó là một khoản tiền khá lớn) và một mảnh đất nhỏ nằm sát bên Dinh 3.

Cuộc đời ông không chỉ trải qua thời kỳ phục vụ cho vua Bảo Đại. Khi Dinh 3 được tiếp quản bởi Ngô Đình Diệm, Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Thiệu rồi đến khi đất nước thống nhất vào năm 1975, ông vẫn luôn được giữ lại làm việc cho mãi tới giờ. Ông cũng chính là người cất giữ và trao 2 két sắt đựng nhiều vật quý, châu báu ngọc ngà của thái hậu Từ Cung cho chính quyền ở Lâm Đồng sau này.

Tận tụy với công việc

Năm nay ông bước qua tuổi 83, dù lưng còng, gối mỏi nhưng hàng ngày ông vẫn gắn bó với công việc quen thuộc mà hơn 70 năm mình đã làm. Những năm gần đây, do tuổi cao, sức yếu ông không được tinh nhạy như trước. Công việc giới thiệu cho du khách đành phải nhường lại cho con cháu. Nhưng trong thâm tâm ông vẫn chưa yên tâm, nên hễ có thời gian, ông lại tường tận kể cho con cháu nghe về những sự việc từng diễn ra ở Dinh 3 để không bị mai một dần.

Mỗi buổi sáng, ông lại cặm cụi lê bước qua những quả đồi để lên dinh làm việc. Do phải đi lên đi xuống, leo các bậc thang để lau chùi, cắm hoa trong một thời gian dài, nên 2 khớp gối của ông giờ sưng vù đau nhức. Nhưng khi hỏi ông sao không nghỉ ngơi ở nhà với con cháu cho khỏe, ông bảo: “Còn sống thì còn phải lao động, mà tôi nghỉ thì lấy ai chăm nom cái dinh này. Mấy cháu nhân viên làm việc ở đây rất chăm chỉ nhưng tôi cũng chưa yên tâm lắm, có nhiều cái phải hướng dẫn”.

Mỗi tháng, ông chỉ nhận hơn triệu đồng tiền lương, nhưng với ông như thế là hạnh phúc lắm rồi. Số tiền đó để chi tiêu trong gia đình, còn bao nhiêu ông dành dụm phòng khi trái gió, trở trời. Ông cảm thấy cuộc sống thật ý nghĩa khi được lao động, được mọi người nể trọng, quý mến. Gặp ai trong dinh khi hỏi về ông cũng được gọi với cái tên trìu mến “bác Hòa”. Anh Hà Văn An, một người chuyên chụp ảnh cho du khách trong Dinh 3 tâm sự: “Dù tuổi già sức yếu, nhưng ngày nào cũng thấy bác lên đây chăm chỉ làm việc, cả đời “gắn duyên” với nơi này. Bác điềm đạm và rất vui vẻ, hòa nhã với mọi người nên ai cũng quý trọng”.

Thời gian qua đi, người hầu cận ấy đã gắn với Dinh 3 gần 70 năm nhưng ông chưa bao giờ tự thỏa mãn với cách phục vụ của mình. Ông tâm niệm: “Dù làm bất cứ nghề gì đi nữa thì cái quan trọng là phải đam mê và trung thực, có như thế mới làm tốt công việc và sống vui khỏe được”.

Trong không khí mát mẻ của những ngày cuối tháng 5, du khách thập phương đổ về Đà Lạt như càng đông hơn. Nơi Dinh 3 rêu phong, trầm mặc ông lão Nguyễn Đức Hòa vẫn cần mẫn làm những công việc thầm lặng, cống hiến cho đời chút sức lực cuối cùng. Ông vui và hạnh phúc vì được làm như thế.

http://nguyentl.free.fr/autrefois/famille-royale/photo_famille_royale_1_vn.htm

http://vietnamaaa.numeriblog.fr/congsan/images/2007/11/03/ngo_dinh_nhu1.jpgTrần Lệ Xuân sinh tại Huế (có tài liệu ghi là Hà Nội). Bà là cháu gái của vua Đồng Khánh và là con của luật sư Trần Văn Chương. Lúc nhỏ, bà học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, tốt nghiệp tú tài Pháp. Năm 1943 bà kết hôn với Ngô Đình Nhu và cải đạo sang Công giáo, từ bỏ đạo Phật. Bà là dân biểu, chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới, thường được gọi là "Bà Cố vấn" và được coi là Đệ nhất Phu nhân (First Lady) của Việt Nam Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1963 vì Tổng thống Ngô Đình Diệm không lập gia đình.

http://www.dcvonline.net/php/images/102006/tranlexuan.jpgTrong thời Đệ nhất Cộng hòa của miền Nam Việt Nam, Trần Lệ Xuân bị cho là người lộng quyền. Việc tổng thống Ngô Đình Diệm để cho bà cũng như Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Luyện và người em út Ngô Đình Cẩn tham gia sâu vào việc nước tạo nên hình ảnh gia đình trị độc đoán kiểu phong kiến.

Trong sự kiện Phật Đản năm 1963, ngày 3 tháng 8 năm 1963, trong cuộc nói chuyện với phụ nữ bán quân sự, Trần Lệ Xuân lên tiếng rằng "hoạt động của Phật giáo là một hình thức phản bội xấu xa..."[cần dẫn nguồn]. Về sự tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức, bà nhiều lần công khai phát biểu "Vỗ tay hoan nghênh các vụ tự thiêu, nếu ai có thiếu xăng dầu thì tôi sẽ cho" và gọi vụ tự thiêu là "nướng sư" (nguyên văn: I would clap hands at seeing another monk barbecue show)[1]. Trả lời phỏng vấn của ký giả báo New York Times, Trần Lệ Xuân nói: "Tôi còn thách mấy ông sư thêm mười lần nữa. Phương pháp giải quyết vấn đề Phật giáo là phớt tỉnh, không cần biết tới"{{fact}. Các hành động, phát biểu thiếu cân nhắc và quá khích của bà góp phần đổ thêm dầu vào lửa dẫn đến cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, chấm dứt nền Đệ nhất Cộng hòa của Việt Nam Cộng hòa.

http://saigonecho.com/main/images/stories/tranlexuan%20xua_082710.jpgTrần Lệ Xuân cũng là người khởi xướng kiểu áo dài cổ thuyền, khoét sâu (mà dân chúng vẫn gọi nôm na là "áo dài Trần Lệ Xuân") tạo ra một làn sóng thời trang áo dài hở cổ mới mà những người cổ học lên tiếng phê phán.

Bà còn cho xây dựng tượng Hai Bà Trưng, nhưng với khuôn mẫu Trưng Trắc giống hệt bà còn Trưng Nhị giống hết con gái Lệ Thủy của bà. Ba năm sau ngày bà đi lưu vong, hai tượng này bị đập bỏ. Ngày nay, những cánh rừng do bà khởi xướng trồng trên đường từ Sài Gòn đến rừng Cát Tiên vẫn được nhân dân gọi là rừng Trần Lệ Xuân.

Sống lưu vong

Trần Lệ Xuân và con gái Ngô Đình Lệ Thủy

Trong tháng 10 năm 1963, Trần Lệ Xuân cùng con gái Ngô Đình Lệ Thủy đi Hoa KỳRoma với dự định sẽ vạch trần âm mưu lật đổ của Tổng thống KennedyCIA trước công chúng Mỹ.

Ngày 1 tháng 11 năm 1963 Trần Lệ Xuân và con gái đang trú ngụ tại khách sạn sang trọng Wilshire Hotel ở Beverly Hill, California thì cuộc đảo chính xảy ra, chồnganh chồng bà bị giết.

Ngày 15 tháng 11 năm 1963, Trần Lệ Xuân và Lệ Thủy rời khỏi Los Angeles để đi Roma sinh sống sau khi phát biểu: "Tôi không thể cư ngụ ở Mỹ, vì lý do đơn giản chính phủ của họ đã đâm sau lưng tôi."

Ngày 16 tháng 10 năm 1971, tờ New York Times đưa tin bà bị đánh cướp số nữ trang trị giá trên 32 ngàn đôla tại Roma.

