Friday, February 26, 2010

Những Tấm Gương Xưa - Quách Tấn

1.Thuật Lãnh Đạo
Xưa nay các bậc tài trí muốn chung sức lại với nhau để làm việc lớn trong thiên hạ, thì trước hết phải tìm người lãnh đạo. Người lãnh đạo, tài trí nếu tuyệt luân thì đức hạnh toàn vẹn, và phải biết nghe lời phải, theo kế hay, thấy rõ người, dùng đúng chỗ. Bốn điều đó, cổ nhân gọi trong tám chữ là " ngôn thích, kế tùng, tri nhân, thiện dụng ". Thuật Lãnh đạo chỉ có tám chữ ấy. Hễ áp dụng triệt để thì thành công. Như Tề Hoàn Công biết rõ tài trí của Quản Di Ngô mà dùng làm tướng quốc, nghìn lời đều theo, nên dựng nên nghiệp Bá. Quản Di Ngô thường gọi là Quản Trọng, có người tiểu thiếp tên Tĩnh Nương, vừa thông minh vừa uyên bác. Vì vậy Quản Trọng đi đâu cũng đều đem nàng theo. Một hôm, Quản Trọng kéo quân đến núi Diêu Sơn thì gặp một người chăn trâu, mặc áo cộc, đội nón rách, vừa gõ sừng trâu vừa ca. Nghe tiếng ca, Quản Trọng biết không phải kẻ tầm thường, bèn khiến quân sĩ đem rượu thịt đến đãi. Người chăn trâu ăn xong nói. - Tôi muốn được yết kiến quan Tể Tướng. Quân sĩ đáp: - Xe quan Tể Tướng đi đã xa rồi. Vậy cứ ăn cho no, cần chi phải gặp mặt. Người chăn trâu nói: - Tôi có một lời muốn thưa. Quân sĩ nói: - Lời gì ? Nếu chỉ nói một lời thì bọn ta giúp cho cũng được. Người chăn trâu bèn đọc: - Hạo hạo bạch thủy. Quân sĩ đem lời ấy trình lên. Quản Trọng không hiểu ý nghĩa, bèn hỏi Tĩnh Nương. Nàng đáp: - Thiếp có nghe một bài cổ thi rằng:
Hạo Hạo bạch thủy, Đằng đằng chi ngư. Quân lai triệu ngã, Ngã tương an cư.Nghĩa là:
Nước trong ngời ngời, Cá lội thảnh thơi. Người đến đón rước, Ta về cùng người.Ý chừng người ấy muốn ra làm quan. Quản Trọng khiến xe dừng lại, sai người đến vời người chăn trâu. Người chăn trâu đến cúi đầu thi lễ, chứ không lạy. Quản Trọng hỏi tông tích. Người chăn trâu đáp: - Tôi là Nịnh Thích, người nước Vệ. Được nghe Tướng Quốc là kẻ ưa hiền, chuộng sĩ, nên tìm qua nước Tề để tiến thân. Ngặt không có người tiến dẫn, nên phải tạm chăn trâu cho người mà sống. Quản Trọng thử thách để xem trình độ học vấn, Nịnh Thích ứng đáp như lưu. Quản Trọng rất mừng, nói: - Kẻ hào kiệt lúc chưa gặp vận cũng khó thi thố tài năng. Đại binh của Chúa Công cũng sắp đến. Ta viết cho nhà ngươi một phong thư, mà ngươi an lòng ở đây mà chờ. Lúc Chúa Công đến, hãy xin yết kiến mà dân thư, ắt được trọng dụng. Nói rồi viết thư trao cho Nịnh Thích. Nịnh Thích nhận thư ở lại Diêu Sơn chăn trâu như cũ. Ba hôm sao đại binh Tề Hoàn Công kéo đến. Nịnh Thích cũng gõ sừng trâu ca hát vang lừng. Trong câu hát có ý chê bai thiên hạ không có minh quân, hiền sĩ. Hoàn Công nghe ca, lấy làm lạ, kêu lại hỏi tên họ, quê quán. Nịnh Thích tâu: - Tôi người nước Vệ, lưu lạc đến đây. Nhà vua mắng: - Người là một đứa chăn trâu, sao dám chê bai thiên hạ? Nịnh Thích đáp: - Tôi đâu dám chê bai. Tôi chỉ tiếc rằng đời nay không có người hiền. Hoàn Công hỏi : - Sao ngươi dám nói rằng: " Đời thiếu minh quân ", trong lúc Thiên Tử nhà Châu đương trị vì thiên hạ, còn ta làm vua một nước chư hầu cường thịnh, trên phục tùng Thiên tử, dưới chế ngự chư hầu, đêm lại thái bình cho thiên hạ ? Nịnh Thích đáp: - Một minh quân tất phải biết mình biết người, rõ được thời bình, thấy được lúc biến, đem ân đức rải khắp nhân gian, lấy lòng nhân mà trị thiên hạ. Như nhà Châu hiện nay, vận nước mỗi lúc một suy, trong thì dân tình không phục, ngoài thì chư hầu không tuân, tài trị nước không có, sao gọi là minh quân? Đến như Chúa Công giết anh ruột mình mà cướp ngôi, mượn uy thiên tử để chế ngự chư hầu, nhưng chư hầu đều không phục. Như vậy sao gọi là cường thịch? Tề Hoàn Công nổi giận mắng lớn: - Đứa thất phu, sao dám nói càn? Liền hô kẻ tả hữu bắt đem chém. Nịnh Thích không chút sợ hãi, ngước mặt lên trời than: - Ngày xưa vua Kiệt giết Long Bàng, vua Trụ giết Tỷ can, nay tôi cùng hai ông ấy chết, kể là ba người. Thấp Bằng vội đến tâu cùng Hoàn Công: - Người ấy, lời nói không dua mị, lòng không sợ uy vũ, chắc không phải kẻ tầm thường. Xin Chúa Công chớ nên giết. Tề Hoàn Công sực nghĩ lại, cơn giận liền nguôi, bước tới mở trói cho Nịnh Thích, và nói: - Ta thử nhà ngươi đó thôi. Nhà ngươi quả là người có khí phách. Nịnh Thích thò tay vào túi lấy phong thư của Quản Trọng dâng cho Tề Hoàn Công. Nhà vua tiếp thư đọc, rồi nói : - Nhà ngươi đã có bức thư củ Trọng Phụ, sao không tâu trình cho sớm? Nịnh Thích đáp: - Tôi nghe nói vua hiền chọn người ngay, tôi trung chọn chúa có đức. Nếu Chúa Công ghét người thẳng, ưa kẻ nịnh, thì thà tôi chịu chết còn hơn đưa thư để được tận dụng. Hoàn Công rất đẹp lòng, truyền ngồi vào cỗ xe theo sau. Và đêm hôm đó đóng quân lại nghỉ, sai thắp đuốc, tìm mũ áo để phong chức tước cho Nịnh Thích. Tên gian thần là Thụ Điêu tâu: - Từ đây đến nước Vệ không xa. Xin Chúa Công đợi tới đó hỏi xem Nịnh Thích có phải thật là người hiền không đã rồi sẽ phong cũng không muộn gì. Hoàn Công nói : - Đã nghi thì không nên dùng, mà đã dùng thì đừng nên nghi. Giả sử trước kia Nịnh Thích có một vài lỗi nhỏ đi nữa, nay ta cũng không nên vì lỗi nhỏ mà bỏ phí một nhân tài. Nói xong, ngay đêm ấy, phong Nịnh Thích làm quan Đại Phu, lại khiến cùng Quản Trọng coi việc quốc chính. Nhờ có Nịnh Thích phụ tá Quản Trọng mà nước Tề mỗi ngày một thêm thịnh vượng và ngôi bá chủ của Tề Hoàn Công thêm vững bền. Nhưng đến lúc trở về già. Tề Hoàn Công không còn được sáng suốt. Không chịu nghe theo lời trối của Quản Trọng, không chịu nghe theo lời can gián của Bảo Thúc Nha, nhà vua đã tin dùng hai tên nịnh thần là Thụ Điêu và Dịch Nha, đến nỗi quốc chính loạn, nhà vua bị chết sình ở trong một xó tối và nước Tề đi lần lần đến chỗ diệt vong! Cũng thì một người, mà trước biết xét người, biết dùng người đúng chỗ, biết nghe lời phải, biết theo kế hay, lập nên bá nghiệp; sau vì không biết dùng người, không biết nghe lời phải, mà chẳng những làm hại cho bản thân, còn để lụy cho Tổ Quốc. Chẳng riêng gì một mình Tề Hoàn Công. Trong sử sách còn để lại nhiều tấm gương đáng soi. Ví dụ gương Lưu Bang và Hạng Võ. Nếu đem so tài so sức, thì Hạng Võ nghìn muôn lần vượt hẳn Lưu Bang. Thế mà Lưu Bang lại thắng Hạng Võ chỉ vì một bên tự cho mình là thần thánh, coi khinh cả mọi người, chê Hàn Tín là kẻ luồn trôn, không chịu nghe lời phải của Phạm Tăng chỉ thích nghe những lời mơn trớn của kẻ thù địch. Nhưng chớ vội chê. " Tri Nhân " không phải dễ. Chính Khổng Minh mà còn lầm Mã Tắc, huống những người không có tài trí như Khổng Minh. " Tri nhân " đã khó, mà " thiện dụng " lại còn khó hơn. Lưu Bang tuy đã biết rõ Hàn Tín có tài, nhưng nếu không có Trương Lương thì Hàn Tín đâu được dùng đúng chỗ. "Tri nhân, thiện dung " đã khó, mà " ngôn thính kế tùng " lại còn khó hơn. Bởi vì những kẻ trung trực, tài năng chỉ nhắm đến sự lợi ích chung cho nhân dân cho Tổ Quốc. Những cái ưa thích quá đáng của kẻ có quyền ưa thích ít được kẻ trung người tài tán thành. Một lần còn nhịn được, hai lần còn ráng nhịn được, ba lần đã hết nhịn được nhưng còn cố dằn, đến bốn lần thì lòng sân hận nổi lên, tất cả đều đổ xuống sông xuống biển ...! Tục có câu " Lời thật mích lòng ", " Trung ngôn nghịch nhĩ ". Cho nên khó lắm, khó lắm... Bởi vậy sử dụng tám chữ kia được chu đáo, tất phải là người sáng suốt, biết đặt sự lợi ích chung lên trên quyền lợi riêng. Các nhà lãnh đạo thành công xưa nay đều là những người nắm vững trong tay tám
chữ ấy.
2. Chữ Trí
Trí là gì? Là phân biệt được lẽ thị phi, thấy rõ được cơ đắc thất. Kẻ nhân mà có trí thì thiên hạ được nhờ. Kẻ gian ác mà có trí thì thiên hạ bị nguy, không nhiều thì ít. Lã Bất Vi đời Chiến Quốc là một tên buôn vàng ngọc, sang nước Triệu gặp công tử nước Tần là Dị Nhân sang Triệu làm con tin. Vua Triệu đày Dị Nhân ra ở Đông Thành. Bất Vi về hỏi cha: - Trong nghề buôn, thứ gì lợi nhất? - Buôn vàng ngọc lợi nhất. Bất Vi lại hỏi: - Còn buôn vua có lợi chăng? Người cha cười: - Làm sao buôn được thứ ấy? Bất Vi thưa: - Giúp cho một người lên làm vua cai trị nước, rồi ta hưởng lợi. Như thế là buôn vua. Người cha cười lớn: - Được thế thì lợi gấp nghìn lần buôn các món hàng khác. Nhưng tìm đâu cho ra con người ấy? Bất Vi liền kể lại việc Dị Nhân bị an trí, rồi đem trăm nén vàng đến kết thân cùng Công Tôn Kiến là người vua Triệu sai canh giữ Dị Nhân. Qua một thời gian đi lại, Bất Vi được tiếp kiến Dị Nhân. Hai bên đãi nhau như chỗ quen biết cũ. Một hôm Bất Vi nói nhỏ cùng Dị Nhân: - Vua Tần nay đã già. Người yêu nhất của vua là Hoa Dương phu nhân. Hoa Dương vốn không con, sao Điện Hạ không nhân lúc này trở về Tần, xin thờ phu nhân làm mẹ, để mai sau nối nghiệp nhà Tần? Dị Nhân ứa nước mắt nói: - Tôi chẳng dám mong điều đó, song mỗi khi nhắc đến quê hương, lòng tôi như lửa đốt. Chỉ hiềm nỗi không biết làm cách nào để thoát thân mà thôi. Bất Vi nói: - Tôi dẫu nghèo, nhưng nguyện đem nghìn vàng sang Tần bàn với Hoa Dương phu nhân để lập kế đưa Điện Hạ về nước. Ý Điện Hạ nghĩ sao? Dị Nhân đáp: - Nếu được như ý muốn của ngày thì sau này xin nguyện chung hưởng phú quí. Bất Vi đưa cho Dị Nhân năm trăm nén vàng, dặn phải mua chuộc kẻ tả hữu. Đoạn mang vàng ngọc sang Tần, lập kế vào yết kiến Hoa Dương phu nhân. Được nhiều châu báu lại nghe được nhiều lời phải trái của Bất Vi, Hoa Dương phu nhân bằng lòng nhận Dị Nhân làm con rồi tìm cách tâu cùng vua Tần phong làm Đích Tử. Bất Vi trở về nước, mang lễ vật đến yết kiến Công Tôn Kiên để mượn cớ báo tin cho Dị Nhân biết. Dị Nhân cảm tạ không hết lời. Lúc bấy giờ Bất Vi có lấy một người thiếp rất đẹp, tên là Triệu Cơ, đã có mang hai tháng. Bất Vi tự nghĩ: - Dị Nhân về nước tất được làm vua, nếu ta đem ả này dâng cho hắn, may sinh được trai, thì đứa bé sau này sẽ nối ngôi. Như thế giang san họ Doanh sẽ về nhà họ Lã. Bèn bày tiệc mời Công Tôn Kiên và Dị Nhân đến nhà thiết đãi. Lại cho Triệu Cơ ra dâng rượu. Phần bị an trí lâu ngày thiếu thốn, phần nhan sắc của Triệu Cơ làm say lòng, Dị Nhân bèn xin Bất Vi cho xin nàng làm vợ. Bất Vi làm bộ giận, để cho Dị Nhân phải xin lỗi, rồi mới nhận lời. Dị Nhân thương yêu Triệu Cơ hết mực. Được hơn một tháng Triệu Cơ nói với Dị Nhân rằng mình đã có thai. Nào biết đó là hòn máu của Bất Vi, Dị Nhân hết sức mừng rỡ. Sau Triệu Cơ sanh đặng một trai đặt tên là Triệu Chính. Ba năm sau vua Tần đem quân sang đánh Triệu. Bất Vi nói cùng Dị Nhân: - Vua Triệu bị vua Tần đánh sẽ giận Điện Hạ thì sao? Chi bằng bỏ trốn về nước. Dị Nhân nói: - Việc này xin nhờ tiên sinh tính giúp cho. Bất Vi bèn lấy vàng bạc đút lót cho quân tướng giữ cửa thành và nói dối rằng: - Tôi từ Dương Địch sang đây buôn bán, đem cả gia đình theo, chẳng may gặp quân Tần kéo đến vây thành lâu quá, nay đem hết tiền vốn dâng cho ngài, chỉ xin ngày tha chúng tôi ra ngoài thành để được về Dương Địch, Viên tướng giữ thành chấp thuận. Lã Bất Di bảo Dị Nhân lo sắp xếp hành trang, rồi bày tiệc mời Công Tôn Kiên đến và nói: - Tôi trở về Dương Địch. Chút tình quen biết lâu nay, tôi xin dâng chén chia phôi. Đoạn ép Công Tôn Kiên uống đến say mèn. Đến nửa đêm, Dị Nhân đổi lốt, lẩn trong đám tôi tớ Bất Vi mà trốn đi. Bất Vi đưa Dị Nhân ra khỏi thành thì gặp tướng Tần. Quân Tần áp lại bắt. Bất Vi chỉ Dị Nhân nói rằng: - Đây là Vương Tôn nước Tần, bấy lâu làm con tin ở nước Triệu, nay thoát được. Các ngươi nên trình lại chủ tướng. Thế là cả đoàn được đưa đến chủ tướng rồi được đưa về bái yết vua Tần. Dị Nhân được phong làm thái tử . Bất Vi được cấp hai trăm mẫu ruộng và một toà nhà ở Đông cung để dạy dỗ Thái Tử. Được ít lâu Lã Bất Vi lập mưu đầu độc vua Tần. Dị Nhân đứng chủ tang rồi lên nối ngôi hiệu là Trang Tương Vương, tôn Hoa Dương phu nhân lên làm Hoàng Thái Hậu, lập Triệu Cơ làm Hoàng Hậu, Triệu Chính làm Thái Tử, và phong Lã Bất Vi làm thừa tướng, tước Văn Tín hầu, ăn lộc mười vạn nóc nhà ở Lạc Dương và Hà Nam. Bắt chước chánh sách của Mạnh Thường Quân, Tín Lăng Quân, Bình Nguyên Quân, Lã Bất Vi đặt ra tân quán để thu hút tân khách làm vai vế cho mình. Các anh hùng hiệp sĩ hơn vài ngàn người đến làm xá nhân. Sau Triệu Chính nối ngôi vua. Bất Vi vẫn giữ ngôi Thừa Tướng, lại được gọi là Thượng Phụ. Từ một tên lái buôn mà đem mưu trí buôn vua bán chúa, làm nên đến vạn hộ hầu, kể cũng đã hết sức giỏi. Đó là mưu trí của kẻ gian hùng. Thật là thâm độc. Nhưng dù thành tựu mỹ mãn, sự thành công vẫn không lâu dài: Rốt cuộc Lã Bất Vi bị vua Tần là con ruột, đày ra Hà Nam, buồn bã uống thuốc độc mà chết. Cổ nhân dạy rằng: - Độ lượng to lớn bao nhiêu thì phúc trạch cũng to lớn bấy nhiêu. Còn mưu trí sâu độc bao nhiêu thì tai vạ cũng sâu độc bấy nhiêu. Chuyện của Lã Bất Vi chứng minh lời dạy của cổ nhân vậy.
3.Đức Nhẫn Nhục
Ở đời nhuc là điều khó nhịn nhất. Cho nên có cầu rằng " Ninh thọ tử bất ninh thọ nhục " nghĩa là " thà chịu chết, chớ không chịu nhục". Nhịn được những điều người ta không thể nhịn được, dung được những đều người ta không thể dung được, phải người độ lượng lớn, kiến thức cao, căn bản vững. Tô Đông Pha đời Tống nói rằng: - Kẻ mà gọi là hào kiệt tất phải có tiết khí hơn người. Nhơn tình có chỗ không thể nhịn được, nên kẻ thất phu gặp nhục thì tuốt gươm đứng dậy, vươn mình xốc đánh. Cái đó chưa đủ gọi là dũng. Nhưng bậc đại dũng thình lình gặp những chuyện phi thường cũng không kinh, vô cớ bị những điều ngang trái cũng không giận. Đó là nhờ chỗ hoài bão lớn, lập chí cao vậy. Vua nước Việt là Câu Tiễn đánh Ngô bị thua to. Vua nước Ngô là Phù Sai buộc Câu Tiển phải sang Ngô làm tôi tớ. Câu Tiển cùng bầy tôi là Phạm Lãi sang Ngô, vào ra mắt Phù Sai, trần vai áo sụp lạy dưới thềm, và nói: - Tôi là Câu Tiễn nước Việt, vì không biết sức mình đến nỗi đắc tội với Đại Vương, nay Đại Vương xá tội, cho được sang hầu hạ, thật cảm nghĩa vô cùng. Phù Sai truyền xây một thạch thất bên mộ của Hạp Lư, giam vua tôi Câu Tiển. Mỗi khi Phù Sai đi chơi, bắt Câu Tiển dắt ngựa. Người nước Ngô trông thấy, cười bảo nhau: - Kìa, vua nước Việt! Câu Tiển cứ cúi gầm mặt, không nói không rằng. Ở nơi thạch thất ngót hai năm, Câu Tiển lo việc giữ ngựa, hốt phân, quét chuồng, phải chịu không biết bao nhiêu sỉ nhục. May nhờ có Phạm Lãi sớm tối hầu hạ, không rời nửa bước, và luôn luôn kiếm lời an ủi, khuyến khích. Thấy Câu Tiễn lúc nào cũng rụt rè khúm núm, suốt ngày lo làm lụng như kẻ tôi đòi, Phù Sai khinh thường cho là kẻ khiếp nhược, ý muốn tha. Ngũ Tử Tư can: - Ngày xưa vua Kiệt giam vua Thang, vua Trụ giam Văn Vương mà không giết, đến lúc đạo Trời quay lại chuyện hoạ thành phước, vua Kiệt bị vua Thang đuổi, vua Trụ bị nhà Châu diệt. Nay Đại Vương giam Câu Tiển mà không giết, tôi e nước Ngô sắp có cái họa của nhà Hạ và nhà Thương đó. Nghe lời Ngũ Tử Tư nói phải, Phù Sai trở muốn giết Câu Tiễn, bèn sai người triệu vào cung. Câu Tiễn được tin, sợ hãi. Phạm Lãi nói: - Đại Vương đừng sợ. Vua Ngô giam Đại Vương đã ba năm mà không nỡ giết, huống chi bây giờ. Xin Đại Vương cứ an tâm vào yết kiến. Câu Tiễn vào chầu chực ngót ba ngày mà Phù Sai không lâm triều. Ngày thứ ba, kẻ cận thần là Bá Hi ở trong cung ra truyền cho Câu Tiễn trở về thạch thất. Câu Tiễn lấy làm lạ hỏi. Bá Hi đáp: - Đại Vương nghe lời Ngũ Viên định giết Ngài nên sai triệu đến, nhưng bỗng bị cảm hàn không thể dậy được. Vào thăm bệnh thấy thế tôi bèn tâu cùng Đại Vương rằng: " Muốn trừ hoạ phải làm phúc. Nay vua Việt chầu chực ở đây chỉ đợi ngày đem giết, lòng ta thán cảm động đến trời. Đại Vương tạm tha cho về thạch thất, đợi Đại Vương khỏi bệnh rồi sẽ định liệu". Đại Vương nghe lời của tôi tha cho Ngày trở về thạch thất đó. Câu Tiễn bái tạ, về thạch thất, ngót ba tháng vẫn không nghe tin tức của Phù Sai. Phạm Lãi bấm quẻ rồi nói: - Phù Sai không chết, đến ngày Kỷ tị thì bớt, qua ngày Nhâm thân thì khỏi hẳn. Bây giờ Đại Vương cố xin vào thăm, và phải nhẫn nhục nếm phân của Phù Sai rồi lại mừng mà nói kỳ khỏi bệnh. Đến kỳ bệnh khỏi thật, tất nhiên Phù Sai phải cảm ơn mà tha cho Đại Vương. Câu Tiễn ứa nước mắt nói: - Ta đây dẫu chẳng ra gì cũng là một ông vua, không lẽ phải chịu nhục nếm phân cho người ta sao? Phạm Lãi đáp: - Ngày xưa vua Trụ giam Văn Vương nơi Dũ Lý, giết con Văn Vương là Bá Ấp Khảo rồi làm mắm đem vào cho Văn Vương ăn. Thế mà Văn Vương vẫn chịu nhục, ăn thịt con. Ta muốn làm đại sự cần gì những điều nhỏ mọn. Vua Ngô tính nết đàn bà, không có lòng quả quyết, nay tha mai giết, nếu không dùng kế ấy đánh vào tình cảm thì làm sao thoát nạn được. Câu Tiễn gạt lệ theo lời, đến nói cùng Bá Hi: - Tôi nghe Đại Vương bị bệnh trong lòng hồi hộp, ăn ngủ không yên, xin Ngài cho tôi theo vào thăm cho trọn tình thần tử. Bá Hi nói: - Ngài có lòng tốt, xin đợi tôi chuyển tấu đã. Bá Hi vào yết kiến Phù Sai, thuật lại lời nói của Câu Tiễn. Đang lúc đau buồn bã, Phù Sai nghe nói động lòng thương bèn chấp thuận cho vào. Câu Tiễn vào gặp lúc Phù Sai " chột bụng", Câu Tiễn sụp lạy trước gường, thưa: - Khi tôi ở Đông Hải có học cách niếm phân mà biết được bệnh chóng hay chậm. Đoạn khoanh tay đứng chờ Phù Sai đại tiện xong, bước đến lấy tay bốc nếm. Nếm xong sụp lạy một lần nữa và tâu: - Tù nhân xin chúc mừng Đại Vương. Bệnh Đại Vương đến ngày Kỷ tị thì bớt, sang tháng ba vào ngày Nhâm thân thì khỏi hẳn. Phù Sai hỏi: - Vì sao biết được ? Tâu: - Y sư dạy tôi rằng phân là cốc vị, hễ thuận thời khí thì sống, trái thời khí thì chết. Nay từ nhân nếm phân Đại Vương thấy vị đắng mà chua, hợp với thời khí xuân hạ phát sinh, nên mới biết được. Phù Sai cảm động nói: - Câu Tiễn đối với ta thật hơn thần tử đối với quân vương. Ta chưa thấy ai chịu nếm phân để đoán bệnh bao giờ! Thấy Bá Hi đứng cạnh Phù Sai bèn hỏi: - Quan Thái Tể có nếm được không ? Bá Hi sụp lại đáp: - Tôi rất yêu Đại Vương, song việc này không sao làm được Phù Sai nói: - Chẳng riêng gì quan Thái Tể, cho đến Thái Tử của ta cũng không thể làm được việc ấy. Đoạn truyền tha Câu Tiễn, không bắt về thạch thất nữa, cho tự tiện tìm chỗ ở. Đợi khi nhà vua khỏi bệnh sẽ cho về nước. Câu Tiễn lại tạ lui ra. Từ ấy được thong thả, nhưng vẫn giữ việc nuôi ngựa như xưa. Rồi quả nhiên Phù Sai khỏi bệnh đúng như lời Câu Tiễn. Nhà vua cho rằng Câu Tiễn là kẻ tận trung với mình, truyền bày tiệc trên Vân Đài, cho Câu Tiển vào dự. Câu Tiễn vẫn khiêm tốn, ăn mặc theo lối tù nhân, Phù Sai truyền tắm gội và ban mũ áo. Câu Tiễn hai ba lần tạ từ rồi mới nhận. Phù Sai nói cùng các quan: - Câu Tiễn là người nhân hậu, ta không nên làm nhục lâu. Ta sắp tha tội cho về nuớc, nên nay tiếp đãi tử tế. Các quan mời Câu Tiễn vào tiệc. Ngũ Tử Tư tức giận ra ngoài. Sáng hôm sau vào tâu: - Hôm qua Đại Vương lấy lễ khách mà đãi kẻ thù, là nghĩa làm sao? Câu Tiễn là kẻ nham hiểm, bên trong chứa gươm đao, bên ngoài giả cách cung kính. Những người như thế thật đáng đề phòng. Sao Đại Vương không thấy cái hại về sau? Đại Vương bỏ lời trung thục, nghe lời nịnh bợ, nghĩ điều nhân nhỏ, nuôi kẻ thù lớn. Thật khác nào buông nắm lông trên than hồng mà mong cho lông khỏi cháy, ném quả trứng xuống đá mà mong cho trứng không bể là nghĩa gì? Phù Sai lắc đầu nói: - Ta bị bệnh đã ba tháng, quan Tướng Quốc không có một lời hỏi thăm, không có một lễ mọn dâng hiến. Còn Câu Tiễn bỏ nước sang đây, đem thân làm tôi tớ, chịu nếm phân ta để xét bệnh. Nếu quan Tướng Quốc bảo ta giết kẻ ấy thì còn gì nhân luân. Ta không muốn vì lời Tướng Quốc mà trở thành kẻ bất nhân bất nghĩa. Ngũ Tử Tư thưa: - Đại Vương xét việc như thế là lầm to! Khi con hổ thu mình lại thì tất muốn chụp mồi đấy, con ly rút cổ lại thì tất định đánh cướp đấy. Vua Việt vào làm tôi nước Ngô, lòng không thể không oán hận. Kẻ oán hận mà giữ được lòng kiên nhẫn thì thật là thâm độc. Bây giờ Câu Tiễn cúi xuống nếm phân của Đại Vương, nhưng chắc gì sau này không ngẩng lên để ăn bộ lòng của Đại Vuơng. Đại Vương không xét để mắc mưu kẻ thâm độc, thì thật là nông cạn lắm. Phù Sai nói: - Quan Tướng Quốc chớ nói nữa. Ý ta đã quyết, can ngăn có ích chi. Ngũ Tử Tư tức giận trở về dinh. Ba hôm sau, Phù Sai bày tiệc nơi Sà Môn, đưa Câu Tiễn về nước. Các quan triều thần đều đến chúc mừng. chỉ có Ngũ Viên không có mặt. Phù Sai bảo Câu Tiễn: - Ta cho hiền hầu về nước, hiền hầu nên nhớ ơn, chớ có đem lòng oán hận. Câu Tiễn sụp lạy, thưa: - Đại Vương không nỡ giết kẻ cô cùng, cho được sống mà về nước, đời đời tôi nguyện không dám quên ơn. Trời cao thăm thẳm soi xét lòng tôi. Nếu tôi phụ Ngô thì trời nào dung thứ. Phù Sai nói: - Người quân tử chớ có hai lời. Câu Tiễn sụp lại, nước mắt đầm đìa. Ai nấy đều cho là thật tâm quyến luyến. Phù Sai cầm tay Câu Tiễn đưa lên xe, và đứng trông theo cho đến lúc xe đi khuất. Năm ấy là năm thứ 26 đời vua Kính Vương nhà Châu. Câu Tiễn trở về nước ngày đêm lo việc phục thù. Phù Sai chẳng hề lưu ý đến, chỉ một mực kiêu ngạo và say đắm trong cuộc truy hoan...thành ra nước Ngô dần dần suy, nước Việt dần dần thịnh. Hai mươi năm sau Câu Tiễn cất binh đánh Ngô. Phù Sai đại bại bỏ kinh thành chạy đến Vu Toại. Câu Tiền đem quân vây bốn mặt, bắt Phù Sai phải tự tử. Thế là nước Ngô bị diệt và Câu Tiễn rửa được cái nhục thạch thất ở Cối Kê. Trước kia nếu Câu Tiền không chịu nổi cái nhục ấy mà tự sát, hay làm càn đến phải thiệt thân, thì nước Việt không mong gì khôi phục. Lòng kiên nhẫn của Câu Tiễn thật là phi thường. Mà sở dĩ có thể nhẫn nhục được đến thế là vì Câu Tiễn có hoài bão lớn, lập chí vững... Nhưng nếu không có Phạm Lãi, hỏi Câu Tiễn có giữ được chí lớn hay chăng? Câu Tiễn đã có lần nói cùng Phạm Lãi: - Ta nhẫn được bấy lâu là nhờ công của nhà ngươi. Đó là lời nói thành thật phát tự trong đáy lòng của Câu Tiễn. Cho nên sự nhẫn nhục phi thường của Câu Tiễn gốc ở Phạm Lãi vậy, và câu nói của Phạm Lãi :" Ta muốn cầu đại sự thì cần gì những điều nhỏ mọn " là một câu châm ngôn đối với những người muốn lập chí, và lòng kiên nhẫn của Câu Tiễn là tấm gương sáng cho những người muốn thành công, trong khi mưu cầu đại sự. Nhưng không nên quên mặt trái của chiếc huy chương.

