Friday, February 18, 2011

Cơm nắm muối vừng

http://www.ninhbinhtourism.com.vn:8080/uploads/News/pic/small_1226303983.nv.jpgTôi dám chắc bạn đọc sẽ nghĩ là tôi "sính" tiếng Tây, vì "Fast food" là từ cũng mới du nhập cách đây chừng vài năm thôi, chỉ để dùng cho các quán bán đồ ăn nhanh, chủ yếu là đồ nguội như dăm bông, xúc xích, lạp xường... để khách Tây và cả khách ta mua ăn cho tiện. Nhưng trong bài viết này tôi lại muốn đề cập tới một thứ đồ ăn nhanh dân dã, vừa tiện, vừa ngon mà lại bổ, rẻ, chính hiệu Việt Nam, đó là: cơm nắm.

Cơm nắm, một món ăn quen thuộc dường như không người Việt Nam nào lại không biết hoặc chưa một lần nếm thử. Trong những vở kịch, chèo của Việt Nam, hình tượng mo cơm nắm của người mẹ già ở quê gói tiễn con trai lên đường nhập ngũ, hay nắm cơm của người vợ hiếu thảo luôn được để trân trọng trong gói hành lý của người chồng đã được các nghệ sĩ thể hiện nhiều đến nỗi mỗi lần xem, tôi dường như thấy thấm đậm những giọt mồ hôi, những dòng tình cảm từ cử chỉ của người con giở nắm cơm mẹ mình đã thao thức cả đêm để nắm, mà không nỡ ăn, cho dù có đói. Họ coi nắm cơm như một báu vật.

Tôi dám chắc bạn đọc sẽ nghĩ là tôi "sính" tiếng Tây, vì "Fast food" là từ cũng mới du nhập cách đây chừng vài năm thôi, chỉ để dùng cho các quán bán đồ ăn nhanh, chủ yếu là đồ nguội như dăm bông, xúc xích, lạp xường... để khách Tây và cả khách ta mua ăn cho tiện. Nhưng trong bài viết này tôi lại muốn đề cập tới một thứ đồ ăn nhanh dân dã, vừa tiện, vừa ngon mà lại bổ, rẻ, chính hiệu Việt Nam, đó là: cơm nắm.http://anh.24h.com.vn/upload/news/2009-12-08/1260231629-com-nam-muoi-vung-2.jpg

Vậy, cơm nắm có từ khi nào? Điều này khó ai biết được đích xác. Chỉ biết món ăn dân dã, đậm chất quê này khởi nguồn từ tấm lòng của người mẹ thương con bôn ba trên đường thiên lý, của tình yêu vợ chồng với mong muốn dù có thiếu vắng mình thì chồng vẫn có được miếng ăn ngon lành, dẻo, thơm. Có thể hiểu rằng, món ăn này đã có từ lâu, lâu lắm rồi. Trước đây cơm nắm chỉ mang tính tự cung - tự cấp, nghĩa là ai có nhu cầu thì tự làm lấy mà ăn. Nhưng ngày nay, cơm nắm đã trở thành một sản vật được ưa chuộng tại các thành phố lớn, không riêng gì Hà Nội. Những người chuyên doanh mặt hàng này đa số là người làng Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Họ là những bà, những chị tuổi sồn sồn hoặc mười tám, đôi mươi. Dù già hay trẻ thì sức dẻo dai, nhẫn nại vẫn thật đáng nể.

Ngày lại ngày, dù trời mưa hay nắng, từ sáng sớm, họ đạp xe băng qua quãng đường ngót 30 cây số để vào Hà Nội, gửi xe vào một điểm trông giữ, rồi từ đó tỏa đi khắp các phố phường để bán hàng. Mỗi người bán cơm nắm thường mang một khối lượng hàng vài chục cân. Người thì tay xách làn, tay cắp mẹt; người khác lại làm đôi quang thúng gánh toòng teng. Mỗi người bán một ngày cũng hết được từ 30 đến 50 nắm cơm. Bán kèm cơm thường là ruốc, chả mộc. Với 3 nghìn đồng một nắm cơm, thêm một gói muối vừng lạc giã nhỏ, người ăn khỏe như mấy anh "cửu vạn" chợ lao động Giảng Võ chỉ 3 nắm 9 nghìn, chiêu thêm một cốc trà đá là no đến tối. Còn ở công sở, các "công chức Nhà nước" mùa đông ra đường thì ngại rét, ngại gió. Còn mùa hè thì lại sợ "rám" làn da châu Á, vậy là cơm nắm cũng là một "cứu cánh" cho mọi giới. Họ tụ tập một nhóm 3-4 người, cơm thì mua 5-6 nắm, nhưng chả ruốc thì chơi tới 20-30 nghìn, đúng là "một tiền gà, ba tiền thóc", rồi tiện thể mua luôn vài cặp bánh dầy giò để "đét-xe" (vì những hàng cơm nắm, ngoài cơm ra còn có bán thêm bánh khoai, bánh dầy giò để tăng thu nhập). Chi phí "nhòe" cũng chỉ hết 50 nghìn, ăn no, mát mẻ mà lại đủ chất. Sướng nhất là "mưa không đến mặt, nắng chẳng đến đầu" mà vẫn có ăn.Những người bán cơm nắm "có thâm niên" cũng không phải đi lại nhiều vì đã có một lượng khách quen cố định. Họ thường ngồi một chỗ, hoặc đi một lèo đến những điểm mà khách đã đặt trước. Nhiều gia đình ở phố bây giờ, phần thì do nhà chật, nên ngại nấu nướng, phần thì ăn uống cũng "bão hòa" rồi nên buổi trưa chỉ một nắm cơm với vài nghìn ruốc là ổn. Tiền lãi của một ngày bán cơm cũng chỉ được 20-30 nghìn đồng. Chủ yếu là lấy công làm lãi. Nhưng có những lúc "trúng quả đậm" hàng trăm nghìn đồng, đó là vào những dịp lễ hội, những tháng sau Tết, nhiều người đặt cơm nắm mang đi lễ, đi chùa, hoặc có đoàn đặt hàng trăm nắm khi đi tham quan, du lịch.http://anh.24h.com.vn/upload/news/2009-12-08/1260231629-com-nam-muoi-vung-2.jpgCơm nắm Lạc Đạo cũng có thể coi là một thứ nghề truyền thống của làng này. Thế hệ làm cơm nắm "lão làng" này có người còn sống như cụ Đạo, cụ Chiên. Không kể những người tự nắm cơm rồi đem bán rong, đại lý cơm nắm lớn nhất làng - theo anh Biên, một người trong nghề - thì chỉ có 4-5 nhà, còn lại đa phần là bán lẻ. Có tới 80% người dân trong làng làm nghề này, thậm chí trong cùng một gia đình có tới 6 chị em cả dâu lẫn gái cùng đi bán cơm nắm như nhà bà Cả Then.http://us.images.timnhanh.com/sanhdieu/20080519/source/112_1211163964.jpg11 giờ đêm là bắt đầu "ngày" làm việc. Một lúc nổi 3 bếp lửa, trong khi một nồi đun nước thì một nồi nấu cơm và một nồi khác đang trong giai đoạn ủ chín. Nồi nấu cơm phải là loại nồi gang cỡ 60. Gạo làm cơm nắm cũng phải được lựa chọn và sàng sảy sạch thóc, sạn.http://viettogo.com/09/04/09/upload/20090409/diy/bento6.jpg"Bí quyết" để nắm cơm được thơm, dẻo là phải nấu với nước mưa hứng giữa dòng. Tôi thắc mắc thì vợ anh Biên, người đàn bà của vùng đồng bằng sông Hồng có vẻ đẹp mặn mòi đã vui vẻ trả lời thay chồng rằng, nước mưa phải được hứng cất giữa sân khi có trời mưa to, thùng hứng nước cũng phải được kê thật cao, sơ sểnh một chút mà nước bị bắn bẩn là cơm nấu bị chuyển màu vàng, sẽ kém hấp dẫn. Nấu cơm để nắm tất nhiên lượng nước và kỹ thuật nấu không giống nấu cơm ăn bình thường. Nước thường phải nhiều hơn, gạo cũng phải vo thật kỹ cho đến khi nước trong mới thôi và cơm cũng phải chín thật kỹ, nắm cơm để qua một, hai ngày mà vẫn không bị thiu.http://us.images.timnhanh.com/sanhdieu/20080519/source/110_1211163964.jpgLàm cơm nắm lãi ít lắm, chủ yếu ăn vào số lượng cơm cháy, nước vo gạo để chăn nuôi lợn. Ngay như nhà chị Lăng - con cụ Khuê ở xóm Ngọc - một ngày "cất buôn" cho người đi bán lẻ cỡ 500 - 600 nắm cơm, chỉ trông vào phần "rơi vãi" quanh nắm cơm mà nuôi được hàng chục con lợn. Đứng ở góc độ kinh tế mà nói, nghề này đã giúp tạo công ăn việc làm và đời sống ổn định cho rất nhiều người dân Lạc Đạo. Quan trọng hơn cả là tính "kinh tế" của nó đối với các "thượng đế". Bởi lẽ, một hộp cơm bình dân bây giờ rẻ nhất cũng phải 10-15 nghìn, còn ăn theo kiểu "fast food" du nhập của Tây thì dân lao động không thể theo được. Song, chỉ cần bạn mỉm cười với một cô gái trông chân chất quê mùa, ngồi sau một mẹt hàng cơm nắm là bạn đã có thể được cô mời rất đon đả "cơm nắm đi bác ơi, chị ơi...!". Nếu ngại ăn ngoài đường, ngoài chợ thì bạn có thể mang về nơi làm việc.Tôi cũng đã "học mót" kinh nghiệm "thưởng thức" món "đặc sản" này của những người bán cơm nắm là càng nhai kỹ thì miếng cơm càng có vị bùi, ngọt. Tôi cùng một vài người bạn rất "nghiện" ăn cơm nắm, mà ăn ngay tại hàng chứ chả phải câu nệ, xấu hổ gì cả. Nhìn cô bán hàng thao tác từ lúc mở gói cơm xinh xinh được bọc trong lá sen, dùng con dao nhỏ cắt nắm cơm ra thành từng miếng vừa ăn, cơm nắm trắng muốt tựa như chỉ gạn lọc lấy những gì là tinh túy nhất của hạt gạo, thứ ngọc thực muôn đời. Miếng cơm dẻo mà vẫn giòn chắc quện với vị đậm đà, bùi, béo, thơm ngậy của vừng, lạc khiến thức ăn chưa xuống đến dạ dày mà tì vị đã thấy khoan khoái vô cùng. Tất cả chỉ mất 5-7 nghìn thôi là đủ "nghĩa vụ" đối với cơ thể rồi.Ăn cơm nắm chắc dạ mà không thấy chán. Càng ngày, càng có nhiều người chuộng thứ đồ ăn tiện lợi mà ngon này. Bằng chứng là số người bán cơm nắm chỉ thấy tăng lên chứ không giảm đi. Một chị bán cơm nắm trên đường Đội Cấn kể, buổi sáng chị thường ngồi bán ở khu chợ lao động trên đường Giảng Võ, trưa mới quay về Đội Cấn - Lê Hồng Phong để ngồi, vì ở đây có nhiều cơ quan, doanh nghiệp và cạnh chợ Ngọc Hà. Chị có những khách quen, hầu như ngày nào cũng ăn. Có một ông giám đốc trưa nào cũng lấy của chị 2 gói rất đều đặn và duy nhất chỉ ăn với muối vừng.Lý giải điều này, chị bảo: "Bây giờ ăn cái gì người ta cũng sợ các thứ phụ gia độc hại. Ăn rau thì sợ thuốc bảo vệ thực vật, ăn thịt thì sợ thuốc tăng trọng, ăn cá thì ghê ướp phân đạm, bún, phở thì lại hãi hàn the và fooc-môn. Ăn cơm nắm là lành nhất đấy, chả sợ cái gì cả. Nhiều người sợ béo, ăn kiêng lại còn khoái cái món này ấy chứ!". Hóa ra chỉ bán cái thứ đồ ăn dân dã thế thôi, mà chị có hẳn một niềm tự hào như thế. Cơm nắm còn tiện ở chỗ dễ bảo quản khi mang đi đường và dễ ăn không cần bát đũa gì cả. Có những đoàn đi tham quan xa phải đặt người bán mang hàng tới từ tối hôm trước. Vậy mà qua ngày hôm sau, khi mở nắm cơm ra dùng, vẫn thấy dẻo và thơm.Những người làm nghề cơm nắm tự tin rằng nghề này không thể mất. Với thời gian, món ăn dân dã này càng được khặng định như là một nét riêng trong văn hóa ẩm thực của người Việt Nam, bởi cơm nắm được chắt chiu từ "Hạt gạo làng ta/ Có vị phù sa/ của sông Kinh Thầy/ Có hương sen thơm/ Trong hồ nước đầy.../ Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi hôm nay..."http://my.traucau.vn/images/stories/sites/ttxa/com_wedhoneymoon/S1030572-1.JPG* Miếng cơm trắng phau, đưa lên chưa tới miệng đã ngửi thấy mùi hương gạo mới, vị ngon của phù sa, cả vị đậm của mồ hôi người mẹ, người vợ. Miếng cơm nắm bé nhỏ nhưng chứa đựng hình bóng quê nhà. Những lúc ấy, miếng cơm nắm quý giá vô cùng, như là miếng “ngọc thực” giữa chốn trần gian vậy.Bây giờ, cứ ngỡ cơm nắm sẽ không còn chỗ đứng nữa trong tâm tư người dân phố thị chứ đừng nói đến với hiện hữu sờ sờ nơi góc phố hay cửa chợ. Nhưng mà rồi cơm nắm vẫn cứ tồn tại và thậm chí còn phát triển nữa mới hay. Ở Hà Nội, người ta vẫn dừng xe ghé vào bất kỳ hè phố nào để mua nắm cơm mang tới cơ quan tranh thủ ngồi ăn đầu giờ sáng.Cơm nắm thường ăn với muối vừng, như thế sẽ tôn được cái vị riêng. Nhưng ăn với ruốc, với giò, chả… cũng ngon chẳng kém gì. Nắm cơm tròn tròn, dẹt dẹt, được xếp thành thành từng miếng nhỏ lại dài, đều tăm tắp như xếp hàng chứ không được bẻ. Khi ăn phải cầm bằng tay mà chấm vào muối vừng. Chớ có gắp bằng đũa không đúng kiểu, lại vừa mất hương vị riêng.Người Hà Nội từ lâu đã rất quen thuộc với những tiếng rao cơm nắm muối vừng. Nhưng ít ai biết rằng chỉ cách Hà Nội không xa có một nơi làm nên thứ quà quê ngon và tinh tế này. Nơi đó là xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.http://lambich.net/forum/userpix/3_Com_nam_mo_cau_1.jpg“Bà tổ” của nghề cơm nắm: Cụ Đảo được người dân trong xã coi như là “bà tổ” của nghề cơm nắm nơi đây và là một trong những người đầu tiên có công trong việc phát triển việc làm cơm nắm ở Lạc Đạo.

Ngọc thực chốn trần gian, Ẩm thực,

Cách đây mấy chục năm trước, cụ Đảo cùng một số người dân trong làng hay bán quà vặt cho khách đi tàu Bắc Nam. Đồ chủ yếu chỉ là quả trứng, cái bánh. Vì là người bán hàng nên không thể về nhà ăn cơm trưa, cụ mang theo vài nắm cơm để ăn. Có người khách nhìn thấy mới hỏi mua. Hôm sau, cụ về nắm thêm một vài chục nắm thử bán. Không ngờ, hết sạch. Đã thế lại còn được nhiều người khen ngon. Thấy bán được dễ dàng, cụ Đảo bảo một số người trong làng cùng nắm cơm để bán.Lúc đầu cả làng chỉ có lác đác vài người nắm cơm bán, dần dần cả một xóm làm. Và đến giờ thì cả xã, hầu như nhà nào cũng làm cơm nắm hoặc có người đi bán cơm nắm ở khắp các tỉnh lân cận. Bán cơm nắm muối vừng trở thành một nghề nuôi sống cho cả làng Lạc Đạo.

Cơm nắm chỉ đơn giản là gạo được nấu thành cơm rồi được nắm lại. Thế nhưng để có được một nắm cơm trắng tinh, mềm, dẻo và bùi lại không hề đơn giản.

Để có được những gói cơm nắm đúng giờ giao cho những người đi bán rong, phải dậy từ 1h sáng để vo gạo và nấu cơm. Muốn cơm trắng thì khâu vo gạo là quan trọng nhất. Nước dùng để nấu cơm cũng phải được lọc qua nhiều lần, nhưng theo anh Biên - chủ một lò cơm nắm lớn ở Lạc Đạo-thì nếu gạo được nấu bằng nước mưa thì là tốt nhất, vì khi ăn sẽ có vị ngọt và đậm đà hơn.

Ngọc thực chốn trần gian, Ẩm thực,

Nấu cơm để nắm thành nắm không giống như nấu cơm ăn hằng ngày, nghĩa là cơm sẽ phải nát hơn một chút thì khi nắm mới dẻo. Dụng cụ để nắm cơm cũng rất đơn giản, chỉ là một mảnh vải trắng thun có độ co giãn. Cứ một muôi cơm là thành một nắm. Đặc biệt, phải nắm lúc nóng thì mới được, để nguội, cơm sẽ rời rạc và không dẻo nữa. Lúc nắm phải chắc tay, day thật đều để cơm mềm ra.

* Cơm là đồ ăn chủ yếu, thường xuyên, hàng ngày của người Việt Nam. Cơm cũng có nhiều cách ăn, nhiều cách chế biến, một trong những cách ăn dân dã, thanh đạm nhưng kỹ thuật trong cách làm là món cơm nắm.
altCơm nắm xuất hiện khi người ta đi đường xa muốn mang theo để ăn một cách gọn nhẹ và thuận tiện nhất. Cách đơn giản là nắm cơm còn nóng lại cho chắc thành từng khúc hình trụ hoặc hình bánh, chuẩn bị thêm muối vừng hoặc chút đồ ăn kèm khác. Khi ăn, chỉ cần cắt ra thành miếng, đặt trên miếng lót bằng lá chuối, chấm với muối vừng, vừa không phải cách rách bát đĩa, lại rất nhanh và dễ ăn. Làm cơm nắm cũng cần phải khéo léo và có kinh nghiệm mới có được những miếng cơm trắng, mịn, không khô mà cũng không nhã quá. Ở các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thường có làm cơm nắm. Cơm để ăn khi đi làm, ăn đi chơi xa, đi công chuyện. Trước đây, cơm nắm rất phổ biến ở mỗi gia đình người Việt. Hiện nay, cơm nắm đã trở thành một món ăn được bán và tiêu thụ trên thị trường. Người dân Lạc Đạo, Văn Lâm, Hưng Yên còn có hắn nghề làm cơm nắm đem bán ở khắp các nẻo đường, con phố Hà Nội.
Những buối sớm, trưa, cơm nắm là món ăn phục vụ nhiều đối tượng như sinh viên, người lao động ở mọi lĩnh vực trong cuộc sống đô thị. Trên những con phố như Thái Hà, Chùa Bộc, Nguyễn Chí Thanh, rất nhiều những mẹt hàng vỉa hè, mẹt hàng rong bán cơm nắm. Chỉ 2 ngàn đồng, bạn đã có thể thảnh thơi ngồi nhấn nhá với cơm nắm muối vừng, ruốc thịt nạc ở một bóng râm ven đường.
Người miền Trung và miền Nam ít biết đến món cơm nắm. Nếu bạn có dịp ra thăm những miền đất vùng đồng bằng sông Hồng, có thể thưởng thức món ăn dân dã này ở Hà Nội, hoặc tìm đến tận nơi khởi sinh ra nó, đất Hưng Yên. Cơm nắm để nguội, ăn với muối vừng, vừa ngọt ngào vị ngọc thực lại rất thơm bùi, mềm nhuyễn dễ nuốt, cả khi trời đông giá hay nắng khát ngày hè.
Thương lắm cơm nắm muối vừng!


