Monday, November 7, 2011

Bức Tranh Việt Nam Qua Wikileaks

Wikileaks là một cơ sở bất vụ lợi có mục đích đòi hỏi chính quyền phải minh bạch, bằng cách công bố các tài liệu mật do các nguồn nặc danh cung cấp. Wikileaks bắt đầu nổi tiếng với những tiết lộ bí mật về chiến tranh Iraq, kể cả một đoạn phim trong đó lính Mỹ tưởng phóng viên Reuters mang vũ khí và nã súng bắn họ. Nhưng phải tới tháng 10 năm 2010, Wikileaks mới thật sự nổi tiếng và ai cũng biết tên. Ðó là lúc Wikileaks loan tin lấy được 260,000 công điện ngoại giao của Hoa Kỳ và tuyên bố sẽ bắt đầu công bố những công điện này.
Ðây là những công điện do các tòa đại sứ, lãnh sự của Mỹ từ khắp nơi gởi về Bộ Ngoại Giao.
Ðây là những tài liệu được đặt trong một mạng lưới tài liệu mật của quân đội Mỹ, gọi là “SIPRnet.” Sau vụ khủng bố 11 tháng 9, chính phủ Tổng Thống George W. Bush ra lệnh cho các cơ quan quân đội, ngoại giao, tình báo phải chia sẻ tài liệu mật cho nhau, mục đích là để các cơ quan chính quyền có đầy đủ thông tin chống khủng bố.
Tuy nhiên, một tác dụng ngược của nó là khiến hàng ngàn quân nhân bỗng có thể đọc được công điện mật của ngành ngoại giao.

Một trong hàng ngàn quân nhân đó là Trung sĩ Bradley Manning, sau này bị giáng lon xuống binh nhì. Ông Manning tải toàn bộ công điện mật của bộ Ngoại Giao về máy mình, rồi chuyển qua cho Wikileaks.

Số tài liệu bị lộ gồm 251,287 công điện. Ban đầu, qua thỏa thuận với bốn tờ báo lớn của thế giới, tờ El País (Tây Ban Nha), Der Spiegel (Ðức), Le Monde (Pháp), The Guardian (Anh) và The New York Times (Mỹ), Wikileaks và những tờ báo này công bố công điện từ từ, theo từng đợt, và sau khi xóa bớt tên những người cần được bảo vệ.

Tuy nhiên, sau khi bị lộ mật mã cho tài liệu này, Wikileaks vào ngày 1 tháng 9 quyết định công bố tất cả, không bôi xóa gì hết.

Tài liệu liên quan tới Việt Nam trong Wikileaks lên tới hơn 5,000 công điện. Chỉ riêng mục lục các công điện này, khi in ra giấy, đã lên tới 192 trang.

Trong những ngày sắp tới, Người Việt sẽ chọn lọc và khởi đăng công điện của Wikileaks, được chia ra theo những mục đề tài sau đây:

* Nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam

* Các tù nhân lương tâm

* Nhân quyền, tôn giáo

* Quan hệ với Trung Quốc

* Quan hệ với Mỹ

* Kinh tế, giáo dục

Bộ tài liệu này sẽ được cập nhật liên tục

Hơn 3000 bức điện gửi đi từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 10 năm với bốn Đại Sứ Hoa Kỳ khác nhau đã vẽ lên một bức tranh nhiều màu về Việt Nam hiện đại.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ Madeleine Albright đang bắt tay một quan chức ngoại giao Việt Nam với Đại sứ Pete Peterson đứng cùng phía bà hồi tháng Chín năm 1999.

Các điện tín mà Wikileaks công bố bắt đầu từ thời Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên ở Việt Nam Pete Peterson, người đứng cạnh cựu Ngoại trưởng Madeleine Albright

Hơn 3000 bức điện gửi đi từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong vòng 10 năm với bốn đại sứ Hoa Kỳ khác nhau đã vẽ lên một bức tranh nhiều màu về Việt Nam hiện đại.

Các điện tín do Wikileaks công bố cũng cho thấy quan điểm của Washington đối với Việt Nam sau khi quan hệ được bình thường hóa.

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ đi khắp mọi nơi, gặp đủ mọi loại người trong xã hội và gửi về Bộ Ngoại giao điện tín về mọi vấn đề.

Họ tới các quán bar, karaoke và vũ trường ở Hà Nội để gửi về điện tín "Sex and the City" tạm dịch "Tình dục và thủ đô".

Họ vào các quán sách để đánh đi điện tín những cuốn sách nào không có mặt ở Hà Nội.

Họ gặp con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn để tìm hiểu về cuộc chiến chống tham nhũng.

Họ gặp các nhà báo và nói chuyện về tự do ngôn luận.

Họ gặp những người khác quan điểm với chế độ để hỏi ý kiến của họ về tự do chính trị tại Việt Nam.

Họ cũng yêu cầu phía Việt Nam tăng địa bàn hoạt động của Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh để nhân viên ngoại giao có thể tới nhiều tỉnh thành của Việt Nam hơn.

Thậm chí Hoa Kỳ còn gắn việc mở Lãnh sự quán Việt Nam ở Houston với việc mở rộng địa bàn hoạt động của Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh.

Về mặt tích cực, bức tranh chung về Việt Nam có thể thấy qua các điện tín là một xã hội ngày càng cởi mở hơn, đời sống vật chất khấm khá hơn và cơ hội làm ăn cho các doanh gia ngày một nhiều.

Về mặt tiêu cực, các nhà lãnh đạo Việt Nam quá nặng về kiểm soát thay vì cung cấp dịch vụ cho người dân, quá chú ý tới hình thức mà ít để ý tới nội dung và quá quan tâm tới lợi ích của Đảng trong khi thiếu tính bao dung với dân chúng.

'Vật cản'

Trong các cuộc nói chuyện với Hoa Kỳ, một số nhà lãnh đạo ở các cấp và các tỉnh thành của Việt Nam có vẻ mong muốn đẩy nhanh tốc độ cải cách trong đó có cải cách chính trị.

Nhưng những người ủng hộ cải cách chính trị, Washington nhận định, chỉ là "thiểu số" và sự phát triển ở Việt Nam trong lĩnh vực này sẽ tiếp tục trì trệ.

Điện tín đánh đi hôm 22/1/2007 từ Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh nhận định sau cuộc gặp với Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Đà Nẵng Trần Văn Minh [hiện là Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng]:

"So sánh sự phát triển của Đà Nẵng với giao thông hỗn độn ở Việt Nam, Chủ tịch Minh nói với Phó Tổng lãnh sự rằng không giống như ở phương Tây, nơi lái xe có thể nhấn ga và phóng như bay trên xa lộ thẳng tắp, ở Việt Nam lái xe phải "thông minh và bẻ bánh lái quanh những vật cản trên đường phố."

Trong điện tín Hoa Kỳ cũng thể hiện mong muốn Việt Nam có những nhân vật có đầu óc cởi mở trong chính quyền để họ có thể hợp tác và giúp Việt Nam phát triển.

Vai trò của Đảng

Đông đảo bạn trẻ tham gia biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội hôm 14/8

Hoa Kỳ nói thế hệ trẻ đại diện cho tương lai của Việt Nam trong khi thế hệ già vẫn còn nặng về quá khứ

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ có vẻ nhận định Đảng Cộng sản là người hãm phanh các cải cách và các mối quan hệ của Việt Nam đối với phương Tây.

Nhiều điện tín nói về sự "ám ảnh" của Đảng Cộng sản với "diễn biến hòa bình" và "tự diễn biến."

Họ cũng nói về mối nghi ngờ của các quan chức cao cấp của Đảng đối với Washington.

Nhưng một điện tín do Đại sứ Michael Michalak gửi về hồi tháng Bẩy năm 2009, thời điểm xảy ra vụ bắt giữ một số nhà hoạt động trong đó có luật sư Lê Công Định, đánh giá rằng lãnh đạo về phía Đảng và về phía Nhà nước cũng chia sẻ mối lo ngại chung về những nhóm, những nhân vật có thể làm chế độ lung lay.

Washington nói Đảng và chính quyền có vẻ hay giương gậy để trấn áp những công dân không nghe lời của chính mình mỗi khi có những đợt tạm lắng trong đó họ chưa hoặc không cần tới "củ cà rốt" của Hoa Kỳ và phương Tây.

Các nhà ngoại giao Hoa Kỳ xem giới lãnh đạo đã già của Việt Nam là đại diện cho quá khứ trong khi những người trẻ tuổi đại diện cho tương lai.

'An ninh trị'

Một trong các điện tín đánh đi từ Hà Nội cũng dùng từ "Securocrat" tức "An ninh trị" để gọi các nhà lãnh đạo Việt Nam.

Nhiều bức điện khác nhau kể lại chuyện Bộ Công an đã đưa ra những cáo buộc về chuyện các nhà ngoại giao Hoa Kỳ gặp gỡ "bí mật" hay "khuyến khích" các nhân vật "chống nhà nước".

Các câu trả lời của phía Hoa Kỳ luôn là họ đi tới đâu cũng có sự đồng ý hoặc giám sát của phía chính quyền hay công an Việt Nam và không thể có chuyện "bí mật" gặp gỡ.

Và Hoa Kỳ luôn bảo vệ quyền gặp mọi đối tượng thuộc mọi giới trong xã hội Việt Nam.

Về sự nghi kỵ và giám sát của phía Việt Nam đối với Hoa Kỳ, điện tín "How not to make friends", tạm dịch "Những việc không nên làm khi kết bạn" đã kể chi tiết việc công an Việt Nam "bám đuôi" và cản trở các cuộc gặp của phái đoàn từ Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ ở Việt Nam hồi năm 2002.

Điện tín nhận định "Những cố gắng của Chính phủ Việt Nam, mà về căn bản họ không giấu diếm, để kiểm soát phái đoàn để lại ấn tượng tồi tệ hơn về Việt Nam so với nội dung của các cuộc gặp mà Chính phủ Việt Nam có vẻ quá lo ngại."

Những cố gắng của Chính phủ Việt Nam, mà về căn bản họ không giấu diếm, để kiểm soát phái đoàn để lại ấn tượng tồi tệ hơn về Việt Nam so với nội dung của các cuộc gặp mà Chính phủ Việt Nam có vẻ quá lo ngại.

Những cố gắng này bao gồm việc an ninh Việt Nam "bám đuôi" và vờ vào lễ chùa để nghe các cuộc nói chuyện, sách nhiễu những người muốn hay đã gặp phái đoàn, đề nghị phái đoàn đi xe của phía Việt Nam (và yêu cầu phải trả tiền) hay bố trí thật nhiều cuộc gặp chính thức để phái đoàn không còn thời gian gặp những nhân vật họ muốn gặp.

Năm năm sau đó, một điện tín mật hồi tháng Tư năm 2007 nói "cố gắng lần thứ hai của Đại sứ [Michael Marine] nhằm tổ chức một sự kiện tại nhà riêng với gia đình của các nhà bất đồng chính kiến chính trị đã bị cảnh sát ngăn chặn."

"Bốn trong số năm người được mời đã hoặc bị ngăn không cho rời nhà hoặc bị giữ ở đồn công an để họ không đến được nhà Đại sứ."

Bệnh 'hình thức'

Một số bức điện mật trải dài trong các năm khác nhau cũng đề cập tới mối quan tâm quá nhiều tới hình thức ở Việt Nam và ít quan tâm tới nội dung.

Khi bà Hillary Clinton tháp tùng Tổng thống Bill Clinton Hà Nội hồi cuối năm 2000 và muốn có tọa đàm với các phụ nữ Việt Nam, phía Việt Nam quan tâm nhiều hơn tới hình dạng của chiếc bàn, vị trí bà Clinton sẽ ngồi, số đại biểu mỗi bên tham dự và chỗ họ sẽ ngồi hơn cả nội dung mỗi bên sẽ nói.

Bà Hillary Clinton và con gái Chelsea trong chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 11 năm 2000

Phía Hoa Kỳ "kinh ngạc" khi Việt Nam sẵn sàng chấp nhận khả năng sẽ không có tọa đàm giữa bà Clinton với phụ nữ Việt Nam hồi năm 2000 chỉ vì chiếc bàn và vị trí ngồi của chủ và khách

Điện tín hồi tháng Mười Hai năm 2000 nói những tranh cãi kéo dài quanh những vấn đề này khiến đại diện của bà Clinton nói với phía Việt Nam rằng ông đã gần tới nước phải hủy tọa đàm và sẽ tổ chức một sự kiện riêng cho bà Clinton mà không có sự tham gia của phía chính quyền.

Việc Việt Nam không muốn bà Clinton ngồi ở trung tâm bàn tọa đàm hình bán nguyệt mà chia sẻ vị trí này cùng một đại diện Việt Nam khiến phía Hoa Kỳ nhận định:

"Thật đáng kinh ngạc, phía Chính phủ Việt Nam sẵn sàng chấp nhận khả năng cuộc tọa đàm về các vấn đề phụ nữ sẽ bị hủy chỉ vì vấn đề tượng trưng là bà không được ngồi ở giữa bàn.

"Điều này nhắc người ta nhớ lại những tranh cãi kéo dài nhiều tháng về hình dạng chiếc bàn trong Hòa đàm Paris cách đây nhiều thập niên."

Giọng văn trong các điện tín mật của Hoa Kỳ có vẻ cho thấy Washington dường như đã thực sự quên đi Cuộc chiến Việt Nam để "bắc cầu qua dòng sông đau khổ" như lời Đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam Douglas Pete Peterson tuyên bố khi tới Hà Nội hồi năm 1997.

Những thông điệp mà các nhà ngoại giao Mỹ gửi đi từ Việt Nam thường đánh giá cao mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ của phía Việt Nam và đề nghị Washington có những động thái để quan hệ song phương có chiều sâu hơn, chẳng hạn không đưa Việt Nam vào danh sách Các nước Cần quan tâm Đặc biệt về tôn giáo CPC.

Và trong khi Việt Nam xem các động thái của Hoa Kỳ liên quan tới nhân quyền là "sự can thiệp vào nội bộ", các điện tín cho thấy kẻ cựu thù của Việt Nam chỉ đơn giản coi đó là việc bảo vệ những quyền con người căn bản nhất - quyền được có quan điểm và nói ra quan điểm, quyền được tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do lập hội và hội họp.