Hồi ký GS. Nguyễn Đăng Mạnh

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh (ĐH Sư Phạm Hà Nội) lên tiếng về việc hồi ký của ông bị đưa lên mạng:"Tôi là người hoạt động trong lãnh vực văn hoá nghệ thuật và tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc tranh luận tư tưởng trong văn học, suốt trong mấy chục năm. Tôi cũng trực tiếp tiếp xúc với hàng loạt nhà văn, vì thế cũng biết nhiều chuyện. Những tư liệu ấy có thể phản ánh được nhiều phương diện của nền văn học Việt Nam hiện đại." ( Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh )
Đọc qua tập hồi ký của GS Nguyễn Đăng Mạnh, bản chưa in (và chắc sẽ khó in) lưu hành ở dạng pdf, tiết lộ nhiều điều thú vị về các văn nghệ sĩ và chính trị gia Miền Bắc Việt Nam, kể cả ông Hồ Chí Minh. Thiệt tình không biết bao nhiêu là thật và bao nhiêu là giả, bởi vì tác giả nhiều khi viết rằng nghe người này kể lại, và “người này” lại nghe người kia thuật qua nhưng có vài đoạn đọc vui vui, hấp dẫn như :
Về Tố Hữu:
"Tôi đã nghe Hoàng Ngọc Hiến thuật lại về Tố Hữu trong cuộc họp nhà văn đảng viên hồi tháng sắu năm 1979. Nguyên Ngọc trình bầy bản đề cương chống Mao-ít. Tố Hữu đã quạt cho Nguyên Ngọc một trận, cho đây là hiện tượng “ngược dòng”, ông có cách nói mỉa mai rất ác. Nhân thấy Nguyên Ngọc, người thấp, nhân làm đổ cái micro trên bàn chủ tịch đoàn, ông nói: “Cái bục này đối với tôi hơi cao, đối với anh Nguyên Ngọc thì cao quá!”. Ông còn đến vuốt râu Nguyên Hồng: “Để râu sớm quá đấy, để trốn họp chi bộ chứ gì!”. Gần đây Kim Lân còn cho tôi biết, hôm ấy, Tố Hữu đến chỗ Kim Lân, nói: “Dạo này viết ít quá đấy!”. Kim Lân buột miệng nói: “Bác lại phê bình em rồi!”. Có vậy thôi mà nghĩ sợ quá. Kim Lân nói: “Tôi nhớ trong truyện Tam quốc, có hai anh bạn thân, sau một anh làm to, anh kia đến chơi, nói suồng sã về những kỉ niệm thuở hàn vi. Sau bị tay kia cho người đuổi theo thủ tiêu – Sợ quá!”.
Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ VI. Tố Hữu mất hết mọi chức vụ. Tự tột đỉnh vinh quang tụt xuống đất. Đau lắm! Từ Sơn đến chơi thấy nhà như có tang. Ông nói với Từ Sơn: “ Chúng nó tiếc gì mà không cho mình làm cố vấn!”. Rồi kéo Từ Sơn ra ngoài vườn như sợ có kẻ nào nghe trộm: “Có gan lên chiến khu làm cách mạng lại không?” Đúng là cay cú đến mức điên rồ!
Tố Hữu rất ghét thi hoa hậu. Ông nói với Hoàng Điệp, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin: “Thi hoa hậu để khoe mông khoe đùi chứ gì! Làm như thế những phụ nữ xấu người ta tủi. Sao không thi bắn súng?” Tất nhiên Tố Hữu rất ghét Gooc bachốp. Chị Tố Nga, vợ Hoàng Ngọc Hiến, bắt chước giọng Huế của ông rất vui: “Miềng có Hồ Chí Minh của miềng chứ! Thấy người ta chốp chốp, cũng chóp chóp”. Những năm cuối đời, ở Tố Hữu, có chuyện này cũng lạ: thường phủ nhận những điều mình đã nói, đã làm. Trong cuốn Chân dung và đối thoại, Trần Đăng Khoa nói đến chuyện Phù Thăng một thời bị qui chụp chính trị rất nặng. Khoa cũng thuật lại cuộc phỏng vấn Tố Hữu về việc sáng tác bài Hoan hô chiến thắng Điện Biên. Tố Hữu nói, không hề biết chuyện Phù Thăng, còn những điều Trần Đăng Khoa hỏi ông về bài Chiến thắng Điện Biên là bịa. Thực ra Tố hữu từng viét bài phê phán Phù Thăng, còn về cuộc phỏng vấn ông về bài Chiến thắng Điện Biên thì Khoa nói với tôi: “Em có ghi băng hẳn hoi, đâu có bịa”
Về Lê Đức Thọ:
Nguyễn Khải nói về uy quyền ghê gớm của Lê Đức Thọ một thời. Anh chứng kiến Sáu Bắc (Lê Đức Thọ) tiếp Sáu Nam (Lê Đức Anh). Hôm ấy, Thọ gọi một số văn nghệ sĩ đến hỏi chuyện. Thọ đang tiếp khách. Bọn Khải phải ngồi đợi ở phòng bên cạnh. Lát sau, khách ra về. Hoá ra khách là lê Đức Anh. Nguyễn Khải thấy Lê Đức Anh đi ra, cứ đi giật lùi, giật lùi ra mãi giữa sân mới dám quay đít lại. Thọ tiếp chúng tôi. Đúng lúc ấy thấy Phạm Hùng đi sang. Hùng đề nghị gặp Thọ một lát. Thọ phẩy tay: “Để lúc khác nhé, giờ đang bận tiếp khách văn chương”. Thọ coi Hùng chẳng là cái gì, tuy Hùng lúc đó là thủ tướng, thay Phạm Văn Đồng ”.
“Nói chung cộng sản coi văn nghệ sĩ như rác. Lê Duẩn coi Tố Hữu cũng chỉ như một con hát. Nhưng lại sợ văn nghệ. Vì chỉ dùng tuyên truyền, dùng nước bọt mà giành được nước. Chỉ nói, có làm gì đâu. Nói đủ cả, chẳng làm gì. Thí dụ, cứ nói phê bình tự phê bình mà chưa bao giờ phê bình tự phê bình cả. Có dám nói thật đâu mà phê bình tự phê bình. Chỉ toàn đào tạo gia nhân, đầy tớ, bọn nịnh hót. Sợ văn học cũng vì thế. Vì văn nó nói sự thật, nó lật tẩy. Rất sợ biểu tượng hai mặt. Chỉ đề cao văn tuyên truyền, đề cao vè. Thật ra bọn nhà văn nói chung nhát, không dám chống chế độ đâu!”.
Về Chế Lan Viên:
“ Chế Lan Viên một thời, dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm. Tô Hoài gọi là thằng nặc nô của đảng. Hồi chỉnh huấn văn nghệ sĩ, Chế Lan Viên làm tổ trưởng, nói với Nguyễn Tuân: ông tưởng ông to lắm à? Tôi phụ trách ông kia mà! Họp chấp hành, ý kiến Chế Lan Viên là quyết định. Thí dụ, ban chấp hành bàn có nên kết nạp Phan Quang không? Mọi người chờ ý kiến của Chế Lan Viên. Chế lan Viên đi đái vào, nói: “Thằng Thép Mới nó còn ở ban chấp hành được thì thằng Phan Quang sao không cho vào hội được!”. Ai cũng gọi là thằng tuốt; Thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài, thằng Hoàng Trung Thông, chẳng sợ ai cả. Không thể đối đáp kịp mồm Chế Lan Viên. Phải về nhà mới nghĩ ra cách bác lại, nhưng hôm sau, không còn lý do để tranh cãi nữa, vì lão ấy lại nói chuyện thân mật”.
“Nhưng Chế lan Viên chết rất khổ. Vũ Thị Thường phục vụ rất mệt. Gần chết hay quát tháo vợ con. Vũ Thị Thường nói chỉ thèm được ngủ, khi Chế lan Viên chết, việc đầu tiên là ngủ bù một giấc, dạy mới có sức mà khóc”.
Về Nguyễn Tuân:
Tiếp xúc nhiều với Nguyễn Tuân, tôi thấy ông không nói yêu ai, mến ai bao giờ. Điều này trái hẳn với Xuân Diệu. Qua các bài viết của ông, tôi biết ông rất quý Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Văn Bổng, Lý Hải Châu... Quý nhưng không thích nói ra miệng. Theo anh Lý Hải Châu, ông cũng rất quý bác sĩ Trần Hữu Tước. Khi Trần Hữu Tước mất, ông nói: “Sao những người tử tế thì chết, mà mấy thằng đểu giả mất dạy thì cứ sống mãi!”.
Những người m
à ông “không ưa” (chữ của ông) vì ông cho họ là "đám cơ hội", như: Chế Lan Viên, Bảo Định Giang, Anh Đức, Vũ Hạnh, Diệp Minh Tuyền, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Đạm, Hoàng Nhân, Phạm Tường Hạnh, Trần Trọng Đăng Đàn, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Văn Lưu, Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Phương Lựu, Vũ Quần Phương, Đỗ Minh Tuấn, Hữu Thỉnh, v.v… nhưng trong số người viết văn, có lẽ ông ghét nhất ba người: Như Phong, Hoàng Trung Thông và Chế Lan Viên. Nói về Phan Cự Đệ, ông thẳng thắn nhận xét: "Không biết Liên Xô đánh giá anh thế nào, chứ tôi đánh giá anh rất kém, viết chẳng hay ho gì đâu" (trang 86). Một số người mà ông nói thẳng là ghét và gọi họ bằng những tính từ và danh từ rất nặng nề; chẳng hạn như ông gọi Nguyễn Văn Lưu, Trần Mạnh Hảo là "bọn lưu manh, đầu gấu văn nghệ". Chắc chắn GS Nguyễn Đăng Mạnh sẽ phải đón nhận những "phản hồi" từ chính những người còn sống, hay từ thân quyến & bằng hữu của những người đã mất; thậm chí sẽ có những người bênh vực chế độ lên tiếng đả kích hay chà đạp ông.
Có đoạn ông so sánh tình cảnh của ông với Chúa Jesus, ông viết: "Tôi thật buồn vì có một học trò như thế. Nhưng nghĩ lại còn may hơn Đức Chúa Giê Su rất nhiều. Chúa Giê Su có mười ba học trò thì có một kẻ phản bội. Tôi có hàng nghìn học trò, một kẻ phản bội thì có nghĩa lý gì đâu – vì thế có người cho tôi có cung học trò trong lá số tử vi. GiêSu bị phản bội đến nổi chết. Tôi bị Lê Tuấn Anh phản bội, chẳng những không chết mà uy tín cũng chẳng sứt mẻ gì." Trang Blog của BS Nguyễn Văn Tuấn (Úc) cho rằng so sánh này khập khiễng nhưng tôi lại cho rằng không có gì là "khập khiễng" khi GS Mạnh so sánh như vậy. Có lẽ với con người thì "Khi thương, trái ấu cũng tròn. Khi ghét, bồ hòn cũng méo" hay chăng?
Tập hồi ký có rất nhiều câu chuyện bên lề mà người Tây phương gọi là anecdotes, như trong phán quyết về vụ chất độc da cam, ông chánh án Weinstein phê bình rằng phía nguyên đơn trình bày quá nhiều bằng chứng loại anecdotes. BS Tuấn không thích anecdotes nhưng tôi và nhiều người khác lại thích nghe những "câu chuyện bên lề - anecdotes" thì sao? Một tập sách gọi là "hồi ký" thường phải đạt được 2 tiêu chuẩn: thứ nhất, đó phải là một tự sự về cuộc đời của tác giả, và thứ hai là thể điệu (style) và giọng văn của tập sách. Theo tôi, tập hồi ký này đã đáp ứng đầy đủ 2 tiêu chuẩn đó, nhất là nét độc đáo qua giọng văn thể điệu (style) của một trí thức có tài, có tâm nhưng phải đành ôm chịu bao bất mãn gần suốt cuộc đời trong một xã hội độc tài toàn trị. Đã đọc những bài viết của Dương Thu Hương, Trần Khải Thanh Thuỷ... thì chúng ta sẽ cảm thông hơn với những "trí thức XHCN". Mong sao tất cả người Việt chúng ta được đọc Hồi ký GS. Nguyễn Đăng Mạnh để sớm vén bức màn tre/sắt, biết được những sự thật; nhất là về những con người đã có những ảnh hưởng nhất định đến một giai đoạn lịch sử quan trọng của dân tộc tôi. Có thể sẽ có nhiều phản ứng/ thái độ khác nhau về những bài viết loại này nhưng chung quy là hãy trả lại sự thật cho lịch sử. Xin đừng tiếp tục "tô hồng" hay "bôi đen" nữa.
* Xin phép GS Mạnh cho trích đăng một vài chương trong tập hồi ký của ông để bà con người Việt trong cũng như ngoài nước biết được một chút về mặt trái của "nền văn học Việt Nam hiện đại", nhất là các văn nghệ sĩ và chính trị gia Miền Bắc Việt Nam.
*Mở đầu :
"Những ngày gần đây, tôi bỗng cảm thấy mình đã già thật rồi. Bẩy mươi sáu tuổi, chả già thì còn trẻ với ai! Không, tôi muốn nói tâm lý người già kia. Đúng thế, gần đây tôi tự thấy có tâm lý người già. Nghĩa là thích nhớ về quá khứ, thích săn sóc đến những kỷ niệm. Có mấy biểu hiện thế này: đầu năm nay,
đột nhiên tôi muốn về quê để dự hội làng. Hội làng Thổ Khối quê tôi tổ chức
vào đầu xuân. Hội to lắm, có tế lễ, có rước xách linh đình. Làng tôi ở ngay ngoại
thành Hà Nội, qua cầu Chương Dương rẽ phải chỉ mấy cây số là tới. Tuy thế, có
bao giờ tôi nghĩ đến chuyện về làng xem hội đâu. Thế mà năm nay... Cũng năm
nay tôi còn có nhu cầu về thăm lại nơi mình sinh ra. ( làng Quần Phương Hạ,
nay thuộc xã Hải Phương, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định). Ông bố tôi thời
Pháp thuộc từng làm lục sự ở Hải Hậu một thời gian. Khi gia đình chuyển đi nơi
khác, tôi mới lên chín tuổi. Tính đến nay, đúng 66 năm. 66 năm, bỗng có nhu
cầu trở lại! Ngoài ra tôi còn có hứng thú thu thập các tấm ảnh chụp ngày xưa và
ngồi cặm cụi cả buổi để phân loại, chọn lọc, sắp xếp theo chủ đề này khác.
Nhớ hồi tôi được giao làm Tuyển tập Nguyễn Tuân, cụ Nguyễn có nói nửa
đùa nửa thật với tôi : “ Thế là mình đã đến tuổi “ tuyển hồi ” ( tuổi làm tuyển tập
và viết hồi ký). Lúc ấy (1980), Nguyễn Tuân mới 70 tuổi. Tôi bây giờ đã 76.
Cũng sắp in Tuyển tập và đã có người xui viết hồi ký.
Viết hồi ký để làm gì nhỉ? Viết hồi ký thì ích gì cho mình và cho người khác? Hình như tỏ bầy hết sự thật của đời mình cũng là một khoái thú riêng của con người ta. Khoái thú được giải toả. Có ai đó nói rằng, mọi khoái cảm trên đời
đều là sự trút ra khỏi bản thân mình (décharger) một cái gì đó. Với mình thì thế.
Nhưng còn với người? Người ta thích đọc hồi ký của những danh nhân, của
những nhà hoạt động chính trị tầm cỡ quốc gia, quốc tế hay của những nhà văn
hoá lớn... Biết được bí mật của cuộc đời danh nhân là biết được những thông tin
có ý nghĩa quốc gia đại sự, biết được kinh nghiệm của nền văn hoá một dân tộc.
Vậy tôi viết hồi ký với tư cách gì? Chỉ để cho mình được giải toả cũng
được chứ sao! Ngoài ra, liệu còn có ích cho ai nữa không? Tôi không tin lắm.
Cũng có thể có tác dụng trong một phạm vi hẹp, trước hết đối với những người
thân, ngoài ra là những ai coi cuộc đời riêng của tôi cũng có một cái gì đó đáng
tò mò và sự nghiệp viết lách của tôi không đến nỗi hoàn toàn vô giá trị. Nghĩa là
cũng muốn tìm hiểu, cũng muốn giải thích.
Ngoài ra tôi tuy không phải nhân vật lịch sử, nhưng sự tình cờ đã đưa đẩy
tôi được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng như Cách mạng tháng Tám
hay Cải cách ruộng đất...vv., và biết được một ít chuyện riêng của một số danh
nhân như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, và nhiều nhà văn hoá lớn như Nguyễn Tuân,
Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyên Hồng,v.v... Tất nhiên những sự kiện này và những
nhân vật kia người ta đã nói nhiều, viết nhiều rồi theo cách nhìn quan phương
chính thống. ở đây tôi chỉ nói những hiểu biết trực tiếp của riêng tôi với cách
nhìn rất chủ quan của tôi. Nhưng chính vì thế mà, biết đâu đấy, lại có thể đem
đến những thông tin riêng, những ý vị riêng.
"
* Hồi ký GS Nguyễn Đăng Mạnh - Chương IV: Từ dạy học đến nghiên cứu,
phê bình văn học