Những gánh hàng cơm nắm muối vừng ngày ngày vẫn rong ruổi khắp ngõ xóm Hà Nội. Món ăn dân dã ngày xưa nay đã đi vào tiềm thức của người dân Việt.
Ngày xửa ngày xưa, khi nước ta còn nghèo đói, cơm nắm đã trở thành món ăn thường nhật của những người dân Việt. Người nông dân đi làm đồng xa, cơm nắm trở thành bữa trưa ngon lành giúp lấy lại sức lực cho công việc khi chiều đến. Những người làm nghề buôn bán hay có việc phải đi xa xa một chút, không thể trở về vào đúng bữa, cơm nắm là người bạn đường thân thiết, lót dạ khi đói lòng. Cơm nắm không biết đã xuất hiện từ bao giờ, có lẽ phải từ lâu lắm rồi vì từ thời ông, thời bà, thời cụ, thời kị đã có món ăn dân dã này.
Ngày nay, cơm nắm vẫn xuất hiện hàng ngày trên những con phố Hà Nội. Cơm nắm không còn là sự hiện diện của cái nghèo, cái khổ của cả dân tộc nữa. Cơm nắm nay đã trở thành một thứ quà quê rẻ tiền nhưng ngon miệng. Khi đã chán ngấy những loại thức ăn nhiều chất như bún, phở, người ta tìm đến một thứ đồ ăn sáng thanh đạm nhưng chắc dạ: cơm nắm muối vừng. Chiều chiều, khi chưa đến bữa cơm tối, bụng hơi cồn cào vì bữa trưa ít ỏi, người ta lại tìm một hàng cơm nắm mua một vắt, ngồi nhẩn nha thưởng thức từng miếng nhỏ.

Cơm nắm không chỉ được ăn với muối vừng mà có thể ăn với thứ gì tùy thích: cá kho, thịt rim hay ruốc bông cũng chẳng sao. Nhưng mà có vẻ gì đấy như gượng ép nếu không có một chút muối vừng ăn cùng. Cơm nắm và muối vừng sao mà hợp nhau đến thế, cứ như một cặp trời sinh vậy.

Miếng cơm trắng tinh, mịn màng được gói trong lớp lá chuối xanh ngắt trông thật thích mắt. Đấy là ngày xưa thôi, chứ bây giờ cơm nắm được gói trong một lớp nilon và giấy báo. Dường như hương vị thơm mát của vắt cơm giảm đi mất mấy phần. Muối vừng thì vàng ươm, những hạt vừng đều tắm tắp và một vài hạt lạc rang giã nhỏ thơm lừng. Cơm được cắt ra thành từng miếng nhỏ vừa ăn, chấm một chút muối vừng, đưa lên miệng thấy thật tuyệt. Vị thanh mát của miếng cơm, vị đậm đà, bùi bùi của muối vừng, nhai kĩ thấy được vị ngọt của cơm, của vừng hòa quyện với nhau làm nên bản âm hưởng của làng quê Việt.

Bây giờ có hẳn một làng ở Văn Giang – Hưng Yên làm nghề bán cơm nắm trên các phố ở Hà Nội. Gánh hàng cơm nắm có khi còn bán thêm cả bánh giày giò hay một vài thức quà quê khác nữa. Để làm ra những vắt cơm dẻo thơm như thế người làm cũng vất vả, nhọc nhằn lắm. Tưởng rằng chỉ cần thổi một nồi cơm mà đã có được vắt cơm ngon thì nhầm quá. Phải nấu cơm thế nào cho vừa lửa, phải dẻo, phải ướt hơn cơm ăn bình thường nhưng không nhão. Cơm phải nắm lúc còn nóng thì những hạt cơm mới quyện dính với nhau. Những nắm cơm thành phẩm phải vẫn nhìn rõ từng hạt cơm trong trong, không bị vỡ nát mà vẫn dính chắc vào nhau, nắm cơm bóng mượt, trắng tinh đẹp mắt. Những người thợ phải thức khuya, dậy sớm, tần tảo làm nên một món quà quê dân dã mà thân thương của dân tộc. Để rồi những người thưởng thức món ăn này không khỏi bồi hồi khi nhớ đến và thốt lên: “Thương lắm cơm nắm muối vừng!”
alt
Mời các bạn làm thử làm cơm nắm:
1. Chọn loại gạo cho cơm mềm dẻo sau khi nấu. Làm thử từ ít một với vài cốc gạo, vo sạch, cho vào nồi cơm điện, đổ nước đúng vạch, bấm nút... chờ cơm chín. Chất lượng gạo sẽ quyết định chất luợng món ăn.
2. Chuẩn bị vài cái bao nylon sạch, loại bao trong, dày, khó rách, cỡ chừng 20 X 30cm. Bạn chuẩn bị 1-2 cái khăn vải vuông, mỗi cạnh khoảng 45-50cm, loại vải mềm và thấm nước (vải tuyn giống như khăn sữa của em bé). Cơm nấu bằng gạo tẻ loại dẻo (gạo thơm hoặc Tài Nguyên...), khi cơm vừa chín tới và còn nóng, bạn xới ra cho vào giữa miếng vải vuông, lượng cơm khoảng 2-3 hoặc 4 chén tùy bạn thích nắm cơm to hay nhỏ, lưu ý là nắm cơm to quá sẽ khó nhồi).Bạn túm 4 đầu khăn lại cho kín rồi 1 tay giữ túm khăn, tay kia nhồi thật đều và mạnh tay giống y như nhồi bột làm bánh. Động tác nhồi này làm cho hạt cơm kết dính với nhau thành một khối, vì vậy nếu bạn nhồi không kỹ nắm cơm sẽ không chắc và bị vỡ. Sau khi nhồi thật đều khoảng 5-10 phút (hơi bị mỏi tay đấy, bạn phải kiên nhẫn nhé), bạn dùng tay nén nắm cơm chặt lại thành hình dáng tùy thích (hình vuông hoặc hình trụ dài) rồi dỡ khăn ra, để cho nguội, nhớ đậy khăn vải bên trên để cơm khỏi bị khô (cơm nắm phải để nguội mới ăn vì khi đó hạt cơm mới dính chắc và khi ăn có vị ngọt rất đậm của tinh bột).Vài cái khăn dày như loại khăn lau mặt, thấm ướt, vắt ráo (dùng để lót tay). Vài khăn vải thưa, sạch cỡ khăn tay để đậy cơm. Khay, mâm.
3. Khi cơm chín, nắm cơm ngay khi cơm còn nóng. Múc mỗi lần chừng 2 chén cơm cho vào bao nylon, dồn cơm xuống đáy bao. Đặt bao cơm lên măït khay, mâm...Tay trái giữ mép bao cho kín, tay phải nắm khăn ướt cho khỏi nóng tay, nhồi miết phía ngoài bao cho cơm chà xát vào nhau để cơm nát ra và thành nhuyễn mịn từ từ. Cơm nắm đúng kiểu nông thôn miền Bắc khi ăn dùng sợi dây nylon hoặc sợi chỉ sạch siết vòng quanh để cắt giống như cách dùng lạt cắt bánh chưng, làm thế để khỏi dính cơm vào lưỡi dao và dễ cắt hơn, nắm cơm không bị vỡ.Vừa nhồi nhẹ tay vừa quan sát cho đến khi thấy cơm miết đều vào nhau và trở thành quánh mịn thì nhồi nắn lại cho gọn, cứng chắc thành một khối dẹp hay tròn tùy ý, đẩy nắm cơm ra khỏi bao, xếp vào khay cho nguội bớt rồi mới bọc lại bằng khăn vải ẩm.
Khi nắm cơm phải lưu ý làm khi cơm còn nóng, nếu để nguội sẽ rất khó làm và không ngon. Cho nên nếu muốn làm số nhiều thì hai ba người cùng nắm cơm một lúc hoặc trong khi đang làm nồi này thì mới bắc tiếp nồi khác cho cơm phải thật nóng khi lấy ra.
4. Cơm nắm để nguội hoàn toàn ăn mới ngon, khi ăn cắt thành lát mỏng để ăn kèm bất kỳ loại thức ăn nào ưa thích như chấm muối mè, các loại mứt ngọt (confiture), cá thịt kho khô hay nướng... Hoặc cắt thành dạng sợi lớn để ăn kèm nước canh, nước bún bò, bún riêu, nước thịt hon. Nhiều nhà ăn cơm nắm ăn kèm muối mè, chà bông (ruốt). Cơm nắm rất tiện làm món ăn picnic hay đi đường. Gói cơm cho sạch bằng tấm khăn ẩm mỏng để trong hộp thoáng sẽ để được qua vài ba ngày. Nếu làm kỹ, hột cơm tơi mịn đều, nếu để qua vài ngày thì nắm cơm chỉ khô mặt ngoài, dùng dao gọt bỏ phần vỏ khô đi, bên trong vẫn mềm mại thơm ngon như thường. Nếu không làm kỹ, nắm cơm để qua vài ngày sẽ bị mốc xanh.
Đây là ưu điểm nổi bật của món cơm nắm mà rất nhiều người lớn tuổi thích ăn.Thêm một đề nghị nhỏ với bạn là cơm nắm ăn kèm với ruốc sợi làm kiểu người Bắc rất ngon và các cháu nhỏ sẽ rất thích. Bạn băm nhuyễn thịt nạc thăn hoặc nạc đùi heo (không dùng thịt mỡ), ướp nước mắm ngon, tùy thích thêm ít đường hoặc bột nêm cho dịu, rồi cho lên chảo xào trên lửa nhỏ với ít dầu đã phi thơm hành tỏi, thịt săn lại rồi rang tiếp cho thịt ráo và rời từng hạt như muối đậu, dậy mùi thơm của nước mắm ngon rất hấp dẫn.

Những món ăn độc đáo(3)

Người dân tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc vừa được học cách làm và thưởng thức ngay tại chỗ món bibimbap khổng lồ hay còn gọi là cơm trộn Hàn Quốc. Ảnh trên Xinhua.

Cơm trộn vĩ đại tại Trung Quốc

Chỉ cần trộn đều các nguyên liệu như thịt, rau quả, tương ớt... là sẽ được món cơm trộn.

Cơm trộn vĩ đại tại Trung Quốc

Đầu bếp Hàn Quốc trang trí cho món ăn.

Sau khi trộn đều, món cơm sẽ có màu sắc rất hấp dẫn.

Màn trình diễn chế biến cơm trộn của các đầu bếp thu hút được sự chú ý của nhiều người Trung Quốc.

Indonesia là một nước có nhiều loài rắn sinh sống, trong đó có rất nhiều loại rắn độc, đặc biệt là rắn hổ mang -loài rắn sống nhiều ở đất nước này.

Những chiếc bánh này nhìn thật hấp dẫn.

Thịt rắn thực chất tại Việt Nam cũng có ăn, nhưng việc sử dụng những con hổ mang bành để làm thịt nhân hamburger thì quả thật là hiếm có. Tại Indonexia, thịt rắn là một món ăn phổ biến và được chế biến thành nhiều món, đặc biệt là các món ăn truyền thống. Nhưng hiện nay quốc gia này còn sử dụng cả loại thịt của con vật này để làm những món ăn nhanh như hamburger.

Công đoạn làm thịt rắn bắt đầu là chặt đầu để loại bỏ những nanh độc, tiếp đến chặt các khúc nhỏ, lọc sạch da và ruột sau đó được băm nhuyễn tẩm ướp gia vị và làm thành nhân hamburger. Chúng ta cùng xem quá trình chế biến những con rắn thành thức ăn nhé.





Đầu tiên là bắt những con rắn về.

Một số lượng rắn khổng lồ.











Xẻ thịt...

Băm nhỏ...

Và cuối cùng thành món hamburger hấp dẫn.

Ai mà biết chiếc bánh này lại có nhân thịt rắn chứ
Món "Độc" Gò Công

“Đèn cao Châu Đốc.

Gió độc Gò Công...”

Tôi sinh trưởng ở Gò Công nên rất tức mình về câu tục ngữ ấy. Gió Gò Công đâu có độc hồi nào, chỉ hơi... nhiều một chút thôi, vì là vùng biển mà. Tôi nhớ rõ Gò Công có nhiều gió qua hình ảnh hai cái hồ tắm trước trường Nữ và Trường Nam tiểu học quanh năm lăn tăn gợn sóng, và con gái Gò Công khi đi ngoài đường bàn tay lúc nào cũng e ấp vịn vành nón lá, sợ bay, quai nón luôn luôn tua tụi dịu dàng.

Ấm ức thì ấm ức vậy, chứ từ nào đến giờ, tôi vẫn hãnh diện vì tên tỉnh lụy nhỏ bé của mình đã được đưa vào thi ca và âm nhạc. Chữ Gò Công, qua tiếng hát Thái Thanh nghe mới ngọt lịm và dịu dàng làm sao:

“Đèn nào cao cho bằng đèn Châu Đốc.

Gió nào độc cho bằng gió Gò Công.

Vợ chồng son đã nuôi lòng ước mong,

Thuận vợ chồng ta cùng tát biển đông...”

Theo thiển ý, Gò Công không nổi tiếng vì gió mà là vì thức ăn. Ai đến thăm Gò Công một lần, nhất là đã lưu lại một đôi ngày để nếm qua các món ngon đặc biệt ở đây cũng đều cảm thấyGò Công bé nhỏ xứ xơ ri. Lưu luyến lòng người phút biệt ly” bạn ạ!

Xơ-ri (cerises) là một trái rất đặc biệt chỉ ở Gò Công mới có. Bước vào một vườn xơ-ri ở Cống Bà Chài, ai cũng thấy lòng dịu lại, mềm đi khi nhìn những cây xơ-ri đầy trái chín đỏ, chen lẫn hoa xơ-ri lấm tấm hồng trên những chiếc lá nhỏ xanh tươi. Tàn cây xơ-ri xòe rộng nhưng chỉ cao quá đầu người một chút nên rất dễ hái. Ngắt một trái đỏ nhất nếm thử mà xem, vị ngọt chua lẫn với mùi thơm ngát dễ chịu của trái xơ-ri bé nhỏ này sẽ làm bạn lâng lâng khoan khoái. Trái xơ-ri xanh hoặc vừa chín tới lại ngon một cách khác, rất được phái nữ ưa chuộng. Trông các cô ngồi ăn xơ-ri và táo ta chấm muốt ớt đỏ, mình chỉ ước gì được nhập bọn để khỏi chảy nước miếng vì thèm. Trong các vườn xơ-ri thường cũng có một vài cây nhãn. Nhãn Gò Công thơm ngon lắm, trái to, nhiều nước, cơm thật dày, ăn vào ngọt mát cả tâm can. Nhãn này thường không có đủ để đem bán ở chợ, vì dân sành ăn cứ vào vườn mua hết. Nhưng bạn chớ buồn nếu mua không được nhãn, vì còn biết bao nhiêu món ngon lành, hấp dẫn khác chờ đợi bạn chiếu cố ở chợ Gò Công, nào mãng cầu ta to miệng chén, nở mạn hết cỡ, có một vị ngọt đặc biệt, lạ lùng qua chút mằn mặn của trái cây vùng biển. Nào đu đủ, quít đường chín cây da láng bóng, vàng ửng, ngọt lịm, quít ta lớn trái, vàng tươi, mọng nước. Nào mận da người sắc xanh như ngọc, phơn phớt ánh hồng; Mận hồng đào đỏ thắm, vị ngọt thơm mời mọc v.v... Chợ Gò Công rất độc đáo ở chỗ các hàng quả bánh chiếm gần hết diện tích chợ. Tỉnh lỵ này tuy không được mệnh danh là xứ dừa, nhưng người dân ở đây rộng rãi lạ lùng khi dùng dừa khô trong các món ăn chơi, bạn đã có dịp nếm thử món bánh bò nước dừa của Gò Công chưa? Miếng bánh bò hấp trắng nõn, láng mướt đem chấm vào chén nước cốt dừa bồng con nguyên chất dừa, không trộn bột, ăn vào cứ ngon lịm cả người. Xôi vò ở đây cũng rất ngon, rất béo vì nhiều dừa, lắm đậu xanh, được dọn kèm với món cơm rượu thơm nức, ngọt nồng, ăn hoài không chán.

Các loại bánh khoai mì nướng, bánh chuối, bánh khổ qua (làm bằng bột năng, nhân đậu xanh, da sần sùi như trái khổ qua), bánh bèo, bánh da lợn... đều được bà hàng chan nước cốt dừa rất rộng tay, ăn ngon hết sẩy. Món cớm dẹp của Gò Công cũng tuyệt vời không kém vì dừa nạo được trộn vào nhiều không tiếc tay đến nổi màu trắng sữa của dừa gần lấn át cả màu xanh của cốm.

Các hàng điểm tâm mặn cũng nhiều vô số. Trước hết phải kể đến món bánh giá rất đặc biệt của quê tôi. Món này cũng có khi gọi là bánh vá vì người bán múc bột vào trong cái vá tròn, sâu để chìm trong mỡ sôi mà chiên. Trong bột có giá, đậu xanh, thịt nạc băm, gan heo, và mặt bánh nhìn thật hấp dẫn với hai chú tôm đỏ tươi, giòn rụm bên mấy hạt đậu phọng ngậy béo. Chiếc bánh giá vừa chín được cô hàng dùng kéo cắt làm tư, sắp lên tô bún có giá, rau thơm, mỡ hành, đậu phọng rang giã nhỏ, rồi rước nước mắm tỏi ớt, kiệu chua lên, ân cần mời bạn. Bánh xèo chợ Gò Công cũng rất giàu có vì trong lớp vỏ vàng giòn đặt những tôm, gan, thịt, đậu xanh, dừa nạo, ăn kèm rau sống đủ loại và cải “ngồng cu” (cái tên thật bất hủ, bạn nhỉ?) xanh mướt, cay nồng, chấm nước mắm cay có pha chút cà cuống thì vô cùng thích khẩu.

Nếu bạn đã tới Gò Công mà quên nếm thử một tô bún suông thì quả là một thiếu sót vào loại lớn. Cái suông trong tô bún chỉ toàn tôm là tôm, rất dai vì tôm được quết kỹ. Nước dùng ngọt lìm lịm, đỏ ối gạch tôm, trôi vào đến đâu biết ngay đến đó. Sài Gòn mình ngày xưa có quán Thanh Thế nổi tiếng nhờ món suông, nhưng tôi dám cá suông chợ Gò Công ngon hơn một bực.

Quà xế trưa của Gò Công cũng rất ư là phong phú. Gần chợ có một cái thum nhỏ (kiểu kiosque) chuyên bán thịt phá lấu ngon trứ danh. Chỉ ghét là cái món ngon nhất: bao tử khìa không bao giờ có đủ để bán. Khách có bực mình thì chỉ có nước qua cái thum kế bên làm đỡ một tô mì thánh thôi chứ biết sao hơn. Về mì Gò Công, phải công nhận là chỗ nào cũng ngon, một chín một mười. Mì Chú Cưng số dách mà mì Chú Cẩu gần bên cũng đắt hàng không thua. Đã vậy hai chú còn cạnh tranh nhau quyết liệt ở món bánh neo nhỏ xinh như ngón cái, màu nâu sậm bọc một lớp đường trắng đục, có một mùi thơm lạ thơm lùng, không bánh neo nào sánh nổi. Bánh được trang trọng bày trong hai cái ve keo lớn trước tiệm mời gọi khách qua đường. Về phía ao Trường Đua có một xe mì cũng lừng danh lắm, được gọi là Mì Miễu Bà, bạn hiền còn nhớ không? Tôi chịu nhất là mấy hủ củ cải trắng xắt hạt lựu trộn lẫn với ớt khoanh đỏ tươi mà dù được ngâm giấm vẫn không mất vị cay, nồng. Vẽ vời hơn một tí, bạn có thể rủ một hai người bạn đi xe lam đến một làng nhỏ cách chợ Gò chừng mười cây số để ăn Mì Hòa Nghị. Chỗ tuy quê mùa nhưng tô mì ngon tuyệt, ăn đứt mì Cây Nhãn ở ngoại ô Sài Gòn.