Các điện tín của Hoa Kỳ cũng nói họ thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa cách suy nghĩ của các nhà lãnh đạo hiện nay và của thế hệ trẻ ở Việt Nam, những người vẫn được gọi là "thế hệ a còng".

Nhưng giới ngoại giao Hoa Kỳ không nhất thiết xem đây là điều tiêu cực.

Ngược lại họ coi đó là dấu hiệu cho thấy những thay đổi theo hướng tích cực ở Việt Nam sẽ xảy ra trong tương lai.

Nguyễn Hùng (BBC) 2011/09/24

Công an Việt Nam lên tiếng về Wikileaks

Một quan chức ngành báo chí của công an Việt Nam nói sẽ có bài bác bỏ tin được BBC đăng lại từ điện tín của Sứ quán Mỹ về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng.

Đại tá an ninh Nguyễn Như Phong, hiện là Tổng biên tập báo Năng lượng Mới, nói tờ báo của ông đăng bài sau khi có sự cho phép của chính Tướng Hưởng, hiện là phái viên của Thủ tướng Việt Nam.

Tờ Năng lượng Mới quảng cáo vào ngày 27/9 này sẽ đăng “sự thật bức điện tối mật của Đại sứ Mỹ” về các cuộc gặp với Tướng Hưởng khi ông còn làm Thứ trưởng Công an Việt Nam.

Nhắc lại bài trên BBC Tiếng Việt hôm cuối tháng 8/2011, bài của ông Nguyễn Như Phong nói “theo BBC thì nội dung bức điện là, trong cuộc gặp này, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã trách Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam trong vấn đề biển Đông”

Ông Phong viết “chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực”.

Xưng là người được dự nhiều cuộc gặp giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với phái đoàn Hoa Kỳ, Đại tá Phong tỏ ra “rất ngạc nhiên trước sự việc này”.

“Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực”

Đại tá Nguyễn Như Phong, nguyên Phó Tổng biên tập báo Công an Nhân dân

Trong các điện thư Sứ quán Mỹ gửi về Bộ Ngoại giao nhiệm kỳ ông Michael Michalak làm Đại sứ mà Wikileaks rò rỉ ra, bản 11/2/2010 có nhắc đến một nhà báo thuộc báo Công an Nhân dân cùng Tướng Hưởng trao đổi với Đại sứ Mỹ.

Văn bản của Sứ quán Mỹ để nguyên tên tờ báo bằng tiếng Việt là “Cong an Nhan Dan” và chỉ mở ngoặc dịch là báo “The People’s Police” nhưng không nêu tên nhà báo đó nên không rõ có phải người đó chính là Đại tá Phong hay không.

Nay ông Phong nói sẽ cho đăng “sự thực về những cuộc gặp này và từ đó sẽ thấy được sự cắt xén nội dung bức điện nhằm “đổi trắng thay đen”, “thọc gậy bánh xe” của BBC”.

Đại tá Phong nói việc đăng bài mới vào ngày thứ Ba tuần này, “được phép của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng” mà hiện là phái viên của Thủ tướng Chính phủ về an ninh và tôn giáo.

Bài trên BBC nói “Tướng Hưởng than phiền về Biển Đông” và trích nguyên văn bản tiếng Anh những đánh giá của giới ngoại giao Mỹ rằng Tướng Hưởng muốn Hoa Kỳ tham gia mạnh hơn vào an ninh vùng để cân bằng lại Trung Quốc.

Nguyên văn bản tiếng Anh khiến BBC đặt tựa đề đó là câu ở phần tóm tắt trong điện tín Mỹ ngày 11/9/2008 viết “VM Huong expressed his views on China’s territorial claims in the South China Sea and lamented the lack of U.S. support for Vietnam’s position”.

Nhưng trong bài hôm 26/9 trên trang trang web Năng Lượng Mới, sự kiện này bị viết sai thời gian thành 11/9/2009.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng là một trong những tên tuổi xuất hiện nhiều nhất trong các điện tín bị tiết lộ, với hơn 50 điện tín có nhắc đến ông trong các văn cảnh khác nhau.

(Petrotimes) – Bức điện tối mật của Đại sứ Mỹ về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng – Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam đã bị Wikileaks thu được.

Ngày 31/8/2011, Báo Điện tử BBC bản tiếng Việt đăng bài: “Tướng Hưởng than phiền về biển Đông”. Nội dung bài báo là đăng lại bức điện mật của Đại sứ Mỹ báo cáo về cuộc gặp của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng – Thứ trưởng Bộ Công an với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa kỳ – John Negroponte và Phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ – Scott Marciel vào ngày 11/9/2009, với sự tham gia của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak.

Theo BBC thì nội dung bức điện là, trong cuộc gặp này, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã trách Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam trong vấn đề biển Đông.

Bức điện còn viết: “Ông Hưởng còn thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu như không có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực”.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng trong một lần gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak.

Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực, bởi lẽ Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng chưa hề có lời nào như thế (hoặc tương tự như thế), trong các cuộc gặp với John Negroponte và Scott Marciel cùng Đại sứ Michael Michalak.

Tôi (Nguyễn Như Phong, Đại tá an ninh, nguyên là Phó tổng biên tập Báo Công an Nhân dân, phụ trách chuyên đề An ninh thế giới tuần) – là người được dự nhiều cuộc gặp giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với phái đoàn Hoa Kỳ, cũng rất ngạc nhiên trước sự việc này.

Để bạn đọc hiểu rõ sự thực về những cuộc gặp này và từ đó sẽ thấy được sự cắt xén nội dung bức điện nhằm “đổi trắng thay đen”, “thọc gậy bánh xe” của BBC, được phép của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Báo Năng lượng Mới xin đăng nguyên văn biên bản cuộc đối thoại giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (hiện là phái viên của Thủ tướng Chính phủ về an ninh và tôn giáo) với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Negroponte, Phó trợ lý Ngoại trưởng Scott Marciel và Đại sứ Michael Michalak.

‘Con ông cháu cha’ trong cách nhìn của Mỹ

Nguyễn Thanh Phượng, con gái Nguyễn Tấn Dũng, được giao trách nhiệm giám đốc đầu tư Vietnam Holding Asset Management, quản trị số vốn $112 triệu của các nhà đầu tư Thụy Sĩ, lúc mới 25 tuổi. (Hình: http://nguyenthanhphuongvn.net)

Nhiều công điện do Wikileaks tiết lộ cho thấy không chỉ bản thân những nhân vật lãnh đạo cấp cao của nhà cầm quyền CSVN được Hoa Kỳ chiếu cố, mà cả con cái của họ cũng không thoát khỏi “radar” của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ.

Trong công điện ngày 26 tháng 12, 2006, gởi cho bộ Ngoại Giao ở Washington D.C., Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, ông Seth Winnick đã tóm lược những tin tức thu nhặt được về ba người con của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. (Công điện viết tên ông thủ tướng là “Dzũng” thay vì “Dũng” – NV).

Công điện viết, ngụ ý, Tổng Thống Bush đã “bắt nọn” ông Dũng khi đột nhiên đề cập đến mối quan hệ giữa các con ông Dũng với phía Hoa Kỳ. Còn về phía ông Dũng, vẫn theo ghi nhận của công điện, ông ta “tìm cách lảng tránh, hoặc hạ thấp tầm quan trọng của quan hệ ấy (giữa con cái ông ta với Hoa Kỳ).”

Công điện viết về cuộc gặp gỡ giữa Tổng Thống (Bush) và Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ở hội nghị thượng đỉnh APEC: “Theo một nguồn tin đáng tin cậy ở thành phố Hồ Chí Minh, Thủ Tướng Dũng giật mình khi Tổng Thống Bush hỏi han về việc học hành cũng như những liên hệ khác của các con ông tại Hoa Kỳ.”

Lý do, theo công điện, là vì tại Việt Nam, tin tức cá nhân và cả sinh hoạt của thân nhân các viên chức cao cấp chính quyền được xem là “nhạy cảm.”

06HOCHIMINHCITY1492 - 26-12-2006

Thế nhưng, các công điện tường trình khá đầy đủ về 3 người con của Nguyễn Tấn Dũng cho thấy những gì Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cần biết, họ đều biết.

Cậu ấm, cô chiêu

Nguyễn Thanh Nghị hiện đang là Ủy viên Dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh.

Công điện viết rõ, con trai cả của Dũng là Nguyễn Thanh Nghị, sinh năm 1977, lấy bằng tiến sĩ ngành kỹ sư công chánh (structural engineering) từ George Washington University, và sau khi tốt nghiệp đã trở về Việt Nam giảng dạy tại khoa Xây Dựng của Ðại Học Kiến Trúc thành phố Hồ Chí Minh.

Vợ tương lai của Nghị, một cô gái gốc Hà Nội, cũng là một du học sinh tại George Washington University, nơi hai người gặp nhau. Họ làm đám cưới sau khi trở lại Việt Nam.

Dư luận cho rằng “cậu ấm” Nghị sau này sẽ lãnh đạo một trong những tập đoàn ngành xây dựng nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh, và cũng có liên hệ mật thiết với công ty Bitexco, một công ty tư nhân đảm trách việc xây cất một số tòa nhà chọc trời tại Hà Nội và Sài Gòn. Tầm hoạt động của Bitexco còn gồm cả ngành đóng chai, dệt và các công trình thủy điện.

Công điện nêu rõ là vào những năm 2001 và 2002, Nghị vừa nắm đầu ngành giao tế vừa là “quản lý dự án” của Bitexco.

Ðoạn dưới đây của công điện “xác nhận một nguồn tin” về cô con gái rượu của Thủ Tướng Dũng, tên Nguyễn Thanh Phượng. Nội dung công điện cho thấy, khi Hoa Kỳ quan tâm, họ quan tâm tất cả mọi chuyện về đối tượng, kể cả chuyện tình cảm.

Công điện ghi lại nội dung cuộc phỏng vấn tại Tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, khi cô Phượng đến xin Visa vào Mỹ.

“Trong lúc trò chuyện với chúng tôi, Phượng xác nhận tin cô đang hẹn hò với một người Mỹ gốc Việt cùng làm việc trong ngành tài chánh hiện đang phát triển mạnh tại Việt Nam.”

Về học vấn của Nguyễn Thanh Phượng, công điện của tổng lãnh sự tại Sài Gòn cho biết, sau khi tốt nghiệp tại “trường trung học danh tiếng Sài Gòn, Marie Curie” năm 1995, Phượng tốt nghiệp cử nhân Ðại Học Kinh Tế Quốc Gia tại Hà Nội năm 2001, và học cao học tại Học Viện Quốc Tế Geneva (International University in Geneva), Thụy Sĩ, “một trường liên kết với Michigan State University, và chỉ đến thăm Hoa Kỳ trong vòng 2 tuần vào năm 2004 để nhận bằng tốt nghiệp từ Michigan State University.”

Cũng trong buổi nói chuyện trên, Phượng xác nhận em trai cô, là Nguyễn Minh Triết, sinh năm 1990, hiện đang học trung học ở Anh Quốc và dự định sẽ theo ngành truyền thông.

Con ông cháu cha

So sánh 3 người con của ông Dũng, Tổng Lãnh Sự Seth Winnick tỏ ra có cảm tình với Phượng. Ông viết: “Phượng giống cha như đúc, và dường như trong ba người con ông thủ tướng, Phượng là người năng động nhất. Trong câu chuyện với chúng tôi, cô tỏ ra cởi mở, tò mò, và chăm chú. Rõ ràng cô là một người có tài.”

Vẫn theo nhận xét của Tổng Lãnh Sự Seth Winnick thì con đường sự nghiệp thênh thang rộng mở của Phượng, và của anh em Phượng, hiển nhiên là được đưa đến từ thân thế của họ.

Ông viết tiếp: “Tuy thế, việc thăng tiến vượt trội của Phượng, và những cánh cửa rộng mở đón chào Phượng và anh em của cô,” là “bằng chứng cho thấy cách thức mà tầng lớp lãnh đạo (Việt Nam) bảo đảm cho con cái họ những vị trí đầy lợi thế về giáo dục, chính trị và cả kinh tế.”

Công điện đơn cử một vài ví dụ, “Tháng Giêng năm 2006, lúc mới hơn 25 tuổi, Phượng đã là giám đốc đầu tư của công ty Vietnam Holding Asset Management, quản trị vốn đầu tư $112 triệu của các nhà đầu tư Thụy Sĩ. Ðến tháng 11 cùng năm, Phượng lên làm chủ tịch Hội Ðồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Quản Lý Quỹ Ðầu Tư Chứng Khoán Bản Việt-Viet Capital Fund Management Joint Stock Company, được viết ngắn gọn là Công Ty Quỹ Ðầu Tư Bản Việt hoặc VCFM với nhiều trăm tỉ đồng Việt Nam đến từ các cá nhân và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.”

Tại sao người ta có thể tin tưởng để giao một số vốn không lồ như thế cho một người trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm như Phượng?

Tổng Lãnh Sự Seth Winnick trả lời câu hỏi này thay cho lời kết của công điện: “Tất nhiên, về mặt chính trị, giao quỹ đầu tư cho cô con gái cưng của thủ tướng quản lý, là một điều khôn ngoan, nhất là khi quỹ này tập trung vào việc đầu tư trong những ngành mà nhà nước kiểm soát, như dầu khí, ngân hàng và công nghệ thông tin.”

Một công điện khác, được xếp hạng “mật,” do tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, Kenneth J. Fairfax, gửi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ khoảng đầu năm 2009 cho thấy, không chỉ riêng ba người con của ông Nguyễn Tấn Dũng được hưởng mọi ưu đãi “con ông cháu cha,” mà chức giám đốc hải quan thành phố Hồ Chí Minh, một địa vị ngon lành, cũng được trao cho con trai cựu Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Lê Duẩn.

Một đoạn trong công điện này viết: “Lê Kiên Trung (con trai nhỏ của Lê Duẩn) chính là tổng giám đốc Hải Quan Thành Phố Hồ Chí Minh, một trong những chức vụ được cho là béo bở và được nhiều người thèm muốn nhất trong guồng máy nhà nước Việt Nam.”