Tôi bắt đầu nghiên cứu phê bình văn học từ khi được giữ lại trường đại
học làm cán bộ giảng dạy (1960)
Như đã nói, hồi ấy chúng tôi coi đại học là một cái gì thiêng liêng lắm. Vì
thế được dạy đại học là danh giá lắm. ấy là được làm cái công việc của những
Trần Đức Thảo, Đặng Thai Mai, Nguyễn Mạnh Tường... kia mà! Tâm lý những
người như chúng tôi lúc bấy giờ rất lo lắng. Người nào cũng ngầm hứa với mình
phải quyết tâm, cố chí vươn lên. Nghĩa là phải học, phải đọc, phải nghĩ, phải tìm
hỏi các bậc đàn anh, hỏi bất cứ ai hiểu biết hơn mình để chiếm lĩnh cho được
kiến thức ở tầm cao. Không xấu hổ. Có gì mà xấu hổ! Vả lại người ta có khinh
mình thì cũng có oan ức gì đâu: đào tạo ba năm ở trong nước, nam nhân lại dạy
nam nhân, đúng là “cơm chấm cơm”, có người gọi là phổ thông cấp bốn! Vậy
mà cũng dạy đại học! Thương cho cái nước mình! Nghèo và dốt. Đến cái thứ
mình mà cũng dạy đại học! Thương nước và thương mình! Vậy thì phải cố, vượt
lên được chút nào hay chút ấy.
Hồi ấy chúng tôi rất kính sợ những người được học ở đại học nước ngoài,
được nghe những giáo sư Tây, giáo sư Tầu giảng bài. Như Lê Huy Tiêu, Bùi
Văn Ba, Trần Xuân Đề, Phan Hữu Nghệ, Phan Huy Luận, ở Trung Quốc về, như
Từ Đức Trịnh, Nguyễn Văn Giai ở Liên Xô về. Từ Đức Trịnh đang học dở dang
ở đại học Liên xô thì phạm kỷ luật, bị đuổi về nước, dạy văn học Nga Xô viết ở
Đại học Sư phạm Vinh. Trần Gia Linh, học đại học cùng khoá với tôi, cũng
được điều vào Vinh dạy Văn học Nga Xô Viết. Anh nói trịnh trọng trước một
hội nghị khoa văn: “Tôi học suốt đời cũng không hết chữ của anh Trịnh”.
Nguyễn Văn Giai cũng tốt nghiệp đại học Liên xô. Ngó vào phòng riêng của
anh, thấy một bộ Pouchkine toàn tập gáy da chữ vàng xếp kín cả một ngăn giá
sách. Sợ quá! Uyên bác quá! Anh đeo kính cận nặng, thường đi đi lại lại trước
sân khu nhà tập thể, đầu ngẩng cao, bộ mặt đăm chiêu. Hẳn là đang suy nghĩ
điều gì to tát, sâu sắc lắm.
Đến khi lớp phó tiến sĩ đầu tiên ở Liên xô về nước như Nguyễn Tài Cẩn,
Nguyễn Đức Nam, Tôn Gia Ngân, Nguyễn Văn Hạnh, Hoàng Ngọc Hiến... thì
chúng tôi không phải chỉ nể trọng mà còn coi như những đại trí thức. Chúng tôi
thường gọi là những ông “phó nghè”. Họ thuộc đẳng cấp khác hẳn, mình không
thể vươn tới được.
Tôi nhớ trong một cuộc hội nghị khoa học ở Đại học tổng hợp Hà Nội vào
đầu những năm 60 thế kỷ trước, anh Đinh Gia Khánh có đọc một bài nghiên cứu
về văn học dân gian. Đọc xong, anh rụt rè hỏi anh Nguyễn Tài Cẩn:“Thưa anh,
như thế có thể gọi là khoa học được không ạ?” Cũng giống như thế, trong một
cuộc hội thảo khoa học bàn về phương pháp luận nghiên cứu văn học, của Đại
học sư phạm Vinh, lúc đó sơ tán ở Quỳnh Lưu, anh Bùi Văn Nguyên, sau khi
đọc xong một báo cáo khoa học, cũng hỏi anh Nguyễn Đức Nam: “Thưa anh,
như thế có thể gọi là phương pháp luận được không ạ?”
Coi đại học là thiêng liêng, khoa học là một cái gì rất cao xa, đồng thời tự
thấy mình là hèn kém, theo tôi, đấy là một trạng thái tâm lý rất có ích cho những
cán bộ trẻ mới bước vào hoạt động khoa học như chúng tôi. Không biết các anh
cùng lứa với tôi ở Đại học Sư phạm hay Đại học tổng hợp Hà Nội có tâm lý ấy
không, nhưng những thế hệ trẻ của ngày hôm nay thì rất khác. Hầu như không
có tâm lý ấy nữa. Họ coi đại học chẳng có gì ghê gớm cả. Nhiều sinh viên được
giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy đã từ chối. Khoa học cũng vậy, ai làm chẳng
được. Ông Hoàng Ngọc Hiến nói, dắt con bò sang Liên Xô nó cũng đỗ phó tiến
sĩ kia mà! Anh Hiến thường có lối nói hết sức cực đoan như thế. Nhưng nhìn
vào sự thật, thấy quả cũng có nhiều trường hợp khiến người ta thấy lời anh Hiến
không phải hoàn toàn vô căn cứ: phó tiến sĩ, tiến sĩ ở Liên Xô, ở Đức về hoặc
các vị tốt nghiệp ở các trường đại học lớn ở Trung quốc, quả có một số chẳng
giỏi giang gì thật, thậm chí rất kém nữa.
Thế là coi thường tuốt. Gần đây, hàng năm, riêng khoa văn Đại học Sư
phạm Hà Nội cứ sản xuất đều đều hàng trăm thạc sĩ, hàng chục tiến sĩ, phần
nhiều đều đạt điểm xuất sắc cả. Khoa học vì thế càng bị coi rẻ. Tâm lý này càng
được bơm to thêm bởi thói đố kỵ của khá nhiều tay trong giới làm báo gần đây,
do học hành dở dang nên muốn nhân đây cào tất cả những người có học hàm,
học vị đại học vào cái mặt bằng chung của sự dốt nát, dốt hơn cả những người
không qua đại học. Vũ Hạnh đã nói như thế khi cho rằng Trần Mạnh Hảo không
học đại học là một sự may của anh ta.(1)
Tâm lý này hết sức nguy hại. Thực ra khoa học vẫn là khoa học nếu là
khoa học thật. ấy là con đường rất vinh quang nhưng đầy khó khăn, lắm chông
gai. Tâm lý coi đại học là thiêng liêng, khoa học là khó khăn có thể làm cho một
số người nản lòng, nhụt chí, mất tự tin. Nhưng nếu như ai đó có đủ bản lĩnh, đủ
ý chí, đủ say mê để đi vào con đường này, thì tôi tin rằng thế nào cũng sẽ đạt
được một cái gì thật sự có giá trị. Tất nhiên đạt đến mức độ nào còn tuỳ tài, tuỳ
sức của mỗi người. Mà xét đến cùng, khoa học chỉ cần đến những con người có
bản lĩnh, có ý chí, có sự say mê thực sự đối với nó mà thôi. Nó cần gì đến những
kẻ chỉ muốn thành đạt dễ dãi để dùng những mánh khoé này khác, tạo ra thứ
khoa học rởm, bằng cấp rởm...(2)
---------------------------------------
(1) Lời giới thiệu cuốn Văn học – phê bình, nhận diện ( Hầu chuyện các giáo sư) của Trần Mạnh Hảo. Nxb văn học 1999.
(2) Gần đây, do một số người ( giáo sư Hoàng Xuân Sính, anh Hoàng Ngọc Hiến)