Buổi trưa, nếu thèm một món quà lạ miệng, người bạn Gò Công sẽ đưa bạn đến xe ngựa cũ, nơi có một lò bánh bàng (bánh bía) nho nhỏ, đúng lúc bánh mới ra lò. Cái bánh đặc biệt ở chỗ nhưn đậu xanh của bánh khô, rời chứ không ướt dẻo như bánh bàng những nơi khác. Cam đoan ăn một lần bạn sẽ ghiền nó ngay. Gần lò bánh bàng có một nhà làm kẹo cổ vịt, là một loại mè xửng hình giống như cổ con vịt chặt khúc, được gói trong giấy bóng trắng hoặc đỏ. Những món quà lạ này không hề có đủ để bày bán ở chợ, chỉ có những “thổ địa” Gò Công mới biết chỗ đi mua mà thôi. Người bán chỉ làm tà tà, sản xuất đủ sống, mua chậm là hết hôm sau trở lại vậy. Cái phong thái đặc biệt này của một số dân xứ Gò Công kể cũng đáng yêu, phải không bạn?

Gò Công quê tôi cũng rất giàu về thủy, hải sản. Ở ngoại ô, hầu như nhà nào cũng đào ao nuôi cá phi hoặc cá tra. Kho cá tra ăn ngon không thể tả, nhất là ở cái ức dầy mỡ béo ngậy. Dĩ nhiên là bạn phải điều tra “lý lịch” của con khô thật kỷ, để biết chắc “thuở sinh tiền” nó được nuôi bằng cám và cơm.

Biển Tân Thành cách Gò Công chừng 15km, là nơi cung cấp đồ biển tươi cho tỉnh nhà. Cát biển ở đây hơi nâu, đầy vỏ ốc luốc đủ màu, nang mực và vỏ nghêu, sò trắng muốt. Sò huyết Gò Công tuy nhỏ con nhưng nướng lên thơm lừng và rất ngọt thịt, rất được dân nhậu ưa chuộng. Một món nhậu khoái khẩu khác, rất độc đáo của Gò Công là con móng tay. Nó thuộc một loại nghêu, hình dài, ốm cỡ ngón tay út, võ ngoài trắng nõn, thịt ngọt, dòn, nhậu rất hao bia.

Tôi nhớ mãi ngày con bé, những lần cùng cả nhà đi tắm biển đêm. Sau khi bơi lội, nghịch nước thỏa thuê, bọn nhóc chúng tôi lên bờ, tranh nhau ngồi trên mấy tấm chiếu ba tôi trải sẵn trên cát, nhồm nhoàm thưởng thức món cơm vắt với thịt gà xào mặn trứ danh của má. Bãi biển đêm rất vắng nên hàng quán chẳng có gì ngoài món chè tàu thưng, xe bánh mì cá mòi và bà cụ bán hột vịt lộn với một thúng trấu để giữ trứng nóng lâu. Vậy mà đối với chúng tôi, biển Tân Thành là cả một thế giới kỳ lạ, vui tươi vô cùng.

Dọc đường về, ba thỉnh thoảng lại ngừng xe cho chúng tôi xem lũ ma chơi chập chờn ẩn hiện trong mấy chòm mả xa xa. Đứa nào cũng run nhưng làm bộ tỉnh, trố mắt nhìn mãi mấy đốm sáng huyền ảo, lập lòe. Về đến Gò Công, phút giây hạnh phúc nhất của lũ nhóc thì là khi ba đậu chiếc Traction cũ kỹ trước rạp hát Bình An, ba mua cho bọn tôi mỗi đứa một con tôm tẩm bột chiên nóng phỏng lưỡi, một gói đậu phọng rang gói thành hình chóp, và cho má một con khô mực cán mỏng dài gần cả thước trọn vẹn món này vì “tụi quỷ” lần nào cũng bu lại ăn chực, rồi xuýt xoa mãi vì cay.

Đêm nào nằm cả nhà không đi tắm biển, chú Sáu tôi lại tổ chức một chuyến đi hứng tôm. Má tôi bận rộn chuẩn bị bánh tráng, rau cải, lá hẹ, tương chấm, chén đũa... để sẵn trong ghe của chú. Ba tôi thì lo châm dầu cái đèn măng sông và cái rề sô, xong bưng hết xuống ghe. Đêm trăng sáng vằng vặc, ghe lướt đi trên sóng nước êm đềm. Người lớn thì thả hồn mơ mộng trên dòng sông loáng ánh trăng đêm, còn đám con nít chúng tôi thì chộn rộn ồn ào, chẳng chịu ngồi yên trong khoang. Đứa nào cũng ham chen ra đằng mũi, để có dịp với tay hái mấy trái bần rạch gie ra gần đụng mui ghe. Khi chú Sáu hứng được mớ tôm đất đầu tiên, má tôi đốt rề sô, xối nước mưa trong khạp rửa tôm, rồi trút vào nồi hấp. Cả gia đình vừa thưởng thức món gỏi cuốn hấp dẫn nóng sốt tại chỗ vừa chuyện trò cười giỡn vang rộn cả một khúc sông. Tiếng ồn ào không hề kinh động lũ tôm, chúng vẫn rủ nhau chui vào lưới, để rồi sau đó vào bụng mọi người, ăn hoài không hết. Chỗ tôm còn dư được má tôi đem ướp rượu trắng để hôm sau làm mắm tôm chua hoặc mắm chà, hai đặc sản tuyệt vời của quê tôi.

Thời niên thiếu của chị em tôi ở Gò Công thật là hạnh phúc, một phần lớn nhờ ở khu vườn sum sê hoa quả của ba tôi. Mỗi sáng sớm, chúng tôi rủ nhau ra vườn hái trái chín cây. Đứa nào cũng khoái săn ổi cửu ngoạc (cửu nguyệt: 9 trăng {tháng} có trái) chín thơm lừng trên cây. Có khi tụi tôi phải giành giựt với lũ dơi và chim trao trảo, vì biết chim luôn chọn trái ngon nhất để mổ. Kế đến là mãng cầu gai, sa bô chê, vú sữa, xoài cát, đi đến đâu tụi tôi đuổi dơi, chim đến đấy. Nhưng thú nhất là khi hái nấm rơm. Nấm búp nhỏ cỡ đầu ngón tay, vừa nhú lên từng chùm sau cơn mưa được lặt hết, đem hấp lên giả làm ốc gạo, chấm nước mắm cay ngon ra phết. Nấm lớn hơn được má rửa sạch, cắt đôi, nêm chút muối tiêu, tra tí mỡ hành, gói bằng lá nghệ non nướng lên đãi cả nhà. Ôi, đối với tôi, nấm rơm tươi bọc lá nghệ nướng là món ngon độc nhất vô nhị trên cõi đời này. Mùi lá nghệ thơm nức mũi quyện vào trong tai nấm, bạn ơi, ăn vào thấy ngọt lịm cả tâm hồn. Bạn thử làm một đũa đi, rồi sẽ như tôi, tâm phục ông bà mình đã khám phá ra món ăn thích khẩu nầy và lưu truyền cho cháu.

Thỉnh thoảng, chúng tôi lại được may mắn xơi món đuông dừa chiên bột. Con đuông sống khi nhúc nhích nhìn thật ớn, vậy mà sau khi được lăn bột, chiên lên vàng óng, giòn rụm thì ngon không chi sánh bằng, nhất là khi được cuốn rau sống, cải xà lách, chấm nước nắm cà cuống, đưa cay với ít rượu nếp than. Mỗi lần ăn đuông như vậy chỉ có tụi nhỏ là sung sướng, còn ba tôi thì buồn bã, bí sị vì thêm một cây dừa xanh tốt gục chết tức tưởi vì lũ độc trùng. Chính tụi tôi cũng tiếc nhưng khi nhai rau ráu cái phần tuyệt ngon trong bộng cây dừa gọi là củ hủ thì quên hết hận thù, trái lại còn... thầm cám ơn mấy con đuông nữa mới chết!

Quê tôi, Gò Công, nơi đó có đủ thức ăn ngon lành, dễ kiếm, chỉ khi nào đi xa khỏi mới thấy thèm nhớ khôn nguôi. Mỗi lần nhớ Gò Công, tôi đều nhớ đến những món ăn độc đáo của quê nhà, nhớ tới héo hon khổ sở. Có lẽ Gò Công và món ngon là hai thực thể không tách rời ra được, ít nhất là với một kẻ phàm ăn như tôi.

Còn nữa, mỗi lần nhớ tới Gò Công là tôi lại nhớ tới mẹ hiền. Má tôi, người nội trợ đảm đang, một đời thương yêu con cháu nên luôn luôn nghĩ cách làm đủ mọi món ngon lành “cho tụi nhỏ nó vui”, nhất là trong những dịp bãi trường, con cháu lớn nhỏ đi học xa đều về đoàn tụ. Cả đời tôi sẽ không quên được món cháo đậu xanh má nấu với thịt gà nước hoặc ốc cao, chàng nghịch... (tên những loài chim đặc biệt sống ở ven sông tỉnh nhà).Tô cháo vừa ngọt thơm vừa béo bổ lạ lùng. Cháo gạo nhum màu tím hồng thơm nức mũi, ăn với tôm rang nước dừa đậm đà béo ngậy cũng là một món ngon mà không biết đến chừng nào tôi mới được nếm lại lần nữa. Còn món cua lột lăn bột chiên mà mỗi lần nhớ đến là mỗi lần tôi thèm chảy nước miếng nữa chứ. Tội nghiệp má tôi, năm nào tới mùa còng lột cũng cặm cụi làm mấy hũ mắm còng đem lên Sài Gòn cho chị em tôi có cái mà ăn, phòng khi quá bận học hành thi cử không kịp nấu bếp. Lần nào bà từ Gò Công lên thăm các con cũng xách nách mang, đùm đề bao nhiêu là món quà từ quê nhà yêu dấu. Món nào cũng ngon trứ danh. Nào bánh dừa đậu đen vuông xinh xẻo, gói bằng đọt lá dừa nước trắng ngà, bánh ít nhưn dừa, nhưn đậu béo bổ. Nào chả lụa Hòa Đồng, nem chua chợ Dinh ngon tuyệt vời, nào mắm tôm chua trộn đu đủ hườm với những lát tỏi trắng ngần và ớt cay đỏ thắm, nào me dốt, me chín, chuối khô, mứt gừng dẻo. Thôi thì mùa nào thức ấy. Nghĩ mà thương cho cánh tay gầy yếu của mẹ hiền!

Ngày xưa, lúc còn trọ học ở Sài Gòn tôi chỉ thấy nhớ thôi, vì dù ở xa, món ăn Gò Công tôi vẫn được mẹ già chu cấp đầy đủ. Giờ đây, quê hương đã ngàn trùng xa cách, mẹ già ở lại bên kia bờ Thái Bình Dương.

Nhớ Gò Công, tôi bồi hồi nhớ cả một thời niên thiếu huy hoàng, nhớ cha mẹ và chị em thân yêu, nhớ đến ngẩn ngơ từng món ăn đặc biệt quê nhà, bởi trái dừa nước ngọt ngào thơm mát, nhớ con cá bống dừa tinh nghịch ẩn nấp trong trái dừa bị chuột khoét rơi rụng xuống mương, nhớ cả cơn gió... độc.

Nhớ nhiều, nhiều lắm, và nhớ đến quay quắt, nghẹn ngào, vì không biết đến bao giờ tôi mới được tái hồi quê cũ: Gò Công.

Sài Gòn vào mùa mưa! Mưa Sài Gòn được ví như người như người con gái đỏng đảnh thất thường, đang nắng đấy rồi đổ mưa ào ào, rồi lại nắng ngay đấy. Tháng 5 đều đặn với những cơn mưa chưa kịp dai dẳng đã vội dừng, nhưng cũng đủ làm những con đường ngập nước. Mỗi khi trời chiều đổ mưa như thế, chỉ thèm được ghé một quán ven đường nào đấy và nhấm nháp cút lộn xào me.

Người ta vẫn nói Sài Gòn không có ẩm thực riêng mà chỉ là sự giao thoa của nền ẩm thực bốn phương, do những người dân tứ xứ mang về đây. Sài Gòn cũng chẳng nổi tiếng bởi món ăn cao sang nào mà được biết đến nhờ những món ăn vặt giản dị nhưng độc đáo. Cút lộn xào me là một trong những món ăn như vậy.


Ảnh: top123.vn

Người Việt Nam chẳng xa lạ gì với trứng vịt lộn hay trứng cút lộn, món ăn bổ dưỡng và thơm ngon. Nhiều người chỉ quen với trứng cút lộn hay vịt lộn luộc, chấm muối tiêu và ăn kèm rau răm. Nhưng tại đất Sài Thành này, cút lộn hay vịt lộn xào me mới là món ăn khoái khẩu bậc nhất. Nếu như trứng vịt lộn một người ăn hai quả đã thấy no và ngán thì với trứng cút lộn, mỗi người có thể thưởng thức tới hai, ba chục quả. Đặc biệt, cút lộn xào me càng dễ ăn vì nhỏ và khi xào, nước me ngấm vào trứng làm vị trứng càng thêm đậm đà.

Trứng cút lộn luộc lên rồi bóc vỏ. Me khô ngâm nước nóng cho mềm ra, phi hành tỏi thơm phức, đun nhỏ lửa để nước sốt sánh lại. Sau cùng cút lộn được cho vào đảo cho đến khi ngấm. Khi đảo trứng phải nhẹ tay để trứng không bị nát. Nước sốt me không thể thiếu chút đường tạo vị ngọt đặc trưng của một món ăn Nam bộ. Trứng cút lộn ngọt thơm, me chua nhưng thanh, hành tỏi phi thơm lừng. Món cút lộn xào me bạn có thể ăn mãi mà không chán.


Ảnh: blog.yume.vn

Không chỉ là món ăn vặt bổ dưỡng thơm ngon, cút lộn xào me còn là món khoái khẩu của “dân nhậu”. Buổi tối ghé đường Pasteur, gọi vài chai bia và một dĩa cút lộn xào me, bạn có thể ngồi lai rai tâm sự với bạn bè vài tiếng đồng hồ. Cút lộn xào me ở đây ngon nổi tiếng khắp Sài Gòn. Khi đã ăn hết trứng, nhiều người bắt đầu nhâm nhi hạt me hay gọi bánh mỳ chấm nước sốt me ăn cho “đỡ phí”.

Sài Gòn mùa mưa cứ chiều tối lại đổ mưa rào. Cơn mưa như cuốn trôi mọi bụi bặm, ồn ào và nóng bức. Những cơn mưa bất chợt khiến bạn lúng túng mỗi khi quên áo mưa. Đành ghé tạm một quán nào đó, gọi món cút lộn xào me quen thuộc và chờ cơn mưa qua.

Nhắc đến văn hoá ẩm thực của đồng bào dân tộc Mnông, người ta thường nghĩ ngay đến những món ăn quen thuộc như: cơm lam, thịt gà nướng, thịt hun khói, đọt mây... nhưng có một món ăn còn ít người biết tới, đó là món canh thụt. Đây là món ăn dân dã nhưng lại gần gũi và độc đáo.
Về lai lịch cũng như cách thức chế biến món canh thụt, theo nhiều già làng kể lại thì món ăn này có từ rất xa xưa. Khi lên rẫy, bà con có thói quen dùng bữa trưa ngay tại rẫy để tranh thủ thời gian lao động nên tìm cách cho gạo và thức ăn vào ống tre để nấu, vừa thuận tiện lại vừa thơm ngon. Người sau cứ thế làm theo, lâu dần trở nên thân thuộc.
Món canh thụt nếu đầy đủ sẽ gồm có những nguyên liệu: lá bép, đọt mây, cà đắng, cá suối (hoặc thịt) và các gia vị kèm theo như mắm, ớt, muối, sau này mới có thêm mỳ chính và đường.... Tuy nhiên, nếu điều kiện không thuận lợi thì nồi canh thụt có thể thiếu một vài thành phần. Trước khi nấu bà con chặt một ống lồ ô có lóng dài, gọt đẽo phần đầu ống cho khéo, sao cho khi nấu canh thụt, nước không bị chảy ra ngoài. Việc chọn ống lồ ô cũng là một bí quyết, nếu chọn cây già quá sẽ bị nứt, hoặc cây non thì canh sẽ không ngon... sau khi chế biến những nguyên liệu trên, bà con cho tất cả vào ống lồ ô và dựng ống nghiêng trên đống lửa. Trong lúc nấu, một mặt vừa quay tròn ống cho thật đều lửa và phải dùng một chiếc que có chiều dài hơn ống để thụt cho các thành phần của món canh nhuyễn và đều với nhau, động tác thụt ống còn khiến cho hơi thoát ra ngoài. Món canh có ngon hay không phụ thuộc nhiều vào hai việc trên. Có lẽ chính động tác này mà món canh có tên gọi như vậy. Căn cứ theo lượng người ăn mà người ta chế biến nhiều hay ít, nhưng thường thì ống canh thụt chỉ dài độ nửa mét trở lại. Trong các dịp lễ hội, cần nhiều thì bà con nấu làm nhiều ống. Thời gian để canh chín khoảng từ 60-90 phút. Sau khi canh chín bà con cho ra bát hoặc ở rẫy thì lá chuối... cũng được vì món canh thụt khi chín sẽ đặc lại và rất dẻo, khi ăn món canh này có rất nhiều vị: đắng, cay, bùi, béo...
Hiện nay, đồng bào dân tộc Mnông vẫn nấu món canh thụt này nhưng cách nấu có phần khác hơn trước, đó là bà con dùng nồi để nấu và thay vì dùng cây để thụt thì dùng đũa để quấy, gia vị cũng nhiều hơn trước... Nhưng theo nhiều người cho biết thì hương vị của món canh nấu trong ống lồ ô vẫn đặc biệt và ngon hơn so với việc nấu trong nồi. Ở một góc độ nào đó có thể xem canh thụt là món ăn đặc trưng nhất của người Mnông. Nếu như người miền xuôi dẫu đi đâu cũng “...Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”, thì đồng bào Mnông không bao giờ quên được hương vị món canh thụt đặc sắc của mình.

Món phở chua độc đáo của người Lạng Sơn

Phở chua, món ăn khai vị rất độc đáo tại vùng đất địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc. (Ảnh: Trung Hiền/Vietnam+)

Tỉnh Lạng Sơn, vùng đất trấn ải phía Đông Bắc của Tổ quốc có nhiều món ăn thú vị. Đến với nơi có đỉnh Mẫu Sơn, chùa Tam Thanh nổi tiếng, hẳn du khách sẽ dừng lại ở chợ Kỳ Lừa hoặc đâu đó để thưởng thức món vịt quay, vị măng ớt cay đến... rụt lưỡi hay món cải nổi tiếng của xứ Lạng. Và, có một món ăn khai vị khá độc đáo mà người ta ít khi quên được: Phở chua.

Trong một lần đến với xứ Lạng, tôi lân la dò hỏi về món ăn khoái khẩu này.

Anh Đinh Gia Lượng, đầu bếp chính của nhà hàng Thảo Viên (số 57 Phai Vệ, phường Đông Kinh, Lạng Sơn), tay thoăn thoắt thái những miếng thịt xá xíu, nói với vị khách tò mò về từng công đoạn làm ra đĩa phở chua hấp dẫn.

Đầu tiên phải mua loại bánh phở (như bánh phở ở Hà Nội), nhưng phải chọn loại bánh dai, đem về trộn với dầu ăn sau khi được hâm nóng. Tiếp theo, phi hành khô thơm phức, rồi trộn đều bánh phở với hành khô, rau thơm.

Theo lời anh Lượng, điều quyết định của phở chua Lạng Sơn chính là “nước đủ” [hay còn gọi là ‘nước sốt’ – pv]. Để có một nồi nước đủ ưng ý, vị giác của người đầu bếp phải rất “nhạy”. Người ta phải phi thơm hành, tỏi, rồi đun cùng với ớt, cà chua, dấm đường, đường, nước mắm, gừng. Sau đó, người ta cho bột lăng vào để “cô” cho sánh nồi nước đủ lại.

“Gia vị ‘hay’ nhất của nồi nước đủ chính là dấm đường. Đây là thứ dấm rất riêng của Lạng Sơn bởi nó được làm từ quả chuối tây chín,” anh Lượng cho biết.