Cũng nên nhắc rằng sự kiện công ty Bitexco, do con trai lớn của Nguyễn Tấn Dũng cai quản, là chủ nhân của khu chung cư cao cấp “The Manor,” nơi bao người dân đến mua, đã chung tiền đầy đủ mà cả 4 năm sau vẫn chưa có giấy tờ sở hữu và biết bao nhiêu khiếu nại không được giải quyết khác. (Ðoạn này không có trong công điện)

Lê Kiến Thành - con trai của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn

Cũng theo công điện này, ông Lê Kiến Thành, con trai lớn của cựu Tổng Bí Thư Lê Duẩn, có thể đã có những tư tưởng “lành mạnh” khi nhận định rằng, với guồng máy cai trị hiện tại, khi tự do báo chí không có, thì khó tiêu diệt được tệ nạn tham nhũng đang lan tràn ở mọi tầng lớp.

Công điện trích lời phát biểu của Lê Kiến Thành trong một buổi họp liên quan đến “xì căng đan” tham nhũng nổi tiếng PCI: “Chức tổng biên tập chẳng ăn nhằm gì cả, khi cả ngành truyền thông yếu ớt và bị thao túng có hệ thống, nhưng việc các tổng biên tập của các tờ Pháp Luật, Thanh Niên và Tuổi Trẻ đồng loạt bị thay thế đã đánh dấu một bước lùi cho nền dân chủ.”

Có thể có những con ông cháu cha có một quan điểm lý tưởng hướng về dân chủ không?

Tổng Lãnh Sự Kenneth J. Fairfax tỏ ra dè dặt khi ông kết luận: “Nếu chúng ta tin vào những điều Lê Kiến Thành phát biểu, thì nhiều đảng viên đảng CSVN hiện không hài lòng với hướng đi của đất nước đang sẵn sàng tham gia vào các cuộc tranh luận sôi nổi, ít nhất là giữa họ với nhau.”

Có lẽ chẳng ai có thể khẳng định được điều gì, ngoài việc ghi nhận sự kiện Lê Kiến Thành, 31 năm tuổi Ðảng, đã ra ứng cử độc lập vào Quốc Hội năm 2007, rồi sau đó họp đảng ủy, và được thuyết phục rút đơn.

Những phi vụ của Huỳnh Ngọc Sỹ

(NV) – Vụ án nhận hối lộ của hãng PCI Nhật trong việc xây cất đại lộ Ðông Tây tưởng đã không bao giờ đem ra xử vì gốc bự dù to của ông Huỳnh Ngọc Sỹ, cho tới khi Nhật tạm cắt viện trợ Việt Nam, theo các công điện của đoàn ngoại giao Mỹ ở Việt Nam gởi về, trong số tài liệu bị Wikileaks tiết lộ.

Số tiền ông Sỹ, phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải và giám đốc Ban Quản Lý Dự Án đại lộ Ðông Tây, nhận từ PCI được tiết lộ là lên tới $2.3 triệu đô la. Ông Sỹ còn bị phát giác ngăn chặn một dự án liên quan một công ty Mỹ chỉ vì công ty này không chịu đưa hối lộ.

Huỳnh Ngọc Sỹ bị đưa ra phiên tòa sơ thẩm hôm 11 tháng 3, 2009. (Hình: AFP/Getty Images)

Ăn hối lộ hãng Nhật, đòi hối lộ từ hãng Mỹ

Dự án đại lộ Ðông Tây là một chương trình viện trợ của Nhật cho Việt Nam, xây một tuyến đường, vừa xây mới vừa cải tạo đường cũ, chạy từ Bình Chánh vào tới Sài Gòn gần cầu Calmette, xuống hầm qua Thủ Thiêm rồi chạy tới Ngã ba Cát Lái trên đường về miền Tây.

Công ty thắng thầu dự án này năm 2001 và 2003, là PCI của Nhật. Nhưng tới tháng 8 năm 2008, báo chí Nhật đưa tin cảnh sát Nhật bắt giam 4 viên chức PCI về tội hối lộ. Lúc đó, tin tức chỉ mới tiết lộ số tiền lót tay là $820,000 (tất cả đơn vị tiền tệ trong bài là đô la Mỹ).

Lúc ra tòa, các viên chức này nêu danh người nhận hối lộ, là ông Huỳnh Ngọc Sỹ. Biện lý cuộc cho biết PCI nhận đã hối lộ cho ông Sỹ nhiều lần, cộng lại lên tới $2.3 triệu, nhưng phía biện lý cuộc quyết định chỉ truy tố trên cơ sở $820,000 thôi.

Vụ án tham nhũng này được nhắc đến trong một công điện đề ngày 3 tháng 9, 2008. Công điện này, ngoài việc tường trình vụ PCI, còn cho biết thêm về một vụ tham nhũng khác liên quan tới một hãng Mỹ, hãng tư vấn điều hành dự án CDM.

Tổng lãnh sự Kenneth Fairfax tiết lộ CDM từng nhờ tòa tổng lãnh sự can thiệp với chính quyền Sài Gòn về một hợp đồng vệ sinh môi trường đã được Ngân Hàng Thế Giới chấp thuận. Bây giờ CDM chỉ còn chờ Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố đồng ý là bắt tay vào làm.

Thế nhưng giấy tờ bị kẹt tại Sở Giao Thông-Vận Tải nơi không ai khác hơn là ông Sỹ đứng đầu ban quản lý (PMU) cho dự án đó. Theo lời CDM, ông Sỹ muốn gặp riêng CDM sau giờ làm việc, bên ngoài văn phòng Sở Giao Thông-Vận Tải, điều mà CDM cho là sẽ dẫn tới việc bắt tay ngầm sau lưng nào đó. Không muốn làm chuyện mờ ám, CDM từ chối. Giấy phép sau đó đã không được cấp, và CDM nhờ tòa tổng lãnh sự giúp.

Dịp may đã tới vào ngày 7 tháng 8, vài ngày sau khi tin tức bên Nhật tung ra. Một phái đoàn dân biểu Mỹ sắp tới Sài Gòn để thảo luận về hạ tầng cơ sở, và tòa tổng lãnh sự báo cho thành phố biết họ sẽ nói về vụ CDM.

Sáng hôm đó, Phó Chủ Tịch UBND Thành Phố Lê Thành Tài tới trễ mất vài phút khi gặp phái đoàn. Ông nói ông vừa họp với đại diện CDM ở ngay phòng bên cạnh. Trong buổi họp đó, ông Tài không chỉ báo cho CDM biết giấy phép đã được cấp, mà ông Sỹ cũng bị đẩy ra khỏi vị trí điều khiển PMU cho dự án này.

Chối

Bị đối mặt với tối thiểu hai vụ án hối lộ mà bị ngoại quốc biết được, vụ CDM với Mỹ và vụ PCI với Nhật, “Thành phố sẽ trả lời thế nào?” – ông Fairfax đặt câu hỏi.

Câu trả lời: “Phản ứng đầu tiên là chối,” ông viết. Ngày 5 tháng 8, khi tin tức từ Nhật vừa loan tin về đến Việt Nam, một đại diện UBND nói họ “chưa nhận được thông tin chính thức” từ phía Nhật và ông Sỹ đã giải trình thích đáng.

Tuy nhiên, điều này không che được mắt phía Mỹ vì họ đã biết rằng, tới ngày 7 tháng 8, ông Sỹ đã bị đẩy ra khỏi dự án liên quan tới CDM, một động thái mà ông Fairfax gọi là “tích cực.”

Ðược một động thái tích cực thì sau đó lại là một động thái tiêu cực. Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn phản bác lại tin tức từ phía Nhật, khẳng định là “Thực tế chứng minh chính phủ Việt Nam đã quản lý và sử dụng rất có hiệu quả, rất đúng mục đích nguồn ODA của Nhật Bản.”

Không những vậy, ông này còn yêu cầu báo chí Nhật đừng loan tin vụ tham nhũng. Ông nói, trong một bản tin Thông Tấn Xã Việt Nam: “Chúng ta cũng đã đề nghị phía Nhật Bản trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của Nhật Bản cũng như của Việt Nam đều không nên đưa tin, bài về việc này.”

Trích dẫn câu này, ông Fairfax viết:

“Cộng đồng blog giễu cợt phát ngôn của ông Sơn như là một trò dở, chỉ để bao che kẻ có tội và bịt miệng báo chí tường trình tham nhũng.”

Tới đây, ông Fairfax trích dẫn “trang blog một cựu biên tập viên báo Người Việt” – chính là tác giả bài này, khi đó đã nghỉ tại báo Người Việt trước khi trở lại. Ông Fairfax tóm lược:

“Ðộng tác của Bộ Ngoại Giao phản ánh thái độ vô lý và đáng xấu hổ của chính phủ, can thiệp vào truyền thông của một nước khác và giới hạn báo chí nước nhà. Ðiều này phản ảnh tư duy của giới lãnh đạo cấp cao Việt Nam về vai trò của báo chí – báo chí không được tường trình một vụ án cho tới khi vụ án đó được giải quyết theo ý của các cấp lãnh đạo.”

Nguyên văn trang blog là như sau:

“Ðề nghị này của chính quyền Việt Nam phản ảnh những khái niệm này:

“* Chính quyền nước này nhúng tay vào công việc của ‘các cơ quan truyền thông đại chúng’ nước khác là chuyện… ngửi được.

“* Chính quyền bảo ban ‘các cơ quan truyền thông đại chúng’ không cho đưa tin, bài về việc này việc nọ, là chuyện ngửi được.

“* Báo chí ‘nên’ chờ mọi chuyện ‘xong đâu đấy’ rồi mới được đưa tin, đưa bài.”

Bất khả xâm phạm cho tới khi…

Lý do ông Sỹ được bảo vệ lên tới Bộ Ngoại Giao, là vì gốc bự dù to của ông này. Người bao che cho ông Sỹ không ai khác hơn là Bí Thư Thành Ủy Lê Thanh Hải, sếp lớn của Sài Gòn và là một ủy viên Bộ Chính Trị, bản công điện viết.

Không những thế, con trai ông Sỹ chuẩn bị lấy con gái ông Hải, do đó “mối liên hệ giữa Sỹ với Hải đã thân tình còn sắp thân tình hơn,” ông Fairfax viết.

Với sự đùm bọc vững chãi như vậy, ông Sỹ mãi vẫn không bị điều tra. Tới tháng 12, Nhật tạm cắt một phần viện trợ cho Việt Nam.

Tin này được công bố trong một buổi họp của Nhóm Tư Vấn Quốc Tế (gồm các nước viện trợ cho Việt Nam) tại Hà Nội. Việc này được Ðại Sứ Michael Michalak tường trình trong một công điện đề ngày 11 tháng 12, 2008.

“Tin này được (Ðại Sứ Nhật Mitsuo Sakaba) tuyên bố trực tiếp trong buổi khai mạc có mặt Thủ Tướng (Nguyễn Tấn Dũng) thay vì trong một buổi họp riêng về việc chống tham nhũng dự trù diễn ra sau khi thủ tướng ra về,” Ðại Sứ Michalak viết.

Các phái đoàn khác, kể cả EU, Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ, và Ðan Mạch cũng lên tiếng về nhu cầu chống tham nhũng, trong bài diễn văn khai mạc, trước mặt thủ tướng.

Ông Dũng tỏ vẻ bất bình và nói: “Chúng tôi yêu cầu Nhật cung cấp bằng chứng nhưng họ không thể điều tra ở đây được… và chúng tôi không thể truy tố ai dựa theo tin tức trên báo chí.”

Một viên chức tòa Ðại Sứ Nhật nói với tham tán chính trị Mỹ họ ngạc nhiên trước phản ứng của Việt Nam vì thật ra viện trợ của Nhật bị cúp trước đó mấy tháng rồi. Bà này nói phía Nhật tin rằng vụ hối lộ này có liên quan tới nhiều người, không chỉ có ông Sỹ.

Thêm chi tiết vụ án được tiết lộ trong một công điện khác đề ngày 30 tháng 12. Trong một buổi ăn trưa, Ðại Sứ Nhật Mitsuo Sakaba nói thêm cho Ðại Sứ Michalak biết về vụ án:

“Sau cuộc điều tra sơ khởi, nhà chức trách Nhật tới Việt Nam để tiếp tục điều tra và tìm thêm bằng chứng cho vụ án ở Nhật. Họ không được phía Việt Nam chính thức hợp tác và đành phải điều tra không chính thức trong hai tháng. Sau đó (tức khoảng tháng 10) phía Việt Nam bắt đầu điều tra.”

Ðại Sứ Sakaba nói: “Viên chức PCI thú nhận đã trao tổng cộng $2.3 triệu cho Sỹ để được chọn là tư vấn trưởng cho dự án đại lộ Ðông Tây,” và cho biết thêm về chuyện trao tiền:

“Có nhiều tay trung gian cho PCI, chuyển nhiều món tiền khác nhau, nhưng tất cả đều đưa tiền cho một người, là ông Sỹ.”

Bộ Trưởng Công An Lê Hồng Anh là người do dự không muốn công khai điều tra ông Sỹ. Phải tới sau khi chính phủ Nhật áp lực, Thủ Tướng Dũng mới công khai tuyên bố điều tra và Bộ Trưởng Anh miễn cưỡng đồng ý.

Một trong những vấn đề bên Nhật đòi hỏi, là Việt Nam phải trả lại số tiền $30 triệu đã trả cho PCI. Ðây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật đòi lại tiền viện trợ. Ông Sabaka nói ngay cả trong vụ PMU-18, nước Nhật cũng không đòi tiền lại và chính phía Việt Nam tự ý trả lại trị giá hai chiếc xe được cho là mua bất hợp pháp.

Việc Nhật cúp viện trợ, tuy phía Nhật nói với Mỹ là “không phải để áp lực Việt Nam,” nhưng cũng đã có tác dụng đó. Năm ngày sau khi công bố tin viện trợ bị cắt, ông Sỹ bị bắt, bị truy tố.

Tới tháng 2 năm 2009, Nhật nối lại nguồn viện trợ. Ông Sỹ bị kết án vào tháng 9 với bản án 3 năm tù và tới tháng 10, một bản án khác được đưa ra, tuyên phạt ông Sỹ tù chung với tội danh “nhận hối lộ.”