---------------------------------------
Khi sang Mỹ tìm hiểu về đại học cho biết, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, té ra ở Mỹ cũng có rất nhiều tiến sĩ rởm, viện sĩ rởm, có khi còn nhiều hơn ở nước ta.( hơn ba nghìn trường đại học, chỉ có khoảng một trăm trường có chất lượng và độ bảy trường có tầm cỡ quốc tế. Nhiều luận án tiến sĩ không đáng điểm không ( zéro ) – bà Hoàng Xuân Sính nói thế. Nhưng khác với ta, họ không sử dụng loại bằng cấp rởm. ở nước ta thì không phân biệt gì cả.
Tôi muốn là anh chàng Julien Sorel của Stendhal với cái ý chí quyết liệt
muốn vươn lên kia. Tự thấy mình chỉ là một kẻ tầm thường, như Julien ở đẳng
cấp thứ ba vậy thôi, nhưng quyết tấn công vào dinh luỹ của những đẳng cấp cao
hơn. Anh chàng nhà quê, con ông thợ xẻ ở thị trấn Verrières phải làm sao chinh
phục được cả những tiểu thư kiêu kỳ, đài các nhất Paris.
Nhưng phải nói cho đầy đủ rằng, sở dĩ tôi hăng hái lao vào nghiên cứu
khoa học, trước hết và trực tiếp nhất còn vì sự thúc bách của nghề dạy học. Tôi
rất yêu nghề dạy học. Hạnh phúc nhất của đời tôi là được làm cái nghề mình yêu
thích. Lâu lâu không được lên lớp, buồn lắm. Tôi vẫn định nghĩa, nghề dạy học
là nghề được nói. Nhà nước tổ chức những lớp học, tập hợp thanh thiếu niên lại
nghe mình nói hàng ngày. Tôi thường dẫn câu văn này của Nam Cao trong
truyện Lang Rận: “Nói, trao đổi những ý nghĩ, những nỗi lòng, có lẽ là cái tật
chung của loài người. Không được nói thì khổ lắm.”
Điều thú vị là với nghề dạy học, người nghe mình nói lại là một đối tượng
hết sức lý tưởng, tức là những thanh niên có văn hoá, tâm hồn trong sáng. Họ có
nhiệm vụ đi học, nghĩa là đến lớp chỉ để được nghe thầy nói. Cho nên bây giờ
đây, mỗi lần lên lớp, tuy tuổi đã cao, dạy học đã hơn nửa thế kỷ, tôi vẫn rất hào
hứng, náo nức.
Nhưng không phải ngay từ những ngày đầu dạy học, tôi đã yêu nghề.
Muốn yêu nghề, điều kiện quan trọng nhất là phải dạy tốt. Nghĩa là bài giảng
phải hấp dẫn học trò. Mới lên lớp, (1951) kinh nghiệm chuyên môn chưa có,
kiến thức còn nghèo nàn, nông cạn, dạy hay làm sao được! Vì thế hồi ấy, mỗi
lần lên lớp, tâm trạng tôi rất nặng nề, chưa cảm thấy hứng thú gì. Bài giảng hay
trước hết phải có nội dung hay, nghĩa là có ý mới, ý riêng, chính xác và sâu sắc.
Đối với đại học, yêu cầu này càng cao. ở cấp học này mỗi bài giảng phải là một
công trình nghiên cứu thật sự. Tất nhiên trong cách truyền đạt cũng có một số
thủ thuật này khác tạo thêm sự hấp dẫn. Nhưng đó chỉ là những yếu tố rất phụ,
không thay thế được nội dung khoa học của bài giảng.
Như vậy là, soạn bài giảng và nghiên cứu khoa học là hai công việc luôn
luôn đi sóng đôi với nhau trong cuộc đời người giáo viên đại học.
Vì lẽ đó, với tôi, bắt đầu dạy đại học cũng là bắt đầu nghiên cứu, phê bình
văn học.
Ở đại học, tôi được phân công dạy văn học Việt Nam giai đoạn 1930-
1945.
Sư phạm Hà Nội, dạy giai đoạn văn học này có ba người: anh Nguyễn
Trác, anh Hoàng Dung, anh Nguyễn Hoành Khung. Nhưng ở Sư phạm Vinh, chỉ
có một mình tôi. Mà phải soạn nhanh, soạn gấp, dạy ngay. Vất vả thật đấy,
nhưng chính nhờ thế mà tôi chiếm lĩnh được văn học giai đoạn này khá nhanh. ở
lại đại học giữa năm 1960, năm 1961 mới bắt đầu lên lớp, vậy mà năm sau
(1962 ), tôi đã tham gia viết giáo trình chính thức với các anh ở Hà Nội (Giáo
trình Lịch sử Văn học Việt Nam 1930 – 1945 Tập V) Nxb Giáo dục in năm
(1963). Đến 1973 thì được giao làm chủ biên viết lại giáo trình này. Từ văn học
1930 – 1945, tôi mở rộng dần đối tượng nghiên cứu sang thời kỳ sau cách mạng
Tháng Tám, và đến cuối những năm 80 thì được giao làm chủ biên bộ giáo trình
Lịch sử văn học Việt nam 1945 – 1975 ( hai tập ) Nxb Giáo dục in năm 1989.
Giai đoạn văn học 1930 – 1945 có một hiện tượng đặc biệt: sự xuất hiện
hàng loạt cây bút tài năng, có cá tính, phong cách độc đáo. Vì thế tôi đặc biệt tập
trung nghiên cứu các nhà văn này. Những công trình nghiên cứu của tôi phần
lớn là những tiểu luận về họ: Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng
Phụng, Nguyên Hồng, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài, Xuân Diệu, Chế Lan
Viên, Hoài Thanh, Hoàng Cầm..vv… Tiếp tục theo hướng ấy, tôi nghiên cứu các
nhà văn sau cách mạng như Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Chính Hữu,
Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Thi, Dương Thu
Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Đăng Khoa.
Ngoài ra còn có điều này nữa khiến tôi say mê nghiên cứu khoa học: tôi
hình như có cái máu thích tìm tòi khám phá, cho nên bắt đầu ở lại đại học (1960)
ngoài việc nghiên cứu để giảng dạy, tôi lao luôn vào việc tìm hiểu và giải quyết
các vấn đề đặt ra lúc bấy giờ về hai ông Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng. Phải
nói rằng đây là hai đối tượng tôi nghiên cứu sớm nhất và say mê hơn cả. Từ
Vinh phóng ra Hà Nội, suốt ngày bám lấy các thư viện ( thư viện quốc gia, thư
viện khoa học xã hội, thư viện của viện văn, viện sử…) hăm hở đọc các ông ấy
từ sách đến các bài báo. Hồi Pháp thuộc, các nhà văn như Nguyễn Tuân, Vũ
Trọng Phụng, Ngô Tất Tố..vv… thường đăng bài trên đủ các thứ báo với những
bút danh khác nhau, kể cả những tờ báo nhỏ của địa phương như Tuần lễ, Thanh
Nghệ Tĩnh tân văn chẳng hạn… Đọc và ghi hết. Rồi chạy đi hỏi những người có
quen biết Nguyễn Tuân và Vũ Trọng Phụng như Đồ Phồn, Như Phong, Vũ Đình
Liên, Lưu Trọng Lư, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyên Hồng, Hoài Thanh, Vũ Ngọc
Phan, Nguyễn Lương Ngọc, Trần Minh Tước… Lại hỏi các bậc đàn anh trong
giới lý luận phê bình, nghiên cứu văn học về các khái niệm liên quan đến
Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng như khái niệm phong cách, chủ nghĩa tự
nhiên… Rồi tìm ảnh hưởng của các nhà văn Pháp đến hai ông này như André
Gide, Paul Morand, Emile Zola... Tiếng Pháp, tôi có giỏi giang gì đâu, nhưng
cũng cố đọc một số tác phẩm của các nhà văn này. Đọc cả Nietzsche (
Zarathousta) vì thấy có liên quan đến cái ngông của Nguyễn Tuân..vv...
Nghiên cứu Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng để làm gì? Viết báo, viết sách
về hai vị này rất khó. Vì hồi ấy người ta quy cho các ông này lắm tội lắm: Văn
Nguyễn Tuân thì phù phiếm, có người còn gọi là văn cô đầu thuốc phiện, đùa
cợt với chính trị, lắm cái rớt... Vũ Trọng Phụng, thì sau vụ Nhân văn, bị quy là
chống cộng, tự nhiên chủ nghĩa, chỉ có tài xỏ xiên, Giông tố thì ăn cắp Lôi vũ
của Tào Ngu – một vị uỷ viên bộ chính trị ( Hoàng Văn Hoan ) đã phán như thế.
Đúng là tôi cứ thích húc vào những đối tượng phức tạp như vậy, chả để
làm gì cả. Yêu cầu dạy học không có, chương trình môn văn từ phổ thông đến
đại học hồi ấy đều tránh các nhà văn này như những vùng cấm địa. Nếu có nhắc
đến đôi chút thì cũng chỉ để lên án mà thôi. Sau vụ Nhân văn, không ai nghĩ đến
chuyện viết sách về các ông này. Viết báo còn khó, nói gì viết sách.
Tôi nhớ, lúc ấy có một anh bạn xui tôi thế này: cậu dại lắm, muốn viết
báo, viết sách thì phải nghiên cứu những cây bút cách mạng như Hồ Chí Minh,
Tố Hữu, Sóng Hồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thuỷ..vv... hay các nhà văn hiện thực
tiến bộ như Ngô Tất Tố, Nam Cao chứ. Như ông Đệ, ông Đức đấy thôi, cứ in
sách tơi tới.
Tôi nghe ông bạn, quay sang nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh. Lập tức đăng
bài liên tiếp: Mong manh áo vải hồn muôn trượng, Những bài thơ quên mình
của Bác, Cuộc đời cách mạng thật là sang ! Vài suy nghĩ nhỏ về một phong cách
lớn, Đọc văn chính luận của Hồ Chí Minh, Trần mà như thế kém gì tiên, Pác Bó
hùng vĩ..vv... Và cuốn chuyên luận đầu tiên của tôi được xuất bản là cuốn Mấy
vấn đề về quan điểm và phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chủ Tịch. (Đại
học Sư phạm in nội bộ năm 1978, Nxb Giáo dục in năm 1981)
Nhưng trong đời nghiên cứu văn học của tôi, tôi có kinh nghiệm này: khi
anh nghiên cứu nghiêm túc một đối tượng nào thực sự có giá trị, thì trước sau
thế nào cũng được dùng đến, ít ra thì bản thân anh cũng nhờ đó mà trưởng thành
lên. Đối tượng càng khó khăn, phức tạp thì thành công càng vang dội, ảnh
hưởng càng xa rộng.
Năm 1968, chị Thiếu Mai, hồi ấy làm ở Tạp chí văn học, đặt tôi viết về ký
chống Mỹ của Nguyễn Tuân. Tôi đã vận dụng những gì từng nghiên cứu về sự
nghiệp của nhà văn này vào việc tìm hiểu những bài ký chống Mỹ của ông. Một
bài phê bình mà nền tảng là sự đào sâu vào qui luật vận động tư tưởng và phong
cách của nhà văn từ ngọn nguồn thời “tiền chiến” của ông. Bài này được Hoài
Thanh đánh giá rất cao. Ông đưa cho anh Cao Huy Đỉnh bài viết vừa duyệt xong
và nói: “ Phê bình văn học hiện đại phải viết như thế này này.” Bài phê bình đầu
tiên này của tôi tuy bị lãnh đạo hồi ấy cho là có vấn đề quan điểm, nhưng đến
năm 1980, thời thế đổi thay, chính nhờ bài ấy mà tôi được giao làm Tuyển tập
Nguyễn Tuân và đến năm 2000 thì làm Nguyễn Tuân toàn tập ( Nxb Văn học ).
Công trình của tôi về Nguyễn Tuân không chỉ được đọc trong nước. Nó còn
được in lại ở Pháp và Canada. Và riêng đối với Nguyễn Tuân tôi được ông đặc
biệt tin cậy.
Về Vũ Trọng Phụng, bài tiểu luận công phu và đắc ý nhất của tôi là bài
Mâu thuẫn cơ bản trong thế giới quan và trong sáng tác của Vũ Trọng Phụng,
cũng viết năm 1968, nhưng đến 1971 mới được đăng trên Tạp chí văn học. Đây
cũng là một bài tiểu luận được viết trên cơ sở nghiên cứu toàn bộ sự nghiệp của
nhà văn được nghiền ngẫm từ mười năm trước. Hoài Thanh cũng thích bài này,
tuy Vũ Đức Phúc không tán thành về quan điểm. Chế Lan Viên cũng đánh giá
cao. Hôm ấy gặp anh ở trụ sở Hội nhà văn ( 65 Nguyễn Du ), anh chạy ra bắt tay
tôi và khen bài viết rất hay. Bài này cũng lập tức bị phê phán về quan điểm,
nhưng đến năm 1987, đất nước đổi mới, tôi lại được giao làm Tuyển tập Vũ
Trọng Phụng ( Nxb Văn học ) và đến năm 1999 thì làm Vũ Trọng phụng toàn
tập ( Nxb Hội nhà văn ).
Vậy là cuối cùng, hai ông nhà văn phức tạp và “có vấn đề” nhất kia lại
chính là những người đã giúp tôi khẳng định được vị trí chắc chắn của mình
trong giới nghiên cứu, phê bình văn học.
Từ cuối những năm 60 sang những năm 70, 80 của thế kỷ trước, tôi viết
liên tục, đầy hào hứng, từ viết báo đến viết sách. Viết ngày, viết đêm. Đúng là
có những đêm tôi không hề chợp mắt. Hồi ấy đời sống hết sức khó khăn. Cán bộ
khoa văn Sư phạm Hà Nội chủ yếu sống tập trung ở hai dẫy nhà lá, nền đất, vách
đất gọi là K2, K3. Cả gia đình tôi sống chen chúc trong một gian nhà vẻn vẹn có
mười mấy mét vuông. Nước khan hiếm. Sáng sớm mọi người lục tục đem xô,
đem chậu ra xếp hàng hứng nước ở một cái vòi công cộng. Tôi mượn được một
gian bên cạnh của một anh bạn có nhà ở Hà Nội, để trống, ngồi viết từ chập tối
cho đến khi nghe tiếng xô, chậu loảng xoảng ở vòi nước thì mới buông bút, xách
xô chạy vội ra xếp hàng. Năm ấy ( 1973 ) vì làm việc quá sức lại không có gì bồi
dưỡng, tôi đã bị lao phổi phải nằm ở bệnh viện A gần năm tháng. Năm 1980,
được giao làm Tuyển Tập Nguyễn Tuân, tôi cũng rất ham hố. Phải viết sao cho
xứng đáng với Nguyễn Tuân, nghĩ thế, tôi miệt mài viết đêm viết ngày. Bài Tựa
Tuyển Tập chỉ có 70 trang mà tôi viết tới 6 tháng – tất nhiên cũng có viết xen
vào vài bài báo nhỏ nữa. Sáu tháng ngồi cặm cụi hầu như không rời ghế, tôi bị
xuống máu chân. Hôm ấy, chợt nhìn xuống chân, thấy phù hẳn lên, tôi hoảng
quá.
Thời gian từ khoảng 1970 đến 1985, tôi còn hai lần bị chảy máu dạ dày.
Một lần ở Sài Gòn, một lần ở Hà Nội. Nhưng ra viện, tôi lại viết, viết liên tục
không ngừng không nghỉ. Ngay trong những ngày nằm viện tôi cũng tranh thủ
viết. Không viết thì cũng đọc sách vở, tài liệu và suy nghĩ trăn trở để chuẩn bị
viết.
Vì sao có sự miệt mài, hăm hở như thế?
Tôi cho rằng có hai nguồn động viên chính: một là được học sinh, sinh
viên yêu quý, hai là được nhiều nhà văn khuyến khích.
Như trên đã nói, hai công việc dạy học và nghiên cứu phê bình có quan hệ
với nhau. Nhưng nói cho chặt chẽ hơn thì hai công việc ấy chỉ quan hệ với nhau
về nội dung khoa học chứ không hẳn đồng nhất về phương pháp và hình thức
diễn đạt. Không ít người nghiên cứu thì tốt, viết cũng hay, nhưng dạy thì không
hấp dẫn. Ngược lại có nhiều người dạy thì hấp dẫn nhưng viết lại rất nhạt - vì
văn viết và văn nói rất khác nhau, vả lại đối tượng thuyết phục cũng không hoàn
toàn là một.
Tất nhiên trước hết phải có nội dung tốt đã. Nội dung tốt có nghĩa là phải
có ý mới, ý riêng, chính xác và sâu sắc. Đối với sinh viên đại học, ý mới, ý riêng
phải vượt lên trên tầm tư duy của họ – ý mới mà chỉ ngang tầm tư duy của học
trò thì tuy họ cũng có thể thích nhưng chưa thể thoả mãn về nhận thức. Tôi đã
thấy có nhiều cán bộ giảng dạy thích phô bầy những tài liệu mới lạ, vì biết rằng
sinh viên không có điều kiện đọc được. Như thế đâu phải là vượt tầm sinh viên,
chẳng qua chỉ vì họ không có điều kiện đọc được những tư liệu ấy mà thôi. ở đại
học, bài giảng hay nhất là làm sao, trên cùng một tư liệu, một văn bản, thày và
trò đều được đọc, được biết, mà phát hiện ra những điều mà trò dù có nghĩ cũng
không nghĩ ra được. Vì tầm hiểu biết và nhất là tầm tư duy khoa học của họ thấp
hơn. Dạy đại học gần nửa thế kỷ, tôi nghiệm thấy, sinh viên rất chờ đợi ở người
thầy những phát hiện tầm cỡ như thế. Tất nhiên tôi không nói những loại sinh
68
viên lười biếng, chả chịu học hành gì. Trên đời, con người ta có nhiều thứ khoái
cảm, trong đó có một thứ khoái cảm rất trí tuệ khi đầu óc được soi sáng bởi một
ý tưởng nào đó có ý nghĩa năng tầm nhận thức của mình lên một bước mới. Đó
thường là những ý khái quát chính xác, sâu sắc, kết quả của một phương pháp tư
duy mới mẻ, khoa học.
Tôi cho rằng đến lớp chỉ nên trình bày những ý tưởng như thế mà thôi.
Những nội dung khác của bài giảng tuy cũng quan trọng, nhưng vì sinh viên tự
mình hiểu được, nên chỉ cần hướng dẫn họ tự tìm tài liệu mà đọc.
Tất nhiên, những ý tưởng sâu sắc, mới mẻ nói trên, phải diễn đạt sao cho
sinh viên hiểu được, nếu không thì làm sao họ có thể hưởng được các khoái cảm
nói trên.
Có người cho rằng, có những chân lý cao siêu, không thể diễn đạt giản dị,
dễ hiểu được đối với học trò. Trong phạm vi hiểu biết của tôi, tôi không tin như
thế. Nếu anh thực sự hiểu được thì thế nào cũng có cách làm cho người khác
hiểu được – người khác ở đây là sinh viên đại học chứ đâu phải loại người vô
học.
Cuối năm học 2003 – 2004, cán bộ khoa văn Đại học Sư phạm Hà Nội
đưa nhau lên tận Tam Đảo để tổng kết năm học. Hôm ấy, tôi phát biểu thế này:
Cán bộ giảng dạy đại học có thể chia làm ba loại: một là giảng rất rõ ràng, rành
mạch những chân lý giản đơn, muôn thủa, ai cũng biết cả rồi. Nghĩa là bài giảng
không làm cho sinh viên khôn thêm lên một tý nào. Hai là diễn đạt quá tối tăm
rắc rối, không ai hiểu gì cả, kể cả người giảng cũng không hiểu mình nói gì. Đây
là loại không thích nói những điều thông thường ai cũng biết, nhưng những điều
mới lạ, độc đáo lại không nghĩ ra, bèn dùng lối khoe chữ nghĩa rắc rối, khoe đọc
sách này sách khác, tiếng Tây tiếng Tầu đủ cả, tung ra một mớ hoả mù khái
niệm có vẻ uyên bác, cao siêu, thực chất đầu óc rỗng không. Loại một tuy tầm
thường, nhưng đứng đắn. Loại hai phải gọi đích danh là lừa bịp, là bất lương
trong giới đại học. Còn loại ba là những thầy giáo thực sự giỏi và trung thực. Họ
truyền đạt cho học trò một cách dễ hiểu những điều mới lạ, sâu sắc. Họ thực sự
là những nhà khoa học, đồng thời là những nhà sư phạm lương thiện. Họ nghĩ ra
nhiều điều mới mẻ sâu sắc và hiểu rõ những điều mới mẻ sâu sắc ấy, nên có
cách diễn đạt cho học trò hiểu được.
Có lẽ từ tuổi thanh niên, công tác ở Ban tài chính tỉnh đảng bộ Thái
Nguyên (1949), tôi đã được giao nói chuyện về văn học với nhiều đối tượng,
nên nói năng cũng quen. Sau này, làm nghề dạy học, ( dạy cấp II từ 1951, dạy
đại học từ 1960 ), tôi cũng rút được một số kinh ngiệm.
Kinh ngiệm của tôi là phải có một vốn từ phong phú mới có thể diễn đạt
được đích đáng những điều mình phát hiện.Trong lời giảng, những từ đích đáng
sẽ gây ấn tượng rất sâu trong tâm trí sinh viên. Hai là, dù bài giảng có hay ho thế
nào, khi mở đầu cũng không nên tạo cho sinh viên tâm thế chờ đợi một điều gì
to tát, ghê gớm cả. Đừng có khoa trương hùng biện, cứ làm cho họ có tâm lý
bình thường để chuẩn bị tiếp thu một bài giảng bình thường. Như thế khi nghe
thày nói những điều không bình thường, nghĩa là sâu sắc, mới mẻ, khoái cảm
của họ sẽ tăng lên gấp bội. Ba là không chỉ trình bầy các chân lí đã phát hiện
được, mà cần chỉ ra con đường đã dẫn dắt tư duy của mình tới những chân lý đó.
Bốn là trong một lớp học thế nào cũng có một vài sinh viên xuất sắc nhất được
bạn bè nể trọng. Nội dung khoa học của bài giảng phải nhằm vào đối tượng ấy,
nhưng cách diễn đạt thì phải làm sao cho cả lớp hiểu được.
Với những kinh nghiệm trên đây, tôi đã có nhiều giờ dạy thành công và
nói chung, được sinh viên hâm mộ.
Vào lớp, tôi rất ít khi kiểm tra sự có mặt của sinh viên xem có đầy đủ hay
không. Một phần vì tính tôi dễ dãi. Phần khác, tôi nghĩ, điều quan trọng là bài
giảng của anh có hấp dẫn hay không. Nếu hấp dẫn thì tự khắc họ sẽ đến đông
đủ, việc gì phải kiểm tra. Vả lại có mặt mà không thích nghe thì có mặt làm gì -
có mặt thế có khác gì để chịu một hình phạt. Những chuyên đề của tôi dạy cho
các lớp đại học, cao học, khi kết thúc, sinh viên thường nài tăng thêm giờ, thêm
buổi, nghĩa là họ chưa thấy chán. Đấy là một nguồn động viên lớn khiến tôi dạy
học say mê, hào hứng.
Nguồn động viên lớn thứ hai của tôi là sự khuyến khích của giới sáng tác.
Trong hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học, đối tượng viết, nhất là
cách diễn đạt có khác với giảng dạy văn học. ở đây, mỗi bài viết là một cuộc đối
thoại với những tài năng văn học, trong đó có những cây bút bậc thầy. Nếu trong
giảng dạy, nội dung khoa học của bài giảng phải nhằm đáp ứng trước hết loại
sinh viên xuất sắc, thì trong nghiên cứu phê bình, khi lập ngôn, lập ý, phải nghĩ
đến những đối tượng cao nhất trong giới cầm bút như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu,
Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Tô Hoài, hay Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,
Nguyên Ngọc… Mỗi bài viết phải là một nỗ lực quyết liệt nhất nhằm đạt tới bậc
thang giá trị cao nhất, tất nhiên tuỳ theo tài sức của mình. Phải viết thế nào để
sau này có muốn viết lại như thế cũng không thể được. ở đây, đúng ra còn có
chuyện cảm hứng. Không có cảm hứng thì cũng khó viết được cái gì là văn thực
sự. Nhưng cảm hứng là gì? Theo tôi, đó là sự gặp gỡ, sự đồng cảm giữa đối
tượng viết, giữa nội dung các tác phẩm được đề cập đến với chính tư tưởng của
mình, nghĩa là với những ước mơ, những kinh nghiệm sống, những yêu, ghét, cả
những căm thù của mình chứa chất, nung nấu không biết từ bao giờ. Chẳng hạn
khi tôi viết về “niềm căm uất không nguôi” của Vũ Trọng Phụng đối với cái xã
hội ông gọi là “vô nghĩa lý” ngày trước, thì tôi quả cũng có chen vào đấy niềm
căm uất của chính bản thân mình đối với những kẻ xỏ xiên, đểu giả, phản trắc
vẫn còn không ít trong xã hội ta hôm nay. Khi tôi ca ngợi câu thơ Xuân Diệu “
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, thì thật tình tôi cũng có gửi vào lời
bình luận của mình niềm khao khát hướng tới cái đẹp vừa trần thế, trần tục, đầy
tính sắc dục, vừa trinh trắng, tinh khiết của hình tượng thơ, đồng thời không che
dấu thái độ khinh bỉ đối với những cây bút phê bình đạo đức giả nào đó từng phê
phán là “thiếu lành mạnh” một trong những câu thơ tuyệt vời nhất, lành mạnh
nhất của nền thi ca Việt Nam hiện đại.
Đặng Đức Siêu có lần nói với tôi, anh đã chảy nước mắt khi đọc bài
“Thương tiếc nhà văn Nguyên Hồng của tôi, ( đăng trên báo Nhân dân, khi nhà
văn vừa qua đời.) Vâng – tôi cũng nói với anh rằng, bản thân tôi cũng chảy nước
mắt khi viết những dòng thương tiếc ấy: “ Nguyên Hồng đã sống hơn sáu mươi
năm, đã viết hơn bốn mươi năm, ai biết được ông đã đổ ra bao nhiêu nước mắt
cho đời và cho nghệ thuật? Bây giờ nằm dưới ba thước đất, nguồn nước mắt ấy,
liệu có bao giờ khô cạn được chăng?” Tôi từng viết rất nhiều về Nguyễn Tuân,
nhưng lần nào cũng rưng rưng xúc động khi nói đến tấm lòng tha thiết của ông
đối với tiếng nói dân tộc, đến thái độ nâng niu trân trọng của ông đối với những
giá trị văn hoá nghệ thuật cổ truyền trên đất nước này và những gì tạo nên cảnh
sắc và hương vị độc đáo của quê hương mình, từ cành đào ngày Tết, dò hoa thuỷ
tiên nở đúng đêm giao thừa, đến cây bàng, cây sấu hết sức bình dị quen thuộc
trên hè phố Hà Nội; từ tấm bánh chưng ngày Tết, hạt cốm làng Vòng bọc lá Sen,
đến bát phở có hương và vị riêng của Hà Nội…
Thơ Hoàng Cầm không phải bài nào tôi cũng thích. Có khá nhiều bài tôi
cho là giả, là gượng. Nhưng tôi thật sự cảm động khi đọc được của ông những
vần thơ như gợi lên được linh hồn ngàn năm của đồng quê Kinh Bắc. Chẳng hạn
như bài Lá Diêu Bông. Tôi đã không cầm nổi nước mắt khi viết những dòng
này: “Lá Diêu Bông là gì? Có cái gì trên đời này gọi là lá Diêu Bông? Vậy thì
tìm đâu cho thấy lá Diêu Bông? Nhưng chính cái ý nghĩa mơ hồ của nó và cái
âm hưởng của nó sao cứ văng vẳng như là tiếng gọi, tiếng kêu, tiếng khẩn cầu
của ai đó trên cánh đồng trống vắng của một buổi chiều đông bị gió đồng thổi
bạt đi thành ra càng trở nên xa vắng hơn và nghe mơ hồ như là tiếng gió: “gió
quê vi vút gọi”.
Có phải là linh hồn của đồng quê ta cất lên thành tiếng đó không? Có
phải là linh hồn của các thôn nữ ngày xưa, của những cô Tấm, những Ngọc
Hoa, Cúc Hoa, những Xuý Vân đến chết vẫn còn vương vấn trên mảnh đất này
với niềm khao khát yêu thương đó chăng? Hay là chính linh hồn ta đó, hoà cùng
linh hồn đất nước, cất lên thành tiếng gọi thiết tha trên đồng chiều bạt gió:
Diêu Bông hời!… ới Diêu Bông!…”
Những dòng này, tôi viết cho Hoàng Cầm, viết về thơ Hoàng Cầm, hay
viết cho mình, viết về lòng mình, thật khó phân biệt.
Nói về cách diễn đạt thì văn nghiên cứu phê bình khác hẳn với lời thầy
giảng trên lớp. Một đằng để nghe, một đằng để đọc. Lời nói gió bay, vì thế,
nhiều câu nhiều chữ trong bài giảng cứ phải nhắc đi nhắc lại để khắc sâu vào
đầu óc học trò. Sinh viên rất khó chịu khi chưa kịp hiểu câu trước đã phải đuổi
theo câu sau của thày. Ngược lại, người đọc rất chán khi bài viết cứ lặp đi lặp lại
một ý “ biết rồi khổ lắm nói mãi”. Văn viết phải rất súc tích. Nếu viết nửa câu
mà người đọc hiểu được rồi thì chỉ viết nửa câu. Kỵ nhất là lời văn cứ tãi ra một
cách thừa thãi. Và cái gì cũng giảng giải làm như người đọc là những học trò
của mình vậy.
Viết phải có văn, có nghệ thuật, giống như đàn bà phải có trang sức.
Nhưng đừng có làm văn một cách lộ liễu để trở thành một lối uốn éo, một thứ
trang trí hoa lá cành. Nhiều khi cũng phải dùng hình ảnh. Nhưng hình ảnh của
văn nghiên cứu phê bình khác với hình ảnh trong văn sáng tác. Hình ảnh của văn
nghiên cứu, phê bình phải đạt được cùng một lúc hai chức năng: một là chuyển
tải tình cảm cảm xúc thẩm mỹ, hai là diễn đạt được những khái niệm, những
phạm trù, những quy luật phản ánh bản chất của đối tượng nghiên cứu, phê bình.
Vì nghiên cứu phê bình còn là chuyện khoa học, chuyện tư duy trừu tượng.
Ngoài ra, cũng như văn sáng tác, văn nghiên cứu phê bình cũng phải có
giọng điệu, cũng phải tạo được không khí. Tuỳ theo nhu cầu này mà chọn từ, đặt
câu cho thích hợp. Nói chung văn phê bình gần với văn sáng tác hơn, hành văn
phóng túng hơn. Có khi phải dùng từ thật chính xác, có khi lại phải dùng những
khái niệm mơ hồ. Có khi phải đặt câu ngắn, có khi phải viết câu dài. Để tạo
giọng điệu, có khi phải viết những câu thiếu thành phần ngữ pháp, giống như
khẩu ngữ vậy – “khẩu ngữ là máu của câu văn xuôi”, có một nhà nghiên cứu phê
bình văn học đã nói như vậy. Biết dùng khẩu ngữ, đúng lúc, đúng chỗ, câu văn
sống động hẳn lên.
Viết văn ai chả muốn viết cho hay. Nhưng tự đánh giá văn mình có dễ
đâu. Dễ chủ quan lắm, “Văn mình vợ người” mà. Ngay những nhà văn lớn cũng
không dám chủ quan về chuyện này. Chủ quan nhất thường lại là những cây bút
trẻ. Có lần giảng bài ở trường viết văn Nguyễn Du, Xuân Diệu đã mở đầu thế
này: “Trên đời, có ba loại người kiêu ngạo nhất, một là đứa trẻ lên ba, cái gì nó
cũng đòi, nó đòi cả ông trăng trên trời, hai là những cô gái đẹp, ba là những nhà
văn trẻ”. Hiện nay đang xuất hiện nhiều cây bút trẻ có thể gọi là đại kiêu ngạo.
Nhưng các nhà văn đàn anh lại thường khiêm tốn. Cứ phải đợi xem phản ứng
của độc giả mới biết văn mình có xem được hay không. Trong tiểu thuyết Anna
Karinine của l..Tolstoi', tôi nhớ có chi tiết này: một danh họa nọ triển lãm tranh.
Ông rất hồi hộp chờ đợi ý kiến đánh giá của bọn quý tộc đến xem, tuy biết bọn
này chẳng hiểu gì lắm về nghệ thuật.
Thế đấy, muốn hiểu văn mình thế nào cũng phải soi vào dư luận độc giả.
Ai chả muốn được khen. Độc giả tầm thường khen cũng thích. Tất nhiên được
loại độc giả cao cấp khen thì khoái hơn nhiều và mới biết được cái giá thật của
văn mình.
Ông Hoài Thanh có lần nói với Hoàng Ngọc Hiến: “Nguyễn Đăng Mạnh
viết thì thông đấy, nhưng phiêu lưu”.
Ông nhận xét tôi phiêu lưu là phải, vì từ sau cách mạng, ông viết quá thận
trọng, thậm chí muốn phủ nhận cả tập Thi nhân Việt Nam nổi tiếng của mình.
Còn tôi thì luôn luôn bị uốn nắn, phê phán. Nhưng được ông khen “viết thông”
không dễ đâu. Tôi biết ông rất chú ý đến văn khi duyệt bài.
Năm 1972, tôi viết bài Sức sống của ngòi bút Nguyễn Thi, Nguyễn Khải
rất thích. Bài này được giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ quân đội. Hồi ấy có lẽ
cách ăn mặc và bộ dạng của tôi rất nhếch nhác. Không biết Nguyễn Khải nghĩ
thế nào mà lại nói với Vương Trí Nhàn: “ấy cứ nhếch nhác thế mới viết được”.
Tô Hoài, Nguyên Ngọc thì cho tôi là người viết phê bình có phong cách,
nắm được cái “tạng” riêng của mỗi cây bút. Hồ Dzếnh thì cho tôi có khả năng
nhận ra được cái thần của mỗi nhà văn. Hồi Nguyễn Minh Châu còn sống, tôi
cũng hay đến anh. Anh nói với tôi: “Anh cứ tiếp tục viết như thế đi, chúng tôi
ủng hộ anh”. Trong đời viết văn làm sách của tôi, tôi sướng nhất là được nhận những lời khích lệ của Xuân Diệu và Nguyễn Tuân.
Tôi đến Xuân Diệu luôn vì biết anh rất quý tôi. Anh nói: “ Mình có bốn
người thân quý nhất: Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông và
Nguyễn Đăng Mạnh.” Rất tiếc là khi còn sống, Xuân Diệu chỉ mới đọc có hai bài viết ngắn của tôi, một bài viết về tập thơ “Tôi giàu con mắt” và một bài chân dung, nhan đề “Xuân Diệu và niềm khát khao giao cảm với đời.” Anh Văn Hồng ở nhà xuất bản Kim Đồng cho tôi biết, Xuân Diệu đọc bài này và đã khóc, vì cho tôi rất hiểu mình.
Sau bài viết ấy ít lâu (năm 1985), tôi có đến Xuân Diệu để mời anh nói
chuyện với một lớp sinh viên đặc biệt gọi là lớp 5C, học năm năm ( các lớp khác
chỉ học bốn năm.)
Anh nói về bài tôi viết về anh, cho là tôi viết sâu sắc: “Mạnh ít đến mình
mà hiểu mình rất sâu. Đọc bài viết của cậu, người ta sợ gặp cậu đấy, vì cậu sẽ
đưa người ta vào bài viết. Nhiều điều mình nói đã lâu mà sao Mạnh còn nhớ
được, như mình nói về bài Bản đồ huyện ý Yên. Đúng là bài thơ trung bình cần
đến nhà phê bình, mình có nói thế. Nhưng đáng lẽ phải nói bài trung bình của
nhà thơ lớn. Chứ bài trung bình của nhà thơ thường thì phân tích làm gì.
Huy Cận đọc và khen bài này. Chắc Mạnh cũng thấy có nhiều người khen
bài này chứ!”
Lúc ấy có một người khách trẻ vẫn có mặt trước khi tôi đến – Xuân Diệu
bảo là cháu. Tôi đoán anh này chắc có hẹn gì đó với Xuân Diệu, nên nói: “Chắc
anh có việc bận?” Xuân Diệu nói: “Không, mình đang đợi Mạnh đến, đang
mong gặp Mạnh.” Rồi anh vào buồng tìm một cái gì đó. Khi trở ra, anh kéo tôi
ra nói chuyện riêng ở phòng ngoài.
Anh lại nói tôi viết rất sâu về anh, không có ai viết sâu hơn. Đúng là tri
âm tri kỷ. Rồi anh nói vòng vo rào đón để chuẩn bị tặng tôi một cái gì đó để tôi
nhận mà không phải chối từ lôi thôi: “ Mình quý Mạnh, không phải vì Mạnh viết
về mình đâu, chắc Mạnh hiểu không phải như vậy – Anh đẩy về tôi cái đồng hồ
đeo tay đựng trong một cái hộp nhỏ vuông có nắp bằng mica – mình giữ những
cái này mà đến lúc chết đi thì người ta bảo là thằng ngu, nên cần phải gửi ở
người thân làm vật kỷ niệm. Xưa Tản Đà vào Nam kỳ, Diệp Văn kỳ có biếu ông
một nghìn bạc Đông Dương. Một nghìn bạc Đông Dương to lắm! Hồi ấy chỉ
một xu một quả trứng gà thôi mà. Anh con Tản Đà nói, cha tôi nhận ngay mà
không cám ơn gì cả, ngông thế, nhận một cách tự nhiên như là mình có quyền
nhận, chẳng cần cám ơn ai hết, và người cho cũng không muốn nghe lời cám ơn
khách sáo làm gì. Tản Đà sướng thật! Mình thì không xứng với Diệp Văn Kỳ,
nhưng Mạnh thì đúng là Tản Đà.”
Ôi! Anh ví von gì mà kỳ thế! Chắc ý anh muốn nói, tôi nhận mà không
cần cám ơn anh, còn món quà của anh thì bằng sao được một nghìn bạc Đông
Dương của Diệp Văn Kỳ.
Lúc ấy Tuyển Tập Xuân Diệu mới in tập I. Tập này tuyển thơ, Hoàng
Trung Thông đề tựa. Anh đề nghị tôi giới thiệu cho anh một người khác đề tựa
tập II, tuyển văn xuôi. Tôi giới thiệu một người bạn cùng dạy khoa Văn Đại học
Sư phạm với tôi mà Xuân Diệu cũng có quen biết. Nhưng anh ngồi nghĩ một lúc
rồi bảo: “Anh ấy chưa connu.” Và anh nói thẳng: “ Thôi Mạnh viết cho mình.”
Rất tiếc khi Tuyển Tập Xuân Diệu, tập II xuất bản ( 1987 ) thì anh đã qua đời (
cuối năm 1985 )
Về Nguyễn Tuân thì hồi dạy ở Đại học Sư phạm Vinh, tôi có được gặp
một lần. Năm 1967, khoa Văn trường Vinh có giao cho tôi đi mời Nguyễn Tuân
vào nói chuyện với cán bộ và sinh viên về ký chống Mỹ. Nhưng sau đó khá lâu
tôi không tiếp xúc với ông nữa. Không có lý do gì, đến ông rất ngại. Mãi đến
năm 1980, được giao làm Tuyển Tập Nguyễn Tuân, tôi mới có cớ đến ông. Hoá
ra ông có đọc bài Con đường Nguyễn Tuân đi đến bút ký chống Mỹ của tôi đăng
báo từ năm 1968, và khi ông Lý Hải Châu, Giám đốc nhà xuất bản Văn học, đề
nghị hai người làm tuyển tập Nguyễn Tuân là Vũ Ngọc Phan và tôi thì ông đã
chọn tôi.
Khi tôi viết xong bài Tựa Tuyển Tập, anh biên tập viên Lê Khánh thấy dài
quá, đề nghị tôi rút ngắn lại, tôi không chịu, anh bèn đưa cho Nguyễn Tuân, định
lấy cái uy của Nguyễn Tuân bắt tôi cắt bớt bài viết.
Khi tôi đến Nguyễn Tuân để nghe ông góp ý, ông mời tôi uống rượu.
Suốt buổi, ông không nói gì về bài Tựa của tôi. Tôi đoán ông chưa đọc nên xin
phép đi về. Lúc ấy ông mới lấy bản thảo bài Tựa ra và nói vắn tắt: “Tôi không
có ý gì khác. Nhà xuất bản bảo tôi đề nghị anh rút ngắn lại, nhưng anh yên tâm,
tôi đã nói với họ rồi, có nhà văn đơn giản người ta viết ngắn cũng được, nhưng
có nhà văn phức tạp, người ta phải viết dài.” Rồi ông tự tay cho cái bản thảo vào
cái túi xách khá nhếch nhác của tôi ( loại túi của đàn bà đi chợ mua miếng thịt,
mớ rau ) – một cử chỉ thân mật ít có của Nguyễn Tuân. ông còn nói với tôi muốn
đến ông lúc nào cũng được, không cần báo trước, miễn là đến từ mười giờ trở đi.
Trước đó ông thường đi dạo mấy vòng ngoài phố, 10 giờ thì về ăn cơm.
Từ đó tôi đến ông luôn, tất nhiên mỗi lần đến vẫn phải tìm một cái cớ nào
đấy, vì tôi vẫn nghĩ, mình có là bạn bè gì của ông mà đến chơi.
Có một lần ông nói với tôi thế này: “Một buổi sáng nọ, tôi bước ra cửa thì
thấy có hai cháu nữ sinh đứng ở hành lang. Hỏi có việc gì thì nói là sinh viên đại
học ở Thanh Xuân ( ông không nói là ở trường Đại học Tổng hợp ) được thầy
Phan Cự Đệ hướng dẫn làm luận văn tốt nghiệp về Nguyễn Tuân, vì thế xin đến
gặp để tìm hiểu. Tôi nói với các cháu, hãy đến nhà xuất bản Văn học, hỏi địa chỉ
anh Nguyễn Đăng Mạnh, anh ấy sẽ nói cho biết.”
Vậy là tôi được giao làm “đại diện toàn quyền” cho ông rồi còn gì!
ít ngày sau, quả nhiên có hai cô sinh viên tổng hợp tìm đến tôi ở Đồng Xa.
Hoá ra một cô là con ông Phạm Hựu, Giám đốc nhà xuất bản Khoa học xã hội,
còn một cô là con chị Đặng Thanh Lê, cán bộ giảng dạy khoa Văn Đại học Sư
phạm Hà Nội.
Từ xưa đến nay, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, những
người sáng tác thường không ưa giới phê bình. Riêng tôi thuộc vào số người viết
phê bình ít bị các nhà sáng tác ghét hơn cả. Tất nhiên cũng có người ghét.
Nhưng ít thôi. Thí dụ như Hồ Phương. Trong một bài báo gọi là “ Dòng sông và
rều rác” ( Công an thành phố Hồ Chí Minh. 10 - 1- 1996), anh cho cuốn sách
của tôi: Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn ( bị Trần Mạnh Hảo
đánh .) có “ tác hại (…) còn lớn và tệ hơn tác hại của ba cuốn Sex về ái tình éo
le và bạo lực đang còn la liệt trên các vỉa hè, quán sách khắp nước.” Đây là
cuốn tới hôm nay đã được tái bản đến lần thứ tư và đã được nhận giải thưởng
khoa học Nhà nước. Không biết Hồ Phương có đọc không và nghĩ thế nào mà lại
viết như thế, chắc là nhắm mắt theo Trần Mạnh Hảo. Đúng là một đầu óc đen
tối, thô bỉ và rất vô trách nhiệm.
Tôi nhớ hồi 1987, có dịp cùng đi với Hồ Phương sang Cămpuchia. Hồi ấy
quân ta còn đóng bên ấy. Anh Nguyễn Chí Trung có mời một số người sang bồi
dưỡng nhà văn quân đội Cămpuchia: Trần Quốc Vượng, Hoàng Ngọc Hiến, Thu
Bồn, tôi và Hồ Phương. Chỉ có một lớp học thôi nên chúng tôi được đưa sang
lần lượt từng người một, từ Sài Gòn ( doanh trại quân đội số 8 Nguyễn Bỉnh
Khiêm ) sang PNông Pênh, khi về lại ở 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm. ở đây, chúng tôi
ăn ở bếp ăn quân đội. Không hiểu sao hồi ấy cái gì cũng rập theo Tầu. Phòng ăn
có ba dãy bàn phân theo cấp bậc, cắm biển Đại táo, Trung táo, Tiểu táo. Tôi và
Hồ Phương được ăn ở bàn tiểu táo, nghĩa là tiêu chuẩn cao nhất. Tuy vậy thức
ăn chẳng có gì. Hồi ấy đời sống cán bộ cũng như quân đội còn thiếu thốn, khó
khăn lắm. Tôi không phải là lính nhưng cũng rất thông cảm với lính – họ còn
phải ăn theo tiêu chuẩn thấp hơn ( Đại táo ). Hồ Phương là sĩ quan quân đội,
hình như đại tá, trung tá gì đó – bây giờ được phong thiếu tướng rồi – mà ăn nói
rất thiếu văn hóa. Anh nói với tôi: “Chúng nó cho chúng mình ăn như cho chó
ăn vậy.” Đúng là tâm địa rất xấu và độc ác nữa. Vậy mà cứ mở mồm ra là nói
nhân văn, nhân đạo.
Vũ Quần Phương chắc cũng không ưa tôi. Trong cuộc hội thảo về lý luận
phê bình văn học ở Tam Đảo, anh ta ủng hộ Trần Mạnh Hảo, phê phán tôi là tiểu
khí và hãnh tiến. Đúng là ăn nói vu vơ chẳng có căn cứ gì. Bây giờ Hảo đã trở
cờ, không biết có còn dám bênh Hảo nữa không? Vũ Hạnh chắc cũng không ưa
tôi. Khi anh đề tựa cuốn Hầu chuyện các giáo sư của Trần Mạnh Hảo mà cho
rằng, Hảo không qua đại học là một điều may mắn của anh ta, thì chắc anh cho
tôi là đại học rởm, giáo sư rởm. Còn Trần Mạnh Hảo thì tôi cho anh ta chẳng
ghét gì tôi, tuy viết hàng loạt bài xuyên tạc quy chụp tôi tới tấp. Bởi con người
này viết có vì chân lý, có vì yêu hay ghét gì ai đâu, mà chỉ xuất phát từ nhu cầu
cá nhân. Lúc cần đến Đảng thì nịnh Đảng, lúc cần theo Tây thì nịnh Tây, quay
180 độ như không.
Một người cũng hay phê phán tôi, phê phán rất quyết liệt nữa, là anh Trần
Thanh Đạm. Anh cho tôi là đổi mới cực đoan, quá khích, còn tôi thì cho anh là
đầu óc bảo thủ thâm căn cố đế rất khó hiểu ở một con người có văn hoá như anh.
Anh viết một bài phê phán tôi khinh bạc cả cách mạng, khinh bạc hơn cả
Nguyễn Tuân: “Đối với hơn 30 năm hy sinh chiến đấu của dân tộc và của văn
nghệ dân tộc, cụ Nguyễn Tuân chưa bao giờ và không thể có cái giọng khinh
bạc như của anh Mạnh.(1)
Lập luận của anh Đạm có một mâu thuẫn : Câu trên anh viết: “Thế hệ trẻ
rất thông minh, sáng suốt, biết phân biệt lẽ phải, điều hay với những gì trái lại”;
câu dưới anh lại thừa nhận tôi “có uy tín và tác dụng” hơn anh rất nhiều đối với
giáo viên, sinh viên: “ Tôi ( Trần Thanh Đạm ) đã gặp nhiều thày giáo, nhiều
sinh viên mang dáng dấp tư tưởng và phong cách của anh (Nguyễn Đăng
Mạnh), là “đồ đệ” của cả điều hay lẫn chỗ dở của anh.” Vậy thì họ rất ngu chứ
sao lại cho là “thông minh, sáng suốt” được.
Một điều cũng lạ là tuy phê tôi rất ác, nhưng tiếp xúc với tôi, anh vẫn tỏ
cảm tình nồng nhiệt. Rất khó hiểu. Hay vì anh là người Huế – “Sơn bất cao, thuỷ
bất thâm…”?
Nhớ hồi 1979, tôi có tặng anh tập tiểu luận, phê bình văn học đầu tiên của
tôi, cuốn Nhà văn, tư tưởng và phong cách. Sau đó ít lâu, tôi vào Sài Gòn, bị
chảy máu dạ dày phải vào cấp cứu ở bệnh viện, anh có đến thăm. Anh tặng tôi
mấy câu thơ, có thể xem là cảm đề cuốn sách của tôi:
Đọc anh nhớ lúc anh nằm viện,
Một lần ngoài đó, một lần đây;
Những dòng ta viết cho người khác,
Ai biết bên trong máu thấm đầy.
Gần 30 năm đã trôi qua kể từ ngày ấy, giờ tôi vẫn nhớ và vẫn biết ơn anh
về bốn câu thơ ấy.
Về các nguồn động viên đối với tôi trong nghiên cứu phê bình văn học,
tôi còn phải kể đến nguồn này nữa: Cảm tình của nhiều học sinh phổ thông trên
nhiều vùng đất nước. Họ không hề học tôi và gặp tôi bao giờ, nhưng vì đọc sách
của tôi (ngoài sách nghiên cứu phê bình tôi còn viết sách giáo khoa phổ thông
trung học và nhiều sách bồi dưỡng học sinh về môn văn), họ viết thư thăm hỏi
tôi, lời lẽ rất thắm thiết và đầy ngưỡng mộ(1). Thư nào cũng mong mỏi tôi trả lời.
Nhưng tôi cứ lần lữa rồi cuối cùng chẳng trả lời ai cả. Chắc các em cho tôi là coi
thường mình. Không, tôi không coi thưòng ai cả nhất là những người có cảm
tình với tôi – vì khi mới tập sự viết sách tôi đã từng bị có người khinh và rất
thấm thía điều đó. Chẳng qua là tôi có bệnh lười viết thư, kể cả viết thư cho
người thân trong gia đình. Nhưng biết bệnh mà không sao chữa được.
Tôi rất biết ơn những bức thư kia. Đó là những lời động viên hồn nhiên,
vô tư, chân thật nhất, giúp tôi phấn khởi trong hoạt động nghiên cứu phê bình
văn học.
(1) Tính cho đến hôm nay, tôi đã nhận được 32 lá thư gửi từ các nơi như Thái Bình, Hải
Dương, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Bắc Giang, Hoà Bình, Phú Thọ, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ
An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Qui Nhơn, Phú Yên, Vĩnh Long, Đà Lạt.