Ở công đoạn tiếp theo, người đầu bếp phải làm món xa xíu. Miếng thịt lợn nạc, được thái to như bao thuốc lá, dày chừng 5cm được tẩm ướp với dầu hào, đường, màu điều rồi đem luộc gần chín. Sau đó, người ta vớt miếng thịt, để ráo nước rồi đem rán lên, thái nhỏ lát dài.

Sau cùng là công đoạn rang lạc, bào nhỏ khoai lang (hoặc khoai môn) rồi chao dầu để làm giòn. Đĩa phở chua sẽ được xếp lần lượt: Bánh phở, xá xíu, dưa chuột rồi dưới nước đủ vừa phải. Tiếp đó sẽ là lạc rang bỏ vỏ, khoai lang chao để lên trên.

Khi ăn, thực khách có thể trộn đều hoặc không. Món ăn này là món theo kiểu “hàn thực” nên rất thích hợp ăn vào mùa nóng. Tuy nhiên, nếu ăn vào mùa lạnh, thì bánh phở và nước đủ sẽ được hâm nóng trước khi đem ra cho khách.

Nguồn gốc của phở chua cũng chưa biết có ở xứ Lạng từ khi nào. Người thì bảo, nó có bắt nguồn từ Trung Quốc, cũng có người nói nó là “khúc biến tấu” của phở Hà Nội, Nam Định… Chỉ biết, phở chua được người Lạng Sơn và du khách rất thích thú bởi nó ngon và có vị lạ miệng.

Đầu bếp Lượng cho hay, món này giờ được bán phổ biến trong các nhà hàng với giá từ 20.000 đồng – 25.000 đồng/1 đĩa. Ngoài ra, nó còn trở thành món khai vị không thể thiếu tại nhiều đám hiếu, hỉ. Đặc biệt tại ngày lễ, Tết, người ta cũng muốn có món phở chua trong nhà để thêm món ăn nhẹ nhàng sau những ngày ê hề thịt cá.

Gắp miếng phở chua, nhẩn nha thưởng thức vị giòn, bùi của khoai, lạc, vị ngậy của thịt xá xíu, cay của ớt, lại man mát của miếng dưa chuột và nhẩn nha thưởng thức thì quả là tuyệt thú. Nhất là, với những kẻ thích lang thang tới thiên sơn cùng cốc, tới các bản làng xa xôi để thưởng ngoạn thì những món ăn như phở chua mang đậm chất quê lắm lắm./.

Churrasco - Món ăn độc đáo của Brazil

Chúng ta biết đến Brazil qua hình ảnh của quả bóng tròn, của những vũ điệu La tinh sôi động, nhưng hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu về một nét văn hóa khác - văn hoá ẩm thực độc đáo qua món thịt nướng Churrasco nổi tiếng trên thế giới mà người Brazil vẫn tự hào.

Đến cùng với cái sôi động của những vũ điệu samba, cái đam mê cuốn hút của vùng Nam Mỹ, một không gian đậm chất Brazil cùng những món ăn độc đáo tưởng chừng khó tìm thấy ở Hà Nội, giờ đây lại dễ dàng được tận hưởng và thưởng thức tại Âu Lạc Đồ Brazil.

alt

Món ăn Brazil nổi tiếng nhất là Churrasco. Churrasco là thuật ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha dùng để chỉ các lọai thịt nướng. Sắc thái Churrasco ở Barazil là loại thịt được găm vào xiên và nướng trên lò Churrasco Queira. Churrasco phần lớn là thịt cừu và thịt lợn ngoài ra còn có cánh gà, xúc xích, tôm cuốn và đặc biệt là phần thịt Picanha - cả phần mông bò chỉ có thể lấy được 1kg thịt này.

Tuy nhiên, việc chế biến món ăn này không phải là dễ, từ cách chọn thịt đến các gia vị ướp tẩm đòi hỏi nhiều nguyên liệu rất khác nhau, hầu hết là những nguyên liệu đặc trưng của vùng Nam Mỹ, nhờ thế mà Churasco mới tạo ra hương vị rất riêng được ưa chuộng trên khắp thế giới, trở thành món yêu thích tại các nước Achentina, Chilê và nhiều nơi, từ Châu Á đến Châu Âu. Một điều khá thú vị là khi món ăn này được du nhập sang Mỹ La Tinh lại mang theo cả sắc thái ẩm thực của địa phương đó.

alt

Churassco sẽ chẳng có được cái hương vị yêu thích đến như vậy nếu không được thưởng thức cùng các loại salad rau xanh dành riêng cho món ăn này. Các loại nấm, Pasta salad, cơm xúp đậu đen cùng sốt feijoada truyền thống là những loại salad được các thực khách yêu chuộng ăn kèm với món ăn.

Cách thưởng thức Churassco cũng là một điểm khá đặc trưng, nó thể hiện phong thái và tính cách của con người Châu Mỹ. Churassco ở Brazil truyền thống được phục vụ theo cách buffet tại bàn, theo yêu cầu và sở thích, khách có thể tự do thưởng thức đến thỏa thích. Cùng với không gian ấm và sôi động, kết hợp với đồ uống phong vị Châu Mỹ La Tinh sẽ làm hài lòng những ai yêu quý Brazil.

alt

Thật vậy, tuy Churassco còn khá mới ở Việt Nam nhưng đã nhanh chóng trở thành món ăn ngon đối với những ai yêu cái nóng bỏng và sôi động của vùng đất Nam Mỹ.

Canh chua bông so đũa

Ai từng về quê Bến Tre, từng ăn tô canh chua bông so đũa nấu cá rô đồng sẽ không quên được cái vị ngọt lành của nó. Mùi thơm của bông, của con cá rô hòa quyện đọng hoài trong trí nhớ, miên man mà dai dẳng lắm.

Thành phần:
- Cá rô: 500 gr
- Bông so đũa trắng: 500 gr
- Bún: 1kg
- Gia vị: Me, đường tán, nước mắm, bột súp gà Knorr, muối, rau ôm, ngò gai, ớt hiểm
Cách làm:
- Cá rô rửa thật sạch bỏ mang, ướp ít muối tiêu (rửa cá rô bằng muối hoặc bằng tro để cá không còn nhớt).
- Bông so đũa bỏ nhụy, rửa sạch.
- Thêm một chút nước vào me và lọc lấy nước me, bỏ hột me
- Cá rô chiên vừa chín cho vào nồi nước dùng, nêm me, nước mắm, đường, nấu sôi nhỏ lửa cho nước canh không đục. Nêm gia vị vừa đủ, cho bông so đũa vào nhắc xuống. Cho hành phi, rau ôm, mùi tàu, ớt cắt khoanh, ít mỡ tỏi.
- Dùng nóng kèm với bún và nước mắm với vài lát ớt hiểm.

Thành phẩm:
- Nước canh ngon ngọt dậy mùi thơm của hành phi, rau ôm, ngò gai, vị chua chua ngọt ngọt hài hòa vừa ăn.
- Cá rô vừa chín ăn ngọt thịt, bông so đũa chín tái ăn dòn dòn, ngọt ngọt và nhẫn.

Những món ăn đặc sản vùng biển đó mới chính là nghệ thuật, một loại hình văn hóa ẩm thực khiến cho nhiều du khách sau chuyến đi xa trở về vẫn còn vương mãi cái dư vị ngọt ngào của mỗi món ăn. Mỗi quán ăn ở xứ biển đều có bí quyết chế biến khác nhau, nhưng nét văn hóa ẩm thực chủ đạo là hải sản, nghệ thuật chế biến mới là quan trọng, là linh hồn của ẩm thực dân gian.

Đỉa, ốc, nhum là đặc sản ở vùng biển Quy Nhơn

Đỉa biển làm sạch nhớt, lộn trong ra ngoài, bỏ ruột, luộc chín, xắt mỏng trộn rau thơm, đậu phộng sẽ trở thành món "đưa cay"... tuyệt vời.

Tiếp đó là món ốc biển. Ốc biển có nhiều loại có con lớn lên tới cả kg thịt. Ốc làm sạch, luộc chấm muối tiêu, vắt chanh hoặc nước mắm gừng. Cầu kỳ hơn, xắt ốc thành lát mỏng, thái chỉ, phơi khô, cho tí dầu, khử hành cho thơm, chiên giòn thì còn tuyệt hơn cả bánh phồng tôm.

Món cầu gai hay còn gọi là con nhum, nhỏ hơn nắm tay, gai tua tủa. Nó được làm sạch, lộn từ trong ra, sẽ cho một món giống như lòng đỏ trứng gà; đặt lên bếp, thêm tí muối tiêu, phết lên bánh mì. Đến Quy Nhơn, du khách cũng đừng bỏ qua món hàu. Hàu được tách vỏ, đặt lên lò than, cho vào muỗng cà phê mỡ và gia vị, ăn nóng thật hết chê.

Ốc vú nàng sống bám chặt vào thành các ghềnh đá ven bờ biển, chúng mở vỏ cho nước biển lùa vào mang theo những vi sinh vật làm thức ăn cho chúng. Vì thế, người bắt ốc phải ngâm mình dưới nước, có khi phải dùng đèn soi vào tận kẽ đá, hốc đá sâu trong hang để “bắt” ốc.

Ốc vú nàng đều thơm ngon khi được luộc, nướng hoặc làm món trộn, làm gỏi. Món ốc vú nàng luộc được coi là món thông dụng nhất vì dễ làm. Với món này, ốc sau khi được rửa sạch, xếp vào nồi có ít nước hoặc chẳng cần cho nước rồi đặt lên bếp luộc chín. Theo người sành ăn, luộc ốc vú nàng không cần cho một chút nước nào bởi bản thân ốc vú nàng đã có khá nhiều nước. Trong khi luộc, đôi khi phải mở nồi, dùng đũa đảo ốc để cho thịt chín đều, sau đó vớt ra để nguội. Sau khi luộc chín, dùng mũi dao nhỏ nạy nhẹ lấy được thịt ốc ra khỏi vỏ, rửa sạch ốc rồi tưới thêm một lần nước sôi. Thịt ốc vú nàng từ màu trắng ngà chuyển sang màu vàng.

Món này chỉ cần chấm với muối, hạt tiêu và chanh, ăn giòn giòn, ngọt ngọt. Điều độc đáo của ốc vú nàng luộc là không quá béo như thịt, không quá dai như sò, ngao, không nhỏ như hàu. Nếu được thưởng thức những con ốc vú nàng mới ngậm sữa thì sẽ cảm nhận vị thơm ngậy, không lẫn với bất cứ món ăn đặc sản nào. Nước ốc cũng hấp dẫn vì vừa mặn lại vừa ngọt đậm.
Làm món ốc trộn cũng hết sức đơn giản, thịt ốc được thái mỏng theo chiều dọc sau khi đã luộc chín rồi trộn đều với chanh, ớt. Thịt ốc vú nàng khi ấy sẽ săn giòn và thơm. Theo dân “ghiền” đặc sản biển, món ốc vú nàng ngon nhất vẫn là ốc vú nàng chín khi được nướng trên lò thanh đước.

Chả mực

Nguyên liệu: Mực tươi 1kg, mỡ phần 200g, trứng vịt 3 quả, thì là, chanh, ớt, hạt tiêu, gia vị, dầu rán

Cách làm: Mực tươi rửa sạch, băm nhỏ cùng với mỡ phần và thìa là tạo nên một hỗn hợp thật nhuyễn. Đập vào đó 2 quả trứng, một chút gia vị và hạt tiêu trộn đều rồi viên chúng thành những viên dẹt và bỏ vào nồi hấp cách thuỷ. Khi viên mực se mặt và chín tới thì bắc ra để nguội.

Đập quả trứng còn lại vào một bát nhỏ, đánh thật đều. Đợi cho dầu ăn trong chảo nóng già thì nhúng từng viên mực qua bát trứng rồi bỏ vào chảo rán. Khi mực có màu vàng rộm là được.

Món này ăn nóng chấm nước mắm chanh ớt.

Sái sùng rang

Ở vùng biển Quảng Ninh có loại hi sản đặc biệt, được gọi là sái sùng ( hay sá sùng), tiếng Hán Việt gọi là sá trùng (con sâu cát), dân địa phương gọi là con mồi. Xứ sở của sá sùng là vùng bờ biển huyển đo Vân hi, nhất là các xã Minh Châu, Quan Lạn. Sái sùng sống trong các bãi cát có nước triều lên xuống.
Khi nước triều xuống, người dân địa phương ra đào. người đào sái sùng đòi hỏi có kinh nghiệm, có kỹ thuật, động tác điệu nghệ như người nghệ sỹ múa trên cát. Sái sùng đào được đem xào với tỏi tươi ăn rất ngon, một món ăn dân dã đặc sắc mà người dân vùng biển Hạ Long gọi là mồi xào. Sái sùng đem rang, khi chín có mầu vàng, mùi rất thơm, một hương thơm nồng ngậy đậm đà của biển. Sái sùng rang chấm với tương ớt, điểm thêm rau dấp cá, rau thơm và uống với bia thì thật là tuyệt.

Trùn biển

Trùn biển có ở các đầm như Thị Nại, Đề Gi. Muốn bắt được trùn biển, phải dùng thuổng để đào, thường vào lúc nước thủy triều rút. Mỗi tháng đào làm hai đợt, đợt một khoảng từ mùng 6 đến 14 âm lịch, đợt hai từ 22 đến 28 âm lịch (trừ những tháng mùa mưa).

Trùn biển màu đỏ hồng, con to cỡ bằng ngón chân cái người lớn, dài khoảng hơn hai gang tay, con nhỏ cỡ bằng ngón tay cái, dài hơn gang tay. Mới đào lên trùn biển dài, nhưng sau đó thì thun ngắn lại chỉ còn phân nửa lúc ban đầu.

Trùn biển là một món ăn giàu dinh dưỡng. Theo y học cổ truyền thì trùn có vị mặn, tính hàn không độc, trị được nhiều bệnh: thương hàn, ôn dịch độc nhiệt, cổ trướng, phong cuồng và sốt rét… Về mặt ẩm thực thì trùn biển là món ăn ngon, giàu dinh dưỡng, nhiều người ưa thích.

Trùn biển mua về lộn ruột, dùng muối hột chà sạch, sau đó rửa sạch, để ráo nước. Thịt trùn biển rất ngon, ngọt nên muốn nấu món gì tùy thích. Chẳng hạn với món xào, hoặc nướng thì chỉ việc xắt trùn thành từng khúc nhỏ, ướp gia vị hành, tiêu, ớt, nghệ, nước mắm ngon đầy đủ. Khử dầu cho tới, trút trùn đã ướp gia vị vào dùng đũa đảo nhanh, nêm nếm vừa ăn, cho các loại rau thơm vào, nhắc xuống. Còn nướng thì lót lá chuối hoặc lá lốt vào vỉ, sắp trùn đã ướp gia vị lên, phủ lên trên một lớp lá nữa rồi nướng trên lửa than vừa, trở đều tay. Món trùn xào hay trùn nướng đều thơm, ngon, dai như mực. Món cháo trùn biển cũng cực kỳ ngon. Với người bị bệnh thần kinh tọa, bại liệt, phong cuồng nên ăn món cháo này vì có giá trị chữa bệnh rất tốt.

Cá nhái

Cá nhái là loài cá chạy sống theo bầy đàn, cá giống như cá kìm nhưng mỏ nhọn hơn, răng nhiều hơn, cá cỡ 1- 2kg/con là ngon nhất vì thịt dai và ngọt, cá lớn quá thịt sẽ xảm. Cá sống rất gần với mặt nước, khoảng 10 cm. Ban ngày cá luôn di chuyển, ban đêm nó ngủ cũng cách mặt nước khoảng như trên. Đây là loại cá ăn tạp nên người ta câu nó bằng những miếng mút (mousse), khi thấy miếng mút di chuyển trên mặt nước là nó táp ngay và nguyên hàm răng sẽ dính chặt vào đó, bạn chài chỉ việc kéo lên và gỡ cá khỏi miếng mút là xong. Còn vào ban đêm lúc cá ngủ, ngư dân đứng trên mũi ghe, dùng đèn rọi xuống mặt nước. Mắt cá bắt sáng rất mạnh với đèn, nhờ hai điểm sáng ở mắt, người đi săn chỉ cần phóng cây chĩa ba lệch xuống dưới cặp mắt độ một tấc là trúng ngang mình cá.

Thịt cá nhái chắc, dai, ít mỡ. Cá được chế biến thành nhiều món, nhưng đúng gu nhất là cá nướng. Cá được xẻ dọc dưới bụng, ướp với muối ớt và nước dừa xiêm cho thấm, sau đó bọc miếng cá bằng lá chuối hột, đem nướng trên lửa than. Nước dừa xiêm khi gặp hơi nóng sẽ làm thịt cá vàng ươm màu mật trông thật bắt mắt. Đồng thời vị ngọt của nước dừa hoà cùng vị ngọt thịt cá được bọc lớp lá chuối càng đậm đà hơn. Mở lớp lá chuối, hương thơm của cá, của lá chuối bốc lên thơm lừng. Cá nhái nướng phải chấm với muối hột đâm cùng ớt hiểm chỉ thiên ăn mới thấm.
Người địa phương cũng thường nấu món cá ngót hoặc nấu chua. Càng nấu, cá càng săn thịt, càng ngọt không hề bị rã. Vớt khứa cá cho vào đĩa nước mắm nhỉ dằm ớt hơi nặng tay một chút, vừa ăn vừa hít hà mới đã miệng.

là một món ăn dân dã, chỉ cần một chút khéo léo trong chế biến và kết hợp với các thực phẩm, gia vị khác là bạn sẽ có những món ăn hấp dẫn và ngon miệng.

Cà pháo

Cà pháo từ xưa vốn được coi là một món ăn chính của người nông dân xứ Nghệ. cà pháo ngon nhất, đúng hương vị nhất phải kể đến cà pháo của đất Nghi Lộc, Nghệ An. Khác với loại cà pháo muối xổi ở thành phố, cà xứ Nghệ thường được muối trong vại lớn trước đó dùng làm nước mắm, cà muối hàng tháng sau mới lấy ra ăn.

Món cà pháo trộn tôm khô

Nguyên liệu
250g cà pháo đã muối chua, 100g tôm khô, 30g gừng, 1 muỗng cà-phê hành tím băm.
Gia vị: hạt nêm, đường, tương ớt, dầu ăn.

Thực hiện

- Tôm khô ngâm nước cho mềm, rửa sạch, để nguyên con.
- Cà pháo để nguyên quả, rửa sạch, để ráo.
- Gừng gọt vỏ, ớt bỏ hạt, thái sợi nhuyễn.

Cho 1/2 muỗng súp dầu ăn vào chảo nóng, cho hành tím băm vào xào thơm.
Sau đó, bỏ tôm khô, cà pháo vào xào khoảng 5 phút.

Cho cà pháo và tôm khô đã xào vào tô, nêm 1 muỗng cà-phê hạt nêm, 3 muỗng súp đường, 3 muỗng súp tương ớt.
Trộn đều, cho gừng và ớt thái sợi vào.
Để 10 phút cho thấm. Dùng với cơm

Cà tím

Các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành nghiên cứu và chứng minh rằng: Cà, đặc biệt là cà tím là loại rau củ có lượng vitamin P kỷ lục. Mỗi 1000g cà tím có chứa 7200mg vitaminh P. Đây là loại vitamin chủ yếu trong việc làm tăng cường sự dẻo dai của các mạch máu và giảm bớt lượng cholesterol. Lượng vitamin P trong cà tím có thể giúp phòng ngừa được bệnh cao huyết áp, xơ cứng động mạch. Theo các nhà khoa học Mỹ, ăn cà tím là một trong những biện pháp hàng đầu để giảm cholesterol trong máu.

Cà tím xào mắm

Nguyên liệu: 1 trái cà tím, 1 muỗng canh sả bằm, 2 muỗng canh mắm nêm, 1 muỗng cà phê đường, 1 muỗng cà phê tỏi bằm, 1/3 chén nước dùng, ít ớt bột, ớt trái bằm nhuyễn, hạt nêm, dầu ăn.