CHỦ ĐỀ: ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG QUỐC, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ TỐC ĐỘ CẢI CÁCH TRONG TÂM TRÍ CỦA THÀNH PHẦN TRONG NỘI BỘ CỦA Thành phố Hồ Chí Minh

REF: A. A: HÀ NỘI 269 “TÌNH HÌNH THƯƠNG MẠI”
B. B: 08 HỒ CHÍ MINH CITY 739 “ĐÀN ÁP PHƯƠNG TIỆN TRUYỀN THÔNG TIẾP TỤC”
C. C: HO CHI MINH CITY 169 ” HỘI LUẬT CỦA Thành phố Hồ Chí Minh CẢI TỔ”
Phân loại bởi: Kenneth J. Fairfax, Tổng lãnh sự Mỹ
Tổng Lãnh sự quán TP Hồ Chí Minh, Bộ Ngoại giao.
LÝ DO: 1,4 (b), (d)

1.(C) Tóm tắt: Ba nhân vật công cộng quan trọng, từng có mặt ở trong chính phủ và doanh nghiệp tư nhân ở thành phố Hồ Chí Minh, nói chuyện với Giám đốc Stephen Blake của EAP / MLS về các vấn đề quan trọng nhất mà Việt Nam phải đối mặt : Ảnh hưởng của Trung Quốc, Sự phát triển xã hội dân sự và tương lai của cải cách kinh tế. Mối quan hệ phức tạp giữa VN với Trung Quốc, đặc biệt gần đây là kế hoạch khai thác bô xít ở Tây Nguyên, đã kích động thế giới blogger của Việt Nam, theo như Phó Chủ tịch Hiệp hội luật sư thành phố Hồ Chí Minh và thành viên Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Trương Trọng Nghĩa cho biết.

Nhà ngoại giao đã nghỉ hưu và nhà tư vấn cho đầu tư Tiến sĩ Lương Văn Lý đánh giá rằng vai trò của các phương tiện truyền thông được phép – hay chính xác hơn là không được phép trong việc vạch trần tham nhũng tại Việt Nam, đã cho thấy cải cách chính trị đang đi thua xa đằng sau cải cách kinh tế. Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Phó TPHCM Lê Hải Trà nhấn mạnh rằng cải cách kinh tế là một vấn đề tốc độ – đi ngược trở lại về hướng cũ không là cái mà các nhà hoạch định chính sách thậm chí còn xem xét đến nữa. Cuối bản tóm tắt.

Trung Quốc vẫn còn là một vấn đề tầm cỡ lan rộng

2. (C) Ngày 15 tháng 3 EAP / MLS Giám đốc Stephen Blake gặp ba người nổi bật tại thành phố Hồ Chí Minh để hiểu những vấn đề trong tâm trí của người Việt Nam. Những lo ngại về tham vọng của Trung Quốc thường là một chủ đề xuyên suốt thảo luận.

Theo Tiến sĩ Lương Văn Lý, Trung Quốc là gốc của, hoặc ít nhất là một đóng góp đáng kể về nhiều vấn đề khó khăn của Việt Nam. Ông nhấn mạnh rằng Trung Quốc là nguồn thâm hụt thương mại nước ngoài chủ yếu của Việt Nam, cả vật liệu công nghiệp nặng và các sản phẩm rẻ tiền từ Trung Quốc, tràn ngập thị trường Việt Nam. (Lưu ý: Tổng cục Thống kê của Việt Nam ước tính sau khi thâm hụt thương mại 18 tỷ USD trong năm 2008, VN đã có thặng dư thương mại $ 1,7 tỷ USD trong quý đầu tiên của 2009). Ông Trương Trọng Nghĩa. Trích dẫn ví dụ nhập khẩu xe máy Trung Quốc giá thấp đến $ 200 USD. Ông Nghĩa nghi ngờ những động cơ của Trung Quốc từ lý do kinh tế cho đến lý do dân tộc, ông nhận xét rằng sự thống trị thị trường của hàng giá rẻ của Trung Quốc là mối quan tâm kinh tế và an ninh của Việt Nam.

3.(C) Nỗ lực của Trung Quốc để gây ảnh hưởng trên toàn Việt Nam biểu hiện qua nhiều hình thức đa dạng, những người liên lạc của chúng tôi đều đồng ý như vậy. Ngoài ảnh hưởng kinh tế, ông Nghĩa giải thích rằng Trung Quốc sử dụng các mối quan hệ giữa Hai Đảng từ lâu đã gây ảnh hưởng đến chính sách của chính phủ, thậm chí gây thiệt hại cho môi trường của Việt Nam. Một ví dụ là gần đây Chính phủ Việt Nam nhượng đất cho một công ty Trung Quốc được quyền khai thác bauxite ở hai tỉnh Tây Nguyên, Đắk Nông và Lâm Đồng (septel).

Nhượng quyền đất được cấp mà không đếm xỉa đến sự thiếu sót trong lợi ích cho các cộng đồng địa phương bị ảnh hưởng và mối quan tâm sâu sắc về thành tích bảo vệ môi trường của Trung Quốc. Tuy nhiên, những người liên lạc với chúng tôi đã cẩn thận xác định rằng trong khi người Việt không cảm thấy bị đe dọa bởi cộng đồng dân tộc người Trung Quốc đã sống ở Việt Nam qua nhiều thế hệ, nhưng nhiều người đã bày tỏ mối nghi ngại nghiêm trọng về việc là có thể 10.000 người lao động Trung Quốc đã xâm nhập Việt Nam và ảnh hưởng do nhóm người nầy có thể tạo ra cho Trung Quốc vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam.

Trung Quốc đã đẩy các quốc gia Đông Nam Á chấp nhận những dự án đầu tư cần số lượng lớn công nhân Trung Quốc , cái nầy có thể được xem như là một hình thức chủ nghĩa thực dân mới, Ông Lý cho biết, ngay bên kia biên giới Cam-pu-chia, nhiều người dân Trung Quốc, mà gần đây mới được cấp quốc tịch Campuchia, đang mua đất để húc lại Việt Nam.

“Những áp lực gì Trung Quốc sẽ đặt vào Chính phủ Việt Nam khi mười ngàn hay hai mươi ngàn người lao động Trung Quốc đang ở vùng Cao nguyên miền Trung nhạy cảm? Ông Lý hỏi. (Bình luận: Cả hai nhóm, cộng đồng blogger người Việt trong nước và các tổ chức người Việt Nam ở nước ngoài, đã đăng hình ảnh của dân lao động chân tay Trung Quốc và các dấu hiệu ngôn ngữ Trung Quốc ở tỉnh Lâm Đồng. Gần đây, vấn đề này đã đột nhập vào báo chí nhà nước với các bài báo lên án số lượng công nhân Trung Quốc tham gia vào các dự án cơ sở hạ tầng tại thành phố Hồ Chí Minh. Cuối bình luận).

Phương pháp tiếp cận truyền thông của Chính phủ Việt Nam tiên đoán xấu cho xã hội dân sự

¶ 4. (C) Còn về đồng bào của mình, bầu không khí lại đầy sự mỉa mai khi Tiến sĩ Lý, từng là Phó giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư của Thành phố Hồ Chí Minh và bây giờ là một nhà tư vấn đầu tư, tuyên bố rằng quan liêu và tham nhũng vẫn còn là những vấn đề to lớn chưa được giải quyết cho đất nước. Cái việc mà Chính phủ Việt Nam rất là miễn cưỡng để có những hành động thật sự chống tham đã để Ông Lý tự hỏi “Quốc gia đang đi đâu?” Ông Nghĩa nói thêm rằng cái “chi phí trung gian” để làm kinh doanh tại Việt Nam rất cao, và những cái tệ nạn tham nhũng, chậm trễ, hối lộ, và bộ máy quan liêu đang kìm hãm sự phát triển. Mặc dù người dân phẫn nộ về tham nhũng, không có ai trong chính phủ đang cố bài trừ nó có hiệu quả. Hơn nữa, Việt Nam vẫn còn thiếu nhiều cơ chế thực thi cần thiết, biện pháp ngăn chặn hoặc ngay cả một hệ thống tư pháp có khả năng.

5. (C) Chúng ta nên xem Chính phủ Việt Nam xử lý các phương tiện truyền thông như thế nào, Ông Lý nói, nếu như các phương tiện truyền thông cứ tiếp tục bị quản lý bởi Chính phủ Việt Nam , thì nó không có chức năng như một cơ quan giám sát chống tham nhũng hoặc thậm chí đặt câu hỏi về việc Chính phủ đang làm công việc của mình. “Chỉ cần nhìn vào sự thay thế biên tập viên của báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên (ref B) là biết bàn tay của chính phủ trong việc quản lý các phương tiện truyền thông.” Cùng lúc, hầu hết các tổ chức dân sự Thành phố Hồ Chí Minh phải đối mặt với những thách thức mà họ phải gắn ngượng để phát triển.

(Bình luận: Mặc dù được nhắc lặp đi lặp lại, ông Nghĩa, Phó chủ tịch Hiệp hội luật sư của thành phố Hồ Chí Minh, không để mình bị lôi kéo vào chủ đề nầy hoặc nhận xét về sự tiến hóa của Hội luật sư hoặc cái mối quan hệ đôi khi khó khăn của Hội (ref C) với Chính phủ Việt Nam. Cuối bình luận).

Không Chắc về Tốc Độ , nhưng Chắc về Phương Hướng Cải Cách

6. (C) Khi Việt Nam ngày càng bị ảnh hưởng tác động của khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới, Việt Nam trông nhìn vào Hoa Kỳ đi đầu về phục hồi kinh tế, Phó Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Ông Trà nói. Điều này đặc biệt quan trọng vì sự phụ thuộc vào hang xuất khẩu sang Hoa Kỳ của Việt Nam và sự Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong lĩnh vực xuất khẩu. Mặc dù Chính phủ Việt Nam dự đoán tăng trưởng GDP là 6,5% trong năm nay, Trà, Lý và Nghĩa tất cả đã đồng ý 4% là thực tế hơn. Trà đã chỉ ra rằng tuy bất động sản ở thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn đắt tiền, nhưng thị trường bất động sản thương mại đã đi xuống. Các ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay, và rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu các khoản vay không hoàn trả trở nên phổ biến hơn. Tạo việc làm sẽ là chìa khóa để duy trì tăng trưởng, họ đều đồng ý, và Chính phủ Việt Nam lo ngại về triển vọng một số lượng lớn công nhân nhà máy bị sa thải ở đô thị và trở lại cùng nông thôn, mặc dù điều này chưa xảy ra.

7. (C) Mặc dù quan tâm, cả 2 người tiếp xúc đều tin chắc Việt Nam sẽ tiếp tục con đường cải cách kinh tế; họ đã đồng ý, tuy nhiên Chính phủ Việt Nam quyết định tăng tốc hoặc làm chậm hơn nữa những cải cách quản trị và việc hội nhập kinh tế thế giới thì vẫn còn là một vấn đề của cuộc tranh luận. Tiến sĩ Lý cho rằng Việt Nam phải tiếp tục don dẹp gọn gàng “nền kinh tế” bằng cách giảm số lượng các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), và tăng tốc độ cải cách bộ máy nhà nước. Ông Nghĩa cho rằng cải cách sẽ chậm, khi Chính phủ Việt Nam tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp nhà nước ốm yếu. Ông Trà đã chỉ ra rằng nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn còn nhưng sự quan tâm mua cổ phần của các công ty yếu kém còn thấp . Một số doanh nghiệp như Hãng Hàng Không Việt Nam và Du lịch Sài Gòn có vẽ có lợi nhuận, nhưng tình hình tài chính của họ không minh bạch. Ông Trà nói thêm rằng đây là thời gian để suy nghĩ lại toàn bộ chiến lược phát triển của Việt Nam, nhấn mạnh rằng chính phủ cần cho phép các doanh nghiệp thực hiện quyết định của riêng mình. Trong khi tốc độ cải cách có thể làm chậm hoặc thậm chí dừng lại, cả ba người liên lạc đều đồng ý, “không thể đi trở lại theo con đường cũ nữa. ”

8. (C) Bởi vì những người được liên lạc có nhiều kinh nghiệm hằng thập kỷ của ở hạng cao cấp cả trong và ngoài của chính phủ, quan điểm của họ có thể là gần nhất với những gì mà nhóm lảnh đạo của thành phố Hồ Chí Minh hiện đang suy nghĩ. Trong quá trình thảo luận, sự tranh luận sống động, và những người liên lạc của chúng tôi tự do trao đổi những lời chọc khi không đồng ý về điểm cụ thể nào đó. Những nhà tay trong chính trị và kinh tế nầy có quan điểm khác nhau về các bước tiếp theo của Chính phủ Việt Nam trong sự kiện hội nhập kinh tế và cải cách chính quyền, trong khi chia sẻ những mối quan tâm về ảnh hưởng lan rộng của Trung Quốc.
Wikileaks: Cứ tham nhũng, đã có Ðảng ‘bảo kê’

WESTMINSTER (NV) – Tiền, quyền lợi cá nhân và quyền lợi thân tộc là động lực chính đằng sau cỗ máy chính trị của Ðảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay. Ðó là ghi nhận của hai công điện do Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại thành phố Hồ Chí Minh gởi về Washington D.C. trong hai tháng cuối năm 2009.

Hai công điện, một viết hồi tháng 10, một viết hồi tháng 12, 2009, bao gồm nội dung các cuộc nói chuyện riêng của ngoại giao Hoa Kỳ với một doanh gia và một quan chức thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Cả hai nhân vật Việt Nam đều bày tỏ sự ngao ngán trước tình trạng tham nhũng lan tràn. Cả hai bày tỏ sự bất lực trước tình trạng tham nhũng không thể ngăn chặn, mà phần lớn là vì, dưới sự bảo vệ của đảng, các đảng viên gần như trở thành “bất khả xâm phạm.”

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/articlefiles/137332-DH-Dang-400.jpg

Đại hội lần thứ 11 của đảng CSVN. Theo công điện của Ngoại giao Hoa Kỳ, dưới sự bảo vệ của đảng, các đảng viên gần như trở thành “bất khả xâm phạm. (Hình: Getty Images)

Vào Ðảng để kiếm tiền!