* Hồi ký GS Nguyễn Đăng Mạnh - về NGUYỄN KHẢI:
Nguyễn Khải khác hẳn Nguyên Ngọc. Thiết thực, không phiêu lưu mạo hiểm, không muốn chết, không muốn đi tù. Anh tự nhận luôn là thằng hèn cho người ta khỏi phải bàn tán lôi thôi.

Sau cuộc hội nghị nhà văn đảng viên, bản đề cương (1) của Nguyên Ngọc bị Tố Hữu đánh, Nguyễn Khải vốn nhất trí với Nguyên Ngọc trong vụ này, nên sợ quá. Anh nói thẳng với Nguyên Ngọc : "Tao nhát lắm, chưa đánh đã khai. Cho tao chạy đi thôi, mày thông cảm, đừng khai tao ra nhé".

Nguyễn Khải rất thiết thực và tỉnh táo, vậy mà cũng có lúc mê muội. Tôi gọi là dại - tôi đã viết như thế về Nguyễn Khải trong bài Dại khôn Nguyễn Khải. Mới biết cái danh, cái lợi cũng dễ mê hoặc lắm. Hồi được gọi ra Hà Nội để chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ tư (Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh dự định sắp đặt Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc làm chánh, phó Thư kí Hội Nhà văn). Nguyễn Khải xem ra cũng hăng hái lắm. Anh nói với tôi y như là sẽ làm Tổng thư ký đến nơi : Anh phẩy tay " Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên thì phế cả đi ! Còn về lý luận phê bình thì anh phụ trách cho tôi. Nhưng ta phải khôn khéo, đổi mới nhưng phải khôn khéo. Trần Độ cứng quá, cứ ỉa ra đấy cho người ta phải dọn. Chính trị ghê gớm lắm, không đùa được đâu ! Nếu cần quỳ xuống lậy, ta cũng phải quỳ ".

Trong bài viết về Nguyễn Khải, tôi có nhắc đến chi tiết này, cho là một cái dại của anh và hạ một câu : " Bây giờ nghĩ lại, xấu hổ chết được ! ". Tôi tưởng anh giận tôi, hoá ra anh lại thích thú. Thích vì thấy hiểu mình quá. Tôi rất quý cái thành thực ấy của Nguyễn Khải. Có một cô nghiên cứu sinh tên là Tuyết Nga làm luận án về Nguyễn Khải. Cô tìm gặp anh để tìm hiểu. Anh đưa cô xem bài viết của tôi, nói là cứ đọc bài này là hiểu anh. Và anh cầm bài viết đọc luôn cho cô ta nghe. Đến chỗ " Bây giờ nghĩ lại xấu hổ chết đi được ! ", anh đỏ bừng mặt và cười hô hố - Cô nghiên cứu sinh kể lại với tôi như vậy.

Trong bài viết nói trên, tôi có nói đến một bậc đàn anh trong nghề dạy tôi phải đào nhiều hang. Ta là con chuột, lấp hang này, ta chui hang khác. Đó là Đinh Gia Khánh. Ở bài này, tôi dẫn câu Nguyễn Khải nói, có một nhà văn, trước 1975, chẳng có tư tưởng gì cả. Đấy là Nguyễn Minh Châu. Đúng là trước 1975, tiểu thuyết Nguyễn Minh Châu cũng chỉ là minh hoạ đường lối, tư tưởng của đảng. Sau 1975 mới có tư tưởng. Tư tưởng Nguyễn Minh Châu đặt ở nhân vật Khúng trong Khách ở quê raPhiên chợ Giát. Tôi cũng dẫn lời anh chê một nhà thơ viết hồi ký, đọc lúc đầu có không khí, sau chẳng thấy có tư tưởng gì. Đó là A. T. (Hồi ký Từ bến sông Thương)(2). Tôi còn dẫn ra câu anh nói về một giáo sư danh tiếng mà đọc (hồi ký) cũng chả thấy có tư tưởng gì. Đó là Đ.T. M. (2).

Như vậy là đọc văn hay viết văn, Nguyễn Khải rất chú ý đến tư tưởng của tác phẩm. Nhưng ở anh, có một mâu thuẫn : một mặt muốn phát biểu tư tưởng riêng, vì ý nghĩa của văn chương là ở đấy. Nhưng mặt khác lại muốn sống yên ổn với đời nên chỉ có thể mạnh dạn nửa vời, mạnh dạn trong một khuôn khổ nào đấy thôi. Chính trị ghê gớm lắm, không đùa được đâu, chắc anh luôn luôn tự dặn mình như thế. Vả lại nghĩ đi nghĩ lại, anh không thể quên công ơn của cách mạng đối với mình. Từ một cậu bé con rơi con vãi, sinh ra đã bị khinh bỉ, bị lăng nhục, sau cách mạng trở thành nhà văn có danh, có lợi đủ cả. Cũng phải biết điều một chút chứ !

Thông minh và tỉnh táo, Nguyễn Khải luôn có ý thức về thân phận của mình, về cái giá trị của mình đối với đời. Anh kể chuyện, hồi anh là đại biểu quốc hội, đi ôtô từ Ba Đình về nhà khách. Đến chỗ đường tàu, xe phải dừng lại cùng một số đồng bào đi xe đạp, xe máy. Anh nhìn xuống, thấy rợn người : có một tay đang nhìn lên anh, cặp mắt đầy căm thù. Anh nghĩ mình cũng chỉ là loại nghị gật, vô tích sự, thằng ăn hại, dân nó khinh ghét là phải.

Chiến thắng 30.4.1975, anh đi vào Nam. Gặp Nguyên Ngọc, Nguyễn Trọng Oánh. Anh cảm thấy Ngọc và Oánh nhìn mình như muốn nói : " Mình chiến đấu gian khổ bao lâu không thấy mặt nó đâu, bây giờ chiến thắng rồi, nó vào. Rồi nó sẽ viết nhiều, viết hay hơn mình cho mà xem ! ". Nguyễn Khải nói : " Biết thân phận thế, tôi cứ ngồi len lén, không dám nói năng gì ".

Mà cái tài của Nguyễn Khải là thế thật, có cần đi thực tế gì đâu. Trước 1975, anh chỉ ngồi ở ngoài Bắc mà viết về Hoà Vang chiến đấu như thật. Cho nên có ai đó đã làm vè giễu anh :

Anh đi anh lại về ngay,
Hoà Vang cũng ở ngoài này đó em.

* Khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, Nguyễn Khải đưa gia đình vào Sài Gòn. Lúc đầu xem chừng sinh hoạt còn khó khăn. Anh ở quận Bốn (448B/9, phường 18, Nguyễn Tất Thành) tôi có đến thăm. Nói chuyện với tôi, thấy anh cứ nhấp nhổm chạy ra chạy vào : gia đình bán giải khát và cho thuê điện thoại. Có khách đến, phải chạy vội ra phục vụ. Mấy năm nay thì khá hơn rồi. Anh có người con (Nguyễn Khải Hoàn) kinh doanh nhà đất, kiếm được. Nhưng nhà cứ mua đi bán lại, nên anh cứ phải chuyển chỗ ở luôn. Mỗi lần tôi vào Sài Gòn, lại thấy anh ở một chỗ khác. Biết tôi vào Sài Gòn, thế nào anh cũng mời đến uống rượu.

Đến Nguyễn Khải, lúc nào cũng có rượu. Anh nói, bây giờ rượu Tây sẵn, nghĩ thương ông Nguyễn Tuân. Ngày xưa mỗi lần họp, thấy ông lấy ra một cái bi đông rượu, rót vào cái nắp, mời vị này, vị khác. Nay rượu Tây đầy ra đấy, ông không còn để mà uống.

Nói chuyện với Nguyễn Khải, tôi không ngờ hồi mới vào Sài Gòn, loại văn nghệ sĩ cỡ Chế Lan Viên, Nguyễn Khải mà khổ đến thế : " Vũ Thị Thường nói, đi đường chỉ mong nhặt được tiền ai đó đánh rơi ". (Hệt như câu nói của Hoàng Ngọc Hiến hồi ấy : " Đi đường thấy có một đồng xu rơi cũng phải nhặt. Kiếm đâu ra một xu bây giờ ! ")

" Chế Lan Viên ở quận Tân Bình chỉ thèm ăn một bữa ngon, phải ra tận quán bà luật sư Huỳnh Ngọc Đại (3) để được bà ấy đãi một bữa cơm Tây. Ai mời, đâu mời cũng đi. Chỉ để kiếm bữa ăn thế thôi, và xách về một chai nước mắm hay mấy cân gạo nó cho. Nguyễn Khải cùng đi với Chế Lan Viên. Một thằng làm thơ, một thằng viết ký, một ca sĩ đi theo hát. Tôi gọi là hai kép, một cô đầu cùng đi kiếm bữa ăn và ngồi nghe mấy tay giám đốc dốt nát vào đấy ba hoa. Nó có tiền nên hai nhà văn cứ phải gật gù nghe nó dạy dỗ ".

Nguyễn Khải có nhiều ý kiến rất táo bạo :

" Đảng không bao giờ coi trọng trí thức, biến trí thức như Hoàng Xuân Nhị thành hèn hạ. Mà bị nó khinh. Tôi từng gặp Hoàng Xuân Nhị ở nhà Tố Hữu. Tố Hữu không thèm nói chuyện với ông ta, cứ để cho ông ta ngồi một mình. Tóc bạc phơ. Tố Hữu chỉ nói với tôi là một thằng còn rất trẻ. Trần Đức Thảo thì bị biến thành một thằng thần kinh. Sang Pháp, bao nhiêu Việt kiều mời đến, không đến, cứ ở Đại sứ quán, tuy bị nó khinh như chó.

Thuỵ An thì bị tù. Trong tù đi lao động, ngã vào dây thép gai, bị mù một mắt. Nay vẫn ở Sài Gòn, sống rất khổ. Không đi Pháp vì là con gái lớn phải ở lại nuôi mẹ già..."

" Chúng ta thuộc lứa người bị bỏ phí cả một thời trai trẻ để học theo một cái lý thuyết vớ vẩn, chả nghĩ ra được cái gì, chẳng làm ra được cái gì trong giới hạn của chủ nghĩa Mác - Lê - một thứ triết học của người cầm quyền. Mà có hiểu Mác - Lê thực đâu. Toàn nghe lãnh tụ nói và nói theo. Trong cái khung của một ý thức hệ, còn ai nghĩ ra được cái gì nữa. Chủ nghĩa Mác thành ra một thứ tôn giáo. Tin mà không hiểu. Bao người hy sinh vì cái lý thuyết vớ vẩn ấy. Chủ nghĩa xã hội toàn đẻ ra những con người quái gở như Mao Trạch Đông, Staline, Pônpốt, rồi Nguyễn Chí Trung..., toàn lũ điên ".

" Ta có một thời cứ tin tưởng ở cái không có. Như tin ở chủ nghĩa xã hội ".

" Chính trị và quan điểm giai cấp trùm lên tất cả. Con người không có tình bạn. Bạn bè mà có vấn đề chính trị là không được quan hệ ".

" Chủ nghĩa xã hội nếu không thay đổi thì con người thành mọi rợ, rừng rú. Từ ăn, ỉa, mặc, ở... Sợ quá ! "

Nguyễn Khải nói về uy quyền ghê gớm của Lê Đức Thọ một thời. Anh chứng kiến Sáu Bắc (Lê Đức Thọ) tiếp Sáu Nam (Lê Đức Anh). Hôm ấy, Thọ gọi một số văn nghệ sĩ đến hỏi chuyện. Thọ đang tiếp khách. Bọn Khải phải ngồi đợi ở phòng bên cạnh. Lát sau, khách ra về. Hoá ra khách là Lê Đức Anh. Nguyễn Khải thấy Lê Đức Anh đi ra, cứ đi giật lùi, giật lùi ra mãi giữa sân mới dám quay đít lại. Thọ tiếp chúng tôi. Đúng lúc ấy thấy Phạm Hùng đi sang. Hùng đề nghị gặp Thọ một lát. Thọ phẩy tay : " Để lúc khác nhé, giờ đang bận tiếp khách văn chương ". Thọ coi Hùng chẳng là cái gì, tuy Hùng lúc đó là thủ tướng, thay Phạm Văn Đồng.

" Nói chung cộng sản coi văn nghệ sĩ như rác. Lê Duẩn coi Tố Hữu cũng chỉ như một con hát. Nhưng lại sợ văn nghệ. Vì chỉ dùng tuyên truyền, dùng nước bọt mà giành được nước. Chỉ nói, có làm gì đâu. Nói đủ cả, chẳng làm gì. Thí dụ, cứ nói phê bình tự phê bình mà chưa bao giờ phê bình tự phê bình cả. Có dám nói thật đâu mà phê bình tự phê bình. Chỉ toàn đào tạo gia nhân, đầy tớ, bọn nịnh hót. Sợ văn học cũng vì thế. Vì văn nó nói sự thật, nó lật tẩy. Rất sợ biểu tượng hai mặt. Chỉ đề cao văn tuyên truyền, đề cao vè. Thật ra bọn nhà văn nói chung nhát, không dám chống chế độ đâu ! ".

" Chế Lan Viên một thời, dựa thế Tố Hữu cũng hách lắm. Tô Hoài gọi là thằng nặc nô của đảng. Hồi chỉnh huấn văn nghệ sĩ, Chế Lan Viên làm tổ trưởng, nói với Nguyễn Tuân : ông tưởng ông to lắm à ? Tôi phụ trách ông kia mà ! Họp chấp hành, ý kiến Chế Lan Viên là quyết định. Thí dụ, ban chấp hành bàn có nên kết nạp Phan Quang không ? Mọi người chờ ý kiến của Chế Lan Viên. Chế Lan Viên đi đái vào, nói : " Thằng Thép Mới nó còn ở ban chấp hành được thì thằng Phan Quang sao không cho vào hội được ! ". Ai cũng gọi là thằng tuốt. Thằng Nguyễn Đình Thi, thằng Tô Hoài, thằng Hoàng Trung Thông, chẳng sợ ai cả. Không thể đối đáp kịp mồm Chế Lan Viên. Phải về nhà mới nghĩ ra cách bác lại, nhưng hôm sau, không còn lý do để tranh cãi nữa, vì lão ấy lại nói chuyện thân mật ".

" Nhưng Chế lan Viên chết rất khổ. Vũ Thị Thường phục vụ rất mệt. Gần chết hay quát tháo vợ con. Vũ Thị Thường nói chỉ thèm được ngủ, khi Chế lan Viên chết, việc đầu tiên là ngủ bù một giấc, dạy mới có sức mà khóc ".

Nguyễn Khải có một ưu điểm là có óc liên tài thật sự. Rất phục người tài. Tôi đã được nghe anh phục Đỗ Chu như thế nào khi Chu mới xuất hiện. Đối với Nguyễn Huy Thiệp lại càng phục hơn nữa.

Anh nói : " Kim Lân là con đẻ của đất Kinh Bắc. Đỗ Chu cũng thế. Trẻ con có học hành gì đâu mà viết rất hay : Thung lũng cò, Hương cỏ mật... Vợ nhặt của Kim Lân thì văn tuyệt hay. Con người Kim Lân rât thích. Hồn nhiên, chân thật, tiếp xúc không phải ý tứ gì. Có Kim Lân, mình cũng bớt lố bịch, cứ lấy ông ta làm chuẩn. Nguyễn Tuân còn điệu bộ, làm dáng. Tôi rất ghét uốn éo, điệu bộ. Rất ghét cái ông Vũ Kỳ bắt chước Cụ Hồ : áo bà ba, đi guốc mộc tiếp khách.

Muối của rừng, Thiệp viết rất giỏi. Hemingway viết Ông già và biển cả còn dài dòng. Thiệp viết cực ngắn. Đi săn, trang bị đầy đủ. Cuối cùng cởi truồng trở về. Lại còn bị lũ khỉ giễu cợt. Không có vua có cái chi tiết bố chồng dòm con dâu tắm. Sợ quá !

Nhưng bây giờ xem ra hết tài rồi. Viết tiểu thuyết Tuổi 20 yêu dấu, rồi truyện võ hiệp, thành ngòi bút khác mất rồi.

Ma Văn Kháng là dân Hà Nội, viết về dân tộc thiểu số cứ xôm cốp bên ngoài thế thôi. Phải viết về dân tộc mình, về cái mình thuộc, mình am hiểu chứ.

Tô Hoài thì rất tinh quái, rất hóm. Nguyễn Đình Thi đẹp trai, hấp dẫn gái, thế mà toàn ăn của thừa. Mình phải ăn từ bếp lên chứ ! Này, có lần tôi đến LM gọi cửa mãi, thấy đi ra, khuy ngực xốc xếch. Bên trong thấy có Tô Hoài."

Nguyễn Khải cho kết quả của Đại hội nhà văn lần thứ 7 là tốt : " Ban chấp hành như thế là khác trước rồi. Trước đây, vào chấp hành, thằng nào cũng để kiếm chác một cái gì đó : một chỗ dựa, một chỗ có tiền, một suất đi nước ngoài... Giờ bọn Vàng Anh, Hồ Anh Thái nó chẳng cần gì ! Đừng hòng Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm bảo được nó. Nó không nghe đâu ! ".

Nguyễn Khải cho viết văn là phải có tư tưởng. Vì thế anh chịu khó đọc sách, gần đây hay đọc triết. Hình như có một bậc thánh hiền nào đó nói rằng, đọc sách mà không nghĩ thì vô dụng, nghĩ mà không đọc sách thì nghĩ lung tung rất nguy hiểm. Nguyễn Khải chịu đọc và chịu nghĩ.

Một lần tôi đến anh, thấy anh đặt trên bàn cuốn Tinh thần pháp luật của Montesquieu. Anh nói : " Lâu nay chúng ta chỉ đi bên cạnh nền văn minh nhân loại. Nói thế là đủ hiểu. Chẳng biết gì. Phủ nhận tất cả những cái gọi là phi vô sản. Bây giờ mình mới được đọc những Montesquieu, Voltaire, Rousseau...

Đọc triết học phương Đông từ Cao Xuân Huy, Nguyễn Hiến Lê... đến khi đọc bản dịch của Hoàng Ngọc Hiến, cuốn Bàn về tính hiệu quả (4), mới ngộ ra được. Phải nhìn từ xa, tuân theo quy luật tự nhiên. Gò ép nó, cải tạo nó là hỏng. Liên Xô cứ đòi uốn nó, cải tạo nó. Cải tạo sao được con người. Con người không thể cải tạo được. Bây giờ đấy : đủ cả mafia rất ghê gớm ".

Hoàng Ngọc Hiến dịch triết rất hay mà chả thấm được triết. Cứ tức tối, căm thù. Tôi rất quý Hoàng Ngọc Hiến, nhưng đọc bài của Hiến (có lẽ là bài trên Talawas) tôi không thích nữa.

Về điểm này, tôi chưa thật hiểu rõ ý của Nguyễn Khải.

Tôi nhớ ông Tolstoi già trong Chiến tranh và hoà bình có luận về tình yêu của con người và tình yêu của Thượng đế. Khi yêu bằng tình yêu của con người thì có thể từ yêu thương chuyển sang thù ghét, còn tình yêu của Thượng đế thì có thể thương yêu cả kẻ thù, thậm chí cảm thấy vui sướng khi thương yêu kẻ thù. Ăngđré Bôncônxki, trong giờ phút hấp hối, đã thấy mình bỗng có được tình yêu đó. Anh ta vui sướng khi thấy mình thương cả Anatole là kẻ tình địch của mình.

Nguyễn Khải muốn có thứ tình yêu cao cả đó chăng, mà anh gọi là thái độ triết học ?

Điều đó có phải là một điềm gở ở anh không ?