Cách làm: Cà tím rửa sạch, xắt khúc dài ngâm qua nước muối loãng. Bắc chảo lên bếp, cho vào một muỗng dầu, phi thơm tỏi và sả rồi cho cà vào xào đều khoảng 2 phút, nêm mắm nêm, rưới nước dùng vào rồi nêm lại đường, hạt nêm cho vừa miệng. Xào to lửa đến khi cà chín tới thì bắc xuống.

Dùng nóng với cơm trắng.

Lợi ích của cà tím

Ưu điểm quan trọng nhất của cà tím là khả năng giúp cơ thể loại được lượng cholesterol thừa. Chính vì thế, các nhà dinh dưỡng học thường khuyên những người muốn tránh các bệnh về tim mạch nên sử dụng cà tím trong khẩu phần ăn.

Cà tím rất giàu các chất khoáng, trong đó có kali giúp bình ổn hoạt động của tim.

Ngoài ra, thực phẩm sẫm màu này còn chứa nhiều chất sắt, đồng rất có lợi cho máu và sắc mặt.

Trong cà tím có chứa axit ascobic, vitamin nhóm B, caroten.

Nước ép cà tím được coi là loại “kháng sinh tự nhiên” giúp cơ thể chống những bệnh viêm nhiễm. Chính vì thế, trong thành phần nhiều loại thuốc có sử dụng các chất được chiết xuất từ cà tím.

Một số đơn thuốc hiệu quả từ cà tím

Để chứa bệnh cao huyết áp, hãy lấy vỏ cà tím hong khô và nghiền nhỏ. Mỗi ngày nên uống một thìa cà phê trước khi ăn.

Đề phòng các bệnh về gan và thận, các bác sỹ khuyên nên ăn một thìa cà tím nấu mỗi ngày.

Muốn răng và lợi vững chắc nên thực hiện liệu pháp sau: 1 thìa vỏ cà tím sấy khô, nghiền nhỏ, đổ thêm nước và đun sôi lấy nước cốt. Sau đó, pha thêm một thìa nhỏ muối và súc miệng.

Lưu ý:

Mặc dù cà tím rất có lợi, tuy nhiên một số người nên tránh loại thực phẩm sẫm màu này. Nếu mắc bệnh loét, viêm dạ dày nặng hoặc rối loạn dạ dày, tốt hơn cả là loại cà tím ra khỏi thực đơn.

Cà dĩa

Món ăn ngon mà không chiếm nhiều thời gian của bạn - bà nội trợ trong thời hiện đại sẽ luôn là ưu tiên số một trong sổ tay gia đình. Ngoài ra cà dĩa còn có tác dụng hạ huyết áp, làm lưu thông máu.

Nguyên liệu: 100g thịt nạc dăm, 350g cà dĩa, 1 cọng hành lá, 3 tép tỏi, hạt nêm, tiêu, dầu ăn.
Thực hiện: Thịt rửa sạch, băm nhuyễn.
- Cà dĩa bỏ cuống, rửa sạch, chẻ làm tư, ngâm với nước muối loãng, rửa sạch.
- Hành lá nhặt bỏ rễ và lá úa, rửa sạch, tỏi bóc vỏ, băm nhuyễn.
- Phi thơm tỏi băm với 1 thìa súp dầu ăn, cho cà vào xào, nêm 1 thìa cà-phê hạt nêm, 1/2 thìa cà phê tiêu, cho 3 thìa súp nước sôi vào. Đậy nắp om cho cà chín.
- Xào hành lá với 1 thìa súp dầu ăn, cho thịt băm vào xào, nêm 1/2 thìa cà phê hạt nêm.
- Múc cà xào ra đĩa, bày thịt băm lên, rắc thêm 1/2 thìa cà phê tiêu.
* Có thể thay thịt heo bằng thịt bò băm để thay đổi khẩu vị.

Cà chua

Để chữa miệng khô, lưỡi rát, loét miệng, có thể lấy nước ép cà chua 150 ml và nước mía ép 20 ml, trộn đều để uống, ngày 2-3 lần. Còn nếu bị bí đại tiện, thiếu máu, hãy dùng 1-2 quả cà chua sống (gọt vỏ, thái nhỏ) trộn với mật ong ăn ngày 2-3 lần.
Y học hiện đại cho rằng, có thể dùng cà chua để chữa rối loạn chuyển hóa muối, viêm gan, xơ gan, béo phì, làm chậm quá trình lão hóa và phòng chống ung thư. Còn theo Đông y, cà chua tính bình, vị chua, hơi ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết, tăng tân dịch, chống khát nước, giúp thông tiểu tiện và tiêu hóa tốt.

Cà chua dồn thịt

Nguyên liệu:
½ kg trái cà chua

1 củ hành lớn
1 bó hành( green onion)
1puond thịt heo xay (Mua một miếng thịt đùi nhờ chợ xay dùm thì ít mỡ hơn )
1 pound tôm
1 hủ pasta sauce
Tiêu + muối + 1 muỗng cà phê đường + bột ngọt.

Cách làm: tôm mua về lột vỏ, bằm cho thật nhuyễn, sau đó cắt củ hành tây cho thật nhỏ, lấy bó hành cắt nhỏ, càng nhỏ càng tốt ... trộn chung tất cả thịt heo xay, cho muối đường + bột ngọt vào ít nhiều tùy khẩu vị của mỗi người.
Sau đó bắt cái chảo lên cho hỗn hợp trên vào xào cho chín, lúc đó nếu muốn ăn mặn hơn thì cho thêm muối vào.
Cà chua cắt bỏ trên đầu, móc hết ruột cà chua ra. Khi thịt đã chín thì đem dồn vào cà chua. Bạn không nên để thịt còn sống mà dồn vào cà chua thì thời gian nâú cho thịt chín quả cà chua sẽ quá nhừ mà nát hết.
Sau khi nhồi xong còn bao nhiêu tôm thịt còn dư, đem nấu lại lên bếp đổ hủ pasta vào nấu chung. Khi thấy đã sôi bỏ mấy quả cà chua dồn thịt vào. Nấu khoảng 15' phút nữa thì tắt lửa.

Biến tấu nhiều món ăn độc đáo từ cá hồi

Với nguyên liệu chính là cá hồi, một loại thực phẩm nhiều dinh dưỡng và ít chất béo rất thích hợp cho những người giảm cân và công dụng chữa bệnh hữu ích.

Cá hồi có nhiều công dụng chữa bệnh hữu ích như: bệnh mạch vành, bệnh tim, trầm cảm, cải thiện chức năng não, chống ung thư ... Cá hồi có rất nhiều Omega 3 nên cũng rất tốt cho mắt trẻ và giúp trẻ phát triển trí não. Nhưng nếu bạn làm không đúng cách thì món ăn chế biến từ cá hồi rất dễ bị tanh.

Trong điều trị rối loạn chuyển hoá lipoprotein máu để giảm tổn thương và nguy cơ xơ vữa thành mạch, động mạch máu, bệnh mạch vành thì chế độ dinh dưỡng cho người bệnh rất quan trọng. Cá hồi là một trong những thực phẩm tốt để phòng và điều trị căn bệnh này.

Ngoài ra, cá hồi còn giúp tăng cường hàm lượng omega-3, chất giúp chống bệnh tim, trầm cảm, viêm khớp, các bệnh về mắt, cải thiện chức năng não. Ăn cá hồi còn giúp bổ sung đáng kể hàm lượng selen trong máu, qua đó có tác dụng chống ung thư.

Cá hồi xông khói cuốn lê

Nguyên liệu

200gr cá hồi xông khói, 20gr cải mầm, 30gr xà lách xoăn, 20gr cà-rốt, 30gr đinh lăng, 1 quả lê, 1 thìa cà-phê trứng cá hồi, 1 thìa súp nước tương, 1 thìa cà-phê wasabi, 1/2 quả chanh.

Thực hiện

Thái mỏng cá hồi xông khói. Rửa sạch xà lách, rồi ngâm nước muối, vớt ra để ráo. Gọt vỏ cà-rốt, rửa sạch, cắt con chì vừa ăn, trụng qua nước sôi. Nhặt lá đinh lăng, rửa sạch để ráo nước. Rửa sạch cải mầm cắt khúc bằng cà rốt. Gọt vỏ lê, cắt múi cau nhỏ ngâm nước muối loãng để lê không bị thâm đen. Trải miếng cá hồi ra khay, xếp cà-rốt, cải mầm, xà lách và một miếng lê lên, cuộn tròn.

Thưởng thức:Cho lá đinh lăng ra đĩa, xếp cá hồi cuộn bên cạnh rau, rắc chút trứng cá hồi lên cuộn cá. Món này dùng kèm với lá đinh lăng, chấm wabasi pha với nước tương, chanh khuấy đều.

Cá hồi trộn

Nguyên liệu

100gr cá hồi, 2 quả cà chua, 100gr quế tây, 1 củ hành tây tím, 1 thìa cà-phê dầu ăn, 2 thìa súp giấm, 1 thìa súp nước tương, 1 thìa súp đường, 2 thìa cà-phê tiêu, 1 thìa cà-phê dầu ô-liu.

Thực hiện

Cá hồi cắt miếng vuông vừa ăn. Rửa cà chua, thái mỏng. Nhặt lá quế tây, rửa sạch. Lột vỏ hành tây thái khoanh rồi ngâm với nước đá để hành giòn. Đun nóng dầu, xào chín cá hồi. Hòa tan giấm, đường, nước tương, cho cà chua, lá quế, hành tây, cá vào thố trộn đều, thêm dầu ô-liu.

Thưởng thức:Cho cá trộn ra đĩa rắc tiêu lên trên, dùng ngay

Cá hồi trộn xốt mayonnaise

Nguyên liệu

100gr cá hồi, 50gr hành tây, 50gr ớt Đà Lạt xanh, đỏ. 50gr xà lách, 1 thìa cà-phê trứng cá hồi, 2 thìa súp xốt mayonnaise, 1 thìa cà-phê muối, 1 thìa cà-phê dầu ăn, rau mùi (ngò tây).

Thực hiện

Thái hạt lựu cá hồi. Bỏ hạt ớt Đà Lạt, lột vỏ hành tây thái hạt lựu. Nhặt xà lách rửa sạch, cắt vừa ăn. Đun nóng dầu, cho cá hồi vào đảo nhanh tay. Cá chín lấy ra bát, cho ớt Đà Lạt, hành tây, xà lách, xốt mayonnaise vào trộn đều, nêm muối vừa ăn.

Thưởng thức:Cho xốt ra đĩa rắc trứng cá hồi lên mặt hoặc xung quanh đĩa, rắc rau mùi, dùng ngay.

Bí ngòi cuộn cá hồi nướng

Nguyên liệu

1 quả bí ngòi, 200gr cá hồi xông khói, 50gr phô mai miếng, 30gr xà lách, 20gr cải mầm, 1 thìa cà-phê bột nêm, 1 thìa súp tương ớt.

Thực hiện

Rửa bí ngòi để nguyên vỏ, thái lát thật mỏng dọc theo chiều dài quả bí. Thái mỏng cá hồi, ướp với bột nêm để khoảng 15 phút cho cá ngấm đều gia vị. Bào mỏng phô mai. Trải miếng bí ngòi ra khay cho phô mai, cá hồi lên trên cuộn lại. Xếp bí cuộn vào lò nướng chín vàng, lấy ra đĩa.

Thưởng thức:Dùng nóng, kèm rau xà lách, cải mầm, chấm với tương ớt.

Là loài cá nhỏ không bao giờ thiếu vắng trong các cánh đồng lúa nước, cá rô từ lâu đã là loại thực phẩm tạo nên các món ăn dân dã mà hấp dẫn lạ lùng. Bạn có thể tìm thấy hương vị lạ mà quen từ các món ăn như: canh cá rô cải bẹ xanh, miếng cá rô, canh cá rô rau nhút, canh cá rô khoai từ…

Thịt cá rô được xem là có tính bình, vị ngọt, không độc; có các tác dụng bổ được ‘hư lao’, ích cho tỳ vị, chữa được các chứng ‘tràng phong hạ huyết’, ích được khí lực làm người dùng có cảm giác khỏe khoắn.
Trong 100g thịt cá rô có chứa 74,2g nước, 19,1g protein, 5,5g lipid, 1,2g tro, 16,4mg calcium, 151,2mg phosphor, 0,25mg sắt, 0,01mg thiamin, 0,1mg riboflavin, 1,9mg acid nicotinic và cung cấp 126 kcalo. Như vậy, cá rô vừa có dinh dưỡng tốt, thịt vừa thơm, dai, béo mà không ngậy, dễ tiêu hoá. Cá rô còn gọi là quyết ngư, tên khoa học Siniperca chualsi (Basilewsky).

Mật cá rô hay Quyết ngư đảm được dùng để trị hóc xương, trị dầm gai hay các loại gai hóc trong cổ họng (dùng mật khô, hòa với rượu, hớp rồi nhổ ra)

Miến cá rô

Ðể làm món miến cá rô, người ta chọn những con cá béo vàng còn tươi rói, đánh vảy, cắt vây, mổ sạch, rồi cho vào nồi luộc chín tới. Cá chín được vớt ra để nguội, bóc thịt hai bên, rút hết xương sao cho thịt không vỡ.Phần thịt cá ấy được ướp qua chút gia vị rồi thả vào chảo dầu đang sôi. Khi vớt ra , cá giòn và thơm thật quyến rũ. Phần xương cá, đầu cá còn lại được giã nhỏ, lọc lấy nước cốt để dành nấu nước dùng.

Miến cá rô ăn vừa mát vừa có dư vị ngọt rất riêng. Sợi miến dai, thịt cá giòn, rau cải xanh thoáng chút hăng, quyện với hương gừng thơm nức. Khi ăn người ta phải dùng đũa, gắp miến, rau và cá lên thìa, rồi thêm cả chút nước dùng thì mới có thể cảm nhận hết được cái ngon của món ăn.

Không chỉ ở những vùng thôn quê, mà cả ở khu vực đô thị, càng ngày người ta càng muốn tìm đến những món ăn mang hương vị của lúa đồng, gió quê như miến cá rô. Cái thuần khiết đến tinh tế trong từng vị cay, chua, mặn ngọt dễ đem lại một cảm giác nhẹ nhàng, thanh thản. Ăn miến cá rô đến no cũng không thấy nặng bụng, khó tiêu bởi sự kết hợp của đầy đủ các chất đạm, béo, tinh bột và rau xanh với một hàm lượng vừa phải, cân đối.

Có thể nói, khó có món ăn nào vừa ngon mà lại vừa cân bằng dinh dưỡng như một bát miến cá rô này. Hơn nữa, phục vụ nhu cầu của thực khách đô thị về những món ăn dân dã hiện cũng đang là xu hướng của các nhà hàng, khi mà vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩn và thức ăn đường phố đang ở mức báo động…

Dù gì, những món ăn truyền thống vẫn bền bỉ với khẩu vị nhất. Và trong tiết xuân se lạnh, được ăn bát miến cá rô nấu với cải và gừng luôn là một điều thú vị.

Cá rô nấu canh khổ qua

Canh khổ qua bào nấu với cá rô nguyên con thì lại là một tuyệt chiêu vừa bổ dưỡng lại mát. Đợi nước sôi già, cho cá rô vào, tiếp tục cho khổ qua bào vào, nêm nếm vừa ăn, múc ra tô thêm hành tiêu. Nấu canh cách này cái đắng của khổ qua trở vị ngọt thanh, càng ăn càng thấm.

Canh rau nhút

Người Nam bộ có món canh cá rô rau nhút, mùi thơm ngon đặc trưng mà lại có tác dụng bổ dưỡng khí huyết, mạnh gân cốt, ích tỳ vị, nhuận trường, an thần, giải nhiệt. Tốt cho người suy nhược cơ thể, ăn uống kém, mất ngủ, suy nhược thần kinh, gân cốt yếu mỏi.

Cách làm như sau: cá rô 300g chọn con béo, to, làm sạch. Đem luộc chín cá, vớt ra gỡ lấy thịt, ướp với nước mắm, muối, tiêu. Phần xương cá có thể đem giã nhỏ, lọc lấy nước nấu chung với nước luộc cá. Rau nhút 300g bỏ rễ và lớp phao trắng bên ngoài, rửa sạch, cắt khúc 3 – 4cm. Nước luộc cá sôi, cho thịt cá vào, đến khi sôi lại thì cho rau nhút vào. Canh sôi lại thì nêm thêm nước mắm, muối, cho vừa ăn; thêm ít tiêu và hành lá xắt nhỏ.

Canh cải bẹ xanh

Những ngày cuối năm, trời se lạnh, ăn canh cá rô nấu với cải và gừng thật ấm và thú vị. Bên cạnh, có tác dụng bổ khí huyết, ích tỳ vị, tiêu thực, làm ra mồ hôi, giải độc. Rất tốt cho người khí huyết suy, cơ thể gầy yếu, ăn uống không tiêu, cảm lạnh, nôn mửa, ho đàm. Tuy nhiên, những người đang bị sốt, ra nhiều mồ hôi thì không nên dùng.

Lựa chừng chục con béo ú, làm sạch, luộc chín, gỡ lấy thịt ướp nước mắm, tiêu. Xương và đầu cá giã nhỏ cho vào nồi nước luộc cá, nấu vài dạo, hớt kỹ bọt rồi gạn bỏ xương. Cho cải vào nấu vừa sôi, nêm nếm cho vừa ăn mới cho thịt cá đã ướp vào rồi nhắc xuống ngay. Đập vài miếng gừng tươi cho vào canh, vị gừng sẽ làm mất mùi tanh của cá, hoà cùng mùi the nồng của cải làm tăng thêm hương vị.

Canh khoai từ

Muốn nấu được nồi canh khoai từ cá rô ngon phải lựa cho bằng được những con cá rô mề to cỡ bốn ngón tay, cá được đánh vảy rửa sạch, để cho ráo nước; trong thời gian này, lựa những củ từ vừa đào được bên vườn rửa sạch, gọt hết vỏ rồi dùng cái muỗng ăn canh cạo khoai thành những miếng nhỏ dài cho vào một cái tô; và chuẩn bị một ít hành cho nồi canh sắp nấu. Bắc nồi lên phi chút mỡ tỏi, trở nhẹ những con cá rô cho vừa thấm và săn thịt cá, cho nước vào vừa một nồi canh, đợi khi nước vừa sôi sủi tăm thì cho lượng khoai từ đã bào nhỏ vào nồi canh, đợi sôi lên lần nữa khi khoai từ vừa chín tới cũng là lúc cần nêm nếm cho nồi canh vừa đủ ăn.

Vậy đó, vị thơm và béo ngậy của từng miếng cá rô, chất nhờn mang một đặc trưng rất riêng của những củ từ, thêm vào đó là hương nồng thơm của những cọng hành đã tạo nên một món ăn mà không phải nơi nào cũng có.

Ăn châu chấu không phải để lấy no, càng không vì túng thiếu mà để tận hưởng hương vị dân dã của thiên nhiên, đưa người ta nhớ lại những khoảnh khắc tuổi ấu thơ, ríu rít trên triền đê lộng gió.

Châu chấu không chỉ là món ăn quen thuộc trong bữa cơm của người nông dân, mà hơn thế, nó còn là “mồi nhắm” tuyệt vời làm cho bữa rượu của cánh đàn ông trở nên tưng bừng, thân mật hơn.

Có nhiều loại châu chấu nhưng người ta thường chỉ ăn loại châu chấu lúa và châu chấu tre. Châu chấu lúa đầu nhỏ, bụng nhiều trứng hơn châu chấu tre. Đặc biệt có loại châu chấu sim thân màu xanh, lớp cánh trong hồng phấn, bắp càng to. Loại này được cánh nhậu rất ưa chuộng vì nó ít ruột, thịt thơm và béo ngậy…

Đĩa châu chấu rang vàng rộm

Khi châu chấu được mang về, đầu tiên người ta giội qua nước nóng cho rụng cánh, co chân, sau đó đem ra vặt cánh, râu, chân, rút ruột và bỏ đầu. Tiếp đến, người ta rắc muối, xóc đều, chừng 5 phút thì rửa lại bằng nước sạch, vớt ra, để róc nước rồi đem chế biến.