Một doanh gia tại Sài Gòn nói, Ðảng Cộng Sản bị chi phối bởi nhóm đảng viên “chỉ muốn làm giàu cho cá nhân và gia đình họ,” và nhóm này “chống lại tiến trình minh bạch hóa hoặc những cuộc chiến chống nạn tham nhũng.”

“Tiền bạc đóng vai trò tai hại trong cơ chế hoạch định chính sách của Ðảng Cộng Sản, và cũng chính vì tiền mà đảng này bị Trung Quốc lợi dụng để mở rộng quyền lợi của họ tại Việt Nam, bất kể sự bực mình ngày càng lan rộng của quần chúng đối với chính sách của chính phủ và Ðảng CSVN đối với Trung Quốc.” Vẫn theo lời doanh gia.

“Trên thực tế, quyền lợi kinh tế của cá nhân (đảng viên cộng sản) đã và đang trở thành yếu tố quan trọng nhất trong tiến trình làm chính sách của đảng. Tiến trình hoạch-định-chính-sách-dựa-trên-tiền khiến Ðảng Cộng Sản Việt Nam ngày càng được tổ chức dựa theo tinh thần bè phái, loại bè phái được định hình bởi các thỏa hiệp về quyền lợi kinh tế.”

Doanh nhân này nhận định, sự ra đời của tinh thần bè phái dựa trên quyền lợi kinh tế là một hiện tượng hoàn toàn mới. Hiện tượng này xuất hiện từ cuối năm 2005 và từ đó trở thành khuynh hướng chính trị có tính cách quyết định đối với Việt Nam: “Vào đảng, tất cả là vấn đề tiền bạc!”

“Hệ quả tất yếu, và nguy hiểm, của sự thăng tiến của nhóm đặc quyền kinh tế trong đảng chính là khuynh hướng chống lại sự minh bạch, chống lại cải tổ, chống lại điều hành chính phủ tích cực – vốn từng có thời được áp dụng. Sự đảo chiều này không phải do nhóm thủ cựu lấn thế, mà do quan điểm của nhóm đặc quyền kinh tế, xem sự minh bạch, tự do ngôn luận và cải tổ là trở ngại để họ thu vén quyền lợi.”

Trong số thành phần lãnh đạo chủ chốt của Ðảng Cộng Sản, có rất nhiều người hiểu rằng, đảng sẽ mất quyền kiểm soát nếu cứ tiếp tục đi theo con đường này. Tuy nhiên, thay vì ủng hộ khuynh hướng cải tổ để xây dựng sự ủng hộ cho đảng, họ tập trung mọi khả năng để kìm chế những thay đổi tích cực, cho dầu chỉ là tạm thời, để có thể vơ vét càng nhiều càng tốt cho riêng họ và gia đình họ.

“Họ muốn vơ vét trước khi khuynh hướng chống đảng thắng thế.”

Khi được hỏi có phải cá nhân ông Nguyễn Tấn Dũng kiểm soát những tập đoàn quốc doanh lớn nhất hay không, doanh gia này nhận định, “nhiều quyết định tại Việt Nam phải đi qua Văn Phòng Thủ Tướng, để thủ tướng ra quyết định.”

Trong số những quyết định này, có quyết định phân chia đất đai, tài nguyên – và quan trọng nhất – quyết định hỗ trợ tín dụng do nhà nước bảo đảm (và vì vậy phân lời thấp). Vì có quyền chấp thuận hoặc bác bỏ các quyết định ấy, “Thủ Tướng Dũng đủ sức khống chế, và khống chế một cách hiệu quả, các tập đoàn kinh tế quốc doanh lớn.” Tuy nhiên, những tập đoàn này lại cạnh tranh với nhau, không phải trên thương trường, mà thường là “trong cuộc đua để xem ai có thể cung cấp bổng lộc nhiều hơn cho gia đình và cho những đảng viên chủ chốt đã đứng ra ủng hộ họ.”

“Dưới quyền Thủ Tướng Dũng, các tập đoàn kinh tế quốc doanh ngày càng trở nên trung tâm của tiến trình chính trị, và là cỗ máy chính yếu mà Ðảng Cộng Sản sử dụng để thu vén quyền lợi cho đảng viên. Các tập đoàn này cũng ngày càng trở nên thiếu hiệu quả. Lý do là vì họ đo sự ‘thành công’ bằng khả năng phân phối tài nguyên quốc gia đến các giám đốc và người ủng hộ, chứ không bằng khả năng kinh doanh.”

Ðiều quan trọng, vẫn theo công điện thuật lời doanh nhân, tiền và quyền lợi chi phối cả các quyết định liên quan đến Trung Quốc – theo chiều hướng tiêu cực.

“Vì biết Ðảng Cộng Sản bị chi phối bởi tiền, giới lãnh đạo Trung Quốc sẵn sàng tung tiền để tiếp cận đảng viên Việt Nam, và qua đó mở rộng ảnh hưởng của Bắc Kinh tại Việt Nam. Trong khi quần chúng không ưa Trung Quốc, và trong khi một số cơ quan thuộc chính phủ Việt Nam cũng rất không ưa Trung Quốc vì cho rằng quyền lợi làm ăn với Trung Quốc gắn liền với nạn tham nhũng, thì quyền lực chính trị của Trung Quốc lại thăng tiến ngay trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Lý do là vì, đây (Ðảng Cộng Sản Việt Nam) chính là nơi mà Ðảng Cộng Sản Trung Quốc biết rằng họ phải tập trung mọi nỗ lực để có được ảnh hưởng thật sự tại Việt Nam.”

Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ghi nhận, trong nhiều cuộc nói chuyện với ở chốn riêng tư với giới tư doanh thành đạt tại Sài Gòn, giới này thường chỉ trích trực tiếp vai trò của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng nhiều người khác đã hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước – vốn ngày càng lớn thêm lên và có vai trò tàn phá trong nền kinh tế.

“Bảo kê” của Ðảng

Nội dung một cuộc nói chuyện khác, với một quan chức của thành phố Hồ Chí Minh, tái khẳng định quan điểm của giới doanh gia về nạn tham nhũng và sự bảo bọc của đảng đối với đảng viên của mình.

Công điện làm ngày 17 tháng 12, 2009 bàn về chức năng và thực lực của cơ quan Thanh Tra Chính Phủ tại Sài Gòn. Công điện trích lời quan chức này, rằng chống tham nhũng tại thành phố Hồ Chí Minh là công việc “tứ bề thọ địch.”

Bởi vì cơ quan Thanh Tra Chính Phủ không được quyền truy tố, và cũng không có thẩm quyền phối hợp (với các cơ quan khác), các cuộc điều tra công chức tham nhũng dễ dàng bị ngăn chặn bởi quan chức các bộ và ngành. Các cuộc điều tra tham nhũng liên quan đến đảng viên thậm chí không thể được tiến hành nếu không được giới lãnh đạo đảng cho phép.

Bên cạnh những khó khăn này, giới thanh tra cho rằng thách thức lớn nhất của họ bắt nguồn từ quan điểm của tất cả mọi công chức chính quyền, rằng chính “giới lãnh đạo cao cấp nhất của họ cũng dùng quyền lực để tham nhũng, để thu vén quyền lợi cá nhân.” Và vì vậy, “tham nhũng là điều chấp nhận được.”

Theo quan chức này, nỗ lực chống tham nhũng sẽ không bao giờ thành công trừ khi giới lãnh đạo cao nhất của đảng và chính phủ chịu nhúng tay vào. Ông nói, những người chịu trách nhiệm chống tham nhũng “không bao giờ có thể thuyết phục được giới công chức đừng nhận hối lộ, đừng lạm dụng ngân sách, hoặc đừng lạm dụng quyền hành, nếu giới này vẫn còn tiếp tục chứng kiến cảnh lãnh đạo của họ, thành viên gia đình và bạn bè của lãnh đạo, vẫn cứ tiếp tục trở nên giàu có (nhờ vào tham nhũng).”

“Tham nhũng ở Việt Nam diễn ra từ nóc,” “và chỉ có thể chấm dứt bằng cách bắt đầu từ nóc.”

Ở Việt Nam, Thanh Tra Chính Phủ không được quyền khởi tố, không được phép yêu cầu các cơ quan khác nhau cùng hợp tác điều tra. Trong khi Thanh Tra Chính Phủ có thể điều tra từng cá nhân một, họ lại không được quyền khám xét văn phòng làm việc, khám xét computer, giấy tờ của các cá nhân đang bị điều tra, nếu không có “cơ quan chủ quản” viết giấy cho phép. Thậm chí, nếu một cấp trên trực tiếp của người đang bị điều tra đồng ý cho phép điều tra, chỉ cần một người khác, cấp cao hơn, bảo phải ngưng, thì toàn bộ tiến trình điều tra phải dừng lại.

Quan chức này nói, tại Việt Nam, công an có thẩm quyền tuyệt đối. “Công an chuyên về mảng an ninh và chính trị đứng riêng, có thẩm quyền tuyệt đối trong việc yêu cầu, hoặc trực tiếp nhúng tay, tịch thu tài liệu của bất cứ ai, không cần lệnh tòa.”

Mặc dầu Việt Nam có cơ quan “Thanh Tra Chính Phủ,” có vẻ như cơ quan này chỉ tồn tại “làm vì.” Thanh Tra Chính Phủ tại thành phố Hồ Chí Minh “hoàn toàn không được quyền điều tra đảng viên, bất kể đảng viên cao cấp hay đảng viên quèn, nếu không được phép của Thành Ủy.”

“Thậm chí với đảng viên cấp thấp nhất, quyết định điều tra cũng phải do Bí Thư Thành Ủy cho phép, tức là phải có phép của Bí Thư Thành Ủy, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Lê Thanh Hải và Phó Bí Thư Nguyễn Văn Ðua.”

“Ðối với các thành viên tương đối cao cấp, hoặc đối với các vụ “nổi cộm,” Thành Ủy thành phố Hồ Chí Minh chắc chắn sẽ phải đưa ra cho lãnh đạo đảng tại Hà Nội quyết định.”

Bởi vì phải xin phép trước khi điều tra, các thanh tra luôn bị rơi vào tình huống: Ðảng sẽ không cho phép điều tra nếu không có chứng cứ rành rành về một cá nhân nào đó tham nhũng; hoặc là các thanh tra viên có thể bị kỷ luật, hoặc thậm chí bị bỏ tù, nếu cứ việc điều tra trước khi được cho phép.

Trên thực tế, một đảng viên chỉ bị điều tra nếu có một cơ quan vệ tinh nào đó của đảng, chẳng hạn Mặt Trận Tổ Quốc, yêu cầu phải có điều tra, dựa trên những tố cáo có bằng chứng hẳn hoi. Thậm chí trong các trường hợp này, đảng cũng sẽ yêu cầu đảng viên phạm lỗi “tự kiểm,” chứ thường là không cho phép tiến hành điều tra. Những đảng viên không biết tự kiểm, hoặc làm cho đảng mất mặt, thì đảng chắc chắn sẽ cho phép điều tra. Thậm chí, trong những trường hợp ấy, một số đảng viên cao cấp sẽ nhảy vào, tung ô dù che chở cho những đảng viên đàn em trung thành với mình.

Vụ Huỳnh Ngọc Sỹ và Xa Lộ Ðông-Tây là một ví dụ. Thanh Tra Chính Phủ đã yêu cầu được điều tra vụ này, nhưng bị từ chối. Huỳnh Ngọc Sỹ có mối quan hệ cá nhân rất thân với Bí Thư Thành Ủy Thành Phố Hồ Chí Minh, Lê Thanh Hải!

Trong một chuyến viếng thăm tỉnh Kiên Giang vào hai ngày 6 và 7 tháng 4 năm 2006, ông Seth Winnick, tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đã tìm hiểu qua giới chức địa phương về thân thế một nhân vật từng có thời niên thiếu ở vùng này, đó là ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng Việt Nam.

Những dữ kiện thu thập trong chuyến đi được ông Seth Winnick tường trình trong công điện ngày 13 tháng 4 năm 2006, gửi về cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ở Hoa Thịnh Ðốn, vẽ nên chân dung ông Dũng như một người con yêu của Kiên Giang, và giải thích lý do tại sao sự nghiệp chính trị của ông Dũng chỉ trong một thời gian ngắn đã lên như diều gặp gió.http://vanganh.info/wp-content/uploads/2011/09/NguyenTanDung.jpg

Theo một công điện của Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ Sài Gòn gửi về Hoa Thịnh Ðốn, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng là người có sự nghiệp chính trị rất thuận buồm xuôi gió, vì được sự hậu thuẫn của cả Lê Ðức Anh, cựu chủ tịch nước, thuộc thành phần bảo thủ, và Võ Văn Kiệt, cựu thủ tướng và là nhân vật có khuynh hướng cải tổ nặng ký nhất. (Hình: HoangDinhNam/AFP/Getty Images)

‘Người con Kiên Giang’

Công điện cho biết, theo lời ông Bùi Ngọc Sương, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang, ông Dũng ra đời tháng 11 năm 1949 ở tỉnh Cà Mau, và sau đó theo gia đình dọn hẳn về Kiên Giang.

Ông Sương cho hay, cha của ông Dũng là một lãnh đạo cao cấp của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), bị giết chết khi ông Dũng còn tấm bé. Sau cái chết của cha, ông Dũng cũng gia nhập MTGPMN. (Lý lịch của ông Dũng ghi rằng ông gia nhập Quân Ðội Nhân Dân Việt Nam vào năm 1961, khi mới được khoảng mười hai, mười ba tuổi, và gia nhập đảng Cộng Sản vào năm 1967.)

Vẫn theo lời chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kiên Giang, ông Dũng từng là y tá cứu thương cho MTGPMN, và trong thời kỳ chiến tranh, được lên chức đội trưởng đội phẫu thuật Kiên Giang. Ðịa bàn hoạt động của ông Dũng lúc đó là rừng U Minh, nơi một thời là thành trì vững chắc của MTGPMN.

Sau 20 năm phục vụ trong quân đội, ông Dũng giải ngũ năm 1981 với chức vụ thiếu tá, rồi được đưa về đào tạo ở Học Viện Chính Trị Nguyễn Ái Quốc của đảng CSVN tại Hà Nội, nơi ông đã lấy được bằng cử nhân luật và bằng tốt nghiệp về nghiên cứu chính trị.