* Tôi gặp Nguyễn Khải lần cuối cùng ngày 24.7.2007 (cùng với Hồ Quốc Hùng). Tất nhiên khi anh mất rồi mới biết đấy là lần cuối cùng : Thật không ngờ ! Tôi cứ tưởng sẽ còn nhiều lần được gặp anh. Anh với tôi cùng sinh một năm (1930), nhưng anh còn sinh sau tôi tới chín tháng (tôi sinh đầu năm - tháng ba, anh sinh cuối năm - tháng chạp).

Anh đi đâu về. Trông thấy anh, tôi bấm bụng cười thầm vì chợt nghĩ đến nhận xét rất đúng nhưng rất tục của Đỗ Chu hồi nào : " Răng hơi hô, trông lúc nào cũng như hớn hở, đi ngực ưỡn, hai tay ve vẩy, trông như con đàn bà nứng l. ".

Nhưng bây giờ thì anh có vẻ yếu rồi, chống ba toong, cao lênh khênh, đi lòng khòng.

Anh vẫn nói nhiều. Nào chuyện tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, kho tài liệu giúp anh viết về chính quyền Sài Gòn, nào chuyện cải cách ruộng đất xoá sạch thành tích cách mạng, chuyện Chế Lan Viên chết rất khổ. Khổ mà rất khí khái, không xin xỏ gì hết, tuy Tố Hữu, Hà Xuân Trường đến thăm luôn, chuyện Nguyễn Tuân, chuyện Nguyễn Huy Thiệp, chuyện Cụ Hồ và tướng Giáp rất giỏi nín nhịn...

Anh nói đang viết một bài gọi là sự hình thành một bút pháp. Từ thực tế sáng tác của mình mà viết. Xưa đã thấy người nông dân cần có tầm mắt nhìn xa vượt ra khỏi sự hẹp hòi của hợp tác xã. Nhưng vượt ra bằng cách nào chưa biết. Nay mới thấy có điều kiện : kinh tế thị trường giải phóng cho nông dân...

Anh nói rất nhớ Hà Nội. Thèm không khí Hà Nội. Vào Sài Gòn anh chẳng chơi với một bạn mới nào. Ra Hà Nội bây giờ cũng lại chỉ đến những bạn cũ đã già. Không nói chuyện với đám trẻ được. " Người ta nói sáu mươi tuổi thì tính năm, bẩy mươi tính tháng, tám mươi tính ngày... Tôi muốn sống lâu để xem thời thế ra sao. Lịch sử do con người làm ra, làm sao biết trước được ! "

Tôi nhớ lại ngày xưa anh đã có một câu nói gở rất thiêng về Nguyễn Tuân. Anh khen Nguyễn Tuân đẹp lão và nói : " Đẹp lão thế là sắp sửa đấy ! ". Ba ngày sau Nguyễn Tuân qua đời.

Bây giờ anh nói bẩy mươi tuổi tính tháng.

Anh nói ngày 24.7.2007.

Năm tháng sau, ngày 15.1.2008, nghe tin anh qua đời.

Đúng là tuổi bẩy mươi tính tháng.

* Ngay sau khi Nguyễn Khải mất, tôi có anh bạn (Hoàng Dũng) trong Nam ra Hà Nội, nói Nguyễn Khải chết không có đất chôn.Đúng ra là không được chôn ở nghĩa địa Sài Gòn (tại Thủ Đức), phải đưa lên nghĩa địa Củ Chi rất xa. Tiêu chuẩn được chôn ở Thủ Đức, ngoài những ông thành uỷ viên hay trung ương uỷ viên không kể, phải có 65 năm tuổi đảng. Trần Duy Châu, nguyên hiệu phó Đại học Sư phạm Sài Gòn, khi chết mới có 58 tuổi đảng, không đủ tiêu chuẩn, phải đưa đi Củ Chi. Nguyễn Khải tất nhiên cũng phải đưa đi Củ Chi.

Võ Văn Kiệt thấy thế chắc lấy làm xấu hổ, nên can thiệp. Ông tuyên bố nhường suất chôn ở Thủ Đức của ông cho Nguyễn Khải.

Láng Hạ 23.1.2008.
NGUYỄN ĐĂNG MẠNH
(Trích HỒI KÍ, chương 19)

(Xem http://vanchuong.vnweblogs.com/post/2192/90366)
* Hồi ký GS Nguyễn Đăng Mạnh - Chương XVI: Tô Hoài:
Tôi tiếp xúc với Tô Hoài rất sớm. Từ những năm 60 của thế kỉ trước. Nhưng mãi đến năm 2000, tôi mới viết được một bài về ông.
Tôi trước sau vẫn thế, khi viết về một nhà văn nào đó mà chưa hiểu tư tưởng chi phối một cách có hệ thống sự nghiệp sáng tác của ông ta, thì tôi không thể viết được. Về Tô Hoài, tôi cứ nghĩ mãi không biết tư tưởng của ông là gì. Nhiều tác phẩm của ông tôi thích, nhưng không tìm ra một tư tưởng chung. Tư tưởng Nguyên Tuân là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc gắn với những giá trị văn hoá cổ truyền của đân tộc; Nam Cao là nỗi đau đớn trước tình trạng con người không giữ nổi nhân tính, nhân phẩm vì miếng cơm manh áo và cái chất hèn, chất nô lệ đã thấm vào trong máu không biết từ kiếp nào. Xuân Diệu là niềm khát khao giao cảm hết mình với cuộc đời trần thế này... Còn tư tưởng Tô Hoài là gì? Tôi lúng túng quá! Trong khi đó, Xuân Diệu có lần nói với tôi: “Tô Hoài nó chẳng có có tư tưởng gì cả. Nguyễn Đình Thi còn có tư tưởng, chứ Tô Hoài chẳng tư tưởng gì”. Tôi lại càng hoang mang. Một nhà văn cỡ như Tô Hoài mà không có tư tưởng! Vô lý quá!


Nhà văn Tô Hoài.

Hồi tôi biên soạn cuốn Tổng tập văn học Việt Nam tập 30A, 30B (1979, 1980), tôi có đến Tô Hoài mấy lần (ở Đoàn Nhữ Hài). Tôi có một anh bạn tên là Phan Ngọc Thu, phụ trách trung tâm nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn của Đại học Đà Nằng. Anh đứng ra tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho các giáo viên PTTH chuyên văn ở miền Trung, miền Nam. Anh thường mời tôi và Tô Hoài vào giúp. Vì thế, tôi có dịp gặp Tô Hoài nhiều lần, khi ở Đà Nẵng, khi ở Bến Tre hay Long Xuyên...

Tôi để ý thấy Tô Hoài, ở đâu cũng thế, mua hết các báo chí hàng ngày để đọc.Cả báo trung ương và báo địa phương. Đọc cả những tin vặt vãnh linh tinh. Ông rất chăm đọc báo, nhưng không thích xem ti vi và phim ảnh, dù là phim Vợ chồng A Phủ do ông soạn kịch bản.

Ở khách sạn Long Xuyên có một cái núi non bộ lớn, người ta nuôi cá, nuôi khỉ, nuôi bồ nông, cò, vạc... Cứ xích chân, xích cổ vào hòn giả sơn. Tôi thấy Tô Hoài cứ đứng hàng giờ quan sát các con vật và thỉnh thoảng lại phát hiện ra một điều gì lạ ở chúng, như chân con vạc nó thế nào đấy, hay con khỉ lại biết chơi trò thủ dâm...

Thì ra Tô Hoài thích quan sát tỉ mỉ, phát hiện những cái lạ ở người hay những con vật tầm thường quen thuộc quanh ta. Cho nên ông viết nhiều về phong tục của người dân Nghĩa Đô, quê ông. Và trong thời kháng chiến chống Pháp, công tác ở Viêt Bắc, ông thích viết về phong tục độc đáo của những dân tộc H' Mông, Mán... Phong tục, theo tôi, chính là những chuyện lạ đời thường của các dân tộc.

Ông phát hiện người H’mông sinh hoạt có nhiều cái rất Tây: Váy áo như đầm. Gọt khoai, gọt củ, quay ngược lưỡi dao vào trong. Ăn bánh bột ngô để nguội hàng tuần như người Tây ăn bánh mì, dùng thìa gỗ hoặc bốc, không dùng đũa. Theo đạo tin lành. Ông đọc sách của Sabina nói người H’mông đi từ phương Tây, qua Đông Âu, Bắc Á rồi bị dồn xuống phương Nam. Thuyết của Tầu thì cho người H’mông vốn ở vùng sông Dương Tử di cư xuống. Tô Hoài cho thuyết của Tây đúng hơn. Người Mèo rất khái tính, bị xúc phạm là tự tử (bằng lá ngón). Nhà có con gái đẹp, thanh niên kéo đến quấy nhiễu đông quá, có khi ông bố đem súng ra bắn để giải tán. Thời Tây, công sứ Châtel thi hoa hậu chỉ thi con gái dân tộc thiểu số như gái Hmông, gái Mường, gái Mán...


Tranh biếm họa của họa sĩ Còm

Tô Hoài, ở Hà Giang, đã gặp hai người đàn bà từng thi hoa hậu ở Hà Nội thời Pháp thuộc. Người Mán khi ăn xong, cả nhà tắm nước nóng rồi lại mặc quần áo cũ và đi đất. Về chuyện chợ tình Sa Pa, Tô Hoài cho biết, sự thực, đối với người Mèo, người Mán, chợ là nơi ăn chơi, nơi gặp gỡ người quen, trong đó có chuyện trai gái. Nay ta biến thành chợ tình. Rất nhảm!

Tô Hoài hay tả kỹ loài vật và cũng thấy ở chúng có lắm “phong tục” lạ như người vậy thôi. Sở trường tả loài vật, ở Tô Hoài, xét ra cũng nằm trong cảm hứng phong tục. Mà hình như về phương diện này, ông cũng chẳng phân biệt người hay vật. Trong tập truyện O chuột, ông viết về toàn loài vật quanh ta, nhưng lại xen vào đó một truyện về người (Cu Lặc). Truyện này Nguyễn Minh Châu rất thích. Ông kể chuyện Cu Lặc không khác gì con vật. Vợ chồng gặp nhau, lấy nhau do bản năng tình dục.Và họ bỏ nhau vì cả hai đều ăn khoẻ quá, không sống nổi với nhau được.

Tô Hoài khác với phần lớn văn nghệ sĩ, không ngại làm những công việc sự vụ hành chính, những công việc vặt vãnh chẳng “văn chương” chút nào. Ông nhận đủ việc, từ đại biểu quốc hội, chấp hành Hội nhà văn trung ương, chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội, đến tổ trưởng khu phố. Việc gì cũng làm. Cũng đi tuần tra ban đêm, cũng đôn đốc “triệt để chó”, cũng đến từng gia đình kiểm tra hố xí hai ngăn... Về hưu, ông không sinh hoạt chi bộ ở cơ quan Hội nhà văn như hầu hết các nhà văn cao tuổi khác, mà sinh hoạt với chi bộ địa phương. Và ông không muốn người ta biết mình là nhà văn. Vì ông thích nói chuyện với mọi người như một người thường nói chuyện với người thường về những chuyện thường.

Tôi để ý đến cặp mắt của ông: nhỏ, dài và hẹp. Gọi là mắt ti hí. Mắt như thế là tinh quái lắm. Cái gì cũng biết, không gì qua mắt được. Mà toàn phát hiện những điều ngộ nghĩnh, buồn cười ở người ta và diễn đạt bằng một vài từ rất gọn và đích đáng. Người nào bị phát hiện ở khía cạnh ấy lập tức trở thành tầm thường. Ngay – danh nhân, vĩ nhân cũng vậy. Thí dụ, ông cho Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh chỉ là một tập thơ kêu oan.

Kể ra cũng đúng:

Ta người ngay thẳng lòng trong trắng
Lại bị tình nghi là Hán gian
(Đường đời hiểm trở)

Hôm nay xiềng sắt thay giây trói
Mỗi bước leng keng tiếng ngọc rung
Tuy bị tình nghi là gián điệp
Mà như khanh tướng vẻ ung dung
(Đi Nam Ninh)

Những bài thơ như thế thì đúng là thơ kêu oan. Nhưng coi Nhật kí trong tù chỉ là tập thơ kêu oan thì quả là đã tầm thường hoá tập thơ của cụ Hồ.

Phạm Tiến Duật khi nói thì đúng là khua môi múa mép, ông gọi là thằng lái trâu. Còn Chế Lan Viên thì ông gọi là thằng “nặc nô” của Đảng. Ông phát hiện Huy Cận ngày nào cũng ra trụ sở Hội Liên hiệp văn nghệ (51 Trần Hưng Đạo), tuy chả có việc gì cả, chỉ cốt được ăn một bát phở miễn phí. Huy Cận rất tham, đi đâu cũng vơ vét, càm cắp. Tô Hoài kể chuyện, một lần ông và Nguyên Ngọc tình cờ gặp Huy Cận ở sân bay quốc tế Mạc Tư Khoa. Tự nhiên Cận lân la đến vỗ vai nói chuyện thân mật với Nguyên Ngọc. Tô Hoài vội bấm Nguyên Ngọc lảng đi: “Này nó sắp gạ ông xách đồ cho nó đấy!”. Quả nhiên, sau đấy Huy Cận hai tay xách hai cái cặp nặng, lại buộc giây kéo một cái thùng giấy lệt xệt đằng sau.

Buồn cười nhất là ông phát hiện Nguyễn Xuân Sanh sở dĩ bị Tố Hữu ghét, vì chỉnh huấn, chuyển biến nhanh quá, không đúng quy luật - đấu tranh tư tưởng thì phải lâu dài gian khổ chứ! Còn Hoàng Cầm thì hồi bị tù, hết hạn người ta cho ra, lại xin ở lại thêm để viết nốt bản kiểm thảo. Ông cho biết Thợ Rèn sở dĩ nổi tiếng là vì lúc đầu người ta tưởng là Cụ Hồ, là bút danh của Cụ Hồ. Thanh Tịnh thì ai đến chơi cũng đem đồ cổ ra khoe. Nhưng theo Tô Hoài, ông ta cứ tán ra thế thôi, chứ nhiều cái ông ta bê ở Bát Tràng về. Bùi Giáng thì rất mê Kim Cương, chỉ ước khi chết, được Kim Cương đái lên mồ... Trương Tửu là tay huênh hoang thế thôi, thực chất chỉ là trôtkit mồm... Mấy ông Chế Lan Viên, Hoài Thanh, Đồ Phồn, Huyền Kiêu thì tự thấy trước cách mạng có tội nên ra sức nịnh Đảng...

Có những chuyện có lẽ chỉ có Tô Hoài mới đi kể với người khác. Vì là chuyện rất nhếch nhác, rất bẩn. Mà là chuyện của bản thân ông. Tôi nhớ hồi ở khách sạn Traphaco, Đà Nẵng, tự nhiên ông kể với tôi chuyện ấy. Chứ tôi có hỏi đâu, có biết đâu mà hỏi: “Hồi hoạt động Văn hoá cứu quốc ở Hà Nội, bị lộ, nó bắt bốn người: Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Hữu Đang, Như Phong và đưa về Nam Định xử. Vì Vũ Quốc Uy bị bắt ở Nam Định khai ra. Nguyễn Đình Thi, Như Phong, gia đình có tiền chạy án nên được tha. Tôi và Nguyễn Hữu Đang nhờ thế cũng được tha. Trước khi thả ra, nó giam chúng tôi ở nhà lao Nam Định, bốn thằng giam chung một phòng. Ngồi buồn tình, bốn thằng tụt quần ra thi cái ấy xem cái của thằng nào to. Của Thi dài đuỗn ra như quả chuối tiêu, được nhất, Nguyễn Hữu Đang nhì, nhưng Đang không chịu vì Đang cho của mình ngắn hơn nhưng to hơn. Tô Hoài và Như Phong bét."

Đấy, gặp Tô Hoài một hai buổi là biết đủ mọi thứ chuyện linh tinh như thế. Và nghe ông nói một chập, thấy con người ta, nói chung đều tầm thường cả thôi, đều là người thường vậy thôi. Mà cuộc đời không có ai là thần thánh thì cũng vui, thì càng vui chứ sao! Tôi chắc Tô Hoài nghĩ như thế. Vì khi kể những chuyện ấy, ông có vẻ lấy làm thú vị.Nhận xét văn của người khác, Tô Hoài cũng thường phát hiện rất tinh những nhược điểm. Thí dụ, văn Anh Đức là thứ văn cải lương, có lúc viết anh hùng là “hùng anh”. Nguyễn Khải xây dựng nhân vật theo lối ghi chép rất sáng tạo, nhưng văn Nguyễn Khải vậy mà chưa thoát được lối biền ngẫu. Nguyễn Đình Thi là anh sinh viên, rất xa đời sống, nên mắt không chọc thủng được tờ giấy để nhìn vào hiện thực. Thi tả cảnh chùa có cây bạch đàn. Xưa làm gì có bạch đàn ở chùa! Thơ Bùi Giáng, theo ông cũng là một thứ thơ Bút Tre. Thơ Hoàng Cầm thì là thứ vàng mã trang kim. Một thứ thơ trang sức hoa lá cành, sơn son, giát vàng, thực chất không có gì. Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức viết văn học sử, tuy có tài liệu đấy, nhưng không có hồn. Lưu Trọng Lư giờ hết thời rồi. Tài năng cũng chỉ có một thời thôi. Thơ Huy Cận và thơ Tố Hữu giờ chỉ còn là thơ thù tạc. Vậy mà Huy Cận cứ tuyên bố: “Chưa bao giờ tôi sáng tác dồi dào như bây giờ”...

Tô Hoài biết rõ cả lai lịch Bút Tre. Bút Tre tên thật là Đặng Văn Đăng, sáng tác trước cả Tô Hoài, ký tên Lục Y Lang, Chàng áo xanh, có bằng tú tài Tây. Bút Tre định lăng xê một kiểu thơ sử dụng rộng rãi enjambement, chứ không phải anh vô học làm thơ...

Tô Hoài đọc cả những cây bút trẻ. Ông cho bọn này có học. Viết được. Nhưng thiếu một cái gì đó. Thiếu chữ của riêng mình, thiếu phong cách. Hồ Anh Thái, viết mới đấy. Nhưng rắc rối, khó hiểu. Chưa thấy hay. Bọn trẻ nói chung rất kiêu ngạo. Nguyễn Huy Thiệp giỏi viết cái ác. Phạm Thị Hoài rất trí thức, đồng thời lại muốn dân dã...

Một điều lạ là Tô Hoài biết cả những chuyện đời tư, rất riêng tư, thậm chí cả những chuyện thầm kín của người ta một cách rất cụ thể. Biết có đầu có đuôi, có ngành có ngọn, nói ra vanh vách. Ông nói, do phụ trách đảng uỷ văn nghệ nên biết nhiều chuyện, nhất là qua những đợt kiểm tra đảng.
Một vài ví dụ: Ngân Giang từng lấy nhiều chồng, có nhiều con. Hồi kháng chiến ở vùng tự do dinh tê vào thành. Giải phóng Hà Nội là viên chức lưu dung. Vì thế có mặc cảm, nên hay khoe mình đã tham gia kháng chiến. Anh Thơ lấy một bác sĩ tên là Vịnh, người miền Nam tập kết, công tác ở bênh viện Việt Xô. Bà Trường và Nguyễn Đình Thi làm mối. Anh Thơ có thời gian vào Nam, làm tập thơ Quê chồng. Sau lại bỏ ra Hà Nội. Chồng theo ra và chết ở Hà Nội. Hồi kháng chiến Anh Thơ định lấy Tây địch vận. Hồi ấy có phong trào phụ nữ xung phong lấy hàng binh làm địch vận cho ta. Sau có người theo chồng sang Pháp, tự hào là đã tham gia công tác cách mạng, như diễn viên múa Thuý Cẩm... Lấy Tây cũng là hy sinh vì nước, như Chiêu quân cống Hồ trong truyện cổ...

Anh Thơ viết hồi ký bịa ra nhiều chuyện cụ thể như thật. Vì có mặc cảm mình xấu nên cứ bịa ra là mình ngày xưa rất đẹp, lắm người mê, như Nguyễn Bính chẳng hạn. Tô Hoài nói : “Bà ấy mà mê Nguyễn Bính, chưa chắc Bính đã xúc động gì. Bính nó có hàng trăm gái theo ấy chứ. Anh Thơ lúc trẻ cũng xấu, lợi hở như miếng thịt trâu. Tính thì đồng bóng. Sang Liên Xô với Nguyễn Văn Bổng, Thanh Tịnh, lại hỏi thăm Goocki, tưởng ông ấy còn sống. Anh Thơ mà đẹp thì chết với tôi rồi!”.

Nguyễn Bính xấu giai thế mà lắm vợ. Bính là con một ông có Hán học, phụ trách trạm ngựa. Nhà khá nhưng sa sút. Giống gia đình Nam Cao. Vì thế Trúc Đường là anh thì được học hành tử tế (như Nam Cao), còn Bính thì không được học mấy. Bính vào Nam, từ trước 1945. Năm 1954, không có tiêu chuẩn tập kết vẫn cứ ra Bắc. Trước khi ra Bắc có lấy một người vợ đẻ ra cô con gái nay phụ trách Sở Giáo dục Bến Tre. ở Hà Nội, Tố Hữu bầy ra tờ báo tư nhân Trăm hoa giao cho Bính. Bính làm trái ý Tố Hữu, bị phê phán, Bính bực mình bỏ đi Nam Định. Bính có hai vợ chính thức. Hiện cả hai đều làm bảo tàng lưu niệm Nguyễn Bính.

NTNT trước dạy học ở Sơn Tây, có mối tình đầu với Nguyễn Quang Sáng, Sáng giúp T viết văn. T có lần tặng Sáng một bó hoa bảo là vừa tự tay hái ở vườn về. Sáng xem hoa thấy không có cuống, cắm tăm, tức lắm, tìm T, tát cho một cái. T hay viết nhật ký, Chánh là chồng, bắt được, lộ hết chuyện bồ bịch. NTTH lắm lúc chất vấn mẹ: “Con là con ai? Con Nguyễn Quang Sáng, Thu Bồn, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Văn Bổn, Xuân Trình... hay ông Chánh?" H cũng đã có hai đời chồng.PTTN cũng có hai đời chồng. Sau yêu một bồ nhí, có cưới hẳn hoi, nhưng sau nó bỏ. Không có con. (Tôi hỏi Tô Hoài: “Dương Thu Hương bảo tôi, YN thì mê Nguyễn Đình Thi, còn PTTN thì mê Tô Hoài , có đúng thế không?” Tô Hoài nói: “Cô ấy xấu, tôi không thích”.

Bạch Diệp lấy Xuân Diệu. Vì cao tuổi mới lấy chồng nên thiết thực và cảnh giác. Đám cưới tổ chức to nhưng không đăng kí kết hôn. Xuân Diệu chắc do thủ dâm nhiều nên bất lực. Như gà nhẩy lên là tuột ngay. Bạch Diệp bỏ luôn, sau có lấy chồng khác nhưng không có con.

Nguyễn Đình Thi lấy vợ sớm, có ba con, hai trai, một gái: Lễ, Chính, Như. Thi ở gửi rể. Vợ chết, gia đình vợ định gả cô em tên là Nghĩa cho. Nhưng cô này bị sốt ác tính chết. Hoà bình lập lại, Thi cần có vợ, định nhằm con gái cụ Ngô Tất Tố hay cô Hồng con Nam Cao. Sau người ta làm mối lấy bà Trường, nhưng không có con. Thi nam tính mạnh, người đen, nói chuyện có duyên, đàn bà thích. Nhưng Thi là tay bạc tình, ngủ với cô này đã nghĩ đến cô khác. Gia đình Nguyễn Đình Thi như cái địa ngục. Thi hay bồ bịch, còn bà Trường thì ghen ghê gớm. Gia đình cụ Ngô Tất Tố cũng thế, cụ sống với hai bà vợ suốt ngày xung đột...

Chế Lan Viên trước cách mạng, có thời gian dạy học ở Đà Nẵng. Có một nữ sinh tên là Giáo rất mê. Giáo nhà giầu, gia đình không cho lấy Chế Lan Viên. Cô cứ đến ở với Chế Lan Viên, mãi đến cách mạng tháng Tám mới cưới.

Hoà bình lập lại ở miền Bắc, hai vợ chồng sống ở Hà Nội. Chế Lan Viên ốm, phải sang chữa ở Trung Quốc. Giáo ngoại tình với một tay làm mi báo tên là Quang. Chế Lan Viên chữa bệnh về, biết chuyện nhưng định bỏ qua. Hai vợ chồng đêm nằm đắp chung chăn, nói chuyện. Giáo nói: "Cái đầu của em thì thuộc về anh, nhưng thân mình em thì thuộc về Quang". Vậy là họ không trở lại với nhau được. Sau Chế Lan Viên lấy Vũ Thị Thường, cán bộ phụ nữ, quê Thái Bình, đã quá lứa lỡ thì. Thường xui Chế vào Sài Gòn ở, một là Thường có bà con di cư ở trong ấy, hai là vì vợ cũ của Chế hay đến bám quấy nhiễu, xin tiền...


Đúng là chẳng có chuyện gì dấu ông được. Ông biết cả chuyện Lưu Trọng Lư túng tiền, ăn cắp xe đạp của Chế Lan Viên bán; Học Phi thì hủ hoá nhiều quá, biết tội nên xin đi B. Còn Trần Huyền Trân thì sở dĩ bị khai trừ, vì lấy vợ nghệ sĩ, hai vợ chồng cứ dắt nhau đi lang thang biểu diễn, không sinh hoạt Đảng.