Châu chấu có thể chế biến thành nhiều món như: rang, xào sả ớt, lẩu... Nhưng cho đến nay, châu chấu rang vẫn là món phổ biến nhất.

Cách chế biến thật đơn giản, không khác lắm với kiểu rang nhộng tằm. Chỉ cần cho một ít mỡ lợn hoăc dầu ăn vào chảo, đun nóng già, đổ châu chấu vào, đảo đều tay. Rang đến khi châu chấu chuyển sang màu nâu, có mùi thơm đặc trưng thì cho một muôi nước cà hoặc dưa muối để món ăn thêm đậm đà hơn. Tiếp tục đảo đều tay cho đến khi cạn khô nước, nhấc chảo ra, rắc lá chanh đã thái chỉ …

Món ăn dân dã đậm phong vị nông thôn Việt

Ai cũng có thể ăn món này, từ sinh viên, văn nghệ sĩ, nhà báo, các tầng lớp bình dân… đến các đại gia. Tuy nhiên cũng không ít người nghe thấy món châu chấu, nhộng tằm, dế mèn, bọ xít… đã rợn tóc gáy. Nhưng một khi đã tò mò ăn thử thì hẳn sẽ thấy ngon và thành nghiền.

Ăn châu chấu không phải để lấy no, càng không vì túng thiếu. Người ta ăn món này là để tận hưởng cái hương vị dân dã của thiên nhiên. Vị béo ngậy, bùi ngọt của châu chấu, hương thơm lá chanh quê rất dễ đưa người ta nhớ lại những khoảnh khắc tuổi ấu thơ, ríu rít trên triền đê lộng gió, ứa nước miếng trước những con châu chấu nướng ruộm vàng, thơm nồng …

Ngồi bên bếp lửa vào những chiều, tối mưa mùa đông mà được hít hà xía từng miếng bánh khoái chấm nước mắm mặn, vắt chanh và ớt bột sẽ thấy vị nóng, cay, bùi, béo lan tỏa khắp cơ thể không thể nào quên.

Mùa đông thường gợi ý về những món ăn rán, nướng, áp chảo với than, củi, rơm... và độ sôi, xèo của dầu, mỡ. Mùa này chóng đói, dễ ăn và hấp thụ những món ngấy mà mùa hè không mấy hấp dẫn đặc biệt là món bánh khoái quê tôi.

Không biết ai đã đặt tên cho loại bánh này là bánh khoái và cũng chẳng biết có phải nó là chỉ cảm giác hể hả, thú vị, sung sướng không, chỉ biết chắc chắn một điều nghĩa của từ này ám chỉ một niềm vui nào đó.

Tôi có nghe nhiều về bánh khoái nồi rang, một loại bánh có ở nhiều địa phương. Tuy nhiên bánh khoái ở quê tôi là loại đặc biệt có ở các thủ đô ẩm thực, kinh kỳ vua chúa: bánh khoái chảo gang.

Hàng bánh khoái ở thành thị dùng bếp củi tráng bánh

Để làm được loại này rất cần chảo gang, thứ chảo đã tôi luyện qua hàng trăm lần nước sôi, mấy chục lần rán mỡ và vùi đốt trong lửa rơm không dưới một ngày. Chảo gang “trưởng thành” là loại chảo chống dính, đen bóng như mõm chó và lúc nào cũng nhầy nhẫy như bôi mỡ. Nhìn lòng chảo đã thấy cái vị sắp tráng trên nó chắc là đáo để nóng sốt và bùi béo.

Những tàu bắp cải giòn cứng và trắng lốp được thái mỏng như thái chuối, thuốc. Tép đồng được rang vàng xộm cùng chút muối, chút mắm với cay ớt và sau nữa là giá đỗ để sống. Cái nhân “chủ lực” của bánh khoái thực ra chỉ có vậy, không chút cầu kỳ.

Ở quê, những thôn nữ dẻo tay ngồi xay bột nước, trên sân gạch bát thực sự là hình ảnh để các họa sĩ để ý. Xay bột cũng như giã giò, không được phép ngớt tay vì bột sẽ đóng cặn xuống đáy chậu hứng. Gạo xay xong người dân quê gọi là nước dẻo. Thứ nước này được người dân dùng làm bánh khoái.

Bây giờ ở thành thị người ta đã tráng bánh khoái bằng củi cho tiện, nhưng ở quê vẫn giữ cách làm truyền thống: tráng bánh bằng rơm. Hình như khói rơm nồng nàn hơn, thơm và nghi ngút hơn.

Bánh khoái ăn cùng nước mắm chanh

Bắc chảo gang lên bếp là đẩy lửa bập bùng thật lực. Sức nóng giẫy của lửa mới đủ làm cho chiếc chảo mặt dày "động vía" (nóng lên) . Người ta cắt một khúc ở cuống tàu chuối chấm mạnh vào mỡ và quét khắp mặt chảo. Tiếp đó, xèo một muôi bột nước dẻo lên rồi nhanh tay rắc tép, bắp cải cùng giá đỗ vào giữa lòng bánh. Chỉ đến khi nào viền bánh cháy cạnh, long khỏi mặt chảo mới được nhấc ra đĩa.

Hít hà xía từng miếng bánh chấm nước mắm mặn, vắt chanh và ớt bột cực kỳ cay mới thấy sự phản hồi kỳ diệu của những đốt sống lưng. Nóng, cay, bùi, béo tơi bời lan khắp cơ thể.

Ngồi bên bếp lửa vào những chiều, tối mùa đông được mà ăn bánh khoái chảo gang, uống rượu thuốc ngâm cỏ tóc tiên thì ai cũng cảm thấy như đã lên tiên với khói rơm ngay lúc ấy. Ăn xong một cái lại hau háu nhìn vào lòng chảo chờ cái đang chín tới thì có già đến mấy cũng hóa trẻ con.

Đón nhận những tinh túy của đất trời để ướp thêm vị ngọt, bánh tráng phơi sương Trảng Bàng đã giúp nhiều người biết đến vùng đất này với một hương vị lạ: hương vị của sương đêm.

Trong hành trình xuôi về phương Nam lập làng, mở ấp, người Việt xưa đã mang theo bí quyết của nhiều ngành nghề đến vùng đất mới. Trảng Bàng, miền đất có dân cư sinh sống lâu đời nhất ở tỉnh Tây Ninh, nơi được nhiều người biết đến với làng nghề làm bánh tráng phơi sương.

Nghề làm bánh tráng xuất hiện ở Trảng Bàng từ rất lâu. Ban đầu chủ yếu là bánh tráng nhúng, bánh tráng nem theo kiểu miền Trung. Đến đầu thế kỷ 20, bà con mới nghĩ ra bánh tráng phơi sương. Sức hấp dẫn của một loại bánh được làm hết sức kỳ công nhanh chóng được nhiều người biết đến và trở thành thương hiệu cho vùng đất này.

Nhọc nhằn và âu lo

Tại thị trấn Lộc Du hiện nay có khoảng 100 lò chuyên làm bánh tráng phơi sương. Để làm ra được món đặc sản của Trảng Bàng, phải qua nhiều công đoạn khá công phu và cầu kỳ. Đầu tiên là chọn nguồn nguyên liệu. Gạo phải là gạo tẻ đặc biệt, bà con thường gọi là gạo nàng Miên. Nếu dùng gạo khác thì cái bánh sẽ có màu vàng chứ không được màu trắng khi hoàn thành.

Làm bánh tráng phơi sương phải trộn ít muối hột vào gạo trước khi xay để tạo hương vị. Xay bột xong, người làm bánh còn phải thử bột. Nếu mặn quá, cái bánh sẽ bị chai, nếu nhạt thì bánh sẽ không phồng. Khi chuẩn bị tráng sẽ thêm ít bột mì, một bí quyết nhà nghề của bánh tráng phơi sương.

Bánh tráng Trảng Bàng dùng để cuốn với đậu, thịt...

Tráng bánh là một công đoạn vất vả. Bánh phơi sương khác với bánh thường ở công đoạn này: bánh phải được tráng hai lớp thật mỏng. Khi tráng, các động tác luôn phối hợp nhịp nhàng. Khi lấy bánh này lên thì tay kia phải đong bột và đổ vào khuôn lớp bánh đầu tiên. Đổ xong lớp bánh đầu tiên thì tiếp tục đổ lớp thứ hai. Sau đó đậy nắp lại. Lúc này mới được trải bánh đã lấy lên liếp. Trong khi chờ cái bánh tiếp theo chín, người tráng có thể dành thời gian châm thêm trấu vào lò và đong bột chuẩn bị cho lượt tiếp theo. Cứ liên tiếp như vậy đến khi muốn dừng tráng thì thôi. Nếu thừa hay thiếu thời gian từ các thao tác tráng thì các lớp bánh hoặc chín quá, hoặc không kịp vớt bánh ra.

Thường thì người làm bánh phải thức dậy từ lúc 24h và tráng đến 9 – 10h hôm sau, như vậy mới kịp giao bánh buổi chiều. Bà Lê Thị Gốm, người làm bánh lâu năm ở thị trấn Lộc Du, huyện Trảng Bàng, Tây Ninh cho biết, mỗi ngày bà có thể tráng 400 cái bánh. Nhưng vất vả cả ngày, trừ chi phí, bán ra lời 30.000 đồng....

Làm bánh tráng phơi sương là phải nương theo ông trời. Ngày nào “ông vui thì bà con được hoan hỉ, nếu ngày nào ông buồn bực thì bà con cũng điêu đứng theo”, bà Lê Thị Xuyến, thị trấn Gia Huỳnh tâm sự như thế. Trong làm bánh tráng phơi sương, tráng bánh là công đoạn dễ bị lỗ vốn nhất. Nếu trời mưa cả ngày thì chỉ có thể mang bánh cho bò cho heo ăn thôi. Tráng bánh đã cực vì phải thức khuya dậy sớm nhưng phơi bánh cũng phải lo nhiều thứ. Nắng phải là nắng dịu. Nếu phơi bánh nắng quá, sẽ dễ bị vỡ, nếu thiếu nắng, cái bánh sẽ bị chai.

Chuyên nghiệp hóa

Ngày xưa, nhà ai tráng bánh thì sẽ làm luôn các công đoạn tiếp theo như nướng, phơi sương. Bây giờ, ở làng nghề bánh tráng, một gia đình không làm hết các công đọan nữa mà chia ra, gia đình làm nghề tráng thì chỉ chuyên tráng bánh, gia đình làm nghề nướng bánh thì chỉ chuyên nướng, làm phơi sương thì chuyên phơi sương. Sự phân công lao động như vậy đã giúp cho làng nghề sản xuất chuyên nghiệp hơn và sản phẩm cho ra thị trường nhiều hơn.

Để chuẩn bị cho cái bánh mang đi phơi sương thì phải qua một công đoạn nữa là nướng. Nướng bánh là một công đoạn được xem là nhẹ nhàng nhất.

Phơi bánh tráng

Thường thì người dân nướng bằng vỏ đậu phộng, ít tốn kém chi phí và lửa không quá nóng, giúp cho bánh chín đều hơn. Cái khó nhất của công đoạn nướng là trở bánh. Nếu trở không kịp bánh sẽ bị cháy hoặc chín không đều.

Một ngày, bình quân một người nướng khoảng 1.500 cái đến 2.500 cái. Thu nhập khoảng 40.000 - 60.000 đồng.

Những chiếc bánh sau khi nướng, đợi tối hoặc khuya sẽ đêm phơi, công đoạn cuối cùng làm nên chiếc bánh. Phơi bánh phải thức dậy lúc 1 - 2h đón sương đêm. Phải phơi sương chứ không được dùng nước lạnh làm mềm bánh. Nếu dùng nước, bánh sẽ chai cứng và để một hai ngày là hư, mốc. Nhưng sương đêm thì lạ lắm. Cái bánh không chỉ mềm dịu, để được hai, ba tuần mà còn có vị ngọt ngào. Có lẽ khi phơi sương, bánh được tích tụ tinh khí của đất trời ở những khoảnh khắc trong lành nhất. Anh Phạm Văn Ra, ở thị trấn Lộc Du cho biết: “Phơi sương khoảng 2h là tốt nhất, sương nhiều, phơi mau. Phơi bánh phải thức cùng bánh, đợi bánh thấm sương vừa đủ mềm thì xếp lại ngay, bỏ vào trong bao để cho cái bánh được luôn mềm”.

Vất vả là thế nhưng bà Nguyễn Thị Dứt nói rằng: “Ngày nào không nghe được tiếng nổ tí tách của bánh khô bong ra khỏi vỉ thì cảm thấy buồn”. Nghề làm bánh tráng ở Trảng Bàng đã gắn bó với cuộc sống hàng ngày của người dân nơi đây. Chị Phạm Thị Vẹn, ở thị trấn Lộc Du, nói thêm: “Tôi yêu nghề này lắm. Dù không lãi bao nhiêu tiền, nhưng cực nhọc làm ra nó nên quý lắm. Nghề này không giàu có nhưng đủ sống".

Cùng với sự hội nhập của nền kinh tế thế giới, văn hóa ẩm thực Việt Nam theo đó cũng được phổ biến và giới thiệu rộng rãi, mà phở là đại diện tiêu biểu và đặc trưng nhất. Không chỉ trong nước, đi đâu cũng gặp phở mà cả nước ngoài, các quán phở của kiều bào người Việt vẫn nổi tiếng và thu hút thực khách.

Thành phần chính của phở là bánh phở và nước dùng (hay nước lèo theo cách gọi ở miền Nam) cùng với thịt bò thái mỏng, điểm thêm những thành phần phụ như hành, giá, rau mùi; trong đó ngò gai là gia vị đặc trưng của phở. Ngoài ra còn kèm theo các gia vị khác như: tương, tiêu, chanh, nước mắm, ớt... Những gia vị này được thêm vào tùy theo khẩu vị của người dùng. Nói như nhà văn Vũ Bằng: “Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú. Một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc; mấy nhát gừng màu vàng thái mướt như tơ; mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sẫm như hoa lựu... ba bốn thứ màu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng màu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt”.

http://www.raovat.com/upload/file_upload/file_uploadhanhdttpho-bo-tai-chin3429.jpgPhở chia ra làm nhiều loại như: phở tái, nạm, ngẩu phín…. Ngày nay có thêm phở gà, phở bò viên… Phở có thể dùng làm món ăn điểm tâm, ăn trưa hoặc ăn tối. Nhà văn Nguyễn Tuân cũng từng nhận xét rằng: “Phở ăn bất cứ vào giờ nào cũng đều thấy trôi cả. Sớm, trưa, chiều, tối, khuya, lúc nào cũng ăn được”. Hay “Phở còn tài tình ở cái chỗ là mùa nào ăn cũng thấy có nghĩa thâm thúy. Mùa nắng, ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt qua lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt chợt thắm tươi lại”...

Nguồn gốc của phở có nhiều ý kiến khác nhau. Có người cho rằng ảnh hưởng từ món thịt hầm của Pháp. Có người cho rằng xuất phát từ Trung Hoa bởi bánh phở và gia vị. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu khẳng định rằng phở xuất hiện ở Việt Nam. Ông Didier Corlou, bếp trưởng khách sạn Sofitel Metropole khẳng định: "Phở chắc chắn là của Việt Nam dù có một số ảnh hưởng của phương Tây", “là món ăn Việt Nam tinh tế, truyền thống, quảng đại và giàu vitamin mà lại không gây béo”.

Hiện nay, trên cả nước, có nhiều cách nấu phở khác nhau do đặc điểm khẩu vị của từng vùng: miền Bắc thì nước dùng hơi mặn, miền Nam thì nước dùng ngọt... Và để phân biệt chúng thì có những tên gọi như: phở Bắc (phở Hà Nội), phở Trung (phở Huế), phở Nam (phở Sài Gòn). Nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là phở Hà Nội, đi đâu và ở nơi nào cũng không ngon bằng bởi chất đậm đà, đặc trưng mà không vùng miền nào sánh được. Phở mang đủ các hương vị, như nhà văn Vũ Bằng đã viết "thịt thì mềm, bánh dẻo, vị cay cay của gừng, hạt tiêu, ớt, cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu của thịt bò tươi mềm... rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, không có chất gì là hóa học".

Từ trước đến nay, phở không chỉ được người bình dân ca ngợi, yêu thích mà còn đi vào văn chương, trở nên thân thiết hơn với con người từ giá trị vật chất đến tinh thần. Như Tạ Duy Anh với “Trong quán phở gia truyền”, Nguyễn Tuân với “Phở”, Vũ Bằng với “Miếng ngon Hà Nội”, “Thùy Linh với “Cô gái bán phở”… Thế mới thấy, phở như gói ghém trong đó Quốc hồn Quốc túy của cả một dân tộc!

Một trong những đặc trưng nổi bật của Huế là văn hóa ẩm thực. Những món ăn xứ Huế dù ở thời nào cũng khiến bao người dẫu chỉ thưởng thức qua một lần đều nhớ mãi.

Hình  bài viết Bánh Huế - Nét đẹp văn hóa ẩm thực cố đô

Và những loại bánh Huế là một trong những nét đặc sắc ấy. Người Huế làm bánh không phải để ăn no, mà làm bánh để thưởng thức hương vị. Các bạn hãy đến Huế và một lần thưởng thức các loại bánh Huế để có những cảm nhận riêng về ẩm thực của vùng đất này!

Huế là xứ sở có hàng trăm loại bánh ngon, trong đó phải kể đến bánh bột lọc, bánh bèo, bánh nậm, bánh ram ít… mỗi loại bánh lại có một cách làm và mang ý nghĩa riêng thể hiện tấm lòng của con người xứ Huế. Nếu các bạn có dịp một lần đến với vùng đất Cố đô để thưởng thức những hương vị đặc trưng của các loại bánh Huế nổi tiếng nhưng rất dân dã này, đó quả là một điều hết sức thú vị.

Dạo quanh các con đường ở thành phố Huế, chúng ta dễ dạng nhận thấy rất nhiều hàng bánh Huế tấp nập khách du lịch và người Huế đến thưởng thức. Nói đến bánh Huế, trước tiên là món bánh bèo, bánh được trình bày trong từng bát thật nhỏ và cạn. Theo quan niệm của người Huế, mỗi chiếc bánh thanh tao, mỏng mảnh chính là yếu tố tạo nên sự ngon miệng.

http://i16.tinypic.com/4lfdwnn.jpgBánh nậm trắng ngần điểm nhụy tôm hồng, mặt bằng hình chữ nhật, lát mỏng thanh thanh, được bọc bằng lá dong được ăn kèm với chả tôm, trở thành một món ăn độc đáo, hòa hợp giữa cách ăn bình dân và quí tộc. Những món bánh bèo, bánh nậm, bột lọc, bánh ram ít... thì bắt buộc phải có nước mắm chua chua ngọt ngọt với vài lát ớt xanh, đỏ thơm thơm mới đúng kiểu. Chỉ cần nhìn bát nước chấm cũng đủ thấy được rằng sự hòa hợp sắc màu trong ẩm thực xứ Huế rất được chú trọng. Các loại bánh thường được làm nhỏ và mỏng, tạo các hình hoa trái, làm cho người ăn khi nhìn đã ngạc nhiên thích thú và muốn thưởng thức.

Các loại bánh Huế từ lâu cũng đã được đưa vào danh sách những món ăn đặc biệt ở những khách sạn lớn ở Huế để phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Được tận tay bóc những chiếc bánh còn nóng hổi, thơm lừng cùng với chén nước mắm đậm đà, bạn sẽ cảm nhận được vị dẻo của bột, vị thơm của nhân tôm và vị cay nồng của ớt; tất cả hòa lẫn vào nhau tạo nên một nét gì rất Huế.

Thành công của bánh Huế đầu tiên phải kể đến nguyên liệu: bột để làm bánh ram ít, bánh bèo hay nậm lại phải là thứ nếp trắng chọn kỹ, ngâm nước vừa độ để không bị chua và xay nhuyễn. Việc chọn tôm và sơ chế cũng rất quan trọng, người làm phải chọn những con tôm tươi, vỏ mỏng có hương vị thơm ngọt. Và cách chế biến các loại bánh Huế thì khá cầu kỳ, tỷ mỹ, đó là cả một nghệ thuật.