Sau khi tốt nghiệp Học Viện Chính Trị, ông Dũng được bổ nhiệm làm phó Trưởng Ban Cán Bộ và Tổ Chức Tỉnh Ủy Kiên Giang.

Một đoạn trong công điện viết:

“Dũng nhanh chóng thăng quan tiến tiến chức trong hàng ngũ đảng cấp tỉnh. Chỉ trong vòng một thập niên, ông được bổ nhiệm làm bí thư Tỉnh Ủy Kiên Giang, đồng thời là thành viên Ðảng Ủy Quân Khu 9.

Năm 1986, tại Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ 6, Dũng được bầu là ủy viên của Ban Chấp Hành Trung Ương Ðảng. Cuối năm 1994, ông được chuyển về Hà Nội để nhận chức thứ trưởng Bộ Nội Vụ (sau này được đổi tên thành Bộ Công An).”

Công điện cũng cho biết, với Kiên Giang, ông Dũng luôn là người con gắn bó với nơi chôn nhau cắt rốn.

Theo giới chức tỉnh Kiên Giang, ông Dũng thường xuyên về thăm quê và cắt cử nhiều người gốc Kiên Giang, hay thuộc đồng bằng Sông Cửu Long vào những vai trò quan trọng tại Hà Nội.

Công điện tiết lộ:

“Một nguồn tin đáng tin cậy tại Kiên Giang nói với Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ rằng, Ủy viên Bộ Chính Trị kiêm Bộ Trưởng Bộ Công An Lê Hồng Anh cũng là người được Dũng đỡ đầu và giúp trở thành người kế nhiệm ông làm bí thư tỉnh Kiên Giang, rồi sau đó ra Hà Nội.”

Cũng theo công điện, một vài người Kiên Giang khác được ông Dũng nâng đỡ.

“Dũng còn bổ nhiệm ông Huỳnh Vĩnh Ái, cựu phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Kiên Giang vào chức phó chủ tịch của Ủy Ban Thể Dục Thể Thao quốc gia, một chức tương đương với Thứ trưởng. Ở chức vụ này, Ái được trao trách nhiệm điều hành việc hợp pháp hóa một số những hình thức cá cược thể thao. Ngoài ra, Dũng cũng đưa cựu giám đốc Sở Y Tế tỉnh Kiên Giang là ông Trần Chí Liêm ra Hà Nội, và giờ đây Liêm là thứ trưởng Bộ Y Tế.”

Tả phù hữu bật

Giải thích con đường quan lộ thuận lợi của Nguyễn Tấn Dũng, Tổng Lãnh Sự Seth Winnick dùng những cụm từ như “Ties of Blood” hay “Blood Debt” để mô tả thâm tình giữa Nguyễn Tấn Dũng với cả hai cánh tả lẫn hữu của đảng CSVN.

Ông Seth Winnick viết trong công điện:

“Một nguồn tin ở đồng bằng sông Cửu Long cho biết, cha của Nguyễn Tấn Dũng tử nạn vì bị Hoa Kỳ hay quân đội VNCH tấn công ngay giữa lúc đang họp với hai lãnh đạo của lực lượng nổi dậy lúc đó là Lê Ðức Anh và Võ Văn Kiệt.”

Công điện giải thích:

“Vẫn theo nguồn tin này, cả Lê Ðức Anh và Võ Văn Kiệt tin rằng họ nợ Dũng một món ‘ân oán’, và có bổn phận phải đền bù cho Dũng.

Ðó là lý do tại sao, dù có lập trường đối nghịch nhau, cả hai, Lê Ðức Anh thuộc thành phần bảo thủ, từng giữ chức chủ tịch nước từ năm 1992 đến 1997, và sau khi về hưu vẫn có rất nhiều thế lực; và Võ Văn Kiệt, cựu Thủ Tướng và là nhân vật có khuynh hướng cải tổ nặng ký nhất, đều cùng tiếp tay hỗ trợ cho sự nghiệp chính trị của Dũng.”

Công điện còn cho biết các giới chức đồng bằng sông Cửu Long, “dù không lạm bàn về khuynh hướng chính trị của Dũng,” tỏ ra “rất hãnh diện về người con yêu xứ Kiên Giang.”

Công điện ghi rõ nhận xét của người Kiên Giang về Nguyễn Tấn Dũng: “Dũng là một người bộc trực thẳng thắn, dám nói, dám làm, không ngại có những quyết định táo bạo. Thí dụ, ông là người đầu tiên trong nhóm lãnh đạo cao cấp dám gửi con qua học đại học tại Hoa Kỳ.”

Các viên chức Kiên Giang cũng đánh giá rằng, liên hệ của ông Dũng với cả cựu Chủ Tịch nước Lê Ðức Anh và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt “giúp ông có thế để chống chỏi với áp lực từ cả hai phía bảo thủ và cấp tiến.”

Ngoài thân thế của Nguyễn Tấn Dũng, một công điện khác, từ tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, gửi về cho Bộ Ngoại Giao, ngày 5 tháng 6, năm 2009, cho thấy rõ hơn về con người này, khi mô tả việc Nguyễn Tấn Dũng từng chiếm độc quyền trang nhất của các tờ báo in cũng như báo mạng lớn, để dành cho bài ai điếu của ông, viết trong dịp giỗ đầu của cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt.

Giành giựt chức thừa kế

Công điện cho biết, “chỉ một năm sau cái chết của vị cựu Thủ Tướng cấp tiến Võ Văn Kiệt, giới ủng hộ ông Kiệt than phiền là lãnh đạo đảng cộng sản đương thời hoàn toàn phớt lờ những cải tổ mà ông Kiệt đề nghị, dù muốn bảo vệ di sản của ông.”

Cũng theo công điện, thì mặc dù tỏ ra không mấy tin tưởng vào viễn ảnh của việc cải tổ, giới trí thức Sài Gòn, kể cả những người đã dấy lên phong trào phản đối rầm rộ chính sách khai thác Bô Xít của đảng, cũng công nhận rằng “chủ trương cởi mở và sự thẳng thắn của Kiệt tiếp tục tạo cho họ nguồn cảm hứng để tiếp tục con đường cải cách, và dân chủ hóa Việt Nam mà ông đã vạch ra.”

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là họ đánh giá cao nỗ lực của Nguyễn Tấn Dũng trong việc “dùng hoài niệm Võ Văn Kiệt” để “làm hồi sinh hình ảnh của mình như một nhà lãnh đạo có khuynh hướng cải tổ.”

Thay vào đó, công điện nhận định rằng, người ta (giới trí thức Sài Gòn) “nói về một khoảng trống trong phe cải cách, bởi vì ngày nay, ngoài ông Kiệt ra, không ai hội đủ cả tinh thần cách mạng lẫn uy tín về cải tổ.”

Một đoạn trong công điện viết:

“Ở Việt Nam, ngày giỗ là một cột mốc quan trọng, và theo truyền thống, trách nhiệm cử hành nghi lễ giỗ hàng năm được trao cho người thừa kế.”

Vì vậy, công điện cho biết, vào ngày 28 tháng 5, giới quan tâm tại Sài Gòn đã “chau mày” trước việc Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ra chỉ thị cho tất cả những báo in và các trang báo điện tử lớn, hai ngày trước ngày giỗ của Võ Văn Kiệt, phải đăng một bài viết của Dũng nhân dịp này.

Công điện nêu rõ:

“Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn được cho biết là giới truyền thông nhận chỉ thị trực tiếp từ phủ Thủ Tướng, là bài điếu văn của ông phải được đăng ở trang nhất, và không bài viết nào được đi trước bài của ông.”

Theo nhận định của đại diện Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, bài viết của thủ tướng “chẳng đặc sắc gì hơn một bài tán dương lãnh đạo tiêu biểu, ca tụng ông Kiệt như một chiến sĩ giải phóng nhiệt thành, nhiều sáng kiến, đi tiên phong trong việc hòa giải dân tộc và cải cách kinh tế.”

Thế nhưng, sau khi bài viết của Dũng được công bố, “một loạt các bài viết khác đua nhau xuất hiện.”

Và, “rất nhiều bài viết cả trên báo ‘lề phải’ lẫn cộng đồng blog, mô tả ông Kiệt là vị lãnh đạo cuối cùng của ‘thế hệ đổi mới’: một nhà cải cách vĩ đại, hòa giải; nhưng trên tất cả, là một người ủng hộ dân chủ ở một vị trí độc đáo, có nhiều uy tín và dám công khai kêu gọi cải cách.”

Công điện cho biết thêm là những nhà quan sát chính trị tại Sài Gòn nói với tòa lãnh sự Hoa Kỳ là họ “đánh giá hành động của Dũng là một nỗ lực “khôi phục lại hình ảnh của mình như là một người ủng hộ cải cách.” Và, đặc biệt là để “thu hút sự ủng hộ của giới trí thức cổ xúy cải cách, trong thời gian gần đây đã liên tục chỉ trích chính sách khai thác bauxite tại Tây Nguyên của chính quyền.”

Tuy nhiên, công điện kết luận:

“Trong bối cảnh mà ước nguyện và tư tưởng của Võ Văn Kiệt không được mấy tôn trọng trong năm qua, mánh khóe của Dũng không những đã chẳng giúp ông kiếm được tí điểm nào trong giới trí thức mà còn phản tác dụng.”

Tiên đoán về tân lãnh đạo Việt Nam

Hai ứng viên có sức mạnh ngang ngửa cho chức vụ Tổng bí thư

Wikileaks vừa công bố bức điện của Đại sứ Mỹ tại Hà Nội, Michael Michalak, bình luận về ban lãnh đạo mới của Việt Nam sau đại hội Đảng.

Theo bức điện từ tháng 9/2010 mà Bấm Wikileaks tiết lộ về Việt Nam, trong khi có đến 6 trong số 15 ủy viên Bộ chính trị dự kiến về hưu thì, ''Thường trực Ban bí thư Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là hai ứng viên hàng đầu để thay Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh'.'

Vào Bộ chính trị từ năm 1996 cả ông Dũng và ông Sang đều có nhiều ảnh hưởng trong Đảng - Chính phủ, và ''có lẽ là hai nhân vật chính trị có nhiều quyền lực nhất ở Việt Nam''.

Vấn đề là hai ông đều là người miền Nam do vậy người ta đoán có lẽ ông Sang sẽ bị loại theo qui ước chân vạc ba miền.

Nếu ông Dũng không đứng đầu Đảng thì có nhiều khả năng ông sẽ ngồi lại ghế thủ tướng.

Trong trường hợp đó, hai ứng viên mạnh khác là Chủ tịch quốc hội Nguyễn Phú Trọng, và ủy viên mới nhất của Bộ Chính trị là Trưởng ban Văn hóa Tư tưởng, Tô Huy Rứa, bức điện viết.

Đại sứ Mỹ nhận xét ông Dũng và ông Sang không chuộng cải cách chính trị như là cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhưng mọi người biết họ ''thực dụng, theo kinh tế thị trường, và đều muốn có thêm những bước tiến trong quan hệ với Hoa Kỳ''.

Bức điện đánh giá ông Trọng cũng tương tự, nhưng ông Rứa thì hoàn toàn khác vì việc ông được vào Bộ chính trị ''phản ánh và khẳng định khuynh hướng bảo thủ''.

''Vai trò của ông trong tiến trình chuyển đổi lãnh đạo của Việt Nam sẽ cho thấy sự tự do hóa chính trị - hiện đang ngưng - có được tiếp tục sau 2011, hay sẽ vẫn bị bóp nghẹt.''

Ngày càng già

Độ tuổi tối đa 67 (tăng từ 65 ngay trước Đại hội X) có lẽ sẽ được áp dụng tại đại hội lần này, theo các nguồn tin của Sứ quán Mỹ.

Ông Nguyễn Phú Trọng cũng được nêu tên trong phần tiết lộ của Wikileaks

Nếu vậy các ông Nông Đức Mạnh (71t), Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết (69t), Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm (67t), Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng (67t) sẽ về hưu và người ta phải quyết định trường hợp của ông Nguyễn Phú Trọng (67t) nếu bầu ông là Tổng Bí thư.

Cho chức vụ cao nhất trong đảng này, thì ông Dũng và ông Sang ngang ngửa nhau trong Bộ chính trị, nhưng người ta nhắc nhiều đến ông Sang hơn, theo bình luận của Đại sứ Mỹ.

Trong tư cách Thường trực Ban bí thư, ông Sang trông coi công chuyện hàng ngày của đảng, nhờ vậy ''củng cố được vị thế trong Ban Chấp hành Trung ương''.

Mặc dù phần nào mang tiếng trong vụ án Năm Cam, bức điện viết ông Sang được cho là ''người môi giới quyền lực chủ yếu của Đảng trong nhiều lĩnh vực, kể cả trong kinh tế''.

Một số nguồn tin của Sứ quán Mỹ nói ông Sang trên thực tế đã bắt đầu thay thế Tổng bí thư.

Cũng theo bức điện, một số nguồn tin khác nghĩ ông Mạnh từ một thời gian qua vẫn ở vị trí chỉ huy nhưng không quyết định chính sách mà đã chuyển sang công tác xây dựng đảng.

Trong khi đó, tham vọng làm Tổng bí thư của ông Dũng đã bị ảnh hưởng sau những chỉ trích về chủ trương khai thác bauxite.

Bức điện mà Wikileaks tiết lộ và được báo Anh The Guardian công bố đúng ngày Đ̣ai hội XI khai mạc 12/01/2011, có đoạn:" Tuy vậy đa số các nguồn tin nghĩ rằng ông Dũng trong vị thế tốt để duy trì ghế thủ tướng,''

Wikileaks: Lý Quang Diệu nói gì về Việt Nam?

Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu

Ông Lý Quang Diệu làm Thủ tướng Singapore từ năm 1959 đến 1990

Một điện tín ngoại giao mới được tiết lộ trên trang Wikileaks cho biết cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu của Singapore đã từng nói rằng khối Asean lẽ ra không nên nhận Việt Nam, Lào, Campuchia và Miến Điện vào làm thành viên trong thập niên 90.