Lê Văn Trương thuộc thế hệ đàn anh của ông, nhưng ông có đến nhà. Ông rất sợ, vì trên bàn Lê Văn Trương có bầy hai cái đầu lâu. Lê Văn Trương, Đinh Hùng thích chơi đầu lâu. Lê Văn Trương tiêu xài rất hoang vì viết khoẻ, có tiền. Ông quen cả hai tay nhà văn tên là Hiến và Hồng viết thuê cho Lê Văn Trương vì túng tiền. Tô Hoài không thích văn Lê Văn Trương nhưng thích nhân vật người hùng của Lê Văn Trương. Triết lý sức mạnh của Lê Văn Trương là do Trương đọc bản dịch Nietzsche của Phạm Ngọc Khuê. Khuê và Trương Tửu là trốtkit...Về vụ Nhân văn – Giai phẩm, thế mà không phải ai cũng biết rõ. Tô Hoài thì nắm được từ gốc đến ngọn. Theo Tô Hoài, đó thực chất là một vụ án chính trị, nhưng vì quàng vào một số nhà văn nên người ta cứ tưởng là một vụ án văn chương. Nhân sai lầm của cải cách ruộng đất và ta chuẩn bị cải tạo tư sản ở Hà Nội, hai thằng Tây, một là Tổng giám mục ở nhà thờ Hà Nội tên là Dudley, hai là tay tuỳ viên văn hoá của Sứ quán Pháp tên là Durand Fischer, bèn xúi giục mấy ông đảng xã hội: Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục, Vũ Đình Hoè đòi ngang quyền với đảng Lao động. Fischer có liên hệ với Nguyễn Hữu Đang, Thuỵ An, Minh Đức (Trần Thiếu Bảo). Lúc này tư nhân ra báo không phải xin phép (hồi ấy ta vẫn còn theo chế độ của Pháp). Ta bắt ba người có dính đến Pháp là Đang, An và Bảo. Còn hai thằng Tây thì ra lệnh trục xuất khỏi Việt Nam sau một tuần lễ. Còn Hoàng Văn Đức, Đỗ Đức Dục, Vũ Đình Hoè thì lặng lẽ cho thôi thứ trưởng. Chuyện có thế thôi, có thể tổng kết rõ ràng, nhưng chẳng có ai làm cả. Bây giờ sửa sai thì cứ lặng lẽ kết nạp lại vào Hội nhà văn và tặng giải thưởng Nhà nước cho mấy ông Lê Đạt, Trần Dần, Hoàng Cầm... Cho nên vụ án vẫn mù mờ chưa mấy người hiểu rõ.

Tổng chỉ huy chống nhân văn là Hoàng Văn Hoan. Tố Hữu chỉ là người thừa hành.

Ta có một trại giam tù chính trị ở Quảng Bạ (Hà Giang). Có người bị giam suốt đời ở đó như Chu Bá Phượng. Còn Nguyễn Hữu Đang thì bị giam 15 năm. Khi ra tù, phụ cấp cho 40 đồng một tháng. Đang khi ra tù không hề biết có cuộc chiến tranh chống Mỹ và sự kiện giải phóng miền Nam 30.4.1975.Đúng là Tô Hoài cái gì cũng biết. Mà toàn thiên về phía mặt trái của cuộc đời, mặt trái của người đời. Những hiểu biết tỉ mỉ, thóc mách như thế, ông cứ nhẩn nha, đều đều kể lại với tôi. Có lẽ vì ông thấy tôi khoái những chuyện ấy và ông cũng thích kể những chuyện ấy.

Vậy là đã rõ. Tôi bèn viết bài Tô Hoài với quan niệm con người là con người. Tôi cho rằng tư tưởng chi phối mọi tác phẩm của Tô Hoài là thế. Nghĩa là trên đời này chẳng có ai là thần thánh gì hết. Cho nên Tô Hoài có cảm hứng đặc biệt viết về đời thường, người thường, chuyện thường. Cứ đều đều một giọng sành sỏi lọc lõi, cố che dấu một nụ cười tinh quái, có phần khinh bạc. Tô Hoài có lúc còn chủ trương viết những chuyện chẳng cần có chuyện, càng nhạt càng hay – có lần ông nói với tôi như vậy và tự thấy là một thuyết kì quặc của mình.

Nhưng ông từng nghĩ như thế. Mỹ học của Tô Hoài là như vậy chăng?
Tất nhiên trong thời chiến tranh, ông không thể không phải khuôn theo xu hướng chung của nền văn học cả nước, nghĩa là phục vụ chính trị, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng. Nhưng ngay thời ấy, đôi khi ông cũng cho xen vào ít nhiều khía cạnh “người thường” ở những nhân vật anh hùng. Như nữ cán bộ cách mạng Hai Tâm đa dâm, lẳng lơ trong tiểu thuyết Mười năm chẳng hạn. Tác phẩm này vì thế đã từng bị phê phán kịch liệt. Thậm chí dân Hà Đông còn kéo đến phản đối tác giả, cho là ông đã bôi nhọ người quê mình.

Còn những tác phẩm như Truyện Tây Bắc, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Kim Đồng, Vừ A Dính, Miền Tây thì đúng là chuyện anh hùng. Nhưng ông tự đánh giá chỉ có những trang tả cảnh miền núi là đáng kể, ngoài ra không có gì đặc sắc. Cảnh chiến đấu viết không bằng cảnh phong tục.

Nhưng truyện Tô Hoài viết sau 1975, nhất là sau 1986, mới thực sự là Tô Hoài: Chiều chiều, Cát bụi chân ai, Ba người khác, Giấc mơ ông thợ dìu... Chuyện đời thường, người thường nổi trội hẳn lên. Nhưng thường mà vẫn lạ mới là văn Tô Hoài. Phát hiện những cái lạ trong những chuyện vặt vãnh đời thường chính là chỗ sắc sảo, lọc lõi, tinh quái của ông. Vì thế tôi gọi Tô Hoài là “Nhà văn của chuyện lạ đời thường”.

Nhớ hồi ông làm nhóm trưởng nhóm nghiên cứu một đề tài khoa học (đề tài “Văn hoá và phát triển”), có Hoàng Ngọc Hiến, Vương Trí Nhàn, Ngọc Trai tham gia. Hoàng Ngọc Hiến kể rằng, ông đưa Ngọc Trai vào chẳng qua là để tổ chức những bữa liên hoan cho tốt, vì Ngọc Trai người Huế, nấu ăn rất giỏi.

Mỗi lần họp nhóm, Hiến để ý thấy ông tỏ ra khó chịu khi anh đến đúng giờ. Rút kinh nghiệm, lần sau anh đến muộn, quả nhiên thấy ông tươi vui hẳn lên. Đúng ông rất ghét quan trọng hoá. Đến đúng giờ tức là quan trọng hoá. Chắc hẳn, ông nghĩ, làm khoa học ở cái nước này là chỉ làm chơi, cốt tiêu tiền nhà nước cho vui thôi mà. Có gì quan trọng đâu!

Đối với chuyện viết văn, Tô Hoài cũng không hề quan trọng hoá: Viết văn khó, nói thế thì đúng, nhưng nói là một nghề đặc biệt khác thường thì không phải. Cũng như các nghề khác thôi, như làm ruộng, làm mộc, làm rèn hay chài lưới vậy thôi. Ông không tán thành tác phong tài tử, viết phải đợi có cảm hứng. Tại sao không làm như các nghề bình thường khác vẫn làm! Không hứng cũng cứ viết. Còn viết hỏng, bỏ đi, lại là chuyện khác. Mà nghề văn đâu phải là nghề khổ nhất. Nguyễn Vỹ làm thơ: “Nhà văn An Nam khổ như chó”. Nguyễn Vỹ có bằng tú tài, hắn có khổ gì lắm đâu! Nhiều nghề khác khổ hơn chứ!Nhưng đã là nghề thì phải học nghề. Nhiều anh viết chưa có nghề. Phải chuyên môn hoá, thành nghề hẳn hoi. Đừng viết nhiều thể văn khác nhau. Làm chơi thì được, như thỉnh thoảng ông có làm thơ. Nhưng làm thật thì không nên.

Về mặt học thì Tô Hoài rất chịu khó. Cái học nhà trường của ông không nhiều, nên ông phải gắng tự học. Ông học tiếng Pháp Nam Cao. Ông có bà dì tên là Phượng dạy trường Tiểu học tư thục Công Thành ở dốc Tam Đa. Nam Cao cũng dạy ở đấy. Bà Phượng (nguyên mẫu của nhân vật Oanh trong Sống mòn) giới thiệu Nam Cao dạy tiếng Pháp cho Tô Hoài. Lúc ấy trò đã có tên tuổi rồi, mà thày thì chưa.

Hồi Pháp thuộc, đọc thư viện lớn ở Tràng Thi, phải có bằng thành chung (diplôme). Tô Hoài chỉ mới học hết cấp tiểu học. Ông đến Vũ Ngọc Phan nhờ giới thiệu với thư viện Hà Nội để đọc sách. Vũ Ngọc Phan có một biệt thự ở Thái Hà ấp. Phan nói cứ đến đọc sách ở thư viện riêng của ông, ông hướng dẫn cho. Tô Hoài thành ra rất thân với gia đình Vũ Ngọc Phan, nhiều khi cùng ăn cơm với gia đình. Nhà Vũ Ngọc Phan cũng gần nhà cụ Lê Dư -Sở Cuồng là bố vợ của Phan. Mấy chị em Hằng Phương, Hằng Huân, Hằng Phấn... con cụ Lê Dư đều rất đẹp. Các cô ngồi xe nhà đi học, bao nhiêu thằng bám theo. Bọn Đinh Hùng ghen với Tô Hoài về cái số may mắn của ông. Nhưng lúc bấy giờ Tô Hoài chỉ là một chàng trai nhà quê, mặc áo dài thâm, đi guốc, ăn thua gì!

Ở nhà Vũ Ngọc Phan, Tô Hoài đọc được nhiều tiểu thuyết Pháp. Ông cũng chịu khó đọc tác phẩm của các nhà văn khác, đọc cả sách lý luận phê bình, sách văn học sử, đọc từ Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh đến Phong Lê, Trần Hữu Tá, đọc cả Văn Giá... Đọc và có nhận xét hẳn hoi.

Đến thời kháng chiến, lên Tây Bắc, để hiểu người Hmông, ông học tiếng H’mông. Một lần đi cùng vợ chồng A Phủ từ Phù Yên lên Điện Biên, ông vừa đi vừa học tiếng H’mông. Ông còn đọc nhiều sách nghiên cứu về các dân tộc Hmông, Mán, sách về tục ngữ Mường... Nguyễn Tuân cũng đi Tây Bắc, nhưng theo Tô Hoài, chủ yếu là đi xem vườn hoa cây cảnh, còn ông mới đi sâu nghiên cứu các dân tộc, tuy bên cạnh đó cũng có thú giang hồ, xê dịch, thú exotique chẳng kém gì Nguyễn Tuân.

Ông đặc biệt rất chú ý học chữ. Ông chê nhiều người viết văn bây giờ thiếu chữ và dùng chữ rất ẩu. Nhiều chữ họ không hiểu. Làm văn thì phải học chữ. Có cách học và chịu khó thì lúc nào cũng học được. Ngôn ngữ Việt Nam rất phong phú về những từ tế nhị như những từ chung quanh chuyện ăn, uống, chết... Ông cho nên biên soạn một cuốn từ điển về từ ngữ các nghề nghiệp. Ông thấy tiếng Việt ta có chữ “ăn nằm” rất hay, tránh nói thô. Ông phân biệt “mồm” với “miệng”. Nói “miệng’ sang hơn nói “mồm”. Cờ nhà chùa thì phải gọi là cờ “điều” chứ không phải là cờ đỏ, sơn đen thì phải gọi là sơn “then”, quần đen thì phải gọi quần “thâm”... Ông khoe học được một từ nghề nghiệp mới: “ thầy dìu”. Thầy dìu là thầy dạy khiêu vũ, dìu dắt (entrainer) người tập khiêu vũ. Theo ông “tai vách mạch rừng” vốn là “tai vách mạch dứng”. Còn “run như cầy sấy”, Xuân Diệu cho đúng ra phải là “run như cây sậy” . Nhưng Tô Hoài cho thế là Tây nói chứ không phải ta nói...

Chú thích: Có một chuyện rất vui là, vào những năm 60 của thế kỉ trước, Phạm Văn Đồng có đề xướng một cuộc vận động gọi là “Gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt”. Ông triệu tập một số nhà văn, nhà ngôn ngữ đến trao đổi về vấn đề này. Tô Hoài không được mời vì bị coi làviết sai tiếng Việt, sai ngữ pháp, nghĩa là vi phạm vào sự trong sáng của tiếng Việt (!). Chính Tô Hoài nói cho tôi biêt chuyện này)

Tô Hoài chủ trương chỉ viết về cái gì đích thân mình có sống, có quan sát được, viết bằng thực tế và tình cảm của mình, không thích viết những cái chỉ nghe người khác kẻ lại. Một đầu óc rất tỉnh táo, chỉ tin ở sự thể nghiệm của bản thân mình. Ông đi cải cách ruộng đất bốn lượt, từng làm đội phó phụ trách toà án. Vậy mà ông kết luận trái hẳn với đường lối giai cấp của Đảng ở nông thôn: “Cơ sở cách mạng trước 1945 phải là trung nông trở lên, chứ dựa vào bần cố nông, nó đói, nó “bán” cách mạng ngay”.Viết văn, Tô Hoài không băn khoăn về chuyện thể loại, chỉ cốt nói được rõ ràng ý định của mình. Nhưng tôi thấy dù viết tiểu thuyết, truyện ngắn hay ký, dù viết về đề tài gì, tác phẩm của ông cũng có tính chất hồi ký, tự truyện – Hình như ông có một thói quen có thể gọi là tư duy – hồi cố hay cảm hứng hồi tưởng.

Tô Hoài nói, ông tán thành quan niệm của A. Maurois rằng sự thật của quá khứ khi hồi tưởng lại không tách biệt với cái hiện tại – quá khứ, hiện tại lẫn vào nhau như là đồng hiện vậy. Tôi đọc bài ký Ông già ở Agra, thấy đúng như thế. Tôi rất thích tác phẩm này của ông. (André Maurois đề tựa cuốn Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, có câu: “Sự cặp đôi cảm giác hiện tại với kỉ niệm sống lại đối với thời gian, cùng chính là kính hội tụ đối với không gian”).

Tô Hoài cho viết truyện thì phải lấy nhân vật làm gốc. Chữa văn là chữa nhân vật. Thừa hay thiếu cũng là từ nhân vật. Ông tán thành kinh nghiệm của Fadéev: “Viết một câu, rồi câu thứ hai, câu thứ ba cùng đều đều như câu đầu tiên tức là tuột dần vào một thứ tẻ nhạt khó chịu. Phải tránh đặt câu giống nhau, phải làm sao cho câu văn nổi bắp, nổi gân lên. Phải viết sao cho người ta đọc văn mình, đọc đi đọc lại, vẫn thấy hay. Có truyện đọc lần đầu thấy hay. Đọc lại không thấy hay nữa. Văn phải đọc đi đọc lại, phải thử đi thử lại mới đáng tin.”

Tô Hoài đi nhiều, xê dịch còn hơn cả Nguyễn Tuân. Trước cách mạng tháng Tám, ông đã đi khắp Bắc Trung Nam. Vừa đi vừa viết. Bài gửi về cho nhà Tân Dân, và nhận nhuận bút qua bưu điện. Ông cho biết, truyện Trăng thề viết ở Dầu Tiếng...

Nhưng ông cho rằng, mỗi người có một quê hương. Đi khắp nơi để lại càng hiểu sâu hơn quê hương mình. Vậy là thực tế tự nhiên và những vui buồn của quê hương ông vẫn là nguồn chất liệu chính đã bồi đắp nên tâm hồn các nhân vật của ông và những trang viết của ông. Ông vẫn là nhà văn của Nghĩa Đô, của sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức - Ông là Tô Hoài.

Tô Hoài còn có một trí nhớ tuyệt vời. Ông lên Đà Lạt viết Chiều chiều, không đem theo một tài liệu nào hết. Viết xong về nhà mới kiểm tra lại tư liệu.

Ông không thích trực tiếp nói tình cảm của mình, muốn nói tình cảm qua những cái mình mô tả. Có người xui ông viết tiếp Dế mèn phiêu lưu ký. Ông nói, tôi không viết. Tôi không dại như Lưu Trọng Lư, viết Tiếng thu II, Tiếng thu III, chẳng ra gì cả. Đúng là Tô Hoài rất tỉnh. Nhìn người khác hay nhìn mình đều rất tỉnh. Tỉnh đối với mình, không dễ đâu!

***

Tô Hoài quê ở làng Cát Động, huyện Thanh Oai. Nhưng sinh ở Nghĩa Đô. Mãi đến năm 20 tuổi mới về quê nội. Mà cũng chỉ thỉnh thoảng thôi. Ông thân sinh bỏ đi Sài Gòn biền biệt từ khi ông còn nhỏ. Nhà có khung cửi. Ông cũng biết dệt. Nghĩa Đô có nghề dệt lĩnh, dệt lụa và làm giấy.
Ông lớn lên trong cảnh tàn tạ của làng quê. Nghề dệt, nghề giấy đều lụi dần. Năm đói (1945) người chết la liệt. Nội thành được phát bông gạo. Nghĩa Đô thuộc ngoại thành nên tuy chỉ cách có một con đường mà cả làng chết đói – người ta chỉ phát bông gạo tới Thuỵ Khuê thôi.

Đấy, quê hương, nơi đi về của kí ức ông là như thế. Cho nên truyện củaTô Hoài nói chung là buồn. Chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện làng xóm đều buồn. Toàn kí ức buồn. Mà kí ức tuổi thơ bao giờ cũng sâu đậm và lâu bền nhất.

Bản thân ít được học. Lang thang lêu lổng, bắt chim, đúc dế... Lớn lên, có thời gian làm anh bán hàng cho hiệu giầy Ba ta, mỗi tháng đâu được dăm, sáu đồng. May mà có nghề làm văn, làm báo là cái nghề không cần vốn liếng gì, cũng chẳng cần bằng cấp để bám vào.

Nhưng cũng như Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân..., Tô Hoài thuộc loại nhà văn lăn lộn với đời. Có thể nói là “rất bụi”, khác hẳn với cánh viết văn, làm báo sang trọng như Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Lương Ngọc hay có trí thức như Nguyễn Tuân, Đoàn Phú Tứ, Thạch Lam, Hoài Thanh... hoặc ăn lương viên chức, lương giáo học như Nguyễn Công Hoan, Bùi Hiển... Thời trước, loại làm văn làm báo như thế, xã hội viên chức nền nếp, sạch sẽ rất khinh bỉ, cho là loại vô học, vô nghề nghiệp... Nhưng cuộc sống như thế lại là cái vốn liếng độc đáo của họ mà các cây bút kia không có.

Tô Hoài là nhà văn của đời thường, người thường, chuyện thường, và ông cũng thích sống như một người thường. Mình là gì mà cao đạo! Mà cần gì phải cao đạo! Cho nên đời cho hưởng cái gì, hưởng cái đó, không chê - chắc ông nghĩ thế!Về mặt này, ông cũng chẳng dấu tôi điều gì. Và tôi cũng tranh thủ hỏi ông một cách thoải mái:

- Gái H’mông thế nào?
- Anh đã biết mùi đầm bao giờ chưa?
- Hồi cải cách ruộng đất, cán bộ hủ hoá thoải mái. Anh thì sao?
- Nguyễn Khải cho tôi biết, anh có chuyện với L.M. Có đúng không?

Tô Hoài trả lời cũng rất thoải mái:

- Gái H’mông nguy hiểm lắm! Nó ngủ với cán bộ, hôm sau đi khoe cả làng, cả bản. Nhiều anh bị kỷ luật, có anh bị xử bắn vì chuyện ấy.
- Tây đầm nó quần nhau, đùa nhau rất mệt. Ta không chịu nổi. Lính tập, bồi bếp ở bên Tây, dính với đầm, sợ lắm!
- Tôi có lần sang Rumani, có một cô phục vụ đòi hỏi ghê quá. Mình phải xin giấy chứng nhận huyết áp cao mới thoát được.
- Hồi cải cách ruộng đất ấy à: có! có!
- Chuyện ấy sao Nguyễn Khải nó biết được nhỉ? Tay N.D chồng L. M có lần mắng vợ: “Đi mà ở với thằng Tô Hoài !”

Tô Hoài rất thích bia rượu. Thỉnh thoảng tôi tìm đến ông, ông hay rủ uống bia. Ông yếu bụng nên cũng hay uống rượu mạnh. Ly rượu mạnh ông chỉ làm một hơi.

Tô Hoài nay đã cao tuổi. Sức khoẻ xem chừng ngày càng xuống. Tiểu đường thời kì thứ hai. Huyết áp không ổn định. Lại bị gút.

Ông là một pho từ điển sống về giới nhà văn, về đời sống muôn mặt, về kinh nghiệm viết văn. Ông là một kho chữ nghĩa... Người như thế bây giờ là của hiếm lắm đấy!

Một trong những may mắn của đời tôi là được tra cứu vào cuốn từ điển Tô Hoài. Không biết đến bao giờ mới khai thác hết được. Mà ông thì tuổi đã cao, tôi cũng tuổi đã cao.

Láng Hạ. 9.6.2007.

Người viết: Nhà phê bình văn học GS Nguyễn Đăng Mạnh.
(Xem http://www.3tsite.net/forum/index.php?topic=1307.msg9410)
Hồi ký Nguyễn Ðăng Mạnh: Sự thực và huyền thoại

Năm vừa qua có một sự kiện khá nổi bật làm xôn xao dư luận ở trong nước lẫn hải ngoại. Nhà giáo nhân dân, đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ðăng Mạnh đã đưa lên mạng thiên hồi ký của mình. Hồi ký này hơn 300 trang gồm 26 chương đã gây ra nhiều phản hồi khá đặc biệt. Nếu tìm những điều động trời, những đồn đoán kiểu thâm cung bí sử thì trong thiên hồi ký này rất nhiều, thậm chí đả động đến các lãnh tụ và những nhà văn nổi tiếng.

Trong cách ghi chép của ông, từ người và sự việc, dù trải qua một thời gian dài, nhưng những điều kể của ông với những chi tiết coi như là những khám phá làm người đọc thích thú. Nguyễn Ðăng Mạnh có lần đã phát biểu:

“Tôi là người hoạt động trong lãnh vực văn hóa nghệ thuật và tôi đã từng chứng kiến nhiều cuộc tranh luận tư tưởng trong văn học suốt trong mấy chục năm... Tôi cũng trực tiếp xúc với hàng loạt nhà văn, vì thế cũng biết nhiều chuyện. Những tư liệu ấy có thể phản ánh được nhiều phương diện của nền văn học Việt Nam hiện đại.”

Trước hồi ký Nguyễn Ðăng Mạnh cũng đã có những hồi ký đầy dẫy những điều muốn nói từ lâu rồi mà đến nay mới có dịp nói ra. Thí dụ như hồi ký Hoàng Hữu Yên, hồi ký Nguyễn Huy Tưởng, hay bút ký chính trị Nguyễn Khải,... Hình như ở cuối đời, các văn nghệ sĩ có những giây phút nhìn lại cuộc đời mình và tìm kiếm được những phần thua hay những phần thắng trong cuộc nhân sinh ấy.

Phần đông, hình như có sự phản tỉnh nào đó khi họ phải đi trên lề phải của con đường văn nghệ phục vụ chính trị. Cái cảm giác ấy càng rõ ở những ông quan văn nghệ: Chế Lan Viên với Di Cảo Thơ mà nhà thơ Nguyễn Duy đã cho đó là một quả “lừa” to lớn của văn học. Hay như bài phỏng vấn Tố Hữu của Nhật Hoa Khanh đã nói ngược lại tất cả những điều mà ông quan văn nghệ này làm trước kia.

Có người đã cho rằng có lệnh của Tuyên Giáo Trung Ương là ai muốn viết hồi ký phải xin phép trước nếu được duyệt xong mới được viết. Không hiểu điều ấy có xác thực không? Nhưng nếu có sự việc ấy thì kể ra cũng quá khe khắt và cái niền kim cô xiết lên đầu văn nghệ sĩ quá nặng nề.

Hồi ký Nguyễn Ðăng Mạnh không phải là một cuốn sách in, nó chỉ được “post” lên internet để phổ biến. Quả thực nó đã gây ra rất nhiều dư luận và phản ứng của những người được ông đề cập đến. Nhất là ông đã động chạm đến hình tượng thần thánh của chế độ là Hồ Chí Minh. Bởi vậy đã có người quy chụp ông là phản động, thân ở bên Ðảng mà hồn thì theo địch.

Những người như Trần Ðình Sư là giáo sư đồng nghiệp với ông Nguyễn Ðăng Mạnh phát biểu: “Tôi thấy nó cũng gây ra một số dư luận, có người tán thành, một số khen, một số chê, nhận định phân tán. Tôi nghĩ phải có một thời gian để sự việc lắng xuống, mọi người mới có nhận thức chính thức.” Mai Quốc Liên, người bị phê phán nặng nề trong hồi ký thì phát biểu: “Tôi với ông Mạnh không có cái gì ác cảm với nhau lắm. Thông tin của ông Mạnh nói chung là nghe ngóng hóng hớt nguy hiểm. Khía cạnh luật pháp có vấn đề không bảo đảm... Ông Mạnh kể chuyện có duyên, hóm, kể vui cũng có cái chính xác không phải là sai hết...”