Ngày 9 tháng 5 năm 1975 khi trả lời phỏng vấn đài truyền hình NBC Trần Lệ Xuân đã tố cáo chính quyền Kennedy can thiệp vào Nam Việt Nam là "nhằm tạo thanh thế và sự ủng hộ cho Đảng Dân chủ Hoa Kỳ".

Ngày 2 tháng 11 năm 1986, Trần Lệ Xuân tố cáo Mỹ chơi xấu với gia đình bà trong việc bắt giữ Trần Văn Khiêm (em trai bà) về tội giết cha mẹ là ông bà Trần Văn Chương tại nhà riêng ở Washington, D.C. hồi tháng 7 cùng năm.

Những năm đầu thập niên 1990, Trần Lệ Xuân sống tại vùng Riviera Pháp và thường chỉ trả lời phỏng vấn một lần duy nhất để lấy tiền và vé máy bay khứ hồi cho con gái út qua thăm ông bà ngoại ở Mỹ.

http://vnthuquan.net/diendan/upfiles/2452/2BA632826304475E9FAEA61218B091CF.jpgHiện nay Trần Lệ Xuân đang sống một mình, viết hồi ký tại một trong 2 căn hộ thuộc quyền sở hữu của bà (căn thứ hai cho thuê) trên tầng 11 của một tòa nhà cao tầng gần tháp Eiffel tại Quận 15, thủ đô Paris (Pháp) và cắt đứt mọi quan hệ với các nhân vật chính trị. Hai căn hộ này theo bà là của một nữ bá tước tỉ phú người ÝCapici tặng mặc dù hai người chưa từng gặp nhau.

Gia đình

  • Cha: Luật sư Trần Văn Chương, đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Hoa Kỳ
  • Chồng: Ngô Đình Nhu, Cố vấn của Tổng thống

Các con:

  • Ngô Đình Trác, tốt nghiệp kỹ sư canh nông, 55 tuổi (2007), lấy vợ người Ý, có 4 con (3 trai, 1 gái)
  • Ngô Đình Quỳnh, tốt nghiệp ESSEC (Trường Kinh tế và Thương mại Pháp), hiện làm cho một công ty Mỹ tại Bruxelles, Bỉ
  • Ngô Đình Lệ Thủy, trưởng nữ, mất vì tai nạn giao thông tại Paris năm 1968
  • Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Đại học Roma, không nhập quốc tịch Ý tuy có chồng người Ý. Con trai 7 tuổi (2007) mang họ mẹ trên giấy tờ là: Ngô Đình Sơn.
Giai thoại về Công tử Bạc Liêu xưa và nay: Con trai Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Đức vừa làm đơn gửi UBND tỉnh Bạc Liêu xin được cấp nhà ở để ổn định cuộc sống, có nơi thờ tự ông bà bởi hiện tại, gia đình ông hết sức khó khăn.Thông tin trên đã làm cho người dân xứ Bạc đặc biệt chú ý, bởi xưa kia ông Trần Trinh Huy (thường được gọi là Công tử Bạc Liêu, Hắc Công tử) vốn là người giàu có, ăn chơi nức tiếng khắp Nam kỳ lục tỉnh...

Công tử Bạc Liêu sinh ngày 22.6.1900 và mất ngày 16.1.1973. Ngày 16.1.2009 vừa qua, ông Trần Trinh Đức về Bạc Liêu làm đám giỗ lần thứ 36 cho cha tại khách sạn Công Tử Bạc Liêu - ngôi nhà trước đây thuộc sở hữu của cha ông. Ông Đức sinh năm 1947, con của bà Nguyễn Thị Hai (vợ thứ hai của Công tử Bạc Liêu). Ông Đức có 2 người vợ, 3 đứa con. Vợ trước là Lý Phụng Anh (đã mất) và vợ hai là Nguyễn Thị Nga. Theo ông Đức thì sau khi cha ông qua đời, gia đình ông thật sự rơi vào cảnh khốn khó, phải tha phương, lao động cật lực bằng đủ thứ nghề để mưu sinh.

Gần cuối đời, ông Trần Trinh Đức - con trai của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy - tìm về quê hương sinh sống. Không nghề nghiệp, không đất đai, ông sống tạm trong ngôi nhà do một doanh nghiệp thương tình cho mượn cùng với vợ và người con gái bị tâm thần.

Tài sản có giá trị duy nhất hiện tại của ông là chiếc xe gắn máy để chạy xe ôm kiếm sống trước cửa nhà hàng - khách sạn mang tên "Công Tử Bạc Liêu".

Bị lấy nhà, quay về quê cha

Rất tình cờ tôi gặp con trai công tử Bạc Liêu ngay tại khuôn viên của ngôi nhà “Công Tử Bạc Liêu”. Vẫn nét phong độ pha lẫn phong trần trên khuôn mặt của người đàn ông tuổi đã quá 60, bằng giọng trầm buồn ông kể: “Trước đây tôi sống tại căn nhà số 44/5 phường 6, quận Bình Thạnh, TPHCM, do một người tốt bụng cho ở nhờ để hành nghề chạy xe ôm. Sau khi bà ấy mất, con cái bán căn nhà này nên tôi không còn chỗ ở nữa. Đầu tháng 7.2010, tôi về quê cha sống ở căn nhà trên đường Trần Huỳnh, phường 7, thị xã Bạc Liêu do một doanh nghiệp cho mượn”.

Thật ra sau khi công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy mất, tài sản để lại không nhiều, nhưng vẫn còn một số căn nhà tại TPHCM. Anh em ông Trần Trinh Đức chia nhau bán để lấy vốn làm ăn. Sau nhiều phen thất bại chốn thương trường, ông lặn lội qua tận Campuchia mua bán đồ cũ, nhưng cũng chẳng khá. Điều bất hạnh hơn, đứa con gái của ông sau một vụ tai nạn đã bị bệnh tâm thần. Ông quay về TPHCM với tài sản có giá trị nhất là chiếc xe gắn máy để hành nghề chạy xe ôm nuôi cả gia đình.

Tháng 7.2009, trong một chuyến về Bạc Liêu giỗ cha, ông nảy sinh ý định xin UBND tỉnh một căn nhà để làm chỗ thờ cha. Do không nằm trong bất cứ diện nào để xét chọn cấp nhà nên Sở Xây dựng và UBND tỉnh Bạc Liêu trả lời, nếu ông có yêu cầu về Bạc Liêu, sẽ xem xét cất nhà tình nghĩa cho ông ở để thờ cha mình. Tuy nhiên, điều thúc đẩy ông Đức về Bạc Liêu không phải là việc UBND tỉnh cấp nhà tình thương mà là việc một doanh nghiệp thương tình đứng ra hứa cấp đất, xây phủ thờ tại vị trí đẹp nhất của dự án.

Sự thật về việc con trai công tử được cấp nhà

DN đó là Cty CP địa ốc Bạc Liêu, còn người đứng ra kêu gọi ông Trần Trinh Đức quay về là Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Nguyễn Chí Luận. Ông Luận cho biết:

Ông Trần Trinh Đức - con trai công tử Bạc Liêu. Ảnh: Nhật Hồ
Ông Trần Trinh Đức - con trai công tử Bạc Liêu. Ảnh: Nhật Hồ

“Tôi muốn ông Đức về đây là bằng tình cảm cá nhân, bằng sự quý mến về phong cách của Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy, hoàn toàn không vì mục đích kinh doanh. Tôi dành cho ông Đức một diện tích đất tại khu Hồ Nam của dự án với yêu cầu cất nhà 3 gian theo kiểu xưa để sưu tầm và trưng bày những hiện vật và phủ thờ Công tử Bạc Liêu. Anh Đức ở đây và có quyền mua bán để kiếm sống. Nói thật, nghe con trai Công tử Bạc Liêu chạy xe ôm kiếm sống tại TPHCM, là một doanh nghiệp, tôi cũng thấy xót”.

Dù thực tế là vậy, nhưng vào thời điểm bấy giờ có nhiều tờ báo đưa tin con trai Công tử Bạc Liêu được cấp đất tại Cty CP địa ốc. Thậm chí còn nêu sau khi nhà được xây dựng xong, ông Đức được Cty CP địa ốc trả lương 5 triệu đồng/tháng.