Ông Lý Quang Diệu còn nhận xét giới lãnh đạo Miến Điện là “đần độn” và “ngu dốt”.

Điện tín được Wikileaks tung ra hôm 14/12 tóm tắt cuộc trò chuyện vào năm 2007 giữa ông Lý Quang Diệu với đại sứ Mỹ tại Singapore khi đó là bà Patricia L. Herbold và phó trợ lý Ngoại trưởng Thomas Christensen.

Điện tín cho biết tại cuộc gặp hôm 16/10/2007, ông Lý nhận xét với hai vị khách là sự ổn định trong khu vực sẽ được cải thiện thêm nếu Asean biết “hành động cùng nhau”.

Tuy nhiên, ông nói rằng Asean lẽ ra không nên nhận Miến Điện, Campuchia, Lào và Việt Nam vào làm thành viên trong thập niên 90.

Đó là vì các thành viên cũ của Asean chia sẻ các giá trị chung và bài Cộng sản. Các giá trị này, theo ông, đã bị các thành viên mới vào “làm vẩn đục”, và các thành viên mới sẽ không hành xử như các thành viên cũ do họ có nhiều vấn đề về kinh tế và xã hội.

Ba nước Đông Dương

Điện tín cho biết ông Lý tỏ ra lạc quan về Việt Nam. Ông nhận xét người Việt Nam là những người “sáng dạ, học hỏi nhanh”, và sẽ đóng góp cho sự phát triển của Asean.

Bên cạnh đó, ông Lý nhận xét Việt Nam không muốn thấy ảnh hưởng của Trung Quốc quá lớn mạnh tại Asean.

Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Asean

Khối Asean hiện bao gồm 10 nước Đông Nam Á

Về Campuchia, ông Lý nhận xét nước này vẫn chưa hồi phục và thoát ra khỏi lịch sử khó khăn của họ, trong khi hệ thống chính trị lại quá tập trung vào một mình Thủ tướng Hun Sen.

Ông Lý nhận xét Lào là “tiền đồn” cho Trung Quốc; nói rằng Lào báo cáo lại mọi diễn biến tại tất cả các cuộc họp của Asean cho Trung Quốc.

‘Đần độn’

Theo bức điện tín, ông Lý Quang Diệu tỏ ra đặc biệt coi thường giới lãnh đạo Miến Điện.

Ông nói với hai vị khách Mỹ là giới lãnh đạo Miến “đần độn” và “ngu dốt”, và nói họ đã “quản lý tồi” các nguồn lực tự nhiên dồi dào của nước này.

Ông ví nói chuyện với chính quyền quân nhân Miến Điện chẳng khác gì “nói chuyện với người chết”.

Ông Lý nhận xét Trung Quốc có ảnh hưởng mạnh nhất tới thể chế Miến Điện, và đã thâm nhập rất sâu vào nền kinh tế Miến.

Ông Lý Quang Diệu, năm nay 87 tuổi, vốn nổi tiếng hay nói thẳng và có các đánh giá mạnh bạo về quan hệ quốc tế, mặc dù ông hay tránh lăng mạ công khai giới lãnh đạo nước ngoài.

Ông là Thủ tướng Singapore từ năm 1959 đến 1990, và vẫn giữ chức cố vấn cao cấp cho Thủ tướng hiện nay là con trai ông Lý Hiển Long.

Một năm sau ngày mất của ông Võ Văn Kiệt, cựu Thủ tướng với đầu óc đổi mới, những người ủng hộ ông nói những ý tưởng của ông đã bị những lãnh đạo Đảng hiện nay lờ đi, mặc dù họ cố bám vào di sản ông để lại. Ông Kiệt đặc biệt được kính trọng ở tp Hồ Chí Minh, nơi ông dành được uy tín như một nhà lãnh đạo mạnh mẽ lúc còn làm Bí thư thành ủy, và đã phát triển những tư tưởng cải tổ. Giới trí thức tp Hồ Chí Minh không mắc lừa những nỗ lực của ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng hiện tại của Việt Nam, cố gắng sử dụng ký ức về ông Kiệt để tạo cho mình hình ảnh một nhà lãnh đạo có đầu óc cải cách. Thay vào đó, họ nói phe cải cách lúc này đang vắng bóng một nhà lãnh đạo vừa có uy tín mạnh mẽ lại vừa có đầu óc cải tổ như ông Kiệt. Bất chấp sự chua cay đó, giới trí thức tp Hồ Chí Minh (bao gồm nhiều người lên tiếng phản đối công khai chưa có tiền lệ đối với dự án khai thác bauxite của chính phủ) nói tư tưởng và sự thẳng thắn của ông Kiệt tiếp tục là nguồn cảm hứng cho họ đi theo con đường cải cách và dân chủ hóa Việt Nam.

Bám vào một di sản

Trong văn hóa Việt Nam, ngày giỗ là những kỷ niệm quan trọng, người thừa kế của người quá cố có trách nhiệm thực hiện nghi lễ hàng năm. Và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khiến nhiều người ngạc nhiên vào 28 tháng Năm khi văn phòng thủ tướng ra lệnh cho tất cả các tòa soạn báo in và báo điện tử lớn ở Việt Nam, 2 ngày trước ngày giỗ đầu của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt, rằng phải đăng một bài viết của ông Dũng tưởng nhớ sự kiện này. Các nguồn tin từ báo chí ở tp HCM nói với tòa lãnh sự rằng truyền thông nhận chỉ thị trực tiếp từ văn phòng Thủ tướng rằng bài của ông phải đăng trang nhất, và rằng không có bài viết nào về ông Kiệt được phép xuất bản trước bài này.

Bài viết của Thủ tướng Dũng nhiều hơn một bài tán tụng lãnh đạo cộng sản thông thường, ca ngợi ông Kiệt như một người hăng hái tranh đấu cho tự do, một nhà cải tổ vĩ đại, một người tiên phong hòa giải dân tộc và một nhà cải cách kinh tế. Nhưng khi bài viết được đăng, dư luận xả van. Nhiều bài báo, trên cả báo chính thức lẫn cộng đồng blog, miêu tả ông Kiệt như là nhà lãnh đạo cuối cùng thuộc thế hệ Đổi Mới ở Việt Nam: Một nhà đổi mới vĩ đại, một người mong muốn hòa giải, nhưng hơn hết, một người ủng hộ dân chủ có vị trí và uy tín không ai có được để công khai ủng hộ cải cách.

Những quan sát viên chính trị ở tp Hồ Chí Minh cho chúng tôi biết họ đọc bước đi của ông Dũng như một nỗ lực "xây dựng hình ảnh của ông ta như một người cổ vũ cải cách", và đặc biệt là để lấy lòng những trí thức có đầu óc đổi mới, những người gần đây đã công khai phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên của chính phủ Việt Nam. Một nguồn tin tin cậy nói với chúng tôi rằng, khi mà ông Dũng và chính phủ VN đã tỏ ra không mấy tôn trọng mong ước và suy nghĩ của ông Kiệt vào năm ngoài, thì mánh khóe của Thủ tướng tỏ ra "phản tác dụng" với trí thức tp Hồ Chí Minh và thất bại trong việc kiếm điểm cho Thủ tướng.

Xa mặt cách lòng

Những người ủng hộ ông Kiệt chia những thành tựu của ông thành 2 giai đoạn: cải cách khi ông đang nắm quyền lực, và tư tưởng sau khi ông đã về hưu. Trong khi Kiệt được kính trọng bởi nhiều người (nếu không nói tất cả) vì những chính sách mà ông đưa ra khi nắm quyền, các nhà cải cách than phiền rằng chính phủ Việt Nam đã tảng lờ những tư tưởng sau đó về cải cách của ông. Ví dụn, trong giai đoạn bầu cử Đại hội Đảng X, ông Kiệt đã viết một lá thư được phổ biến rộng rãi thúc giục Đảng tự dân chủ hóa và làm cho xã hội quen dần với những sinh hoạt dân chủ. Ông cũng khuyến cáo rằng 15 thành viên Bộ Chính Trị nên trả quyền quyết định lại cho Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng gồm 150 thành viên. Ngay trước khi mất, Kiệt lên tiếng quan ngại về việc vội vã mở rộng Hà Nội, nhưng các lãnh đạo cao cấp của Đảng đã không dừng lại. Ngày 29/5, Quốc Hội, dưới áp lực bên Đảng, đã chấp thuận quyết định này.

Và gần đây hơn, mong ước trước khi chết của ông Kiệt đã bị bỏ ngoài tai. Trong bản di chúc công khai của mình, ông đặc biệt yêu cầu Việt Nam không đặt bất kỳ một con đường nào dưới tên ông, nhưng các nhà chức trách Quảng Ngãi đã chính thức đặt tên ông cho con đường tại thị trấn Văn Tường (gần nhà máy lọc dầu mới mở Dung Quất), với sự có mặt của TT Dũng trong lễ đặt tên. Trong di chúc, ông Kiệt tuyên bố rằng ông không muốn có lăng mộ riêng cho mình. Thế nhưng vào 31/5, Thành Ủy Vĩnh Long, quê hương của ông Kiệt, đã tuyên bố sẽ xây khu tưởng niệm. (Bình luận: Với nhiều người, điều này gợi nhớ lại quyết định của Lê Duẩn ướp xác ông Hồ Chí Minh và xây lăng, bất chấp chỉ thị của ông Hồ rằng thi hài của mình phải được hỏa táng).

Một khoảng trống cần được điền

Ai sẽ là người kế thừa di sản của ông Võ Văn Kiệt là điều còn cần phải quan sát, nhưng vào 30/5, "một nhóm nhỏ gồm thân nhân và bạn thân" đã kỷ niệm ngày giỗ đầu của ông Võ Văn Kiệt, theo tin của một người có tham dự. Đáng chú ý là sự vắng mặt của các lãnh đạo chính phủ và Đảng CS, những người đã đến dự tang lễ của ông Kiệt năm 2008. Ông Kiệt ra đi, để lại một khoảng trống cần điền, theo lời ông Nguyễn Trung, một người viết báo nổi tiếng trên internet, và cũng là người cổ vũ cho đổi mới. Trung nói thay cho nhiều người khi ông nói rằng ông Kiệt "ra đi sớm quá", nhấn mạnh sự thực rằng phe cải tổ bây giờ không có người lãnh đạo thực sự. Theo một trí thức khác tại tp Hồ Chí Minh, ông Kiệt và những "nhà lãnh đạo đổi mới" khác nắm trong tay một sự kết hợp tiềm năng là uy tín cách mạng và tư tưởng đổi mới, nhờ đó cho phép họ thách thức tình trạng hiện tại của Đảng CSVN. Nguồn tin này quan sát rằng thế hệ kế tiếp của Việt Nam phải tìm con đường khác.

Bình luận:

Di sản của ông Kiệt không chỉ là những chính sách Đổi Mới mà ông đã giúp đưa vào thực tiễn, mà còn cả sự truyền cảm hứng và sự động viên mà ông đã khơi dậy trong số trí thức và xã hội -- ngày nay, nhiều nhà kiến nghị hàng đầu chống lại dự án khai thác bauxite coi họ như học trò của Kiệt. Trong khi từ chối những nỗ lực của TT DŨng nhằm bám vào di sản của ông Kiệt, nhiều nguồn tin của tòa lãnh sự tin rằng mức độ phản kháng và tranh luận công khai về các vấn đề xã hội lớn (bao gồm cả dân chủ) là không thể quay ngược lại được. Ông Kiệt rõ ràng đã khởi động, trích từ một trang blog tưởng nhớ ông, một con đường rằng "ông muốn người khác tiếp tục đi theo ông". Trong khi chưa có ai có khả năng thay thế ông Kiệt ngồi vào tay lái, nhiều trí thức vẫn tin rằng chiếc xe cải tổ cuối cùng sẽ hướng theo con đường mà ông Kiệt mong đợi.

Lần đầu tiên phía Mỹ đề nghị Việt Nam cấp visa cho cựu Thủ Tướng Nguyễn Cao Kỳ về nước, ông Nguyễn Tấn Dũng giận dữ, đỏ mặt, mất bình tĩnh và gọi tất cả các cựu viên chức chính quyền miền Nam là “tội đồ” và sẽ “không bao giờ được chào đón” về Việt Nam, theo tiết lộ của các công điện ngoại giao được Wikileaks tiết lộ. Các công điện này cũng cho thấy, trong hai lần đầu về Việt Nam, Tướng Kỳ dành nhiều thời giờ vận động cho việc tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa.

Cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ (trái) cùng vợ ông, bà Lê Kim, trả lời báo chí trong lần đầu ông về lại Việt Nam, tháng 1 năm 2004. Công điện ngoại giao Hoa Kỳ cho biết trước đó khi phía Mỹ đề nghị Việt Nam cấp visa cho Tướng Kỳ, ông Nguyễn Tấn Dũng đã giận dữ bác bỏ và gọi ông Kỳ và các viên chức Việt Nam Cộng Hòa là “tội đồ”. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Chuyện ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng, nổi giận với Ðại Sứ Raymond Burghardt được tường thuật lại trong một công điện từ tòa đại sứ ở Hà Nội gởi về Bộ Ngoại Giao, ngày 11 tháng 3, 2003, và sau đó lại được nhắc lại trong một công điện khác, ngày 28 tháng 3, 2003.

Wikileaks không có toàn bộ các công điện ngoại giao của Hoa Kỳ, nhưng trong số những công điện mà Wikileaks có được, lần đầu tiên danh tánh Tướng Kỳ xuất hiện là trên bức công điện 11 tháng 3. Công điện đó tường thuật cuộc họp giữa Phó Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng với Ðại Sứ Burghardt, một cuộc họp do ông Dũng yêu cầu, để tìm cách nâng cao quan hệ hai nước.

Trong buổi họp, ngoài nhiều đề tài khác, Phó Thủ Tướng Dũng phàn nàn về những nghị quyết cờ vàng ở California và Virginia. Ông nói ông hiểu rằng hiến pháp Mỹ không cho phép Bộ Ngoại Giao ngăn chặn những nghị quyết đó, nhưng yêu cầu Bộ Ngoại Giao Mỹ “tác động nhiều hơn”.