Trần Ngọc Vương cũng giáo sư đại học phát biểu: “Tôi có đọc. Chẳng có gì ghê gớm. Một số chuyện gọi là đụng chạm thì ở một số các cuốn sách khác người ta đã đụng chạm hết rồi. Còn những chỗ tương đối mới mà gây sốc cho một số người thì lại toàn là chuyện đánh giá con người, đánh giá cá nhân thôi...

... Cũng chẳng hại gì nhiều. Vì theo nghĩa chính thống thì cái gì cần được thì ông cũng được hết cả rồi. Ông là giáo sư, nhà giáo nhân dân được giải thưởng khoa học công nghệ nhà nước...”

Hồi ký Nguyễn Ðăng Mạnh ghi chép lại suốt cuộc đời ông từ hoàn cảnh gia đình, thời thơ ấu, vào trường học, ra trường, đi làm. Từ dạy học đến công việc nghiên cứu và phê bình văn học. Ông kể lại những diễn biến của ông khi làm việc trong đoàn cải cách ruộng đất. Ông lược lại bước khởi đầu của phong trào đổi mới và những bước thăng trầm của nó với đầy dẫy các cuộc tố khổ, đánh đấm, qui kết, chụp mũ có liên quan đến nhiều việc nhiều người.

Phần quan trọng nhất là có nhiều nhận định, nhiều khám pha,Ô nhất là phần tư liệu riêng về một số nhà văn hiện đại trong đó kể cả Hồ Chí Minh. Ông phác họa những chân dung văn học mà ông cho rằng phản ánh khá chính xác con người thật: Tố Hữu, Xuân Diệu, Hoàng Cầm, Hoài Thanh, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Thanh Tịnh, Nguyễn Ðình Thi, Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Hoàng Ngọc Hiến, Dương Thu Hương, Lưu Công Nhân, Hữu Thỉnh, Nguyễn Huy Thiệp, Trần Ðăng Khoa.

Những tư liệu về phác thảo những chân dung văn học của ông đặt căn bản trên những điều tai nghe mắt thấy và có nhiều chi tiết khá giật gân tuy trước đó có người đã đề cập đến.

Có một nguồn dư luận cho rằng viết hồi ký như thế không có gì lạ nhưng một người như Nguyễn Ðăng Mạnh mà viết như thế thì quả thực là đặc biệt. Là đảng viên Cộng Sản lâu năm, là nhà giáo nhân dân được tuyên dương nhiều lần, là nhà phê bình văn học đoạt giải hai lần trên cấp độ quốc gia, là người đã soạn thảo chương trình văn cho các lớp bậc phổ thông, thế mà ông lại viết hồi ký đầy đụng chạm và phê phán chế độ thì quả thực đáng cho mọi người kinh ngạc. Có người đã tự đặt câu hỏi tại sao như thế? Vì phản tỉnh, hay vì viết để bộc bạch một thái độ của kẻ sĩ Bắc Hà? Nhưng xem ra trong phong cách của ông vẫn là sự nửa vời. Có lúc ông vẫn tin tưởng vào chế độ và muốn làm sạch làm đẹp nó. Nhưng có lúc ông lại muốn thay thế toàn bộ đường lối chính sách để có tự do và dân chủ, một sự đổi mới toàn diện.

Mở đầu, Nguyễn Ðăng Mạnh viết về mục đích của mình khi viết hồi ký:

“Viết hồi ky để làm gì nhỉ? Viết hồi ký thì có ích gì cho mình và cho người khác? Hình như tô bầy một sự thực của đời mình cũng là một khoái thú riêng của con người ta. Khoái thú được giải tỏa. Có ai đó nói rằng mọi khoái cảm trên đời đều là sự trút ra khỏi thân mình (decharger) một cái gì đó. Với mình thì thế. Nhưng còn với người. Người ta thích đọc hồi ký của các danh nhân, của những nhà hoạt động tầm cỡ quốc gia, quốc tế hay những nhà văn hóa lớn... Biết được bí mật của cuộc đời danh nhân là biết được những thông tin có ý nghĩa quốc gia đại sự, biết được kinh nghiệm của nền văn hóa một dân tộc. Vậy tôi viết hồi ký với tư cách gì? Chỉ để cho mình được giải tỏa cũng được chứ sao? Ngoài ra liệu còn có ích cho ai nữa không? Tôi không tin lắm. Cũng có thể có tác dụng trong một phạm vi hẹp trước hết đối với những người thân, ngoài ra là những ai coi cuộc đời riêng của tôi cũng có một cái gì đáng tò mò và sự nghiệp viết lách của tôi không đến nỗi hoàn toàn vô giá trị. Nghĩa là cũng muốn tìm hiểu cũng muốn giải thích.

Ngoài ra tôi tuy không phải nhân vật lịch sử nhưng sự tình cờ đã đưa đẩy tôi được chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng như Cách Mạng Tháng Tám hay cải cách ruộng đất và biết được một ít chuyện riêng của một số danh nhân như Hồ Chí Minh, Tố Hữu, và nhiều nhà văn hóa lớn như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Tô Hoài, Nguyên Hồng... Tất nhiên những sự kiện này và những nhân vật kia người ta đã nói nhiều, viết nhiều rồi theo cách nhìn quan phương chính thống, ở đây tôi chỉ nói những hiểu biết trực tiếp của riêng tôi với cách nhìn rất chủ quan của tôi. Nhưng chính vì thế mà, biết đâu đấy, lại có thể đem đến những thông tin riêng, những ý vị riêng...”

Viết về Hồ Chí Minh, Nguyễn Ðăng Mạnh có những đoạn mà các quan tuyên huấn cho rằng động chạm đến thần tượng của cuộc cách mạng Việt Nam.

Như: “Có một bữa đến giờ an tối mà chờ mãi không thấy ông Hồ ra. Diệp Minh Châu ngồi đợi. Cuối cùng ông ra nhưng lại châm điếu thuốc hút nghĩa là chưa ăn ngay. Thấy Châu ngồi đợi, ông bảo ‘Chú cứ ăn đi’ Tất nhiên Châu không dám. Vẫn đợi. Một lát sau ông Hồ nói thủng thẳng với họa sỹ ‘Về sau chú làm nghề gì thì làm nhé, đừng làm chủ tịch nước, khổ lắm!’”

Diệp Minh Châu không bàn luận gì. Tôi cho rằng Hồ Chí Minh vừa qua một cuộc họp trung ương, chắc có điều gì không thuyết phục được các đồng chí của mình. Người ta đang sùng bái Stalin, Mao Trạch Ðông, không chịu nghe Hồ Chí Minh, chắc thế (Stalin không coi Hồ Chí Minh là Cộng Sản chân chính. Ông Phạm Văn Ðồng có lần nói với anh Hoàng Tuệ (khi hai người cùng công tác ở Liên Xô) năm 1950, Stalin triệu Hồ Chí Minh sang gặp. Ông ta không gọi Hồ Chí Minh là đồng chí (tavarich). Ở rừng Việt Bắc vào những đêm trăng đẹp, ông Hồ thường rủ Diệp Minh Châu ra suối câu cá. Vừa câu vừa trò chuyện. Có lần ông nói về Nhật Ký Trong Tù: “Hồi ấy bị giam trong tù buồn quá, phải nghĩ ra cách để giải trí. Có ba cách. Một là nằm ngửa đếm ngói trên mái nhà, đếm hết lại phân biệt ngói lành, ngói vỡ. Hai là săn rệp ở những khe ván xà lim. Ba là làm thơ”. Thì ra với ông Hồ làm thơ cũng chỉ là một trò giải trí như đếm ngói và săn rệp vậy thôi. Thảo nào có ai hỏi ông về Nhật Ký Trong Tù như một tập thơ ông đều từ chối không trả lời vì coi đó chẳng phải thi phú gì và bản thân ông cũng không phải là một nhà thơ. Chẳng qua ở tù, buồn quá không biết làm gì thì ghép vần chơi thế thôi (Trong “Vừa đi vừa kể chuyện” ông đã nói như thế)...

Năm ấy tôi phụ trách một đoàn sinh viên Ðại Học Sư Phạm Vinh ra thực tập ở trường Lam Sơn, Thanh Hóa, sơ tán ở ngoại ô thị xã. Tôi đưa mấy sinh viên Văn ra gặp Nguyễn Thị Hằng ở nhà riêng. Hằng là một cô gái quê mà rất trắng trẻo cao ráo. Cô cho xem bức hình chụp mặc quân phục trông rất đẹp đẽ oai phong. Cô khoe vừa được ra Hà Nội gặp bác Hồ. Lần đầu tiên ra Hà Nội đâu cũng có một anh cảnh vệ hay công an đưa đi. Hành trình qua rất nhiều chặng. Ðến mỗi chặng anh dẫn đường lại bảo cô chờ ở đây sẽ có người đưa đi tiếp. Chặng cuối cùng anh dẫn đường nói cô ngồi đây bác xuống bây giờ. Một lát ông Hồ tới. Ông không vội hỏi han gì về thành tích chiến đấu của Hằng. Câu đầu tiên của vị Chủ Tịch nước là ‘Cháu có buồn đi tiểu, bác chỉ chỗ cho mà đi.’”

Một đoạn khác:

“Chung quanh Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn không biết đến bao giờ mới được làm sáng tỏ.

Chẳng hạn chuyện vợ con thế nào? Trung Quốc đã công bố Hồ Chí Minh kết hôn với Tăng Tuyết Minh. Rồi chuyện cô Hà Thị Xuân người dân tộc Tày và các con (Trung và Trinh gì đó). Ông Trần Ðộ cho biết vì cô Xuân cứ đòi chính thức hóa, người ta bèn giao cho Trần Quốc Hoàn thủ tiêu cả ba chị em.

Chuyện này nhiều người biết. Có người đã viết ra như Vũ Thư Hiên trong cuốn Ðêm Giữa Ban Ngày. Riêng tôi được biết do giáo sư Ngô Thúc Lanh được ông Văn Tân kể cho nghe và truyền đạt, hai là do một giáo sư dạy sử ở Ðại Học Sư Phạm Hà Nội, ba là Dương Thu Hương, bốn là ông Trần Ðộ. Nhưng gần đây có người điều tra ra vụ việc này rất tỉ mỉ rõ ràng và công bố cụ thể trên Internet cô Xuân bị thủ tiêu vì hai lý do một là cô đòi chính thức hóa điều này phải do Ðảng quyết định mà Ðảng thì không thể chấp nhận. Hai là cô bị Trần Quốc Hoàn hãm hiếp nhiều lần. Hoàn tuy đã đe dọa cô nhưng vẫn sợ bị cô tố cáo. Hắn sai Tạ Quang Chiến đập chết rồi ban đêm đặt xác cô ở quãng đường từ Nhật Tân đi Chèm, bố trí một xe ô tô cán lên tạo ra một tai nạn giao thông giả. Còn ba chị em cô Xuân là ba chị em họ. Một cô tên Nguyệt, một cô tên Vàng. Hai cô này cũng bị thủ tiêu vì đều biết chuyện. Nguyệt mất tích không biết rõ bị thủ tiêu ở đâu. Còn cô Vàng thì bị đập chết và quăng xác xuống sông Bằng Giang, Cao Bằng.

Theo Tô Hoài, có một hồi người ta định lấy vợ cho cụ Hồ. Một số cô gái đến cho ông chọn. Ông không chọn ai vì thấy đàn bà mà chẳng ý tứ gì cứ phơi quần slip. Có một cô người Huế ông Hồ thích. Nhưng cô này lại bị hói đầu, ông cũng không lấy. Ông nói nếu có một công chúa nước nào thì lấy, lấy vì lý do chính trị - chắc là ông nói cho vui.

Tô Hoài cũng cho biết Phạm Văn Khoa thạo cả tiếng Pháp lẫn tiếng Tầu có lần cùng đi với hồ Chí Minh sang Trung Quốc (đi xe lửa). Một buổi sáng Khoa thấy ông Hồ ở toilet ra, cầm slip vừa giặt nói “Không có vợ, khổ thế...”

Cuốn hồi ký này bị phê phán nặng nề, quy chụp đủ thứ tội. Nào là sinh trong một gia đình quan lại nên vẫn còn ảnh hưởng của giai cấp thống trị, mang chuyện kể về mẹ và chị của ông Nguyễn Ðăng Mạnh ra bêu riếu. Nào là sai phạm tới nhân vật biểu tượng của chế độ là Hồ Chí Minh khi mang một con người của đời thường ra phân tích. Nào là những chứng cớ hoặc những câu chuyện đều là khẩu thuyết vô bằng, kiểu chuyện ngồi lê đôi mách nên sự xác thực không có bao nhiêu. Nào là phê bình tàn tệ những người ông không ưa và có cái nhìn chủ quan thiên kiến khi nhận xét. Những bài viết ấy đại loại như “Bệnh thường tình mà nên tránh” của Ðặng Huy Giang và “Về hồi ký Nguyễn Ðăng Mạnh, tác giả sách giáo khoa Khoa Văn” của Nguyễn Hữu Thăng trên Văn Nghệ Trẻ, “Một cuốn hồi ký lẫn nhiều sạn” của Ðỗ Hoàng trên tạp chí Văn của Hội Nhà Văn Việt Nam, “Tâm sự đường đời hay nơi trút hận” của Thanh Trúc báo An Ninh Thế Giới, “Chất độc hại trong một cuốn hồi ký” của Thượng Nguyên báo Công An Nhân Dân...

Nhà phê bình Nguyễn Ðăng Mạnh đã được giải thưởng với “Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn.” Và trong đó ông đã nhận xét về thi ca Hồ Chí Minh với tất cả sự trân trọng và ông cũng không giấu giếm sự cố tình nhắc đến Hồ Chí Minh để thăng tiến trong sự nghiệp dạy học và cầm bút. Nhưng trong cả chương 7 của tập hồi ký thì ông nhắc đến rất nhiều chi tiết đời thường của Hồ Chí Minh mà những người phê phán rằng là một sự cố tình bôi lem đi cái thần tượng mà một chế độ tạo nên vì mục đích chính trị. Và ông Thượng Nguyên của báo Công An Nhân Dân đã quy chụp rằng bọn phản động quốc cũng có âm mưu hạ thấp con người Hồ Chí Minh như thế sau sự sụp đổ của chế độ vô sản chuyên chính ở Liên Xô và các nước Ðông Âu.

Trong sự tiết lộ của tập hồi ký có nhiều điều có tính giật gân làm bàng hoàng người đọc. Sự thực đã được vén màn lên và với tất cả những đằng sau tối thẳm. Ở đó, dù là nhà lãnh đạo, dù là văn nghệ sĩ nổi tiếng, tất cả đều như những hình nộm được những bàn tay phù thủy chỉ đạo và biến hầu như cả sĩ phu Bắc Hà thành những mẫu người hèn kém.

Ông Nguyễn Ðăng Mạnh đã trải qua nhiều thời kỳ đáng nhớ trong lịch sử Việt Nam. Bắt đầu từ thời thơ ấu, trong một gia đình quan lại rồi trải qua ngày toàn quốc kháng chiến, đi học trong nhọc nhằn đói rét rồi được qua Tàu học lớp sư phạm và là một trong những người của toán đầu tiên trở về Việt Nam dạy học. Qua trí nhớ của mình ông phác họa lại những thời kỳ ở vùng kháng chiến khi mà khẩu hiệu toàn dân chống giặc vẫn còn là chính thức và đảng Cộng sản lúc đó chưa áp dụng kỷ luật sắt cho đến khi có phong trào cải cách ruộng đất. Ông kể lại những trường hợp bị oan khuất mà ông chứng kiến khi tham gia một đội cải cách. ông viết trong hồi ký;

“Cải cách ruộng đất là một sai lầm nghiêm trọng. Bắt oan, giết oan hàng vạn người. Mà thật ngu xuẩn. Làm sao địa chủ nhiều thế: 5%! Làm sao mà Quốc Dân Ðảng lại có ở khắp mọi nơi. Ðúng là rập khuôn theo Trung Quốc một cách cực kỳ ngu xuẩn. Quốc Dân Ðảng là đảng chính thống đang cầm quyền ở Trung Quốc hàng bao nhiêu năm mới có lắm Quốc Dân Ðảng như thế chứ. Thực ra trước khi sửa sai chúng tôi cũng có ngờ ngợ thế nào ấy. Bởi vì thấy nhiều địa chủ chẳng giàu có gì lắm. Và họ cũng lao động ra trò cũng biết đi cày đi cấy. Con cái hiền lành ngoan ngoãn. Tôi từng được giao triệu tập con cái địa chủ lại để giáo dục. Tôi thấy như thế. Bây giờ sửa sai thấy sai lầm của cải cách ruộng đất là chuyện dĩ nhiên và rất dễ hiểu. Nhưng chỉ không hiểu sao thới ấy cả nước từ trên xuống dưới lại ngu xuẩn đến thế sai từ đường lối chính sách đến các biện pháp cụ thể. Phát động quần chúng mà quần chúng sợ đội quá sợ cọp làm sao dám nói trái ý đội. Tôi lúc đó chỉ là một chàng thanh niên ngoài hai mươi tuổi vậy mà đi lại trong làng có những cụ già râu dài chắp tay vái “lạy đội ạ!” Một chính sách lớn như thế liên quan đến sinh mạng hàng vạn dân mà giao phó cho những cốt cán dốt nát thực hiện. Cán bộ đội cũng thế, trong đội tôi có một anh Kha mù chữ. Mù chữ mà giảng chính sách và vận dụng chính sách - một chính sách rất lớn và rất phức tạp - vào việc bắt người, bắn người tịch thu của cải của người! Cải cách ruộng đất đúng là một trường hợp điển hình thô bỉ nhất của vụ cưỡng hiếp của Tàu đối với Việt Nam về chính trị và văn hóa. Nguyễn Huy Thiệp nói đúng, “Ðặc điểm lớn nhất của xứ sở này là nhược tiểu. Ðây là một cô gái đồng trinh bị nền văn minh Trung Hoa cưỡng hiếp. Cô gái ấy vừa thích thú vừa nhục nhã vừa căm thù nó (Vàng lửa). Sau này Ðỗ Hoàng Diệu cũng diễn tả nỗi nhục nhã ấy bằng hình tượng ‘Bóng Ðè’...”

Viết về những ngày sau 1975, Nguyễn Ðăng Mạnh mô tả về những cuộc đốt sách vở mà ông gọi là “hiện tượng vô văn hóa phản trí thức,” hay là ông tả lại rất thành thực về cảnh người miền Bắc vào trong Nam so sánh hai đời sống và thấy ngậm ngùi cho những người miền Bắc đã chịu qua bao nhiêu năm bị mờ mắt không thấy được sự thực mà ông đã dùng chữ của đời thường “miền Nam nhận họ, miền Bắc nhận hàng” để nói vè.

Nguyễn Ðăng Mạnh đã viết chương 5 trong tập hồi ký để vén lên một số hiện tượng có ở bên trong từ những biến cố văn hóa. Ông viết về những bước thăng trầm của công cuộc đổi mới và những vụ đánh đấm, qui kết, chụp mũ của cánh bảo thủ và cơ hội chủ nghĩa. Ông đề cập đến nhiều người và nhiều việc, từ những giai thoại có thật, từ những câu chuyện mà ông đã được nghe và những sự việc mà ông đã được thấy. Ông mượn lời của Nguyễn Minh Châu nói rằng nhà văn Việt Nam ở cả 3 thế hệ đều hèn: Trước cách mạng là nhà văn nô lệ, từ 1945 đến 1975 là nhà văn-lính, rất sợ cấp trên và sau 1975 là nhà văn-đói nên cũng rất hèn. Bắt đầu đổi mới, do chính sách của Ðảng nên có vẻ cởi mở nhưng sau thì thắt chặt lại và có nhiều người cơ hội đã theo thế cờ mà lật ngược lại. Nguyễn Ðăng mạnh kể:

“Nhưng chẳng bao lâu thế cờ bị lật ngược. Nguyên Ngọc mất chức tổng biên tập báo Văn Nghệ. Nguyễn Khải thấy động lặn biến vào Nam. Tố Hữu nắm lại lá cờ văn nghệ. Trần Ðộ bị mất chức. Tố Hữu phê phán Ðề Cương Văn Hóa Văn Nghệ của Nguyên Ngọc ở hội nghị nhà văn đảng viên. Nguyễn Ðình Thi trở lại với cánh bảo thủ chuẩn bị Ðại Hội Nhà Văn lần thứ tư.

Cánh đổi mới bị đánh dồn dập. Lê Ngọc Trà, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyên Ngọc, Nguyễn Ðăng Mạnh, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Văn Tâm. Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh bị tước giải thưởng. Hội đồng chung khảo phải viết bài sám hối, riêng Nguyên Ngọc và Lê Ngọc Trà không chịu viết.

Bọn bảo thủ và cơ hội chủ nghĩa nổi lên càng ngày càng làm mưa làm gió Trong Nam có Chế Lan Viên, Bảo Ðịnh Giang, Anh Ðức, Vũ Hạnh, Diệp Minh Tuyền, Mai Quốc Liên, Trần Thanh Ðạm, Hoàng Nhân, Phan Tường Hạnh, Trần Trọng Ðăng Ðàn,... Ngoài Bắc có Hà Xuân Trường, Nguyễn Ðình Thi, Huy Cận, Hoàng Trung Thông, Ðông Hoài, Hồ Phương, Bùi Ðình Thi, đám Văn Nghệ Quân Ðội... Thành Duy, Lưu Trọng Lư, Nông Quốc Chấn, Hoàng Xuân Nhị, Phan Cự Ðệ,Hà Minh Ðức, Phương Lưu, Nguyễn Văn Lưu, Vũ Quần Phương, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hữu Thỉnh, Hồng Diệu,... Cánh Nam rất có thế lực vì đằng sau có Lê Ðức Thọ, Nguyễn Ðức Bình, Trần Trọng Tân... Nguyễn Văn Linh giờ lại xoay ra chửi Dương Thu Hương và Nguyễn Khắc Viện'

Và từ phe cánh này đã xảy ra bao nhiêu chuyện có khi là những chuyện viết trên báo có khi là những chuyện loại cung đình mà ở đó thấy được tình đời và những trí thức là những kẻ ham hố chức tước, quyền lực danh vọng nhất và đôi khi để đạt được mục đích mà không từ bỏ một hành động một tư cách tồi tệ nào. Nguyễn Ðăng Mạnh đề cập đến rất nhiều người và đôi khi không ngần ngại có những nhận định khá nặng nề. Và chính đó là một điều làm nhiều người cùng nhảy xổ vào đánh đấm cuốn hồi ký này.

Như ông phê phán Vũ Ðức Phúc, Phan Cự Ðệ, Trần Thanh Mại, Trần Mạnh Hảo, Phan Trọng luận, Mai Quốc Liên... Ông phê bình cả những cấp trên như: “...Ðọc các ý kiến này mới biết những ông lãnh đạo văn hóa như Nguyễn Ðức Bình, Hữu Thọ, Hà Xuân Trường, Nông Quốc Chấn, Nguyễn Khoa Ðiềm, Hữu Thỉnh, cứ tưởng trình độ nhận thức cũng khá hóa ra không phải. Cũng y như lý lẽ của Trần Mạnh Hảo vậy thôi. Mà đều rất chủ quan toàn nói giọng khẳng định không chút dè dặt những điều rất nông cạn, hời hợt. Chỉ có Nguyễn Ðình Thi có tỏ ra dè dặt.”

Ðọc xong Hồi Ký Nguyễn Ðăng Mạnh, tôi có ý nghĩ gì? Thật là khó nói, bởi có nhiều sự bất ngờ quá. Bao nhiêu là điều đã nói, có cũ có mới, nhưng làm cho một độc giả như tôi khó tưởng tượng ra. Một người ở trong chăn mới biết chăn có rận. Không phải là một người bị bạc đãi, mà trái lại còn là một trí thức có thể coi như nòng cốt của chế độ. Thế mà, đã nói ra được một phần sự thực. Chỉ một phần nào thôi cũng đủ làm choáng váng người đọc, và sự thực chắc còn nhiều chuyện khác khủng khiếp hơn. Ðọc những bài phê bình cuốn sách này, tôi hiểu được cái phản ứng phải có của một người bị xé toang đi cái mặt che hào nhoáng bên ngoài. Lẽ dĩ nhiên, tôi không tin vào trăm phần trăm những điều mà hồi ký đề cập đến. Nhưng ít ra, cũng đủ để tôi hiểu ra mặt trái và mặt phải của nền văn học mà họ gọi là hiện thực xã hội chủ nghĩa. Qua bao nhiêu biến cố, trải qua bao nhiêu là bài học, người ta có rút ra được một bài học nào từ một người đã qua tuổi bảy mươi nói về những quãng đời của mình đã trải qua. Ðó có phải giống như Nguyễn Khải đã viết bút ký chính trị lúc cuối đời, như Chế Lan Viên đã làm Di Cảo Thơ khi đã gần với đất, như Nguyễn Ðình Thi viết hồi ký mà chỉ phổ biến sau khi chết, như Nguyễn Huy Tưởng viết nhật ký hay Tố Hữu trả lời phỏng vấn của Nhật Hoa Khanh...

Tất cả, là những sám hối thực hay chỉ là lời phân bua viết lúc đã thấy cờ tàn. Có lẽ, thế hệ sau sẽ thấy rõ ràng hơn khi đã có một khoảng cách để nhìn lại chính xác.