Cho đến nay dự án xây dựng phủ thờ Công tử Bạc Liêu tại Cty CP địa ốc Bạc Liêu gặp nhiều khó khăn. Ông Đức không có tài sản gì ngoài chiếc xe gắn máy và danh xưng con trai Công tử Bạc Liêu trong khi việc vận động các mạnh thường quân bỏ tiền ra cất nhà hiện mới dừng lại con số 70 triệu đồng. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Chí Luận cho biết thêm: “Tôi khẳng định là chưa bao giờ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Trinh Đức. Phần đất tôi dự kiến làm phủ thờ Công tử Bạc Liêu là cho ông Đức mượn với thời gian 50 năm”.

Như vậy ông Trần Trinh Đức hiện tại vẫn chưa có nhà ở, việc làm. Ông cho biết, sẽ cầm chiếc xe gắn máy tiếp tục chạy xe ôm ngay quê hương mình. Bởi nếu không chạy xe ôm thì lấy gì nuôi vợ cùng đứa con tâm thần để tiếp tục chờ đợi dự án phủ thờ chưa biết chừng nào xây dựng xong.
Hơn 2 tháng về đất Bạc Liêu, ông được giám đốc Nhà hàng - khách sạn Công Tử Bạc Liêu thương tình cho 50 kg gạo. Ông ngậm ngùi: “Tôi rất lấy làm buồn khi người ta nói “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Nhưng tôi nghĩ mình còn có quê hương nên cuối đời về đây sống bằng tình thương của mọi người. Chắc chắn người ta chẳng giúp tiền bạc cho mình mãi được. Phải tự cứu mình bằng nghề cũ thôi”.

Công tử Bạc Liêu ngày xưa giàu có, ăn chơi thế nào tôi không được biết, nhưng trước mặt tôi là con trai ông đang không nghề nghiệp, không nhà cửa, phải gánh vác một gia đình với đứa con gái không bình thường. Dự án phủ thờ Công tử Bạc Liêu với bao nhiêu viễn cảnh vẫn còn nguyên đó. Tôi thấy tội cho ông. Càng tội hơn khi có ai đó xúi giục ông làm hồ sơ xin lại căn nhà, bởi ai cũng biết đây là căn nhà của ông hội đồng Trần Trinh Trạch đã được Nhà nước quản lý từ sau năm 1945.

Ông Trần Trinh Đức trong ngày giỗ cha

Ông Đức tâm sự: Sau khi cha mất 2 năm, gia đình ông bán hết của cải, tài sản và căn nhà số 26/6 đường Nhất Linh (nay thuộc Q.Bình Thạnh, TP.HCM) để trả nợ. Kể từ đó, anh em, con cháu trong gia đình bỏ đi tứ xứ, người trụ lại Sài Gòn, người ra Vũng Tàu, người về quê Bạc Liêu, Cà Mau... kiếm sống. Riêng ông Đức thì xin ở đậu nhà ông già vợ trong một con hẻm nhỏ thuộc Q.Gò Vấp, TP.HCM.

Trong khoảng thời gian này, ông cùng vợ ra chợ An Đông mua bán quần áo, đồng hồ, ti vi cũ... Tích góp số tiền kha khá, năm 1995, ông mua căn nhà nhỏ tại chợ An Đông, Q.5 để vừa ở vừa buôn bán. Gia cảnh của ông Đức trở nên cùng cực khi con gái út của ông bị người yêu gạt cả tình lẫn tiền. Kể từ đó cô út suy sụp rồi mắc bệnh tâm thần cho đến nay. Năm 1997, ông Đức phải bán nhà lần nữa để trả nợ cho con, gia đình ông lại lâm vào cảnh trắng tay.

Bí đường, năm 1998 ông cùng vợ con sang tận Campuchia để tìm kế mưu sinh. Công việc thường ngày của ông trên đất khách quê người là tìm mua giày “si đa” về đánh bóng bán lại cho các mối ở Việt Nam. Do thu nhập ở Campuchia quá thấp, không đủ sống, ông lại đưa vợ con trở về Việt Nam sống tá túc nhà mẹ vợ một thời gian dài.

Theo bè bạn, ông Đức ra đường chạy xe ôm. “Chạy xe ôm thu nhập rất bèo, mỗi ngày chỉ được khoảng 30 - 60 ngàn đồng. Hôm nào may mắn được khách quen cho thêm vài chục” - ông Đức tâm sự. Con trai ông là Trần Kinh Bảo (34 tuổi) cũng chạy xe ôm để phụ giúp gia đình nhưng thu nhập còn thấp hơn ông. Khó khăn chồng khó khăn.

Sau khi thông tin về hoàn cảnh khó khăn của ông Đức được đăng tải trên báo, nhiều người cảm thông ra tay giúp đỡ. Nhân chuyến về giỗ cha, ông Đức đã gặp được một mạnh thường quân - ông Nguyễn Chí Luận, Chủ tịch HĐQT - Giám đốc Công ty cổ phần địa ốc Bạc Liêu. Ông Luận có nhã ý tặng cho ông Đức một lô “đất vàng” rộng hơn 200m2, tại Khu du lịch Hồ Nam, thị xã Bạc Liêu. Đồng thời, ông Luận cũng đứng ra vận động các mạnh thường quân góp tiền mua căn nhà gỗ ba gian trị giá khoảng 300 triệu đồng tặng cho gia đình ông Đức để làm phủ thờ ông bà kết hợp tham quan du lịch. Ông Luận sẽ hỗ trợ lương quản lý cho ông Đức 5 triệu đồng/tháng giúp ông ổn định cuộc sống. Ngoài ra, bà Võ Kim Cương - Giám đốc khách sạn Công tử Bạc Liêu cũng ngỏ lời mời ông về làm việc tại khách sạn...

Tin trên làm gia đình ông Đức vô cùng phấn khởi, xúc động. Ông hứa sẽ cùng gia đình về Bạc Liêu sinh sống suốt quãng đời còn lại, bởi theo ông không có mảnh đất nào êm đềm bằng quê cha, đất tổ - nơi ấy có bạn bè, có những con người hiếu khách, có mồ mả ông bà...

Trong dòng họ công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (người khét tiếng nhất trong họ của ông) còn có những công tử nổi tiếng chơi ngông mà nhiều người chưa biết.

Đầu thế kỷ 20, người Sài Gòn lục tỉnh gọi công tử Bạc Liêu là để chỉ một nhóm người giàu có, nức tiếng ăn chơi, chứ không hẳn riêng một người.

Bá hộ Bì

Bá hộ Bì tên thật là Phan Hộ Biết, là ông ngoại của Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Từ miệt vườn Tiền Giang, Bá hộ Bì về Bạc Liêu khai khoang mở ấp. Sách khẩn hoang miền Nam của nhà văn Sơn Nam ghi: “Năm 1894 ông Phan Hộ Biết đâm đơn xin lập làng mới tên gọi là Vĩnh Hưng (xã Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lợi ngày nay). Dân do ông ta quy tụ về và chịu trách nhiệm đóng thuế thân cho họ. Bá hộ Bì đã bỏ tiền ra xây dựng nhà việc (công sở làng ) trị giá 200 đồng ...”.

Những "quái nhân" của nhà công tử Bạc Liêu, Tin tức trong ngày,

Nhà công tử Bạc Liêu xưa nay thành khách sạn.

Bằng cách chiêu mộ lưu dân về cho vay tiền, cho mướn trâu, vay lúa để khai hoang, sau đó mua lại đất của người không trả nổi nợ, Phan Hộ Biết trở thành một đại điền chủ lớn nhất Bạc Liêu.

Con cháu ông ta kể rằng: Bá hộ Bì là chủ sở hữu hầu hết các sở muối từ Gành Hào đến Vĩnh Châu, còn đất ruộng không biết bao nhiêu ngàn mẫu mà kể. Là một người giỏi tính toán làm ăn, khi Pháp mở thương cảng Sài Gòn, đào xong sông Bạc Liêu; Bá hộ Bì liền sắm một đoàn ghe chài hàng trăm chiếc đi thu mua lúa, muối đưa lên Sài Gòn xuất khẩu.

Lúc này, Bá hộ Bì được mệnh danh là “vua” lúa gạo Nam Kỳ; đến khi người lục tỉnh gọi Bạc Liêu là tỉnh muối thì Bá hộ Bì lại được “phong” là “vua” muối.

Giàu có như thế nên Bá hộ Bì nổi tiếng chơi ngông. Chỉ tính cái “món gái“ thôi, đã làm cho người Bạc Liêu đương thời phải nổi da gà. Bá hộ Bì có bảy vợ chính thức, ở chung một nhà.

Còn nhân tình, nhân ngãi của Bá hộ Bì không biết bao nhiêu mà đếm. Mỗi lần đi thăm điền, Bá hộ Bì đều đi bằng ghe lớn chạm trổ hình long phụng. Trên ghe có sập gụ để uống trà, hút á phiện và dĩ nhiên không thể thiếu buồng the với những cố nhân tình luôn được “đổi mới” trong mỗi chuyến đi.

Trần Trinh Đinh

Công tử Bạc Liêu có người anh tên Trần Trinh Đinh, sinh năm 1896, không biết mất vào năm nào. Đinh là một người trong bảy anh em của công tử Bạc Liêu, được Trần Trinh Trạch tin tưởng nhất.

Khi miền Nam manh nha nền công nghiệp xay sát lúa gạo thì ông Trạch bỏ ra một số vốn khổng lồ để cất “nhà máy lửa” mang tên Hậu Giang; giao cho Trần Trinh Đinh cai quản.. Đây có thể là một nhà máy lớn nhất Nam Bộ dạo đó, với công suất xay lúa 15 tấn một ngày.

Bánh trớn của nó nặng đến 10 tấn, chạy bằng trấu và củi. Nhà máy tọa lạc tại bờ sông thuộc thị xã Bạc Liêu, ống khói của nó vươn cao, đứng xa 10 km còn nhìn thấy.

Những "quái nhân" của nhà công tử Bạc Liêu, Tin tức trong ngày,

Vợ chồng ông Trân Trinh Huy.

Là chủ một nhà máy lớn nên Đinh giàu sang nhanh chóng và là tay ăn chơi có hạng. Đinh to con, trông hệt như một tay hảo hớn. Đi đâu Đinh cũng vận xà rong của người Khơ me.

Việc vận xà rong này vốn có căn nguyên: Khi đưa gạo sang Nam Vang (Campuchia) bán, giao du với tầng lớp giàu có ở đó, Đinh quen với một tay tài xế xe trong cung vua, có người vợ đẹp mê hồn.

Trong một lần Đinh đãi tiệc, tay tài xế mang vợ theo, khiến Đinh bị hút hồn, nhìn mê mải. Đã quen với cách ăn nói của dân cậu, Đinh ngỏ ý với gã tài xế: “Mày bán vợ cho tao, bao nhiêu tao cũng mua“.

Tài xế nổi nóng, nhưng kìm được, thách thức: “20.000 đồng đó, ông có tiền mua không?” (Hồi đó, giá 20 cân thóc chỉ một hào). Tưởng nói cho bõ giận, ai dè Hai Đinh mua thật. Vợ tài xế ở với Trần Trinh Đinh đến cuối đời. Bà vốn là người Khơ me nên Đinh có thói quen vận xà rong là vậy.

Phan Kim Cân

Phan Kim Cân là cháu nội của Bá hộ Bì. Sách “Bạc Liêu xưa và nay” của Huỳnh Minh viết: Người đương thời nhìn nhận rằng trong nhóm công tử Bạc Liêu ai cũng đáng chê, chỉ Phan Kim Cân là đáng khen.

Bởi Cân trọng nghĩa khinh tài, ai khó khăn, hoạn nạn Cân đều ra tay giúp đỡ. Lúc chí sĩ Nguyễn An Ninh đến Bạc Liêu được Cân tìm mời về nhà khoản đãi. Khi Bạc Liêu bị Pháp chiếm đóng, Cân rũ bỏ đời sống vàng son, ra bưng biền chiến đấu; sau được Việt Minh giao làm ủy viên tài chính ngân khố tỉnh Bạc Liêu.

Tuy nhiên, Cân cũng không tránh được máu chơi ngông của dòng họ. Một lần, cưỡi ngựa về Vĩnh Hưng chơi, gặp ở bờ sông một cô gái đẹp mê hồn, Cân ngẫn người tới mức buông cả cương ngựa.

(Sau này Cân mới biết cô gái đó là con út của Bá hộ Bành Tòng Mậu, một điền chủ lớn trong vùng). Trấn tĩnh lại, Cân liền quay ngựa về Bạc Liêu, lấy ca nô, xách súng đến bắt cóc cô gái.

Nhà Bá hộ Bành Tòng Mậu rượt theo, nhưng không kịp; họ kiện quan, tung tin con gái bị một tên lưu manh cướp. Về sau, người con gái này ở với Phan Kim Cân có con, được Cân hết mực thương yêu, nên gia đình Bá hộ Bành Tòng Mậu cũng nguôi giận.

Chuyện dòng họ công tử Bạc Liêu còn dài dài và hầu như không ai nhớ được các công tử có bao nhiêu con, cháu. Ngày nay, con cháu họ tứ tán khắp nơi, kể cả ở nước ngoài. Người dân Sài thành giờ chỉ phong thanh biết một người con trai của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy đang chạy xe ôm, sống độ nhật đâu đó trên các đường phố.

Giai thoại về Công tử Bạc Liêu xưa và nay

Đã từ lâu, trong dân gian vẫn truyền miệng câu thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" để chỉ lối sống phong lưu, phóng túng của những cậu ấm, cô chiêu xuất thân từ tầng lớp quý tộc, đại điền chủ giàu có ở vùng đất Nam Bộ dưới thời thực dân, phong kiến. Nhân vật làm nên linh hồn "Công tử Bạc Liêu" đó chính là Trần Trinh Huy (tên thật là Trần Trinh Quy), sinh ngày 22/6/1900 tại làng Vĩnh Hưng, quận Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, qua đời tại tư gia ngày 13/1/1974 tại Sài Gòn.

Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy.
Thời đó, thực dân Pháp đã ổn định về tổ chức của vùng đất thuộc địa Nam Kỳ. Do việc phân chia lại ruộng đất đã làm nảy sinh rất nhiều đại điền chủ ở vùng đất này. Thời đó dân gian đã có câu "nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Trạch" để chỉ 4 vị đại điền chủ giàu có nhất vùng đất Nam Kỳ. Theo phong trào khi ấy, các đại điền chủ, hào phú quyền quý khắp Nam Kỳ thường cho con lên Sài Gòn học ở các trường Pháp, thậm chí du học bên Pháp. Tuy nhiên, hầu hết các vị công tử giàu có này, ảnh hưởng bởi sự phồn hoa đô hội, sẵn tiền, nên thường đi vào con đường tay chơi để thể hiện mình. Trong số vị công tử ấy, không ai đủ sức xài tiền như các công tử Bạc Liêu. Thành ngữ "Công tử Bạc Liêu" có từ lúc ấy. Về sau, thành ngữ này chỉ dùng để chỉ công tử Trần Trinh Huy vì chẳng công tử nào sánh kịp về khả năng tài chính và độ phóng túng. Từ đó "Công tử Bạc Liêu" trở thành danh xưng riêng của Ba Huy, không một ai có thể tranh chấp.

Ngoài ra, Trần Trinh Huy còn được gọi bằng nhiều tên khác như Ba Huy, Hội đồng Ba (cách gọi của tá điền), Hắc công tử (do nước da ngăm đen và để phân biệt với Bạch công tử Mỹ Tho-Tiền Giang), trong một gia đình đại điền chủ giàu có vào bậc nhất, nhì vùng đất Nam Bộ thời kỳ đầu thế kỷ XX. Cha của Công tử Bạc Liêu là Trần Trinh Trạch (hay còn gọi là Hội đồng Trạch)-chủ sở hữu 74 sở điền với 110.000 ha đất lúa ruộng, gần 100.000 ha ruộng muối, vài chục căn phố lầu ở Bạc Liêu và nhiều biệt thự sang trọng ở Cần Thơ, Sài Gòn, Vũng Tàu, Đà Lạt....

Cuộc đời thật Trần Trinh Huy

Sau 3 năm dùi mài học tập ở Pháp quốc đã không mang về cho gia tộc Trần Trinh một học hàm, học vị nào cả. Công tử Bạc Liêu về nước, hành trang của ông ta là kinh nghiệm nhảy đầm, lái xe và một bầu tâm sự ngày đêm thương nhớ cô vợ đầm và đứa con còn gửi nơi kinh thành ánh sáng Paris. Về nước, Ba Huy có nhiều bà vợ Việt và hàng lố nhân tình nữa. Bà đầu tiên mà Ba Huy cưới tại Bạc Liêu tên Ngô Thị Đen. Bà này ở với Ba Huy sinh được người con gái là cô Hai Lưỡng. Sau cô hai Lưỡng qua Pháp sống. Từ năm 1945, Ba Huy lên Sài Gòn ở hẳn, ông đi chơi ở Mỹ Tho rồi cưới cô Nguyễn Thị Mẹo sinh được 4 người con, đặt tên Hiếu, Thảo, Nhơn, Đức. Bà cuối cùng là một "hoa khôi chân đất" tên là Bùi Thị Ba làm nghề gánh nước mướn. Bà này rất đẹp, nhỏ hơn cậu Ba 40 tuổi. Khoảng năm 1968, cậu Ba ở căn phố đường Nguyễn Du-Sài Gòn. Mỗi sáng đứng trên lầu nhìn xuống thấy có nhỏ con gái gánh nước qua lại đẹp quá, cậu Ba đem lòng cảm mến. Hỏi thăm thì được biết cô gái đó là con ông già làm nghề sửa xe đạp. Cậu Ba tìm đến đặt vấn đề liền, xin đổi căn nhà đang ở lấy cô gái. Từ đó người đẹp gánh nước mướn trở thành phu nhân của Hắc công tử, thủy chung đến ngày ông nhắm mắt. Hai người có với nhau hai cậu con trai và hai cô con gái là Hoàn, Toàn và Trinh, Nữ. Ngoài những bà "chánh thức" vừa kể, những bà “bên lề” và tình nhân thì không sao kể hết. Bên cạnh lối sống phóng túng, phong lưu, cậu Ba Huy cũng là người nhân hậu, sống có tình, có nghĩa, rất rộng rãi, sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khi họ gặp hoạn nạn. Tá điền không thấy ông đòi nợ ai bao giờ, ai nghèo quá, năn nỉ ông còn bớt lúa ruộng. Cho nên tá điền ít ai oán ghét Ba Huy. Trong các mối quan hệ xã hội, Ba Huy không sống dè dặt, mưu toan, tính toán thiệt hơn. Trong con mắt giới giang hồ tứ chiếng thời đó, Ba Huy được coi là người "ngon" nhất Nam Bộ không phải bởi cái vẻ hào hoa, sang trọng bên ngoài mà bởi sự khoáng đạt, phóng túng trong cách sống. Trong con mắt người Pháp, Ba Huy được nể trọng vì lấy được vợ đầm và mướn người Pháp làm công cho mình.

Những vật dụng mà gia đình ông Trần Trinh Huy đã sử dụng vẫn được lưu giữ đến nay.
Những giai thoại về Công tử Bạc Liêu

Ông Trạch giao cho Ba Huy việc trông coi điền sản. Đi đòi nợ các tỉnh, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, sản xuất năm 1922. Loại xe đó cả miền Nam khi ấy chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của vua Bảo Đại. Ba Huy còn thuê một người Pháp làm công cho mình. Đó là ông Henri Espérinas (em rể), chồng cô Tư Nhớt. Ông này làm quản lý, điều hành gia sản cho ông Hội đồng Trạch, dưới quyền Ba Huy. Theo hợp đồng, quản lý được hưởng 10% trên tổng số lợi tức thu được hàng năm. Chính vì vậy ông Henri mới bỏ "mẫu quốc" qua làm mướn cho bên nhà vợ, mãi đến tháng 4/1975 mới về nước. Một sự kiện chấn động cả nước khi đó là Ba Huy đi thăm ruộng bằng máy bay. Và lúc ấy cả Việt Nam cũng chỉ có 2 chiếc là của Công tử Bạc Liêu và của vua Bảo Đại. Một lần bay qua thăm điền Rạch Giá, Công tử Bạc Liêu hứng chí bay ra biển Hà Tiên chơi, cứ bay mải miết cho đến khi kim báo xăng không còn nhiên liệu, buộc lòng Ba Huy phải đáp khẩn cấp. Xuống đất, Ba Huy hoảng hốt biết mình đã bay sang tận Thái Lan. Trần Trinh Huy bị nhà cầm quyền Thái Lan bắt giữ và phạt 200.000 giạ lúa. Ông Hội đồng Trạch phải cho một đoàn ghe chở lúa thật dài qua tận Thái Lan để chuộc quý tử. Ông là người Việt Nam đầu tiên sở hữu máy bay tư nhân và sân bay tư nhân. Ba Huy sinh hoạt cực kì sang trọng và xa hoa. Ra đường là đóng bộ veston, thứ hàng đắt tiền nhất thời đó. Thói quen của Ba Huy là ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều ăn cơm Tây. Mỗi lần từ Bạc Liêu đi Sài Gòn là ông ta ngồi trên chiếc xe cáu cạnh, có tài xế lái. Khi lên Sài Gòn ít khi Công tử Bạc Liêu ở ngôi biệt thự gia đình mà vào một trong những khách sạn nổi tiếng sang trọng ở Sài Gòn. Có khi hứng chí đi dạo mát , Ba Huy thuê cả chục chiếc xe kéo, ông ta ngồi một chiếc, những chiếc còn lại chở những món đồ như mũ, gậy...

Một sự kiện đã tạo thành giai thoại Công tử Bạc Liêu là năm 1929, Bạch công tử (BCT) lập luôn hai gánh cải lương là Phước Cương và Huỳnh Kỳ, mời hai cô đào tài sắc thời đó là cô Năm Phỉ và cô Bảy Phùng Há về thủ vai chính cho hai đoàn. Một lần, đoàn Huỳnh Kỳ có cô Bảy Phùng Há về Bạc Liêu diễn, BCT mời Hắc Công Tử (HCT) đi xem. Đang xem, BCT móc thuốc hút, vô ý làm rớt tờ giấy con công (giấy bạc 5 đồng thời đó), BCT gạt chân HCT kiếm. HCT thấy vậy hỏi: Toa kiếm gì vậy?. Kiếm tờ con công. HCT mỉm cười nói: Để moa đốt đuốc cho toa kiếm. Nói rồi HCT móc tờ giấy bạc bộ lư (mệnh giá 100 đồng) châm lửa soi cho BCT kiếm (thời đó lúa chỉ có 8-9 cắc một giạ). Bị một vố quá mạng, vãn tuồng, BCT nói: Toa chơi moa một cú đau quá. Bây giờ nếu toa ngon, toa với moa cân mỗi người ký đậu xanh, rồi lấy tiền nấu, ai sôi trước người ấy thắng? HCT đâu chịu thua. Tối hôm sau, HCT cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà (nay là Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu), cứ mỗi thước cho một gia nhân cầm đuốc soi đường, nghinh đón phái đoàn của BCT. Hai nồi đậu xanh được nhắc lên bếp, hai chàng công tử lấy tiền ra đốt. Nồi đậu xanh của BCT hôm đó sôi trước. Ba Huy cũng là một kẻ mê cờ bạc, có những khi ông ta đánh một cây bài 30.000 đồng, trong khi lúa chỉ 1,7 đồng một giạ, lương của Thống đốc Nam Kỳ chưa tới 3.000 đồng một tháng.

Về thăm Khách sạn Công tử Bạc Liêu

Có một địa chỉ mà bất cứ du khách nào khi đặt chân về Bạc Liêu cũng muốn tìm đến, nghỉ một đêm cho biết. Đó là Khách sạn Công tử Bạc Liêu. Khu nhà cổ tọa lạc ở 13 Điện Biên Phủ, phường 3, thị xã Bạc Liêu-Bạc Liêu là nơi gia đình ông Trần Trinh Huy từng trú ngụ. Ngôi nhà được xây dựng năm 1919 do kỹ sư người Pháp thiết kế và xây dựng. Nhà có tất cả 2 tầng. Tầng trệt gồm 2 phòng ngủ, 2 đại sảnh. Chính giữa là cầu thang lên lầu trên gồm 3 phòng ngủ, 2 đại sảnh, phòng ở hướng đông bắc là phòng của ông Trần Trinh Trạch, phòng đối diện là phòng của Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Đây là căn nhà được coi là bề thế nhất không chỉ ở Bạc Liêu mà cả lục tỉnh Nam Kỳ lúc bấy giờ. Từ đó đến nay, gần một thế kỷ qua, căn nhà gần như vẫn giữ được những nét cơ bản của nó. Năm 2003, Công ty Du lịch Bạc Liêu đã đầu tư tu sửa căn nhà nhằm đưa vào kinh doanh văn hóa du lịch. Hiện nay Nhà hàng-Khách sạn Công tử Bạc Liêu được thiết kế 10 phòng nghỉ. Giá phòng từ 200.000 - 240.000đồng/ngày đêm. Chị Võ Kim Cương - Giám đốc Khách sạn Công tử Bạc Liêu cho biết: Từ ngày đưa vào hoạt động, Khách sạn công tử Bạc Liêu luôn đạt công suất khá cao gần 80%. Riêng căn phòng của Công tử Bạc Liêu (phòng 101) có giá thuê 350.000 đồng/ngày đêm, nhưng phải đặt trước từ 7-10 ngày, vì phòng này lúc nào cũng có khách, phần đông là Việt Kiều. Nhà hàng - Khách sạn Công tử Bạc Liêu hiện nay được rất nhiều người dân Bạc Liêu nhất là những đôi uyên ương chọn làm tiệc cưới. Tuy nhiên do qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau mà vật dụng trong gia đình đã thất lạc rất nhiều, nhưng với những gì còn sót lại và được bảo quản như hiện nay cũng đủ nói lên được sự giàu có của gia đình ông Hội đồng Trạch lúc bấy giờ.Nào ai ngờ một trong những “cậu ấm” của công tử Bạc Liêu - nức tiếng một thời về sự giàu có và phong lưu, đang vật lộn kiếm sống bằng nghề xe ôm ngay tại TPHCM. Gần 10 năm nay, vị hậu duệ ấy sống lang bạt trong những căn phòng trọ đi thuê.

Ở tuổi xế chiều, điều mong mỏi lớn nhất của “cậu ấm” ấy - ông Trần Trinh Đức, là có được một căn nhà để thờ phụng tổ tiên trên chính mảnh đất quê hương.

Ông Trần Trinh Đức với công việc hàng ngày chạy xe ôm. (Ảnh: Hoài Lương).

Thời huy hoàng của “cậu ấm”

Liên lạc mãi, chúng tôi mới tranh thủ gặp được ông Đức lúc ông nghỉ trưa tại phòng trọ trong một con hẻm trên đường Nguyễn Văn Đậu (Q. Bình Thạnh, TPHCM).

Lục lại ký ức về quá khứ phong lưu, ông Đức kể, cha ông - ông Trần Trinh Huy (thường được gọi là “công tử Bạc Liêu”, “Hắc công tử”) có đến 4 vợ chính thức. Mẹ ông, bà Nguyễn Thị Hai là vợ thứ 2, trước ông Đức bà còn sinh được 2 người con là Trần Thị Thảo và Trần Trinh Nhơn. Cha ông còn nhiều người con khác, là: Hiếu, Hoàn, Toàn, Trinh, Nữ. Tất cả đều sống tứ tán, người ở nước ngoài, người ở TPHCM, Vũng Tàu…

Công tử Bạc Liêu - người một thời nổi tiếng với các giai thoại "đốt tiền", tiêu tiền như nước. (Ảnh: Huỳnh Hải)

Ngồi kể chuyện với chúng tôi, ông Đức trầm tư nhắc lại một thời huy hoàng xưa. Quê quán, gia tộc và tài sản gia đình phần lớn ở Bạc Liêu, nên cha ông thường đưa ông về thăm và có thời gian khá lâu ông sống tại chính Dinh thự của gia đình (nay là Khách sạn Công tử Bạc Liêu). Còn ở Sài Gòn, ông sống tại biệt thự tại số 117 Nguyễn Du, về sau chuyển qua ở biệt thự trên đường Nhất Linh (nay là đường Nguyễn Huy Tưởng, Q.Gò Vấp).

Ông Đức không rõ cha ông có máy bay từ khi nào nhưng mỗi lúc anh em ông về quê hay đi chơi đều được đưa đón trên chiếc Ford - Mercury vốn dành cho giới thượng lưu trên thế giới thời đó.

Ông Đức bảo rằng, không biết có phải ảnh hưởng tính phong lưu của cha hay không nên tính ông cũng rất ham vui. Thời ấy, không chỗ vui chơi nào ở Sài Gòn ông không biết và tối nào ông cũng đi nhảy đầm.

Năm 1973, cha ông mất, gia đình bắt đầu gặp nhiều khó khăn. Sau Giải phóng, anh em trong nhà thống nhất bán căn nhà ở đường Nhất Linh và chia mỗi người một phần. Riêng ông thì chuyển về nhà vợ ở đường Huỳnh Tịnh Của (Q.3) và sống bằng nghề buôn bán.

Tha phương chạy ăn từng bữa

Sau khi được kế thừa một phần tài sản của cha, cuộc sống gia đình ông Đức cũng rất khá giả, có thời gian còn mở cả nhà hàng. Nhưng rồi đứa con gái duy nhất của ông sa vào bài bạc và mắc nợ. Tất cả tài sản trong nhà đều lần lượt “đội nón ra đi” nhưng vẫn không đủ trả hết các món nợ. Cô con gái cũng đâm ra ngớ ngẩn và mắc tâm thần phân liệt phải chạy thuốc mỗi ngày. Năm 1998, trừ đứa con trai lớn, gia đình còn lại 3 người phải dắt díu sang tận Campuchia để lánh nợ.

Ở đất khách, ông làm đủ nghề để kiếm sống, nhưng lâu nhất là bán giày da cũ. “Mỗi ngày tôi thu mua giày cũ về tân trang lại bán ở chợ Nam Vang (Phnom Penh), ban đầu còn tạm được nhưng về sau không sống nổi và một phần nhớ quê nên 2 năm sau lại túm đùm kéo nhau về lại Sài Gòn”, ông Đức kể.

Cũng từ đây, gia đình ông bắt đầu chuỗi ngày sống cảnh nhà thuê. Căn phòng trọ hiện nay là địa điểm cả nhà ông thuê lâu nhất.

Sa cơ lỡ vận, cùng đường, ông quay ra hành nghề xe ôm, thường đứng đón khách ngay tại ngã tư Pasteur - Điện Biên Phủ hơn 6 năm nay. Bước vào tuổi 61, nhưng ông là lao động chính nuôi 3 miệng ăn với thu nhập mỗi ngày khoảng 80-100 nghìn đồng. Căn phòng nhỏ chứa 4 người nhà ông (ông Đức, vợ, mẹ vợ và con gái) ở lúc trước giá thuê 800 nghìn/tháng thì giờ đây cũng tăng lên 1 triệu đồng. Ông ngao ngán: “Ngoài tiền điện nước, tiền ăn còn thêm tiền thuốc thang, nhiều lúc tính không khéo cũng thiếu trước hụt sau”.

Ông còn người con trai, cũng không nghề nghiệp ổn định nhưng ở trọ riêng. Ông Đức bảo: “Giờ chạy xe của tôi từ 5 giờ sáng đến 12 giờ trưa, rồi từ 3 giờ chiều đến tận 12 giờ khuya. Mải chạy ăn không có cả thời gian thăm con, dù biết nó trọ cũng đâu gần đây”.

Khi hỏi về những anh em cùng cha với ông, ông Đức lắc đầu: “Cũng không rõ nữa vì mỗi người mỗi nơi”. Anh em ông thuộc nhiều dòng mẹ nên cũng không thuận hòa lắm, còn đến giỗ thì mỗi người cúng riêng.

Sáng 13/9/2009, ông Nguyễn Chí Luận, Giám đốc Công ty Địa ốc Bạc Liêu cho biết, mọi thủ tục về việc cấp 300m2 đất thổ cư cho ông Trần Trinh Đức (con trai của Công tử Bạc Liêu) đã hoàn tất.

Trao đổi với PV Dân trí, ông Luận cho biết, diện tích đất này tọa lạc tại thị xã Bạc Liêu (thuộc khu đô thị địa ốc Bạc Liêu). Trong khuôn viên đất này sẽ xây dựng một phủ thờ và một số cơ sở vật chất khác phục vụ cho khách du lịch tham quan và tìm hiểu về Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy.

Theo ông Luận, để xây dựng các cơ sở trên cần kinh phí khoảng hơn 200 triệu đồng nhưng hiện nay mới chỉ có 20 triệu đồng. Chính vì thế, Công ty cũng như ông Trần Trinh Đức đang nhờ UBND tỉnh cùng Hội Nhà báo tỉnh Bạc Liêu vận động hỗ trợ kinh phí.

Cũng theo ông Luận, sau khi hoàn thành các cơ sở này thì sẽ “nhờ” ông Đức quản lý, hướng dẫn du khách tham quan và Công ty sẽ trả lương 5 triệu đồng/tháng để giúp ông Đức trang trải cuộc sống.

Ông Trần Trinh Đức (62 tuổi) là một trong những người con của Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy. Mẹ ông Đức là bà Nguyễn Thị Hai, vợ thứ của Công tử Bạc Liêu. Ông Đức hiện đang sống với vợ và con gái ở TPHCM, hàng ngày mưu sinh bằng nghề chạy xe ôm.

Trước đó, ông Đức có đề nghị với UBND tỉnh Bạc Liêu về việc xin cấp nhà ở Bạc Liêu để làm nơi phụng thờ ông bà và cha mẹ. Theo ông Đức thì hiện nay vẫn còn một số người thân như con, cháu (ở nhiều nơi khác nhau) đều thờ Công tử Bạc Liêu nên ông muốn có một chỗ thờ thật trang trọng.

Chỉ mong có chốn thờ tự cha mẹ

Ông Đức ngậm ngùi: “Sống cảnh nhà thuê chật hẹp, muốn một chỗ để thờ phụng, nhang khói mẹ cha cũng không có. Hiện di ảnh cha và mẹ tôi đành gửi trong chùa ở đường Huỳnh Văn Bánh, nhiều lúc tranh thủ cũng chỉ vào thắp nén nhang xong lại về”. Ông bảo, nhiều lúc muốn về quê hương Bạc Liêu nhưng bận kiếm sống rồi ít tiền nên nhiều năm nay ông chưa về được.

Dinh thự Công tử Bạc Liêu bây giờ là Nhà hàng - Khách sạn do Tỉnh ủy Bạc Liêu quản lý. (Ảnh: Huỳnh Hải)

Ông Đức cũng tâm sự rằng, người càng lớn tuổi càng muốn gần gũi quê hương vì không đâu bằng sống êm đềm nơi quê cha đất tổ. Lần về quê gần đây nhất của ông là hồi đầu tháng 12 này để nộp đơn xin cấp nhà. Trông cảnh cũ, lòng ông thêm thôi thúc ước muốn được trở về quê sinh sống, thờ phụng tổ tiên.

Khi hỏi về quyết định xin cấp nhà của ông, ông Đức cho biết ý định đó có từ lâu rồi, nhưng ông không có thời gian và cũng không biết thủ tục giấy tờ. “May là mấy tháng trước có người khách biết chuyện, tận tình hướng dẫn thủ tục đơn từ nên giờ mới thực hiện được nguyện vọng đó”, ông Đức nói.

Được biết, họ hàng của ông Trần Trinh Đức hiện ở Bạc Liêu vẫn còn nhiều người. Ông Phan Kim Khánh (cháu của Công tử Bạc Liêu, em con cô cậu với ông Đức) cho biết: “Khi ông Đức về và có ý gặp các cơ quan ban ngành tỉnh để gởi đơn xin nhà, tôi cũng đã nhiệt tình hướng dẫn ông Đức đến những nơi liên quan. Riêng tôi, rất ủng hộ và rất vui mừng nếu ông Đức chuyển về Bạc Liêu để ở và thực hiện việc thờ phụng ông bà”.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Phạm Hoàng Bê - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu cho biết: “UBND tỉnh đã nhận được đơn xin cấp nhà của ông Trần Trinh Đức. Chúng tôi đang họp bàn các cơ quan, ban ngành tỉnh để xem xét. Trước mắt, cần xác minh thực tế đời sống của ông Đức thế nào. Dù không thuộc diện cấp nhà nhưng là đối tượng gặp khó khăn cũng sẽ được tạo điều kiện sao cho hợp tình hợp lý”.

Còn bà Võ Kim Cương, Giám đốc Nhà hàng - Khách sạn Công tử Bạc Liêu bày tỏ sẽ sẵn sàn giúp đỡ việc ông Đức xin nhà. Ông Đức còn nói muốn xin vào Nhà hàng - Khách sạn Công tử Bạc Liêu để làm hướng dẫn viên vì ông có biết tiếng Anh. Nếu thực sự ông muốn vào làm thì bà sẽ hỏi ý kiến Tỉnh ủy vì Nhà hàng - Khách sạn này thuộc Tỉnh ủy quản lý rồi mới quyết định được.
Nhà của Công tử Bạc Liêu giờ là Khách sạn Công tử Bạc Liêu.
Về hẳn Bạc Liêu sống đã gần 2 tháng nay, nhưng cuộc sống của ông vẫn còn nhiều khó khăn, không có việc làm, không có nhà và thậm chí không có cả tiền để mua gạo ăn qua ngày. Một cuộc sống mà ít ai ngờ lại là của “cậu ấm” nhà Công tử Bạc Liêu “đốt tiền nấu trứng tỏ ra mình giàu” khi xưa.
Thời gian qua, tin con trai của “Công tử Bạc Liêu” là Trần Trinh Đức làm nghề xe ôm ở TPHCM để nuôi gia đình đã khiến nhiều người quan tâm. Sau đó, sự việc được quan tâm hơn khi ông Đức có ý kiến xin chính quyền tỉnh Bạc Liêu một căn nhà để làm nơi thờ tự cha mẹ mình.
Bởi theo ông Đức, hiện vẫn còn nhiều người thân của “Công tử Bạc Liêu - Trần Trinh Huy” sinh sống ở khắp nơi vì thế mỗi người đều thờ tự và cúng giỗ riêng. Do đó, ông có ý định trở về Bạc Liêu để xin đất làm nhà nhằm tập trung một chỗ làm nơi thờ cúng, lưu niệm về người cha “nổi tiếng” của mình.
Sau khi xem xét và ý kiến từ các ngành chức năng, ông Nguyễn Chí Luận, Giám đốc Công ty Địa ốc Bạc Liêu cho một miếng đất khoảng 300m2 và hỗ trợ vận động tiền để xây nhà.
Tuy nhiên, cho đến nay, sau khi động thổ hơn 3 tháng nhưng công trình vẫn chưa có biến chuyển gì, mảnh đất bây giờ cỏ mọc xanh um. Bởi đến thời điểm này, mới có 2 tổ chức hỗ trợ 70 triệu đồng, với số tiền này thì không thể làm gì được, trong khi đó kinh phí cần đến khoảng 300 triệu đồng.
Trong khi công trình nhà thờ tự đang “dậm chân tại chỗ” thì cuộc sống của ông Đức cùng vợ và con gái cũng gặp vô vàn khó khăn. Không có chỗ ở, gia đình ông vẫn phải mượn tạm một căn nhà của Công ty Địa ốc Bạc Liêu.
Không có việc làm, ông định chạy xe ôm kiếm sống nhưng cũng không bắt được khách. Không có nhà, không có việc làm và cũng không có cả tiền mua gạo ăn qua ngày.
Bà Võ Kim Cương, Giám đốc Nhà hàng Khách sạn Công tử Bạc Liêu, cho biết, khi ông Đức mới về, thấy hoàn cảnh của ông khó khăn nên đã hỗ trợ cho ông 500.000 đồng để mua gạo ăn qua ngày. Thấy ông Đức không có việc làm nhưng phía khách sạn cũng không thể nhận ông vào làm.
Ngay như người thân của ông ở Bạc Liêu cũng không giúp được gì, bởi ai cũng hoàn cảnh khó khăn.
Trao đổi với PV Dân trí, ông Nguyễn Chí Luận, Giám đốc Công ty Địa ốc Bạc Liêu cho biết, hiện lãnh đạo tỉnh đã giao cho Hội Nhà báo tỉnh cùng vận động các nhà tài trợ, các mạnh thường quân để có kinh phí xây nhà ông cho Đức.
Sau khi xây xong, việc có nơi thờ phụng, trưng bày, lưu niệm những gì liên quan đến “Công tử Bạc Liêu - Trần Trinh Huy” hứa hẹn sẽ có nhiều du khách đến tham quan.

Cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn
Ở đường Chi Lăng (TP Huế), vẫn còn một trong những người cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn còn sống. Bà tên là Trần Thị Vui. Sáu năm mang danh phận cung nữ là khoảng ký ức đeo đẳng mãi tới cuối cuộc đời bà.
Người cung nữ ngày ấy
Đứng trước một ngôi nhà nhỏ ba gian kiểu Huế, tôi vừa nhắc đến tên bà, những người trong nhà vọng ra vồn vã: “Cô đến từ hội từ thiện phải không?”. Ngay sau đó, tôi được kéo đến một căn phòng xi măng nóng nực, hôi hám.
Tôi còn ngỡ ngàng, chưa hiểu mọi chuyện thì một người chừng trên 80 tuổi xuất hiện, tự giới thiệu mình là Trần Thị Vui. Dáng điệu bà khắc khổ, không mang những nét cao sang như người ta vẫn nghĩ đến cái danh phận của người cung nữ. Nhưng nét hồ hởi của bà thì hiện rõ. Có lẽ lâu lắm rồi mới có người nhắc đến cái tên của bà từ thời thiếu nữ xa xôi...
Căn gác bà ở trống không, chỉ duy nhất một chiếc tủ nhỏ cũ kỹ thời xưa bằng gỗ. Câu chuyện cứ thế được bắt đầu trong không gian chật và nóng ấy.
Mẹ của bà Vui cũng là một cung nữ trong Đại Nội thời vua Khải Định, có tên là Tôn Nữ Thị Biên. Bà Biên có qua lại với một người đàn ông họ Trần, cháu của một phi, vợ vua Đồng Khánh. Khi bà Biên có thai thì không được gia đình kia chấp nhận vì danh phận cung nữ nên bà Biên ở vậy nuôi con. Năm bà Vui lên 16 tuổi thì được mẹ mình giới thiệu vào nội cung làm cung nữ hầu bà Từ Cung - mẹ vua Bảo Đại tại cung Từ Diên.
Ký ức về một thời làm cung nữ của bà bắt đầu từ đó.
Bà Vui, người cung nữ năm xưa, nhân chứng sống về cuộc sống hoàng cung nơi triều Nguyễn.
“Không phải ai cũng được tuyển vào làm cung nữ, chỉ có những người thuộc dòng dõi của nhà vua mới được vào làm. Mẹ tôi là cháu hệ 5, phòng hoàng tử Diễn Quốc Công, vì vậy tôi mới có cái duyên phận được vào làm cung nữ. Làm cung nữ có lẽ là quãng thời gian đẹp nhất với tôi”, bà Vui nói.
Theo nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan, những người được tuyển vào làm cung nữ đa số đều chưa có gia đình. Ngày đó, nếu nói nguyên tắc thì không phải, tuy nhiên cuộc sống của vua thì không ai được tiết lộ ra ngoài.
Cũng vì lý do đó, những cung nữ khi được tuyển chọn vào cung phải biết nguyên tắc và không ai được đùa giỡn, chuyện trò nhiều. Đối với xã hội ngày ấy, trong con mắt của những người dân thường, cung nữ là người có địa vị cao vì được phép ra vào nơi vua ở, được thấy mặt vua, thấy mặt mẹ vua. Nhưng thực ra thân phận của cung nữ trong nội cung là những thân phận không được tự chủ.
Hồi ức về vua Bảo Đại
Mặc dù là cung nữ hầu mẹ vua nhưng ký ức của bà Vui lại lưu giữ khá nhiều mảnh ghép liên quan đến vua Bảo Đại - vị vua cuối cùng của triều Nguyễn. Bà nhớ lại: “Công việc của tôi ngày ấy là quạt và bóp chân hầu hạ bà Từ Cung. Có đến bốn, năm người hầu hạ bà như chúng tôi. Nhưng điều mà tôi nhớ nhất là những kỷ niệm vụn vặt về vua Bảo Đại”.
Theo lời kể của bà Vui, vua Bảo Đại là người rất hiện đại. Ông không có nhiều cung tần, thứ phi như các đời vua trước. Ông và Nam Phương hoàng hậu đã cùng thề thốt với nhau và nên duyên vợ chồng. “Tôi không biết thực tế cuộc sống hôn nhân của ông còn có người khác không nhưng ở trong cung thì chỉ có duy nhất bà Nam Phương hoàng hậu là chính danh vợ vua” - bà Vui cho biết.
Cũng theo bà Vui, vì vua không còn nhiều cung tần, thứ phi nên nội cung ngày đó cũng êm thắm, không có nhiều những cảnh các cung phi ghen ghét nhau hoặc ngày ngày chờ vua ban ân sủng.
Trong lúc kể chuyện về vua Bảo Đại, bà Vui còn đứng dậy diễn tả lại hành động của vua mỗi khi cùng Nam Phương hoàng hậu đến thăm mẹ. Vua cùng hoàng hậu nhảy xoay tròn một vòng rồi mới vào gặp mẹ.
Bà hào hứng kể: “Vua Bảo Đại hiền và dễ tính. Mỗi lần ông đánh cờ, tóc mái xõa xuống, cung nữ quạt hầu khiến tóc ông bay vào mắt nhưng ông không trách mắng gì. Chỉ khi nào Nam Phương hoàng hậu cau mày thì người hầu mới hiểu và tránh quạt mạnh. Vua Bảo Đại rất thích ăn vặt, các món ăn nhà vua thích lúc nào cũng được nhà bếp chuẩn bị sẵn là bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc”.
Năm 1945, khi vua Bảo Đại thoái vị và trao ấn kiếm lại cho Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bà Vui cùng mẹ ruột của mình ra khỏi nội cung và trở về lại cuộc sống đời thường. Sau đó, bà Vui lấy chồng và tập quên đi những tháng ngày trong cung cấm.
Bà Vui không may mắn như nhiều phụ nữ khác. Sau khi lấy chồng, bà không sinh được người con nào nên đã phải cưới vợ hai cho chồng. Giờ tuổi già của bà cũng phải nương nhờ vào những người con của chồng.
Lãng quên cái thật...
Đã bao nhiêu năm trôi qua, bà Vui cũng phải quên dần cái danh phận mình từng mang.
Bà nói: “Năm ngoái, một nhóm khách Nhật ghé thăm tôi. Họ luôn hỏi tôi về triều đình nhà Nguyễn, về vua Bảo Đại, sở thích của nhà vua và công việc của cung nữ thực sự như thế nào. Nhưng năm nay thì không thấy ai ghé về nữa...”.
Hình ảnh Đêm hoàng cung của Huế với các cung nữ (những sinh viên đóng vai) pha trà, rót nước, nói chuyện... trong tà áo dài đã không còn lạ trong mắt du khách khi đến Huế... Thế nhưng điều mà du khách chiêm ngưỡng vẫn chỉ là những gì người ta dựng lại. Còn người cung nữ cuối cùng của triều Nguyễn vẫn sống thật ở đời chẳng ai biết.
Bàn về điều này, nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan băn khoăn: “Tôi không hiểu tại sao ngành du lịch Huế lại không nghĩ ra, rằng chính những con người của một thời đó sẽ là đặc sản của ngành du lịch Huế. Chỉ cần bà Vui ngồi đó, mặc áo dài như cung nữ, pha trà và kể lại một vài câu chuyện, sinh hoạt trong cung ngày xưa. Vậy thôi cũng đủ hấp dẫn du khách rồi. Bởi lẽ người dân thường vẫn luôn tò mò: Vua ăn món gì nhỉ? Có phải toàn là những món sơn hào hải vị không?... Tất cả những gì liên quan đến vua chúa, dù là những điều đời thường nhất cũng sẽ là chuyện hay rồi”.