Đến Huế, ai cũng phải dành một khoảng thời gian để thưởng thức bánh Huế, ăn bánh Huế là phải thưởng thức cả bằng miệng, bằng mắt và bằng tai nữa, như thế mới có thể tận hưởng hết những hương vị đậm đà của nó. Bởi bánh Huế là những tác phẩm vừa cầu kỳ sang trọng vừa dân dã làng quê, như một điểm nhấn trong nghệ thuật làm bếp của người nội trợ xứ Huế.

http://www.asemtranet.com/food/conglapthanh/Banh-1.jpgDọc theo Quốc lộ 1 từ Cần Thơ đi Cà Mau, đến địa phận Sóc Trăng, du khách gần xa sẽ thấy dãy hàng quán, biển hiệu được trang trí rực rỡ với hai màu đỏ – vàng nằm san sát nhau.

Đó là những cửa hiệu bày bán bánh pía, món đặc sản số 1 Sóc Trăng mà hầu hết du khách đến đây đều mua về làm quà. Hiện tại, Sóc Trăng có gần 40 lò chuyên sản xuất bánh pía với sản lượng ngày càng tăng.

Hầu như ở tất cả các con đường, các trung tâm thị trấn, huyện lỵ của tỉnh Sóc Trăng đều có cửa hàng bán loại bánh đặc sản này. Tuy nhiên, số lò bánh và cửa hàng buôn bán tập trung đông nhất tại thị tứ Vũng Thơm (xã Phú Tâm, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng) và An Trạch (nằm trên Quốc lộ 1), cách trung tâm thành phố Sóc Trăng vài cây số về hướng Cần Thơ. Tương truyền, Vũng Thơm là nơi ông Đặng Thuận – một người Minh Hương di cư sang Việt Nam hồi đầu thế kỷ XIX – khởi xướng việc làm bánh pía để kinh doanh. Trước đó, bánh pía do người Hoa di cư sang Việt Nam mang theo như một loại lương khô và chỉ làm đủ ăn trong nhà.

Sở dĩ bánh pía trở thành món quà đặc trưng của xứ Sóc Trăng vì nhiều nơi khác cũng làm loại bánh này nhưng bánh pía Sóc Trăng mang hương vị rất riêng. Cũng là vỏ bột mì, nhân đậu xanh hoặc khoai môn tán nhuyễn trộn với sầu riêng hay mỡ heo xắt sợi, lòng đỏ trứng vịt muối nhưng bánh pía Sóc Trăng không quá ngọt, không quá béo, khiến người thưởng thức ăn hoài không ngán. Lớp vỏ bánh pía Sóc Trăng không khô cứng mà mềm dẻo, mịn màng ôm lấy nhân bánh thơm ngọt phía trong. Điểm đặc biệt nhất của bánh pía Sóc Trăng là hoàn toàn không sử dụng hương liệu. Mùi thơm của bánh được tạo nên từ những trái sầu riêng tươi ngon được tuyển chọn từ khắp các tỉnh ĐBSCL. Những ưu điểm của bánh pía Sóc Trăng hoàn toàn được tạo nên từ sự cần cù lao động của người thợ bánh, từ việc cán bột làm vỏ bánh sao cho nhuyễn mịn đến việc chọn những nguyên liệu tươi ngon nhất làm nhân, xắt mỡ thật nhuyễn và tỉ mỉ nắn thành những chiếc bánh đều tăm tắp.

Theo kiểu đóng gói truyền thống, mỗi phong bánh pía Sóc Trăng gồm bốn cái, gói theo hình trụ. Ngày xưa, bánh thường được gói bằng giấy khá đơn giản. Ngày nay, những phong bánh pía Sóc Trăng vẫn giữ hình trụ truyền thống nhưng được bảo quản trong hộp để giữ “dáng” bánh, bao bì vẫn là hai màu đỏ – vàng nhưng rực rỡ và chuyên nghiệp hơn, với các thông số về tiêu chuẩn chất lượng, ngày sản xuất, hạn sử dụng...

Không chỉ được bán tại địa phương, bánh pía Sóc Trăng còn tỏa đi khắp cả nước, một số lò bánh lớn như Tân Huê Viên, Công Lập Thành, Tân Hưng còn xuất khẩu bánh pía đi khắp thế giới, vào được các thị trường khó tính như Mỹ, châu Âu...

Hương vị chính không thể lẫn của tré chính là thịt chua lẫn trong hương củ riềng. Không như mùi củ riềng trong nấu thịt chó, kho cá đồng, củ riềng trong tré là hương vị riềng còn tươi, không luộc chín, cay nồng bên cạnh vị ngọt chua của thịt lên men.Không hiểu tại sao món này chỉ thấy xuất hiện ở Huế và Quảng Nam. Có người lập luận đây là nghệ thuật ẩm thực của con nhà nghèo vì thịt để làm tré là loại thịt rẻ tiền nhất trong con heo, đó là tai, mũi, da, ba chỉ (ba rọi) chứ không làm từ thịt nạc như nem, chả, giò. Thế nhưng từ những sản phẩm phụ của một con heo ấy, các bà mẹ miền Trung đã chế biến thành món đặc sản để rồi trở nên nổi tiếng trên cả nước.

Nếu phải phân loại theo nhóm thì tré thuộc thuộc về nhóm thính chứ không phải nem hay chả mặc dù hình thức rất giống nem chua, chả thủ. Thịt heo, theo truyền thống thì thịt tai mũi là chính, gần đây được mở rộng ra thịt ba rọi (ba chỉ), da thái chỉ, tất cả luộc chín, sau đó được thính trong củ riềng, tỏi. Ủ cho lên men chua 2 – 3 ngày thì mới dậy mùi và đạt độ thơm ngon. Có thể đóng gói sản phẩm thịt thính riềng này trong lọ, thẩu, gói lá chuối, bọc lá ổi. Lọ thẩu thì tiện dụng nhưng không có hương vị đặc sắc như gói trong lá chuối, lá ổi.

Nếu nem, chả tôn vinh vị thơm ngọt của thịt nạc, chả thủ (giò thủ) như một món thịt đông gói lá chuối, thì tré là cả một nghệ thuật thính thịt với riềng.

http://www.chudu24.com/f/d/090213/article_9abbd900-7aee-4498-8126-189fd69cdd8e.jpgNgày tết, chả, giò ngon mấy cũng vài lát là ngấy, nem thì ăn nhiều dễ đau bụng, tré Đà Nẵng tỏ ra khá thích hợp để đãi khách, để đưa đẩy câu chuyện ngày xuân bên chén rượu, cốc bia ngầy ngật suốt ba ngày mà không ngán.

Cái hay của tré còn ở chỗ không ai có thể ăn nhiều được vì... khó gắp! Dùng thìa thì chướng, dùng đũa thì tré vụn ra, không thể gắp nhiều được. Một cục tré có khi đủ cho 4 – 5 người nhậu hết buổi. Trong thời buổi thắt lưng ngày càng dài như hiện này thì nhược điểm này của tré có thể lại là điều hay!

Cần phải nói thêm là tré Đà Nẵng sẽ ngon hơn rất nhiều nếu ăn kèm với tương ớt Đà Nẵng. Tương ớt

Đà Nẵng không còn chỉ là ớt luộc bằm nhỏ làm tương mà chính là món xốt ớt với nhiều thứ gia vị khiến nó vừa có vị thơm cay của ớt, của tỏi, vừa ngọt của đường, của gia vị. Đây là sản phẩm của người Hoa Hội An thế kỷ 17 và nay đã được người Đà Nẵng làm theo bán kèm với tré.

Lời nhắc nhở cần thiết là các gia đình có bé gái trên dưới 8 – 10 tuổi hãy cẩn thận, các bé có thể ăn món này đến căng bụng, nhất là khi kèm với tương ớt, nhiều bé đã vừa ăn vừa khóc nhưng vẫn không chịu dừng.

http://phienbancu.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/181/231181.jpgKhách du lịch đến thăm Bản Đôn rất thích thú với những ngôi nhà rông lộng gió mát rượi giữa trưa hè, những chú voi to trông xù xì nhưng lại rất hiền lành, chiếc thuyền độc mộc nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn và vững chắc. Món cơm lam gà nướng của Bản Đôn cũng để lại ấn tượng khó quên. Hãy cùng vào bếp trổ tài với món ăn hấp dẫn này nhé!

Nguyên liệu:
-1 con gà ta làm sạch, nên chọn gà mái tơ để nướng cho thịt mềm.
-1 kg gạo dẻo, nếu tìm được gạo nương của đồng bào là ngon nhất. Ở những thành phố lớn thì các bạn nên mua loại gạo dẻo nhất nấu mới ngon. Ngâm nước gạo khoảng 3 tiếng trước khi nấu.
-7 ống tre nứa còn tươi để ống nứa không bị cháy và còn giữ mùi thơm.
-1 ít lá chuối để lát nữa bịt ống tre lại

-Ít lá bưởi để bọc gà.
-Gia vị: muối, ớt xiêm xanh, lá é, sả, dầu ăn, hạt nêm từ thịt.
Các bước thực hiện:
Bước 1: Làm cơm lam: Chọn gạo thật dẻo, ngâm nước 3 tiếng đồng hồ trước khi nấu, rồi vớt ráo, cho vào ống nứa, bịt lá chuối lại rồi cho vào nồi luộc. Sau đó nướng trên lửa than.
Bước 2: Cho 1 muỗng canh muối, một nắm lá é, rồi ớt xanh, thêm hạt nêm từ thịt hoặc bột ngọt rồi giã nhuyễn. Nếu không mua được lá é có thể thay bằng rau răm hoặc ngò gai cũng thơm nhưng vẫn không thể bằng mùi thơm của lá é được. Ướp gà với hỗn hợp muối ớt vừa làm xong trong vòng 15-30 phút. Chuẩn bị một ít lá bưởi bọc gà lại. Nướng gà trên lửa than khoảng 20 phút, cho đến khi gà chín vàng đều.
Bước 4: Làm muối ớt sả: Bằm nhuyễn sả, ớt rồi xào qua với một xíu dầu cho thơm. Cho muối và một chút hạt nêm vào cho vừa mặn mặn cay cay.

Độc đáo ẩm thực Khmer

Không chỉ đem đến những lễ hội, những nét văn hóa đặc sắc, các đoàn tham dự "Những ngày văn hóa Khmer tại Hà Nội" còn giới thiệu với người dân thủ đô một số món ăn độc đáo của dân tộc mình.Giữa tiếng đàn ngũ âm dập dìu, đưa đẩy gót chân những chàng trai, cô gái Khmer với trang phục rực rỡ, trong điệu Rom Vông tình tứ và tiếng hát Dù Kê, A Day rộn ràng. Không chỉ mang về những lễ hội tiêu biểu của người Khmer như Chol Chnam Thmay, lễ hội Đôn Ta, lễ hội Ok-om-bok, chín tỉnh Nam Bộ còn giới thiệu một nền văn hóa ẩm thực giàu bản sắc.

Trước hết phải kể đến món cốm dẹt, dù được phần lớn các đoàn đem đến nhưng nói chung không khác nhau nhiều lắm, có chăng chỉ là độ đậm nhạt. Vào rằm tháng 10 âm lịch khi trăng vừa tròn cũng là lúc người Khmer ra đồng gặt những bông lúa nếp dầu tiên như một món quà tươi tắn, thiêng liêng gửi đến ông bà, tổ tiên và Trăng - nơi mà họ tin như con mắt của trời luôn nhìn thấu tấm lòng thành của họ và cũng từ đó sẽ mang đến mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Từ những hạt lúa nếp hườm hườm chín, vẫn còn thoảng hơi sữa, đem rang nóng rồi giã dẹp trong lòng cối vuông tròn. Hương nếp mới quện trong nhịp chày, tỏa ra ngào ngạt như hứa hẹn một mùa bội thu. Xưa kia cốm dẹt được người Khmer ăn kèm tép rang, hoặc chuối cho chắc bụng. Còn nay, chúng được trộn lẫn với cơm dừa, đường kính hoặc đường thốt nốt, vừa dẻo, vừa béo,vừa bùi, như một món ăn chơi nhưng cũng đủ no vào những ngày trẩy hội. Đặc biệt lễ hội Oc-om- bok, trong nghi lễ cúng Trăng cốm dẹt được đút cho mỗi đứa trẻ tham dự cho nên được gọi là Oc-om-bok có nghĩa là đút cốm dẹt. Vừa đút, vị chủ lễ vừa đấm nhẹ vào lưng các em, hỏi năm nay muốn gì? Câu trả lời của các em cũng chính là ước nguyện hay niềm tin của người Khmer vào lao động, sản xuất.

Nhưng có lẽ món bún nước lèo nức tiếng của vùng đồng bằng sông Cửu Long là được đón đợi nhiều nhất. Cá lóc vùng này chắc thịt, ngọt, thơm không vùng nào sánh bằng. Chỉ việc mang về làm sạch, luộc chín, gỡ xương, xé thành những miếng to bằng hai đầu ngón tay xếp xen kẽ với vài con tép nước (tôm) bóc nõn,vào bát bún đã xắp sẵn. Rồi chan nước lèo đã được đun kỹ với thứ mắm Pra-hóc đặc trưng hoặc mắm sặc (người Hoa rất ưa) ăn cùng hoa chuối, giá sống, rau muống chẻ, hẹ và bông bần (rất hiếm). "Món bún nước lèo cổ truyền xưa kia không nhiều thứ như bây giờ...”, chị Trương Thị Cẩm Vân - nghệ nhân đoàn Sóc Trăng và cũng là chủ nhà hàng nổi tiếng "Vườn ẩm thực 36", quốc lộ 1 - phường 2 - thị xã Sóc Trăng - cho biết.

Hấp dẫn không kém là món ếch nướng (Kiên Giang). Những chú ếch đồng béo vàng, thơm ngậy nằm thứ tự trên những chiếc đĩa rộng lòng như "tóm chặt" lấy những cái nhìn tò mò của thực khách. Để làm được món ếch nướng ngon rất mất công. Trước hết phải lựa miếng thịt ba rọi tươi, băm nhỏ trộn đều với rau cành tào, ngải bung, củ sả, giềng, và nghệ (tất cả đều băm nhỏ) thêm một chút nước cốt dừa, đường và gia vị cho vừa ăn. Ếch để nguyên con, chặt đầu, lột da, xát muối, rửa sạch. Rồi nhồi hỗn hợp trên vào trong bụng ếch, nướng trên than hoa đến khi ếch chín vàng đều, dậy mùi thì thôi. Ếch nướng đậm đà hơn nếu được chấm với nước mắm Phú Quốc (cũng là đặc sản nổi tiếng của Kiên Giang). Ai may mắn được nếm món này đều tấm tắc.

Dung dị hơn là món canh ốc của đoàn Cà Mau ốc nhồi làm sạch nhớt, xào săn, đổ nước ăm ắp, hòa chút mắm và gia vị vừa đủ, đun sôi rồi cho lá gừng, lá ớt non, rau ngót và măng củ thái lát mỏng. Món canh quê thanh đạm, khiêm nhường bên những hương vị ồn ào khác chợt gợi lên nỗi bùi ngùi trong lòng những đứa con xa ...

Nấu nước lèo cho bún ở gian ẩm thực Cà Mau.

Nhưng có lẽ chủ đạo của lễ hội ẩm thực Khmer lần này chính là những món bánh: Bánh rây (bánh dứa) mềm ngọt trắng ngần, bánh neng (tổ yến) nổi bật với đủ sắc mầu, đều làm từ bột gạo, đường, mè, mứt bí, dầu ăn và phẩm mầu (từ lá cây). Qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, nắn nót thành hình tổ yến hay cuộn tròn, rất bắt mắt. Song có lẽ đặc biệt nhất là món bánh cóng Đại Tâm (Sóc Trăng) với cách chế biến rất thú vị. Bột gạo trộn với đậu nành, đậu xanh xay nhuyễn. Dăm miếng thịt nạc xắt nhỏ ướp gia vị, hành, tiêu. Lần lượt cho vào cóng, nhúng trong dầu sôi, điểm thêm vài con tép đất (tôm đồng). Chiên cho đến khi bánh trong cóng tự long ra. Bánh cóng chấm với nước mắm đã pha chế với cà rốt, củ cải trắng thái chỉ, kèm với rau sống các loại. Hương vị của món bánh với độ giòn vừa phải, xốp thơm, vàng ruộm quyến luyến!

Tỉnh Bạc Liêu mang đến lễ hội chỉ hai món bánh nhưng lại thu hút rất nhiều thực khách với những câu chuyện khá thú vị về chúng. Bánh Kông-kha-viên kể về một anh chàng nhà nghèo, gần đến lễ hội rồi mà vẫn không có món bánh nào đem khoe hội. Anh ta có một chiếc xe bò hay dùng chở lúa và hoa màu. Mỗi khi xe bò đổ, lúa rơi ra. Trong lúc lấn bấn anh chợt nhớ đến cái bánh xe bò và thế là với gạo nếp, đậu xanh giã nhuyễn, nhồi hội vịt hoặc nghệ với mỡ nước, anh cầu kỳ ngồi nặn bánh thành hình giống những chiếc bánh xe. Món bánh cứ thế ngày càng phổ biến ở Bạc Liêu cho đến nay. Còn món bánh Num - T''rom thì đơn giản hơn. Gạo ngâm sau một đêm, giã nhuyễn pha chút bột năng, trộn đường kính cùng chút mỡ nước cho đỡ dính, vê thành những viên nhỏ tròn dẹt thả vào chảo dầu sôi cho phồng lên. Bánh vàng đều vớt ra, càng để lâu càng dẻo. “Món bánh này ngày xưa chỉ dành cho nhà nghèo. Vì cũng muốn có bánh cho con cái ăn nên họ đã cố gắng với những nguyên liệu hạn hẹp để làm ra Num-T''nom” - Chú Kim Sên (Bạc Liêu) đăm chiêu kể.

Còn một loại bánh nữa của quê hương mùa nước nổi An Giang, đây cũng là món đặc sản duy nhất mà đồng bào Khmer An Giang mang ra Hà Nội, món bánh bò thốt nốt. Cũng chỉ bột gạo giã, trộn cơm dừa, đường thốt nốt, gói lại bằng lá soong "thứ lá thơm chỉ có ở An Giang!" Chị Ne''ang Dan-người Khmer ngượng ngùng trò chuyện, trong khi từ ánh mắt đen láy của chị ánh lên niềm tự hào không chỉ về món bánh nhỏ bé, mà về thứ đường ngon lừng lẫy kia. Ông Ngô Hồng Khanh - Trưởng ban giám khảo cuộc thi ẩm thực Khmer - sau khi thưởng thức hàng chục món liên tiếp, tưởng khó mà phân biệt được sự khác nhau giữa các mùi vị, hồn nhiên thốt "Đường thốt nốt ăn nó lưu luyến quá !". Đúng vậy, chiếc bánh nhỏ nhưng lại gói ghém cả niềm hãnh diện của người dân An Giang về giống cây kia! Lễ hội văn hóa Khmer Nam Bộ tại Hà Hội còn hai ngày nữa mới kết thúc, lòng du khách dù đã hay sẽ được thưởng thức, không khỏi rưng rưng, xao xuyến về một phương nam hào phóng.
Canh rong biển: Món ăn đặc trưng của người Hàn Quốc

Miyeok guk (미역국) hay còn gọi là canh rong biển là món canh truyền thống của Hàn Quốc được chế biến từ rong biển kết hợp cùng thịt bò, một số nơi lại chế biến Miyeok guk từ rong biển và con trai hoặc cá.

alt

Theo truyền thống Miyeok guk thường được những người phụ nữ dùng sau khi sinh trong nhiều ngày bởi người Hàn Quốc tin rằng món ăn này sẽ giúp sản phụ có nhiều sữa cho em bé hơn. Điều này là hoàn toàn được chứng thực vào đầu thế kỉ 20, khi một nhà hóa học người Đưc đã tìm ra trong Miyeok guk có chứa hàm lượng cao chất iot và một số dưỡng chất khác rất tốt cho các bà mẹ sau khi sinh.

Ngoài ra món canh này còn được ăn nhiều trong các dịp đặc biệt như lễ đầy tháng, ngày sinh nhật...của người Hàn Quốc. Tuy nhiên, ngày nay Miyeo guk trở rất phổ biến hơn, xuất hiện nhiều tại các gia đình, nhà hàng Hàn Quốc.

alt

Cách chế biến Miyeok guk rất đơn giản đấy các bạn ạ! Vậy các bạn còn chờ gì mà không cùng Ichi vào bếp chế biến ngay một món ăn ngon mà bổ dưỡng này nhỉ.

alt

Dưới đây Ichi sẽ hướng dẫn các bạn món canh rong biển với thịt bò. Tùy theo khẩu vị của mình mà các bạn có thể thay thịt bò bằng bất kì loại thịt nào hoặc có thể dùng con chai, cá hay cho thêm chút nấm vào món canh cũng đều rất ngon.

alt

Chuẩn bị nguyên liệu:

- 1,2 lạng rong biển khô.

- 1 lạng thịt bò.

- 1 muỗm rượu trắng.

- 1 muỗm nước tương.

- 1 chút hạt tiêu.

- 1 muỗm dầu ăn.

- 1 chút muối (bột canh)

- 1 vài nhánh tỏi.

alt

Chế biến:

- Cho rong biển khô vào nước nguội ngâm khoảng 15 phút để rong biển nở hết ra.

- Sau khi rong biển đã nở ra hết, các bạn vớt rong biển ra, để ráo nước rồi cắt nhỏ cho vừa ăn.

alt

- Cho thịt bò vào nồi, thêm vào thịt một chút nước tương, rượu trắng và một chút hạt tiêu. Xào thịt đều tay ở nhiệt độ cao cho đến khi thịt bò được chín tái thì đổ rong biển đã chế biến ở các bước trên vào.

- Thêm vào nồi ½ muỗm dầu ăn rồi tiếp tục xào rong biển và thịt thêm 5 phút nữa ở nhiệt độ cao.

alt

- Sau khi hoàn tất việc xào rong biển và thịt bò, các bạn thêm vào nồi khoảng 0.5 lít nước .

- Tiếp tục đun cho đến khi nước sôi thì các bạn cho thêm vào canh ½ muỗm tỏi đã băm nhỏ và một chút muối cho vừa ăn.

alt

- Để nồi canh sôi thêm 15 phút nữa ở nhiệt độ cao. Các bạn có thể nếm canh lại một lần nữa và cho thêm muối hoặc nước tương nếu cảm thấy canh chưa vừa miệng.

- Và bước cuối cùng: Cho canh ra bát và cùng gia đình thưởng thức ^ ^

alt

Hi vọng các bạn có những giờ phút thật vui vẻ với món canh dễ làm mà bổ dưỡng này.

Món ăn biểu tượng của các nước trên thế giới


Ăn uống có thể là phần hấp dẫn nhất của chuyến du lịch. Danh sách 10 món ngon tiêu biểu ở 10 thành phố khắp toàn cầu do nhà xuất bản sách du lịch Lonely Planet đưa ra sẽ là gợi ý thú vị cho bạn khi đi du lịch nước ngoài.
1. Tapas (món ăn mặn) ở Barcelona, Tây Ban Nha

Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Patatas bravas (khoai tây giầm nước sốt cà chua cay), calamares fritos (mực rán), boquerones (cá cơm), croquetas de jamon (thịt viên giămbông), chorizo (xúc xích thịt lợn), pimientos asados (ớt xào), albondigas (viên thịt) và berenjenas gratinadas (cà tím nướng pho mát) chỉ là một số ví dụ thơm ngon về tapas - các món ăn nhẹ của Tây Ban Nha.

Thành phố sôi động Barcelona trội hơn hẳn các nơi khác ở Tây Ban Nha trong việc chế biến tapas. Đặc biệt là dọc con phố La Rambla ở trung tâm thành phố lúc tối muộn khi cư dân cũng như khách du lịch thong thả đi từ quảng trường Plaça de Cataluny về phía nam, bạn hãy đặt dao nĩa xuống bàn và gọi tapas với một cây tăm hoặc ăn bằng tay.

2. Pasta (mì ống) ở Naples, Ý

Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Các nhà nghiên cứu về ẩm thực vẫn tranh cãi rằng Marco Polo đã đưa mì ống vào Ý bằng cách nhập từ Trung Quốc trong thế kỷ 13, hay người Ý cổ đã biết đến món này từ rất lâu trước đó. Nhưng nói chung mọi người đều nhất trí vào thế kỷ 18 thành phố Naples đã biến hỗn hợp bột - nước thành một kỹ nghệ hoàn hảo và nổi tiếng với tên gọi thủ đô mì ống của thế giới.

Một dịp nào đó khi bạn lang thang trên những con phố rêu phong ở trung tâm lịch sử Naples, hãy thẳng tiến đến trattoria (nhà hàng) gần nhất và thưởng thức một đĩa mì ống. Nếu chú ý bạn sẽ thấy người Naples thường xếp một quả chà là lẫn giữa mì và cà chua nghiền.

3. Doner kebab (thịt nướng xoay) ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ


Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Doner kebab truyền thống là một đĩa cơm phết bơ, ở trên là thịt cừu nướng và nhiều nhà hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn phục vụ theo kiểu này. Tuy nhiên, ngày nay nổi bật hơn nhiều là món thức ăn nhanh họ hàng của nó như bánh mì sandwich kẹp thịt ướp được cắt lát từ một xiên thịt nướng xoay đi kèm salad và nước xốt sữa chua.

Một việc phải làm khi bạn ở Istanbul là chén no nê một doner chắc nịch rồi sau đó lang thang quanh nhà thờ Hồi giáo Sultanahmet hoặc dọc cầu treo Bosphorus.

4. Bánh bao hấp ở Thượng Hải, Trung Quốc


Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Bánh bao hấp Thượng Hải là món “phải nếm mới tin" và là một trong những món đắt hàng nhất các ngày lễ dim-sum. Những chiếc bánh ngon lành trông giống trái bóng bột bình thường cho đến khi bạn khám phá bên trong bánh với nước dùng nóng có hương vị thịt lợn, cua hoặc rau.

Bất ngờ nhỏ này được thực hiện bằng cách cho vào bánh một chút gelatin cứng, chất này sẽ chảy ra khi bánh được hấp. Để tránh bị bỏng nướu với món xúp nóng này, bạn đừng cắn chặt bánh bao giữa hai hàm răng mà hãy nhấm nháp từng chút một cho đến khi nước dùng chảy ra.

5. Feijoada ở Rio de Janeiro, Brazil

Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Những người yêu thích ẩm thực đã tổ chức hẳn một lễ hội riêng để ca ngợi feijoada - bữa trưa truyền thống của Brazil. Đó là món hầm thẫm màu và cay được nấu từ đậu đen, thịt lợn. Feijoada được chế biến để đáp ứng nhu cầu lớn trong các nhà hàng ở Rio de Janeiro, thường chỉ thịt lợn được sử dụng, nhưng cũng có thể có những bộ phận khác như tai, lưỡi và đuôi.

Bạn cần lưu ý rằng bữa ăn thịnh soạn này là một thách thức về tiêu hóa cho bất kỳ cái dạ dày nào, vì thế hãy kiếm một chiếc ghế dài để nghỉ ngơi hơn là vùng vẫy ở biển Ipanema sau khi ăn.

6. Gumbo (xúp mướp tây) ở New Orleans, Mỹ

Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Múc ra từng muỗng từ nồi xúp mướp tây đang bốc hơi, bạn sẽ có cảm giác mình đang chạm vào cuộc sống ở New Orleans như khi nghe nhạc jazz, zydeco, swamp blues hoặc nhai rào rạo những chiếc bánh ngọt beignet.

Món ăn được yêu thích của bang Louisiana thực chất là món canh hải sản hoặc thịt hun khói, với nhiều mướp tây hoặc hỗn hợp mỡ nước và bột mì, sau đó phủ lên trên một lớp gạo dày. Nhưng New Orleans còn phục vụ vô số biến thể từ công thức gumbo cơ bản, từ phong cách cổ điển Creole tới kiểu cay Cajun.

7. Couscous ở thành phố Casablanca, Maroc

Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Ngay từ giây phút đầu tiên đặt chân đến Casablanca, bạn hãy thẳng tiến về phía đường Boulevard de la Corniche bên bờ sông, chọn một quán cà phê hoặc một nhà hàng hấp dẫn và gọi một tách trà bạc hà cùng một đĩa thức ăn truyền thống của Marôc: couscous.

Couscous được làm từ semolina, một loại lúa mì cứng và được hấp đi hấp lại nhiều lần trong chiếc nồi đặc biệt có tên couscoussier. Sau đó phủ bằng một món hầm cay bao gồm hoặc các loại rau gia hoặc hỗn hợp rau và thịt như gà, cừu và cá.

8. Nasi Goreng ở đảo Penang, Malaysia

Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Khách du lịch đã đến Malaysia chắc chắn không ai không biết đến món ăn đơn giản nhưng hấp dẫn nasi goreng. Món ăn phổ biến trên khắp Indonesia và Singapore này theo nghĩa đen có nghĩa là cơm rang. Nasi Goreng được chế biến bằng cách rang cơm với thịt gà hoặc hải sản, rau, trứng và xì dầu hơi ngọt.

Gần như bất cứ nơi nào phục vụ đồ ăn ở Malaysia cũng có nasi goreng, nhưng ngon nhất là ở những trung tâm đông đúc người bán hàng rong trên đảo Penang. Phương pháp nấu ăn đa dạng kết hợp phong cách Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ đã tạo cho món ăn bình dân này một hương vị đặc biệt.

9. Curry ở Mumbai, Ấn Độ


Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Curry là một hiện tượng trên toàn châu Á, có mặt gần như khắp nơi ở Punjab (bang tây bắc Ấn Độ) và Nhật Bản. Nhưng Ấn Độ mới chính là quê hương món ăn này, và bạn chỉ thật sự thưởng thức curry khi đến thành phố Mumbai (bang Maharashtra) và thỏa mãn khẩu vị của mình với phương pháp chế biến theo kiểu địa phương. Một món curry Mumbai đặc trưng thường có hải sản và dừa trộn với masala (hỗn hợp gia vị). Những gia vị tiêu chuẩn bao gồm nghệ, rau mùi, gừng và ớt đỏ.

10. Hot dog ở New York, Mỹ

Du lịch âm thực thế giới, sắc màu ẩm thực, đặc sản thế giới

Mọi người đều biết ăn uống ở New York có nghĩa là thẳng tiến đến một ngã ba, ngã tư đông đúc giữa các con phố, tìm một xe đẩy kim loại cũ kỹ, được che bằng một chiếc ô sặc sỡ, sau đó gọi một chiếc xúc xích với nước xốt cà chua, mù tạt, hành tây hoặc dưa cải bắp, gia vị hoặc tương ớt.

Nếu bạn muốn trải nghiệm cảm giác đặc biệt hơn, hãy đến bán đảo Coney Island ngày 4-7 và tham gia cuộc thi ăn hot dog với chuỗi nhà hàng đồ ăn nhanh chuyên về hot dog Nathan's Famous. Kỷ lục hiện nay là ăn 53,5 chiếc xúc xích trong vòng... 12 phút!
Khám phá mới với món gà Trung Đông

Với chút thời gian tìm tòi mẹ Kún đã khám phá ra 1 loại nước sốt mới, xin mời các anh các chị cùng thưởng thức món gà Tikka Masala mang đâm hương vị Trung Đông.

Món này rất lạ nhưng khi dùng chung với cơm trắng khiến cho món ăn gần gũi hơn với khẩu vị của người Việt.

Nguyên liệu:

- Mẹ Kún đã thử dùng đùi gà nguyên chiếc 1 lần nhưng cảm giác gà không được ngấm lắm, lần này cẩn thận hơn, em dùng má đùi lọc xương, hoặc có thể dùng ức gà không xương

- Sốt Tikka Masala đóng chai sẵn. Sốt này là 1 loại cà ry đặc trưng của Ấn Độ và các nước Trung Đông, em đã ăn thử đúng 100% hương vị của bản địa, nói thật là khó ăn nhưng từ khi khám phá ra chai sốt đóng sẵn này, em hào hứng lắm, mùi vị tuy có chút khác biệt, biến tấu đi nhiều nhưng lại nhẹ nhàng dễ tiêu hóa hơn cho người Việt mình.

- Hành Paro (chính là cây tỏi Tây)

Cách làm nhanh và dễ cực nhé:

- Gà thái miếng vừa ăn ướp với chút gia vị, hạt tiêu, hành Paro. Em không muốn cho quá nhiều gia vị để khi nấu, vị Tikka Masala không bị át đi

-Ướp khoảng 30 phút sau đó em xếp gà vào nồi nướng, nếu không dùng nồi anh chị có thể dùng chảo để chiên sơ hoặc dùng lò nướng. Cảm giác khi dùng nồi nướng em thấy gà chảy mỡ thừa nhiều hơn mà miếng gà vẫn chín mềm vì nhiệt độ trong nồi đươc ổn định hơn.

- Nướng 15 phút để gà chín và chảy mỡ thừa.

- Em chắt 1 chút mỡ chảy ra từ gà rồi cho vào chảo để rán gà luôn.Mỡ nóng phi thơm hành Paro, đừng để hành cháy nhé, chỉ cần hành chín xanh rì là ngon rồi.

- Gà nướng xong hoặc rán xong thì gắp ra chảo. Đảo gà cùng hành Paro, nêm chút gia vị cho vừa miệng. Lúc này gà được đảo qua đảo lại lên màu vàng óng khá hấp dẫn rồi.

- Dội 3 thìa sốt Tikka Masal (hoặc nhiều hơn tùy theo khẩu vị và sở thích của mỗi người) vào chảo gà, đảo nhanh tay và lửa mức vừa vì sốt nhanh cạn và dễ kết tủa đặc sịt lại. Khi gà bám đều sốt là ổn, sốt này có thể ăn liền nên không cần chế biến quá lâu.

Chỉ lâu nhất là khâu tẩm ướp và nướng chứ không thì chỉ mất khoảng 10 phút để hoàn thành món này. Kabab gà/ bò/ cừu là món ăn độc đáo ! http://www.foodnut.com/i/Kabul-Afghan-Cuisine/Kabul-Afghan-Cuisine-Kebab-Combination.jpg

Cánh gà Java

Để làm phong phú thêm khẩu vị ngày Tết, pv sẽ giới thiệu với các bạn món cánh gà Java, rất ngon và dễ thực hiện.


Dùng nóng. Ăn kèm với cơm nóng hoặc nui sốt cà chua và bơ lạc.
Dùng nóng. Ăn kèm với cơm nóng hoặc nui sốt cà chua và bơ lạc.

Java là tên loại sốt được chế biến từ các nguyên liệu rất quen thuộc như nước tương, tương cà chua, mật ong, hạt nêm, bột năng tạo nên vị chua chua ngọt ngọt cho món gà rán giòn.
Nguyên liệu:

- 4 cái cánh gà (khoảng 600g), rửa sạch, để ráo
- 50g nấm rơm búp, làm sạch, chần qua nước sôi, để ráo nước
- 10 củ hành tím, băm nhỏ một phần, còn lại mình sẽ cháy cho thơm
- 2 quả ớt sừng xanh, đỏ, cắt hạt lựu và tỉa hoa
- Gia vị gồm có: 2 muỗng súp mật ong, tương cà, tương ớt, nước tương, bột năng (đây là thành phần làm nên sốt Java), dầu ăn.

Thực hiện:

1. Ướp cánh gà với nước hành khô bóp (nếu bạn cho cả hành băm vào thì khi chiên hành sẽ cháy nên chỉ cần vắt lấy nước hành khô cho thơm) và 1 muỗng cà phê hạt nêm, trộn đều cho thấm gia vị.
2. Dầu nóng, thả cánh gà vào chiên cho vàng, rồi vớt ra cho vào giấy thấm dầu.
3. Cho 2 thìa dầu ăn đun nóng, phi thơm hành băm, xào nấm chín săn, cho nửa chén nước dùng vào đun. Cho hỗn hợp tương cà, tương ớt, 2 thìa nước tương và 2 thìa mật ong vào chảo nấu sôi cùng nấm. Nêm 2 muỗng cà phê hạt nêm. Lượng tương cà chua là tùy vào bạn thích màu đỏ đậm hay vừa mà cho ít nhiều, tương ớt cũng tùy vào sở thích ăn cay của bạn, ở đây dùng khoảng 2 thìa.

4. Thêm vào một ít bột năng pha loãng để tạo độ sánh cho nước sốt, rồi cho củ hành tím đã chiên và ớt xắt hạt lựu vào sốt, tắt bếp. Xếp cánh gà lên đĩa, tưới một ít sốt nấm lên cánh gà, phần còn lại để ở góc đĩa.

Mách nhỏ:

- Khi chế biến các món chiên, nướng, bạn nên ướp với nước cốt hành, tỏi thay vì cho trực tiếp hành, tỏi băm vào thịt, cá... để tránh xác hành, tỏi bị cháy làm món ăn mất ngon.
- Nấm rơm trước khi xào nên chần qua nước sôi cho hết chất đen và không còn ngái.

Bồn bồn nấu canh dừa

Hồi đó ở quê, mỗi khi nhà túng thức ăn, ba tôi thường xách rổ ra ruộng xúc tép, sau đó xuống mương, tước vài nắm bồn bồn về cho má tôi chế biến món bồn bồn nấu canh dừa.


Bồn bồn nấu canh dừa
Bồn bồn nấu canh dừa

Bồn bồn còn có tên là Thủy hương (thủy: nước; hương: cây nhang) vì hoa trông giống hình cây nhang cắm ở dưới nước. Tên khoa học của bồn bồn là Typha angustifolia, thuộc họ Typhaceae. Đây là loại cây hoang dã, thường mọc nơi đầm lầy và ruộng thấp, nhiều nhất là ở Cà Mau, Bạc Liêu… Những năm gần đây, cây bồn bồn được người dân miền Tây trồng nhiều để làm dưa hay bán tươi nên dần trở thành một đặc sản nổi tiếng và là loại cây “xóa đói giảm nghèo” của các địa phương này.

Ngoài việc làm dưa chua, phần tươi non của cây bồn bồn (thân, lá, gốc) được chế biến thành nhiều món ăn dân dã rất ngon như: xào tôm thịt, nấu canh chua, nấu lẩu chua, làm gỏi, nấu canh dừa…

Nhắc đến cây bồn bồn, tôi lại nhớ những ký ức tuổi thơ. Hồi đó ở quê, mỗi khi nhà túng thức ăn, ba tôi thường xách rổ ra ruộng xúc tép, sau đó xuống mương, tước vài nắm bồn bồn về cho má tôi chế biến món bồn bồn nấu canh dừa ăn cùng với tép rang.

Bồn bồn lựa phần non trắng rửa sạch. Phần gốc cắt khúc chẻ đôi, phần thân và lá cắt khúc vừa đũa gắp. Vắt một chén nước cốt dừa để sẵn. Cho phần gốc bồn bồn vào nồi. Lược lấy nước dừa dão cho vào ngập xâm xấp bồn bồn, nấu sôi vừa chín tới (dùng nước dão vừa đủ, nhiều quá sẽ mất ngon!). Kế đến, cho phần thân, lá bồn bồn vào, nấu chín. Tắt lửa, nêm nếm cho vừa khẩu vị. Sau cùng, đổ nước cốt dừa đậm đặc vào, đảo đều, nhắc xuống. Thế là xong!

Bữa ăn đã sẵn sàng. Cơm nóng bới ra chén. Gắp một miếng bồn bồn nấu canh dừa nhai chậm rãi, sau đó húp một muỗng canh… Vị ngọt, béo của nước cốt dừa hòa lẫn vị giòn tan của bồn bồn... thật là "đưa cơm”. Ăn món canh này với các món mặn như: tép rang, cá kèo kho tộ, hay ba khía trộn chanh, tỏi ớt nữa thì thật đậm đà!