Ðại Sứ Burghardt cho rằng lý do cốt yếu là vì phía chính quyền Việt Nam chưa hết lòng kết nối với cộng đồng người Việt tại Mỹ. Ông đề nghị một số biện pháp, và nói thêm, “thậm chí mời cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ về thăm quê hương”.

Lúc đó, theo công điện này, “PTT Dũng phản ứng đầy xúc cảm, cho rằng các viên chức chế độ Sài Gòn cũ phải chịu trách nhiệm đã đưa 1 triệu lính Mỹ vào và gây chết chóc cho 3 triệu người Việt Nam; họ là ‘tội đồ’ và sẽ không bao giờ được chào đón trở về.”

Cái gọi là “phản ứng đầy xúc cảm” của ông Dũng được miêu tả kỹ hơn trong công điện ngày 28: “Mặt ông bất thình lình rắn lại và ông phó thủ tướng gần như nổ tung vì giận dữ.”

Thấy vậy, Ðại Sứ Burghardt bàn rằng chắc phải “nhiều thế hệ nữa” mới có sự hàn gắn giữa hai bên, và ông Dũng “đồng ý”.

Hơn hai tuần sau, Ðại Sứ Burghardt gặp thứ trưởng ngoại giao Lê Văn Bàng, kể lại chuyện này. Ông Bàng tỏ ý là ông đại sứ nên nói những chuyện như vậy với bên ngoại giao, như “Phó Thủ Tướng Vũ Khoan, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Dy Niên, cựu Phó Thủ Tướng Nguyễn Mạnh Cầm, hơn là với những người từng trong quân đội hay an ninh như PTT Dũng.”

Chẳng bao lâu sau đó, quan điểm của ông Dũng bị thất bại. Chính quyền Việt Nam cấp visa cho Tướng Kỳ, và ông về thăm Việt Nam trong một chuyến đi được quảng bá rầm rộ vào tháng 1, 2004.

Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa

Sau chuyến đi đó, tới cuối năm 2004 ông Kỳ trở lại Việt Nam lần thứ nhì. Trong lần này, ông có gặp phó tổng lãnh sự và tham tán chính trị Mỹ, và buổi gặp mặt này được ghi lại trong một công điện đề ngày 9 tháng 11, 2004.

Trong cuộc nói chuyện, Tướng Kỳ cho biết trong chuyến về đầu tiên, ông đã đề cập tới việc sửa sang lại Nghĩa trang Quân đội, nhưng những người ông gặp đều không muốn làm chuyện này. Họ cho rằng việc làm này “quá nhạy cảm” đối với phái bảo thủ và quân đội. Khi đó, ông Kỳ đã nói với họ, “Nếu các ông muốn hòa giải với Việt kiều, các ông phải hòa giải với người đã chết, trước đã.”

Ba tuần trước khi về lại Việt Nam lần thứ nhì, Tướng Kỳ tổ chức một buổi tiếp tân tại nhà ở Quận Cam, cho thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Phú Bình. Lúc đó, ông Bình mới loan báo chính quyền Việt Nam đã đồng ý sẽ sửa sang lại Nghĩa trang Quân đội. Theo lời ông Bình, người được giao trách nhiệm trong việc này là Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm và Bộ Quốc Phòng.

Ông Kỳ nói, sau khi nghĩa trang được sửa sang xong, ông sẽ dẫn đầu một phái đoàn người Việt hải ngoại làm lễ khai mạc.

Trong công điện này, Tổng Lãnh Sự Seth Winnick chú thích thêm là chính phái đoàn ngoại giao Mỹ cũng nhiều lần đề nghị phía Việt Nam tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa như một cách mở cửa với cộng đồng người Việt hải ngoại.

Ðó là chuyện xảy ra năm 2004. Tuy nhiên, sau đó, không có dấu hiệu gì là phía chính quyền Việt Nam đứng ra tu bổ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa. Nghĩa trang vẫn nằm trong quyền cai quản của Quân khu 7 và không ai được vào “khu vực quân sự” này. Phải tới năm 2006 mới có một quyết định của ông Nguyễn Tấn Dũng, lúc đó đã là thủ tướng, “chỉ đạo việc quản lý khu nghĩa địa Bình An (tức Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa) bình thường như các nghĩa địa khác theo quy định của pháp luật”.

Sau khi quyết định đó được đưa ra, có những nhóm người Việt hải ngoại đứng ra tự bỏ công sức sang sửa các ngôi mộ trong nghĩa trang, và đó là những nỗ lực duy nhất tu bổ nghĩa trang này.

Việt Nam chần chừ tham gia lực lượng hòa bình LHQ

137565-QuanDoi-400WESTMINSTER (NV) - Chính phủ Việt Nam muốn có ít nhất là hai năm để chuẩn bị dư luận trước khi đưa quân tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, và ngần ngại không muốn làm chuyện này tại đại hội đảng lần thứ 11.

Quân đội Việt Nam tại cuộc duyệt binh kỷ niệm 1,000 năm Thăng Long. Mỹ lâu nay vẫn muốn quân đội Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

Ðó là nội dung hai bức công điện gởi đi từ tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Hà Nội về Washington, D.C. Bức đầu tiên ký tên Ðại Sứ Michael Michalak gởi ngày 23 tháng 10, 2009 giải thích quan điểm của Việt Nam trong việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc, gọi tắt là PKO (Peacekeeping Operations).

Công điện thứ nhì do phó đại sứ Virginia Palmer gởi gần hai tháng sau đó, ngày 12 tháng 2, 2010, có nội dung khuyến khích Việt Nam tham gia PKO và chương trình Global Peace Operations Initiative (GPOI) của Mỹ, một chương trình huấn luyện cho các lực lượng gìn giữ hòa bình.

Trong cả hai công điện, đại diện phía Việt Nam nói chuyện với phía Mỹ về vấn đề này là Vụ Trưởng Vụ Các Tổ Chức Quốc Tế Lê Hoài Trung, chịu trách nhiệm về các hoạt động của Liên Hiệp Quốc, các chương trình nguyên tử và tổ chức nhân quyền tại Việt Nam. Ông Trung sau này lên thứ trưởng và hiện là đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc.

Theo công điện thứ nhất, trong một buổi ăn trưa với ông Trung, Phó Ðại Sứ Palmer hỏi Việt Nam nghĩ gì về việc gởi quân đội tham gia PKO. Ông Trung cho biết phải mất hai năm để thủ tướng duyệt xét và chính phủ đề nghị phải làm một số việc cần thiết trước khi tham gia PKO.

Hơn nữa, giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam phản đối đề nghị tham gia PKO vào lúc đó, và nói rằng trước hết chính phủ phải tiến hành "duyệt xét chi tiết toàn bộ các vấn đề liên quan," không loại trừ khả năng đối phó với trường hợp binh sĩ Việt Nam bị thiệt mạng, công tác huấn luyện, triển khai và duy trì quân đội ở nước ngoài, và một cuộc vận động chuẩn bị dư luận quần chúng "vẫn còn ký ức sâu đậm liên quan đến chiến tranh" liên quan đến việc binh sĩ Việt Nam tử trận ở nước ngoài.

Hiến Pháp Việt Nam cũng là một vấn đề. "Trong khi Hiến Pháp không cấm quân đội Việt Nam tham gia PKO, nó cũng không cho phép binh sĩ Việt Nam tham gia công tác này," công điện viết. "Hiến Pháp chỉ viết vai trò của quân đội là 'bảo vệ đất nước.'"

Theo công điện thứ nhì, quan điểm của ông Trung là sự mâu thuẫn về vai trò của quân đội sẽ được làm rõ hơn sau này bằng một "đạo luật của một ủy ban Quốc Hội để giải thích là Hiếp Pháp cho phép triển khai quân đội ra nước ngoài".

"Trong bất cứ trường hợp nào, 'một cuộc vận động quần chúng vẫn còn những ký ức về cuộc chiến (với người Mỹ) để chấp nhận binh sĩ Việt Nam có thể hy sinh ở nước ngoài là rất cần thiết và công việc này không thể bắt đầu trong thời điểm chính trị nhạy cảm trước Ðại Hội Ðảng,'" công điện thứ nhì nhắc lại nội dung chính của công điện thứ nhất.

Vụ Trưởng Lê Hoài Trung nói lãnh đạo chính phủ không hoài nghi khả năng của quân đội, vì họ chỉ tham gia công tác cấp cứu và gỡ mìn, theo công điện cho biết. Một khi lãnh đạo Việt Nam có quyết định chính trị tham gia PKO, quân đội Việt Nam sẽ yêu cầu trợ giúp từ những quốc gia khác, như Hoa Kỳ, trong các lĩnh vực như học tiếng Anh và các vấn đề chỉ huy/kiểm soát trong một lực lượng đa quốc gia.

Ðáng chú ý, khi được hỏi mạnh hơn về thời điểm Việt Nam có thể tham gia PKO, trong một thái độ hàm ý rõ ràng Ðại Hội Ðảng tổ chức vào tháng 1, 2011, ông Trung nói không thể làm gì được nhiều trong "năm bầu cử," công điện của bà Palmer viết. Khi được hỏi tại sao Việt Nam không "chuẩn bị sẵn" để có thể tham gia PKO ngay sau Ðại Hội Ðảng, ông Trung cười ra vẻ sợ sệt và nói một cách nghiêm túc rằng "không ai muốn mình bị thấy đẩy mạnh một vấn đề trong thời điểm nhạy cảm như vậy," theo công điện cho biết.

Phó Ðại Sứ Palmer nhận xét Vụ Trưởng Trung là người quen biết nhiều, một nhà ngoại giao lâu năm, có kinh nghiệm trong vấn đề PKO và thường rất thẳng thắn.

"Mặc dù chính quyền Việt Nam sẽ tiếp tục gởi quan sát viên, và ngay cả có thể tham gia một số chương trình huấn luyện ở mức độ nhỏ, đánh giá của ông Trung về thời điểm Việt Nam tham gia PKO có thể là đúng," bà Palmer viết trong công điện.

Bà cho biết tiếp: "Trong khi bộ máy hành chánh có thể làm tiến trình tham gia PKO chậm hơn, tòa đại sứ Mỹ tin rằng cuối cùng Việt Nam sẽ tiếp tục hướng đến mục tiêu tham gia PKO, qua các cuộc tập trận và hành quân."

Trong bức công điện thứ nhì, bà Palmer nói Việt Nam gần như sẵn sàng tham gia chương trình huấn luyện của Mỹ cho các lực lượng gìn giữ hòa bình (Global Peace Operations Initiative - GPOI), một bước đầu tiên để chuẩn bị tham gia PKO.

Công điện cho biết Phó Ðại Sứ Palmer mở đầu cuộc họp với Vụ Trưởng Lê Hoài Trung ngày 12 tháng 2, 2010, chúc mừng Việt Nam vừa hoàn tất vai trò thành viên không thường trực Hội Ðồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.

Binh sĩ Việt Nam sửa một cây cầu tạm bắc qua sông Hồng. (Hình: Hoàng Ðình Nam/AFP/Getty Images)

137565-LamCau-400Ông Trung cũng cảm ơn Hoa Kỳ vì "sự hợp tác chặt chẽ" tại New York và Hà Nội. Sau đó, ông cho biết Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia Việt Nam, bao gồm nhiều bộ và ban ngành, vừa hoàn tất duyệt xét và đã đề nghị với thủ tướng rằng Việt Nam gia tăng tham dự hội thảo đa quốc gia về các vấn đề toàn cầu như không phổ biến vũ khí nguyên tử, chống khủng bố, nạn cướp biển và thay đổi khí hậu.

Ông tin rằng kinh nghiệm tích cực ở Hội Ðồng Bảo An sẽ làm giới lãnh đạo quyết định gia tăng vai trò của Việt Nam từ vị trí cổ vũ "tham gia thị trường kinh tế thế giới" sang một vị thế lớn hơn trong các vấn đề không liên quan đến kinh tế, công điện viết.

Vụ Trưởng Trung còn đề cập đến trường hợp Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh dùng một từ mới trong bản duyệt xét công tác năm 2009 như là một thông điệp mạnh mẽ rằng Việt Nam sẽ tham gia nhiều hơn vào cộng đồng thế giới, nhưng lại nói rằng một thay đổi chính sách chính thức phải được Ðại Hội Ðảng thông qua.

Ông Trung muốn dùng bản báo cáo với Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng về sự tham gia công tác quốc tế để có được sự chấp thuận của ông trong việc Việt Nam tham dự PKO.

Phó Ðại Sứ Palmer, trong khi đó, muốn Việt Nam gia tăng vai trò từ một quan sát viên lên thành một tham dự viên trong chương trình GPOI, trong đó có cuộc tập trận "Exercise Angkor Sentinel" ở Cambodia vào tháng 6 và tháng 7, 2010.

Bà Palmer cũng nhắc rằng Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert Gates có nêu vấn đề này với người tương nhiệm phía Việt Nam, Ðại Tướng Phùng Quang Thanh, trong cuộc gặp gỡ vào tháng 12 năm 2009, tại Washington.

Công điện nhấn mạnh rằng mặc dù Hoa Kỳ khen ngợi GPOI trong Ðối Thoại Chính Sách Quốc Phòng Song Phương, bà Palmer cũng e ngại khi Mỹ lập lại vấn đề này trong ba năm liên tiếp nếu Việt Nam không gia tăng mức độ tham gia, công điện viết. Bà Palmer cũng nói chính phủ Mỹ sẵn sàng cung cấp trợ giúp kỹ thuật để Việt Nam có thể chuẩn bị tốt trước khi tham gia công tác liên quan đến PKO, cũng như chia sẻ kinh nghiệm của các quốc gia khác từng tham gia gìn giữ hòa bình.

"Ông Trung cảm ơn lời đề nghị, không bảo đảm là Việt Nam sẽ tham dự tập trận bên Cambodia. Tuy nhiên, ông hứa sẽ đưa vấn đề này ra với Bộ Quốc Phòng. Ông cũng đề nghị bà phó đại sứ thuyết phục Bộ Quốc Phòng lần nữa. Bà nói đại sứ Mỹ đã mời bộ trưởng quốc phòng dự ăn tối để thảo luận các công tác mà Việt Nam có thể tham gia, bao gồm gìn giữ hòa bình," bản công điện kết thúc.

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt