Tuesday, January 29, 2013

Phố đèn đỏ tại Saigon

Quy hoạch thí điểm một “khu đèn đỏ” để quản lý nhưng không chính thức công nhận mại dâm như một nghề là đề xuất táo bạo trước đây nay được nhắc lại tại của sở LĐ-TB-XH TP.HCM.
Hội thảo diễn ra vào sáng 18-1. Tại đây, ông Lê Văn Quý, phó chi cục trưởng chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội TP.HCM, cho biết hoạt động mại dâm trên địa bàn thành phố tiếp tục diễn biến phức tạp dưới các hình thức ngày càng tinh vi. Hoạt động này không chỉ diễn ra tại các khách sạn, nhà hàng, vũ trường, quán karaoke... mà còn tại các quán cà phê, tiệm hớt tóc, gội đầu, cơ sở xông hơi xoa bóp, spa săn sóc da...
Cho rằng tình hình mại dâm trên địa bàn diễn biến phức tạp, núp bóng tiệm hớt tóc gội đầu, xông hơi, xoa bóp, y học cổ truyền..., TP HCM kiến nghị được gom những cơ sở kinh doanh nhạy cảm này vào một khu vực.
TP HCM vừa kiến nghị Chính phủ cho phép "quy hoạch vùng" cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ phát sinh tệ nạn xã hội để quản lý chặt chẽ người bán dâm, kết hợp đồng bộ các giải pháp hỗ trợ về y tế, phòng ngừa giảm tác hại... UBND thành phố cho rằng, để giúp công tác phòng chống mại dâm đạt hiệu quả, Trung ương cần bổ sung quy định xử lý các hành vi chứa chấp, sử dụng phương thức khiêu dâm, kích dục tại cơ sở kinh doanh dịch vụ; quy định xử lý mại dâm nam, mại dâm đồng tính, mại dâm có yếu tố nước ngoài và các chế tài để bảo đảm việc thực thi pháp luật.
Các quán bar, vũ trường đang là điểm nóng của hoạt động mại dâm. Ảnh: N.Đ.
TP HCM cũng đề xuất ban hành quy định xử lý hành chính kiên quyết và chặt chẽ hơn đối với người sản xuất, lưu hành, phổ biến phim ảnh, các hoạt động biểu diễn có nội dung khiêu dâm, cổ xúy lối sống ăn chơi trụy lạc, kích thích tệ nạn mại dâm. Thành phố kiến nghị Trung ương nghiên cứu và ban hành "quy chế về đạo đức, nhân cách" trong công tác đào tạo văn nghệ sĩ, tổ chức các cuộc thi người đẹp, người mẫu và chế tài vi phạm hành chính kèm theo.
Ngoài ra, TP HCM đề nghị được thí điểm thành lập Trung tâm công tác xã hội để giáo dục, hỗ trợ người bán dâm về mặt tâm lý, tư vấn, tham vấn giúp đỡ họ nhận thức một cách đúng đắn về những hành vi vi phạm thuần phong mỹ tục để từng bước rèn luyện, tránh tại phạm. Trung tâm này cũng sẽ phối hợp với chính quyền địa phương tạo điều kiện giúp cho họ an tâm, ổn định cuộc sống.
Theo UBND TP HCM, tệ nạn mại dâm trên địa bàn năm 2012 tiếp tục diễn biến phức tạp. Hoạt động mua bán dâm diễn ra không chỉ bằng hành vi giao cấu giữa kẻ mua và người bán tại khách sạn hoặc một số nhà hàng, vũ trường, karaoke mà phổ biến là việc khiêu dâm, kích dục tại các điểm từ bình dân đến cao cấp, núp bóng quán cà phê, tiệm hớt tóc gội đầu, xông hơi, xoa bóp, y học cổ truyền...
Ngoài một số đường dây mại dâm "gái gọi hạng sang" với người xưng danh là diễn viên, người mẫu tham gia bán dâm với giá hàng nghìn USD, thành phố còn tồn tại mại dâm nam, mại dâm trong nhóm đồng tính nam, mại dâm có yếu tố nước ngoài và xuất cảnh ra nước ngoài bán dâm. Mặt khác, mại dâm tại nơi công cộng, hoạt động lưu động bằng xe máy trên đường phố đang tác động xấu đến môi trường văn hóa, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội.
Qua công tác rà soát, kiểm tra điểm kinh doanh dịch vụ "nhạy cảm", hiện TP HCM có 30.000 cơ sở (tăng gần 800 so với năm 2011). Trong đó gồm 19.705 cơ sở lưu trú (nhà nghỉ, khách sạn, phòng cho thuê...); 750 cơ sở karaoke, phòng thu âm; 25 quán bar, vũ trường; 943 nhà hàng, quán ăn có tiếp viên nữ; 134 cơ sở massage, tẩm quất, spa, day ấn huyệt, 805 điểm hớt tóc thanh nữ, hớt tóc nam (cắt tóc, gội đầu máy lạnh...) và hơn 7.600 quán cà phê, giải khát.
Công an TP HCM cũng xác định được các tụ điểm, tuyến đường trọng điểm về mại dâm như: Ngô Văn Năm, Hai Bà Trưng, Trần Quang Khải, Nguyễn Phi Khanh, Đông Du (quận 1); đường Nguyễn Trãi, Lê Hồng Phong (quận 5); đường D2, D5 (quận Bình Thạnh)... Đây là địa bàn tập trung nhiều nhà hàng, quán ăn hoạt động dưới hình thức bia ôm hay quán bar - billard.
Các tuyến đường trọng điểm về mại dâm nơi công cộng gồm Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Sa (quận 1), Tú Xương, Nguyễn Thông, Hai Bà Trưng (quận 3), Nguyễn Chí Thanh, Châu Văn Liêm, Đào Duy Từ, Ngô Quyền (quận 5, 10).
TP.HCM sẽ có “phố karaoke” 
Ông Vũ Trọng Nam - phó giám đốc Sở VH-TTDL TP.HCM, cho biết như vậy về định hướng quy hoạch loại hình kinh doanh được xem là nhạy cảm này tại TP.HCM.


Quán karaoke dày đặc trên đường Sư Vạn Hạnh, Q.10, TP.HCM (ảnh chụp tối 23-1) - Ảnh: QUANG ĐỊNH

Ông Vũ Trọng Nam nói: “Ngày 25-4-2012, UBND TP ra chỉ thị số 13 về tăng cường quản lý đối với các cơ sở kinh doanh phát sinh tệ nạn xã hội của TP. Trong đó, Sở VH-TTDL được giao quy hoạch karaoke và vũ trường đến năm 2020, tầm nhìn 2025. Với loại hình kinh doanh karaoke, từ trước đến nay chỉ mới quy hoạch trên số lượng, nằm rải rác phân bổ nhỏ lẻ trong khu dân cư, theo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp và các quy định về địa điểm kinh doanh karaoke của Nhà nước. Lộ trình từ năm 2015-2020, dự kiến từng quận huyện sẽ có những khu vực riêng để kinh doanh karaoke. Đối với vũ trường, dự kiến sẽ đưa vào các khách sạn, trung tâm văn hóa để hoạt động”.

Giấy phép kinh doanh karaoke có thời hạn 2 năm

* Việc quy định khu vực như vậy có gì bất tiện cho người dân khi sử dụng dịch vụ này?

- Chúng tôi luôn xác định nhu cầu của người dân về karaoke, vũ trường là có, và việc quy hoạch kinh doanh karaoke trước tiên phải dựa trên nhu cầu người dân của từng quận huyện. Mỗi quận huyện sẽ có số lượng, vị trí khác nhau để kinh doanh karaoke, dựa trên nhu cầu của cư dân từng khu vực chứ không phải nơi nào cũng giống nhau. Căn cứ trên nhu cầu đó sẽ quy hoạch sao cho mang tính khoa học và phục vụ xã hội, đồng thời chấn chỉnh, không gây ra các tệ nạn xã hội xoay quanh hoạt động này.

Khi đưa ra ý tưởng này thì đa số các quận huyện đều ủng hộ. Ví dụ đường Sư Vạn Hạnh nối dài hiện nay karaoke rất nhiều, do các cơ sở kinh doanh tự thấy “buôn có bạn, bán có phường” quần tụ lại. Và thực tiễn chứng minh “phố karaoke” Sư Vạn Hạnh hoạt động rất sôi động, chính quyền quận 10 cũng quản lý phố karaoke này rất dễ dàng. Đây là một mô hình mà chúng tôi đang hướng tới, dễ quản lý, chống được tệ nạn xã hội.
* Sau nhiều năm ngừng cấp phép kinh doanh karaoke, vũ trường, UBND TP đã có chủ trương cấp phép mới hai loại hình kinh doanh này. Việc cấp phép sẽ tiến hành ra sao thưa ông?

- Hiện nay các quận huyện đã nhận hồ sơ đăng ký cấp mới, giấy phép kinh doanh karaoke có thời hạn trong vòng hai năm. Trong quý 1-2013, Sở VH-TTDL sẽ rà soát, đề xuất lên UBND TP số lượng cấp phép mới kinh doanh karaoke và vũ trường của từng quận huyện. Việc cấp mới này có khống chế số lượng, theo nhu cầu thực tế và quy hoạch của từng quận huyện. Sau khi UBND TP quyết định số lượng, vị trí các tuyến đường, khu vực được kinh doanh karaoke cho từng quận huyện, Sở VH-TTDL sẽ dựa trên quyết định đó để cấp phép kinh doanh karaoke, vũ trường cho từng cơ sở xin cấp phép.

Nhà Bè, Bình Quới được nhắm làm khuquy hoạch ngành nghề nhạy cảm

Trao đổi về chuyện TP.HCM đề xuất quy hoạch vùng hoạt động kinh doanh ngành nghề nhạy cảm, ông Lê Văn Quý - chi cục phó thường trực Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội TP.HCM - khẳng định đó mới chỉ là suy nghĩ của cơ quan tham mưu. Khi được trung ương cho phép, TP mới thành lập đề án cụ thể.

* Thưa ông, dựa trên cơ sở nào mà TP.HCM đề xuất quy hoạch vùng ngành nghề nhạy cảm?

- Hiện nay, Luật xử lý vi phạm hành chính và nghị quyết 24 của Quốc hội đã có những hướng mở: người hoạt động mại dâm không bị đưa vào cơ sở chữa bệnh, không áp dụng quản lý giáo dục tại phường xã, thị trấn. Nếu không quản lý giáo dục mà để họ hoạt động tràn lan ngoài cộng đồng thì sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ như lan truyền HIV/AIDS, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn.

Đó là chưa kể hiện nay nhiều người hoạt động mại dâm bị xử lý rồi, phạt hành chính nhưng họ nói không có tiền đóng phạt thì cũng không có cách nào xử lý. Điều này khiến hoạt động mại dâm có chiều hướng công khai và ngày một gia tăng.

Đề xuất này dựa trên việc tham khảo mô hình ở một số nước như Thái Lan, Singapore. Tuy nhiên đối với VN, chúng ta vẫn còn coi trọng đạo đức, thuần phong mỹ tục nên không thể lập “khu đèn đỏ” như các nước. Nếu nói khu quy hoạch này là “khu đèn đỏ” thì vô hình trung đã thừa nhận mại dâm là một ngành nghề hợp pháp. Hiện tại, VN vẫn không công nhận mại dâm là nghề hợp pháp, thậm chí không thể coi đó là một nghề. Tôi khẳng định TP.HCM không đề xuất thành lập “khu đèn đỏ”.


Sắp tới, các điểm kinh doanh karaoke sẽ được tập trung thành khu vực riêng - Ảnh: THUẬN THẮNG

* Nếu đề xuất được chấp thuận, TP dự định sẽ quy hoạch khu vực kinh doanh ngành nghề nhạy cảm ở đâu?

- Theo quan điểm của cơ quan tham mưu thì có thể chọn khu vực huyện Nhà Bè hoặc khu Bình Quới - Thanh Đa ở Bình Thạnh vì đó là những nơi tương đối tách biệt. Nếu TP giao cho các ngành chức năng lập đề án thì sẽ xây dựng theo hướng đó.

* Theo ông, đề án này có khả thi hay không nếu gom tất cả ngành nghề nhạy cảm về một chỗ?

- Hiện nay, dưới góc độ cơ quan tham mưu, chúng tôi chỉ tham mưu TP xin chủ trương của trung ương để làm thí điểm. Trên cơ sở kết quả thí điểm mới tính đến chuyện có tiếp tục làm hay không. Khi xã hội phát triển thì nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí là chuyện bình thường. Giờ phút này chưa thể nói là khả thi hay không và khả thi đến mức độ nào thì chưa kết luận được. Tuy nhiên, khi mình tập trung vùng quy hoạch thì sẽ thuận lợi cho việc quản lý hơn.

* Như vậy những cơ sở kinh doanh ngành nghề nhạy cảm đang tồn tại sẽ phải di dời vào vùng quy hoạch hoặc đóng cửa?

- Đúng là chuyện này phải có chủ trương, sau đó phải bàn tính thật cụ thể. Bản thân tôi thấy cũng khó chứ không phải dễ. Chẳng hạn như người ta đang kinh doanh karaoke, matxa, khách sạn từ hồi nào tới giờ, bây giờ nói chuyển thì chuyển đi đâu, chuyển làm sao?

Tôi cho rằng quy hoạch vùng là mang tính chất định hướng để những doanh nghiệp muốn kinh doanh các dịch vụ đó thì có hướng đầu tư vào khu vực đã được chỉ định. Còn những nơi nào đã hoạt động thì vẫn cứ hoạt động kinh doanh bình thường theo đúng quy định pháp luật, đúng chức năng đã ghi trong giấy phép kinh doanh.

Ngoài ra, tiếp viên làm trong vùng quy hoạch phải có hợp đồng lao động, mức lương cụ thể, tham gia bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội, khám sức khỏe định kỳ. Trong vùng quy hoạch, nếu phát hiện hoạt động mại dâm thì vẫn xử lý theo đúng quy định của pháp luật.
Ngày 22-1, ông Lê Văn Quý, Phó chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội TP HCM khẳng định việc xin phép trung ương cho quy hoạch gom dịch vụ nhạy cảm là để dễ quản lý, không phải lập "phố đèn đỏ".
- Thưa ông, việc TP HCM kiến nghị trung ương cho phép quy hoạch vùng các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm có điểm gì khác so với việc thành lập "phố đèn đỏ" ở các nước?
- Trước hết, tôi xin khẳng định, đây là một trong những giải pháp mà Sở Lao động Thương binh và Xã hội tham mưu cho UBND thành phố để kiến nghị với trung ương nhằm phòng chống và giảm tệ nạn mại dâm đang có xu hướng ngày càng phức tạp và tràn lan ở TP HCM.
Cùng với kiến nghị quy hoạch vùng tập trung các ngành nhạy cảm, thành phố cũng kiến nghị bổ sung quy định xử lý các hành vi chứa chấp, sử dụng phương thức khiêu dâm, kích dục tại cơ sở kinh doanh dịch vụ; quy định xử lý mại dâm nam, mại dâm đồng tính, mại dâm có yếu tố nước ngoài và các chế tài để bảo đảm việc thực thi pháp luật.
Ngoài ra, TP HCM còn đề nghị được thí điểm thành lập Trung tâm công tác xã hội để giáo dục, hỗ trợ người bán dâm về mặt tâm lý, tư vấn, tham vấn giúp đỡ họ nhận thức một cách đúng đắn về những hành vi vi phạm thuần phong mỹ tục để từng bước rèn luyện, tránh tại phạm. Trung tâm này cũng sẽ phối hợp với chính quyền địa phương tạo điều kiện giúp họ an tâm, ổn định cuộc sống.
Việc quy hoạch tập trung các cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm về một khu vực là để quản lý chặt chẽ người bán dâm, đồng thời kết hợp đồng bộ các giải pháp hỗ trợ dịch vụ về y tế, chăm sóc sức khỏe phòng ngừa giảm tác hại… nhằm góp phần ngăn chặn tệ nạn mại dâm hoạt động tràn lan ngoài cộng đồng chứ không phải là thành lập phố đèn đỏ như các nước.
- TP HCM sẽ thực hiện quy hoạch thế nào?
- Tất nhiên, việc này phải được trung ương cho phép mới có thể thực hiện, thành phố chỉ đang xin phép về mặt chủ trương. Nếu được đồng ý thì còn phải thành lập một đề án cụ thể, UBND thành phố sẽ chủ trì với sự phối hợp của rất nhiều các ban ngành từ Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Y tế, Lao đông, Công an... Việc thực hiện quy hoạch không phải là vấn đề có thể hoàn thành trong vài tháng hoặc vài năm, mà phải có lộ trình cụ thể, chia thành nhiều giai đoạn.
Tôi lấy ví dụ, chúng ta có thể chọn huyện Nhà Bè hoặc Thanh Đa, Bình Quới (quận Bình Thạnh) là những khu vực tương đối tách biệt với trung tâm để quy hoạch. Tất cả cơ sở kinh doanh dịch vụ "nhạy cảm" như quán bar, vũ trường, nhà hàng, nhà nghỉ, spa... sẽ được tập trung về đây. Những người có nhu cầu vui chơi, giải trí cho bớt căng thẳng trong công việc có thể đến đây với đầy đủ dịch vụ.
Tất cả tiếp viên nữ làm việc trong khu vực này phải có hợp đồng lao động quy định mức lương cụ thể với chủ cơ sở, tham gia bảo hiểm y tế... Hiện nay nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm cũng có hợp đồng, nhưng chủ yếu là để đối phó, che mắt cơ quan chức năng, các nhân viên nữ vẫn sống bằng thu nhập từ tiền bo của khách. Ngoài ra, các nhân viên nữ hoạt động trong khu vực này phải được thường xuyên đi khám sức khỏe định kỳ để bảo đảm không lây lan bệnh cho người khác.
- Nếu trong khu vực này xuất hiện mại dâm thì sẽ xử lý như thế nào?
- Chúng ta quy hoạch để tập trung tất cả dịch vụ nhạy cảm về đây cho dễ quản lý, giảm sự lây lan của bệnh AIDS chứ không thừa nhận mại dâm là một nghề. Tôi xin khẳng định lại như thế, đến nay quan điểm của Việt Nam vẫn không coi mại dâm là một nghề vì mại dâm là sự bóc lột nhân phẩm phụ nữ, thể hiện sự bất bình đẳng giới nghiêm trọng, xâm phạm thuần phong mỹ tục.
Việc phòng chống mại dâm phải được coi là nhiệm vụ quan trọng của toàn xã hội trong giai đoạn hiện nay và những năm tới. Vì thế, trong khu vực này mà có hoạt động mại dâm, nếu bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt quả tang thì họ sẽ vẫn bị xử lý theo luật hành chính như hiện nay.
- Khi tập trung những cơ sở kinh doanh dịch vụ nhạy cảm về một chỗ có thể ảnh hưởng đến người dân địa phương, ông nghĩ sao về điều này?
- Tất nhiên, khi đã có đề án cụ thể thì chúng ta sẽ phải tính tới vấn đề này. Chúng ta sẽ phải quy hoạch làm sao để khu vực này chỉ dành cho các ngành kinh doanh dịch vụ, các đơn vị trường học, bệnh viện, khu dân cư... sẽ không nằm trong khu vực này mà sẽ được di dời đi nơi khác.
TP.HCM có 15.000 (hay 150.000?) nữ bán dâm
Theo ông Quý, khác với mại dâm công khai trên đường phố, rất khó kiểm soát hoạt động mua bán dâm qua điện thoại, Internet hay xuất cảnh bán dâm, chưa kể các đường dây gái gọi hạng sang với những cô xưng danh người mẫu, diễn viên.
Hầu hết đại diện phòng LĐ-TB&XH các quận huyện có mặt tại hội thảo đều cho rằng hoạt động mại dâm diễn ra nhiều hơn, phức tạp hơn sau khi nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành luật Xử lý vi phạm hành chính có hiệu lực từ ngày 2.7.2012 (theo đó, không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm). Theo các vị này, mặc dù quy định nói trên có tính nhân đạo khi theo kết quả khảo sát, phần lớn “các chị” tham gia bán dâm đều vì hoàn cảnh khó khăn, nhưng cũng tỏ ra lo lắng vì “các chị” nay hoạt động “dạn dĩ” hơn trước.
Bà Nguyễn Thị Huệ, trưởng phòng can thiệp giảm tác hại ủy ban Phòng chống AIDS TP.HCM, cho biết hiện có ít nhất 15.000 nữ bán dâm có mặt khắp TP.HCM. Đại diện các quận huyện đã nêu ra hàng loạt giải pháp như: tuyên truyền, tăng cường kiểm tra xử phạt, kiểm tra thường xuyên cơ sở dịch vụ nhạy cảm khiến khách hàng ngại lui tới, vận động chủ nhà không cho những chủ kinh doanh vi phạm thuê nhà, vận động quán xá tại các “điểm nóng” không bán hàng cho người bán dâm... Nhưng thực tế cho thấy các giải pháp này đã không mang lại hiệu quả cao.
Theo đại diện quận Bình Thạnh, nhiều chủ cơ sở dịch vụ nhạy cảm khi vi phạm bị lập biên bản thì ung dung mở cơ sở khác và không thèm đóng phạt, còn “các chị” liên tục thay đổi địa bàn hoạt động, khi bị rượt đuổi thì dạt sang địa bàn giáp ranh để thoát thân.
Giải pháp: giảm tần suất bán dâm
Đồng cảm việc phần lớn “các chị” bán dâm vì hoàn cảnh khó khăn, đại diện Công an quận 4 cho rằng chỉ nên xử lý người mua dâm, nhưng nếu gửi thông báo về địa phương hay gia đình người mua dâm có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn khác. Ở góc độ khác, vị này cho rằng cảnh sát khu vực “biết tuốt”, vấn đề còn lại là có bao che hay không. Nhưng ý kiến khác cho rằng dẹp chỗ này chủ cơ sở sẽ mở chỗ khác, như vậy cũng không giải quyết được vấn nạn chung.
Một số ý kiến khác đề xuất hỗ trợ sinh kế bền vững cho người bán dâm hướng đến chuyển đổi cách mưu sinh. Theo ông Lê Văn Quý, hiện sở LĐ-TB&XH, hội Liên hiệp phụ nữ và ủy ban Phòng chống AIDS TP.HCM đang thí điểm mô hình hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho các chị có nhu cầu hoàn lương.
Ông Quý cho biết mô hình này không bắt buộc người bán dâm ngay tức khắc bỏ bán dâm, nhưng phải giảm tần suất bán dâm để đầu tư học nghề nghiêm túc và hướng đến việc kiếm sống bằng nghề được học. Đến nay mô hình này đã hỗ trợ 21 chị học các nghề cắt tóc, trang điểm, làm móng, nấu ăn... Ngoài ra còn kết hợp hỗ trợ tư vấn tâm lý, giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng kinh doanh và chăm sóc y tế.
Tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Huệ nhắc lại một đề xuất táo bạo từng được nêu ra tại các hội thảo về quản lý vấn nạn mại dâm trước đây, đó là việc thí điểm quy hoạch một “khu đèn đỏ” để quản lý hiệu quả. Bà cung cấp một thông tin đáng lưu ý: các “khu đèn đỏ” tại Thái Lan tuy “sáng đèn” nhưng quốc gia này không chính thức công nhận nghề mại dâm. Không thấy có ý kiến phản ứng khi bà Huệ gợi nhắc lại đề xuất này.
Vừa qua, ý kiến về việc quy hoạch thí điểm “khu đèn đỏ” tại TP.HCM để quản lý nhưng không chính thức công nhận mại dâm như một nghề, đã được đề xuất tại một cuộc hội thảo của sở Lao động, thương binh và xã hội TP.HCM. Tuy nhiên, “được” và “mất” từ phố đèn đỏ dường như vẫn còn “lệch kim cân” quá lớn, đòi hỏi Việt Nam nhất thiết phải cẩn trọng.
Hợp pháp hoá, được gì?
Thực tế, hoạt động mại dâm đang diễn ra phức tạp hơn sau khi nghị quyết của Quốc hội ngày 2.7.2012 chính thức không áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào cơ sở chữa bệnh đối với người bán dâm. Theo cục Phòng chống tệ nạn xã hội, cả nước hiện có trên 73.000 cơ sở kinh doanh “dịch vụ nhạy cảm” với hơn 48.000 nhân viên phục vụ. Trong đó TP.HCM có khoảng 14.000 –15.000 người hoạt động mại dâm, nhưng thực tế có khi còn cao hơn.
Thế nên, “phố đèn đỏ” được đưa ra như một cứu cánh cho đơn vị quản lý tệ nạn xã hội, nhằm đưa gái mại dâm vào khu vực “dễ kiểm soát”. Điều này nhìn sơ qua có vẻ hợp lý, bởi trong bối cảnh gái mại dâm tràn lan như hiện nay, việc “gom” về một điểm giúp cơ quan chức năng có biện pháp phòng ngừa rủi ro từ vấn nạn mua dâm và các tệ nạn liên quan như rửa tiền, cờ bạc, ma tuý…
Tuy nhiên thực tế phép tính “nhiều gái gọi = hợp pháp hoá mại dâm” vẫn còn bất đối xứng, bởi việc hợp pháp hoá không mang lại một xã hội yên ổn, lành mạnh và lạc quan hơn.
Phố đèn đỏ = giảm tệ nạn + giảm tỷ lệ hiếp dâm + tăng thu?
Việc quản lý “nghề mại dâm” tức hợp pháp hoá mại dâm không phải việc đơn giản, nếu không muốn nói là phức tạp khi ngành mại dâm dễ kéo theo nhiều vấn nạn khác. Ông Lê Đức Hiền, cục phó Phòng chống tệ nạn xã hội nhận xét “người ta đã ngộ nhận khi cho rằng mại dâm có từ cổ xưa, là nhu cầu chính đáng, một khi mại dâm được xem là một nghề thì sẽ bớt được hiếp dâm trẻ em, bóc lột tình dục, lây lan tình dục, tăng thu ngân sách… Nhưng mại dâm luôn gắn liền với những vấn đề xã hội phức tạp khác, khiến cho việc quản lý càng gặp khó khăn hơn”.
Đơn cử như Thuỵ Điển, quốc gia đã từng hợp pháp hoá mại dâm trong 30 năm cuối thế kỷ 20. Tuy nhiên, đến năm 1998 nước này lại gấp rút ban hành bộ luật cấm hoạt động mại dâm, vì dịch vụ này đã “phát triển” ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ, làm tổn hại đến các giá trị đạo đức xã hội.
Còn tại các “phố đèn đỏ” ở Thái Lan, ngoài dịch vụ mại dâm còn khá nhiều sòng bạc và các dịch vụ “hao của tốn tiền”. Thực tế, ngành mại dâm ở Thái không hợp pháp, tuy nhiên những người từ 18 tuổi có thể đi quán bar, vũ trường với nhau. Đây chính là nơi sinh ra các hoạt động buôn bán sử dụng ma tuý, tống tiền và đặc biệt là đường dây buôn phụ nữ xuyên quốc gia bao gồm: Myanmar, Trung Quốc, Campuchia.
Chưa dừng ở đó, nạn hiếp dâm – vấn đề được kỳ vọng là sẽ giảm nhờ “phố đèn đỏ”, nhưng thực tế lại tăng mạnh. Tỷ lệ hiếp dâm ở Thái Lan cao nhất Đông Nam Á, với 7 – 8 vụ trên 100.000 dân, cao gấp hai lần Philippines, ba lần Singapore và năm lần Việt Nam. Còn tại bang Nevada của Mỹ, nơi hợp pháp hoá mại dâm thì tỷ lệ hiếp dâm năm 2009 là 43 trường hợp trên 100.000 dân, vượt xa tỷ lệ trung bình của cả nước là 30 vụ.
Vấn đề tăng “nguồn thu” cho quốc gia thông qua phố đèn đỏ cũng là một trong những lý do đáng để cân nhắc kỹ lưỡng. Tại Hà Lan, ngành công nghệ tình dục mỗi năm đem lại khoảng 1 tỉ USD, nhưng tình trạng buôn người ở Hà Lan cực kỳ nhức nhối, gây ra nhiều vấn nạn gây hao tốn ngân sách. Ở thành phố Bonn của Đức, năm 2011 đã thu về 18.200 USD tiền thuế từ dịch vụ mại dâm, nhưng đã phải chi tới 116.000 USD để bảo đảm an ninh cho các phố đèn đỏ.
Thắng Nguyễn – Anh Thuỳ

Monday, January 28, 2013

Bài viết hay(460)


chongthamnhung1

Chống tham nhũng là đồng minh của dân chủ

Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi (Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005).

Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).

Chế độ độc tài là một thể chế nhà nước chuyên quyền mà ở đó nhà nước được cai trị bởi một cá nhân: kẻ độc tài (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia).

Xã hội Việt Nam thiếu dân chủ; dân chủ là mục tiêu, là nhu cầu sống còn của đất nước hiện nay. Nhưng kẻ thù của dân chủ lại chính là chế độ độc tài. Phương pháp đấu tranh loại bỏ chế độ độc tài được nhân loại văn minh ngày nay lựa chọn là đấu tranh bất bạo động.

Chế độ độc tài đẻ ra tham nhũng. Tham nhũng chính là “lý tưởng” thật của chế độ độc tài. Tham nhũng là chất keo gắn kết của chế độ độc tài. Ngược lại không có chế độ độc tài thì không thể tham nhũng tràn lan, nhưng tham nhũng lại làm xói mòn và dẫn đến hủy diệt chế độ độc tài. Đây chính lý do giải thích một mâu thuẫn là tại sao chế độ độc tài cũng kêu gọi chống tham nhũng, nhưng chỉ chống nửa vời vì không còn tham nhũng thì cũng không còn chế độ độc tài. Tham nhũng và chế độ độc tài là hai mặt của “sinh vật ký sinh” trong xã hội. Nên thường một người mới lên làm lãnh đạo thì đều tuyên bố sẽ tuyên chiến với tham nhũng, nhưng trong đó chỉ có 20%  là thật tâm còn đến 80% là giả dối. Do tách rời lợi ích của số ít với lợi ích của toàn dân, lợi ích của đất nước nên dẫn đến: chống ngoại xâm thì lo mất bạn; chống tham nhũng thì sợ thù oán. Trong cuộc chiến chống tham nhũng sẽ phân định ai là vì thể chế độc tài ai là vì lợi ích nhân dân.

Người chống tham nhũng thật sự là người dám tin vào nhân dân, dựa vào nhân dân, minh bạch hoạt động nhà nước và lấy đó là nguồn lực chính để chống tham vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước. Chống tham nhũng mà không dựa vào nhân dân là không thể và chỉ là dối trá; hậu quả nguy hiểm là thất bại: hoặc thỏa hiệp, trở thành đồng bọn với tham nhũng hoặc ngả làm tay sai bán nước để duy trì lợi ích.

Trong một chế độ độc tài không thể nào sinh ra một con người có quá khứ hoàn toàn trong sạch, không có chút tham nhũng. Hãy xếp lại quá khứ của mọi cá nhân để vì cuộc đấu tranh hiện tại và vì tương lai, xem tất cả những cá nhân, tổ chức chống  tham nhũng đều là đồng minh của dân chủ, nhân dân phải ủng hộ họ. Ai chống tham nhũng mà dựa vào nhân dân, dám minh bạch là người chống tham nhũng thực sự và là người của nhân dân, của đất nước. Xã hội không nên chỉ đặt niềm tin và trông chờ ở một cá nhân mà thay bằng việc ủng hộ, sát cánh và giám sát những hành động của họ. Độc lập dân tộc, tự do dân chủ không thể van xin mà có, mà phải đấu tranh giành giữ.

Hà Đình Sơn - Hà Nội, ngày 26/01/2013

Ngôn ngữ nghị trường – chuyện nhỏ mà không nhỏ


NSHungChuyện xưng hô trong các cuộc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội cũng như ngôn ngữ tại nghị trường chứa đựng nhiều sự nhầm lẫn về tư cách và địa vị của những người tham gia.

 Từ cách gọi “đồng chí”


“Đồng chí” là một danh từ phổ biến trong sinh hoạt nghị trường ở Việt Nam và gần như trở thành từ xưng hộ cửa miệng trong các giao tiếp công việc.


Đơn cử, ngày 12-11-2012, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng phát biểu trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII: “Về sửa Nghị định 84 như chúng tôi đã báo cáo, Thủ tướng Chính phủ mà trực tiếp là hai đồng chí Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Vũ Văn Ninh vào cuộc họp tháng 7 vừa qua đã nghe Bộ Tài chính và Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ báo cáo việc thực hiện Nghị định 84. Qua nghe tình hình báo cáo hai đồng chí Phó Thủ tướng đã có kết luận”.


Hoặc phát biểu ngày 15-11 của đại biểu Bế Xuân Trường (tỉnh Bắc Kạn): “… Đảng lãnh đạo quân đội trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt, đồng chí Tổng bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương, điều này đã được ghi trong Điều lệ Đảng. Còn đồng chí Chủ tịch nước trên cơ sở lãnh đạo tập thể, phát huy vai trò của cá nhân, chịu trách nhiệm trước tập thể về nhiệm vụ này, như vậy nội hàm của Chủ tịch nước với lực lượng vũ trang là gì?”.


Theo bản gỡ băng thảo luận tại hội trường Quốc hội sáng 12-11 được Văn phòng Quốc hội công bố, có 41 lần từ “đồng chí” được các đại biểu cũng như quan chức Chính phủ sử dụng. Thậm chí tại phiên làm việc của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội sáng 24-4, từ này cũng được sử dụng đến 154 lần.


Vậy từ “đồng chí” có từ bao giờ và ý nghĩa của nó ra sao? Trong tiếng Anh, “đồng chí” là  comrade, về ngữ nghĩa có thể hiểu là người bạn, đồng nghiệp hoặc đồng minh. Theo từ điển Wikipedia, những từ có ý nghĩa tương tự được những người theo phong trào xã hội chủ nghĩa ở châu Âu sử dụng từ giữa thế kỷ XIX nhằm thay thế cho các từ truyền thống thời đó như Mister (quý ông), Miss (quý cô), Missus (quý bà) trong cách xưng hô. Lần đầu tiên từ comrade xuất hiện trong tiếng Anh với nghĩa tương tự là trên tạp chí Justice (Công lý), xuất bản năm 1884.


Từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2006 của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “đồng chí” là “người cùng chí hướng chính trị, trong quan hệ với nhau”, “từ dùng trong Đảng Cộng sản để gọi đảng viên”, “từ dùng trong xưng hô để gọi một người với tư cách là đảng viên cộng sản, đoàn viên một đoàn thể cách mạng hoặc công dân một nước xã hội chủ nghĩa”. Đây cũng là cách hiểu và cách sử dụng phổ biến của từ này trên thế giới.


Với ý nghĩa như vậy, việc sử dụng từ “đồng chí” ở diễn đàn Quốc hội là không hợp lý. Chỉ cần nhìn vào tỉ lệ biểu quyết các dự án luật ở Quốc hội là biết họ không “cùng chí hướng” với nhau, khi luôn có một tỉ lệ từ vài phần trăm đến vài chục phần trăm số đại biểu có ý kiến khác với phần còn lại. Có những vấn đề gây tranh cãi tại Quốc hội như dự án bauxite Tây Nguyên, dự án điện hạt nhân, dự án đường sắt cao tốc. Có dự án được thông qua hoặc bị bác bỏ. Bên cạnh đó, Quốc hội có một tỉ lệ đáng kể đại biểu là người ngoài Đảng, chiếm khoảng 10% vào thời điểm công bố kết quả bầu cử. Vì vậy, dùng ngôn ngữ chính trị của Đảng với họ là không hợp lý. Mặc dù tìm kiếm sự đồng thuận là bản chất của hoạt động chính trị, nhưng diễn đàn Quốc hội là nơi thảo luận, tranh luận giữa những người được dân bầu để tìm ra các quyết sách đúng cho đất nước. Đã là thảo luận, tranh luận thì bao giờ cũng có những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.


Đại biểu Quốc hội hay đảng viên?


Sự nhầm lẫn giữa diễn đàn Quốc hội với các diễn đàn khác cũng xảy ra trong nhiều trường hợp khác, đặc biệt là các cuộc tiếp xúc cử tri. Nó cũng không chỉ xảy ra với các đại biểu Quốc hội, mà còn xảy ra với các cử tri.


Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri, các tấm pa-nô, áp-phích đều “nhiệt liệt chào mừng đồng chí bí thư”, “nhiệt liệt chào mừng đồng chí chủ tịch”. Trong các phát biểu, các chức danh này cũng được sử dụng, thay vì gọi đúng tư cách của họ là đại biểu Quốc hội.


Ngày 1-12-2012, cử tri Nguyễn Khắc Thịnh (phường Giảng Võ – Hà Nội) đã chất vấn đại biểu Quốc hội Nguyễn Phú Trọng tại cuộc tiếp xúc cử tri: “Nghị quyết Trung ương 4 nói một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái. Xin đề nghị Tổng bí thư làm rõ một bộ phận không nhỏ ấy nằm ở đâu?”.


Tại nhiều cuộc tiếp xúc cử tri khác, những cụm từ như “kính thưa đồng chí Chủ tịch nước”, “đề nghị Thủ tướng Chính phủ”, “xin đồng chí Bí thư”,… được nhắc đi nhắc lại nhiều lần.


Điều này phản ánh một sự nhầm lẫn cơ bản về tư cách của người tiến hành tiếp xúc cử tri. Đứng trước các cử tri khi đó, không có ai là Tổng Bí thư, không có ai là Chủ tịch nước, không có ai là Thủ tướng, và không có ai là Bí thư. Họ chỉ có một tư cách duy nhất là đại biểu Quốc hội, đi gặp cử tri để báo cáo kết quả làm việc, trả lời các chất vấn và lắng nghe ý kiến của cử tri. Ít khi thấy có ai đó gọi họ cho đúng danh phận là đại biểu Quốc hội Nguyễn Tấn Dũng, đại biểu Quốc hội Trương Tấn Sang, đại biểu Quốc hội Lê Thanh Hải,…


Thể hiện bản chất của hệ thống chính trị


Thói quen xưng hô nói trên không đơn thuần là vấn đề giao tiếp. Nhìn vào lịch sử và bản chất hệ thống chính trị Việt Nam, chúng ta thấy rằng cách xưng hô này phản ánh những vấn đề đáng lưu ý hơn nhiều.


Sự nhầm lẫn về tư cách đại biểu Quốc hội và tư cách quan chức của Đảng có căn nguyên chính trị và căn nguyên lịch sử. Hệ thống chính trị ở miền Bắc Việt Nam kể từ năm 1954 và trên cả nước từ 1975 do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Điều này diễn ra trên thực tế và được thể chế hóa tại các bản Hiến pháp 1980 và 1992. Điều này dẫn đến hai hiện tượng: Đảng làm thay Nhà nước và các quan chức bên phía Nhà nước cũng đồng thời là quan chức bên Đảng.


Trong thời kỳ 1954-1975, các quyết sách lớn đều trực tiếp từ Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương, chứ không phải đến từ Chủ tịch nước hay Hội đồng Quốc phòng hay Bộ Quốc phòng. Lịch sử ghi nhận Nghị quyết 15 tháng 1-1959 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vạch ra phương pháp đấu tranh thống nhất đất nước, chứ không phải một đạo luật hay sắc lệnh nào do Quốc hội hay Chủ tịch nước ban hành. Cho đến 1975, các quyết định liên quan đến chiến trường cũng được quyết định bằng các nghị quyết của Bộ Chính trị. Các nghị quyết này được trực tiếp phổ biến đến các chiến trường.


Sau khi thống nhất đất nước năm 1975, tình trạng Đảng làm thay Nhà nước tiếp tục diễn ra. Hai quyết định quan trọng về kinh tế thời kỳ đó là Khoán 100 và Khoán 10, thực chất là Chỉ thị 100-CT/TW ngày 13-1-1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị tháng 4-1988 về khoán trong nông nghiệp.


Cho đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, hoạt động lập pháp của Quốc hội mới bắt đầu thể hiện rõ hơn vai trò của mình trong đời sống chính trị, với việc thông qua nhiều đạo luật quan trọng như Bộ Luật Hình sự (1985), Luật Hôn nhân và Gia đình (1986), Luật Đất đai (1987), Luật Đầu tư Nước ngoài (1987),… và dần dần thể chế hóa các quyết định chính trị của Đảng.


Cho đến nay, nhiều quan chức Chính phủ khi bị chất vấn tại Quốc hội đã trả lời rằng “vấn đề này đã báo cáo với tổ chức Đảng” để né tránh vấn đề và né tránh trách nhiệm. Bên cạnh đó, có đến 90% số đại biểu Quốc hội đồng thời là đảng viên. Tất cả những đặc điểm này của hệ thống chính trị khiến cho ranh giới giữa diễn đàn của Đảng và diễn đàn Quốc hội trở nên mờ nhạt, dễ phát sinh sự nhầm lẫn, tâm lý “phiên phiến”.


Mặt khác, việc cử tri gọi các đại biểu của mình là Chủ tịch nước, Thủ tướng, là Bộ trưởng, là Chủ tịch cũng thể hiện một hiện tượng khác, đó là một người vừa là đại biểu Quốc hội, vừa là quan chức hành pháp. Điều này khiến cho nhiều người đặt câu hỏi: Các vị ngồi ở diễn đàn Quốc hội với tư cách gì?


Cần rạch ròi tư duy


Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra sự rạch ròi cần thiết phải có trong quan hệ giữa Đảng và chính quyền, cũng như sự rạch ròi cần thiết giữa các nhánh quyền lực trong nội bộ chính quyền. Đó là Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước vì vi phạm nguyên tắc pháp quyền, đó là đại biểu Quốc hội không được kiêm nhiệm chức danh hành pháp vì lý do xung đột lợi ích.


Nguyên tắc pháp quyền chỉ cho phép ý chí chính trị của các cá nhân, đảng phái được thực thi trên thực tế thông qua các cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và không được can thiệp vào các quyết định của chính quyền. Điều này được các lãnh đạo Đảng nhắc đến nhiều lần, tuy nhiên hiệu quả thực thi còn là điều phải đánh giá thận trọng.


Mặt khác, sự phân công, phân nhiệm giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong thiết kế bộ máy nhà nước chúng ta hiện nay còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn. Khi là một đại biểu của dân, có nghĩa là người đó phải dùng quyền lực được dân trao cho để tác động và giám sát việc thực thi pháp luật của các quan chức hành pháp và tư pháp. Vậy thì hóa ra vị Bộ trưởng kiêm đại biểu Quốc hội sẽ phải tự giám sát chính mình, đồng thời, khi ngồi ở diễn đàn Quốc hội, có lúc ông ta là đại biểu Quốc hội, có lúc lại là Bộ trưởng. Ông ta sẽ đứng về phía ai, Chính phủ hay Quốc hội trong phiên chất vấn của mình?


Rõ ràng sự nhầm lẫn về cách xưng hô không chỉ là vấn đề giao tiếp, mà còn phản ánh sự thiếu rạch ròi trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, và giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam sẽ khó có thể thực hiện được, nếu không giải quyết triệt để vấn đề này.
Trịnh Hữu Long

Lạm bàn vấn đề Đảng với Điều 4 Hiến pháp

 
1277712861_luat 020Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 viết (tóm tắt):

1. Đảng Cộng sản Việt Nam …. là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.  2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.  3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Hiện nay có mấy quan niệm khác nhau về Điều 4 Hiến pháp.

1) Quan niệm hạ thấp ý nghĩa, tác dụng của Điều 4. Thí dụ ông Trần Trọng Tân nguyên Trưởng ban tư tưởng văn hóa Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) nói : « Hiến pháp chỉ thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, không phải Hiến pháp cho phép Đảng được lãnh đạo Nhà nước và xã hội ; hiểu Điều 4 của Hiến pháp như là “giấy phép” cho Đảng là không đúng. » [1]. Chẳng rõ cách giải thích này có phải là nhằm mục đích hạ nhiệt phản ứng của những người phản đối sự áp đặt Điều 4 hay không.

Thực ra Hiến pháp là văn bản pháp luật cơ bản, lâu dài, có hiệu lực pháp lý cao nhất của một nước. Vì pháp luật là « những quy phạm hành vi do nhà nước ban hành mà mọi người dân buộc phải tuân theo » [2], do đó tất cả các điều văn được đánh số thứ tự trong Hiến pháp đều có tính ép buộc, cưỡng chế ; ai vi phạm Hiến pháp sẽ bị xử lý (Điều 123), nghĩa là có thể bị bỏ tù. Thí dụ Điều 14 nói Hà Nội là thủ đô nước ta đâu phải chỉ là sự thừa nhận, mà là một quy định pháp lý, ai không tuân theo là vi hiến, tức phạm pháp.

Như vậy Điều 4 không chỉ thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo và cho phép ĐCSVN thực thi quyền lãnh đạo ấy mà còn buộc Nhà nước và xã hội, trong đó có nhân dân, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, không phục tùng là vi hiến. Ý nghĩa, tác dụng của Điều 4 là thế. Dĩ nhiên ai cũng biết rằng phục tùng một cách tự nguyện thì tốt hơn khi bị ép buộc.

2) Quan niệm phổ biến trong dư luận là đánh giá quá cao ý nghĩa tác dụng của Điều 4, cho rằng nhất thiết phải có Điều 4 thì mới giữ được sự lãnh đạo của ĐCSVN, bỏ Điều 4 là xóa bỏ sự lãnh đạo ấy ; từ đó bất kỳ ý kiến nào đòi bỏ Điều 4 đều bị coi là chống Đảng. Mặt khác, cũng vì đánh giá như vậy mà những người phản đối sự lãnh đạo của ĐCSVN cũng nghĩ rằng chỉ cần bỏ Điều 4 thì sẽ xóa bỏ được sự lãnh đạo của Đảng.     

Thực ra vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và Hiến pháp là hai vấn đề khác nhau. Hiến pháp không quy định về vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền không có nghĩa là đảng đó mất quyền lãnh đạo. Vai trò ấy quyết định bởi lòng dân chứ không bởi Hiến pháp. Lịch sử đã chứng minh đây là một chân lý không ai có thể bác bỏ.

Như ở Liên Xô, trước năm 1977, Hiến pháp không nói về vai trò lãnh đạo nhà nước của ĐCS Liên Xô, nhưng Đảng vẫn lãnh đạo xây dựng nước này trở thành siêu cường. Từ 1977 Hiến pháp có Điều 6 quy định ĐCS Liên Xô giữ quyền lãnh đạo đất nước, nhưng từ đó Đảng lại suy thoái nhanh và chỉ sau 14 năm thì Đảng tan rã, bị mất quyền lãnh đạo. Hậu quả làm nhà nước sụp đổ, xã hội rối loạn, tài sản công do nhân dân làm ra trong hơn 70 năm bị tầng lớp tư bản mới chiếm đoạt. Nguyên Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc nói « Liên Xô sụp đổ cũng là lúc cái điều trong Hiến pháp về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản được khẳng định rất mạnh » ; sự sụp đổ ấy « có phải là diễn biến hòa bình đâu » mà « là nhân dân vùng dậy lật đổ » [3]. Rõ ràng, khi đã mất lòng dân thì đặc quyền lãnh đạo của ĐCS Liên Xô, dù có Điều 6 bảo đảm, cũng vẫn bị mất.  

Trung Quốc từ năm 1982 đến nay các điều văn Hiến pháp hoàn toàn không có từ Đảng cộng sản, tức không có quy định về vai trò lãnh đạo của ĐCSTQ, nhưng Đảng vẫn lãnh đạo như cũ.

Tóm lại, trừ các nước độc tài chuyên chế ra, vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền trong các nước dân chủ không liên quan gì đến Hiến pháp mà hoàn toàn quyết định bởi lòng dân, tức sự tín nhiệm của Đảng.

Sau Cách mạng tháng Tám, ĐCSVN tuy chỉ có vài nghìn đảng viên nhưng đã được nhân dân suy tôn làm đảng lãnh đạo. Dù chẳng viết điều đó vào Hiến pháp 1946 và 1959, thậm chí có lúc còn tuyên bố giải thể, song Đảng vẫn giữ vững vai trò ấy và đã lãnh đạo cực kỳ xuất sắc. Tất cả là do ĐCSVN có đường lối đúng, đảng viên dẫn đầu hy sinh vì dân vì nước, biết bao đảng viên đã ngã xuống. Đảng không coi lãnh đạo đất nước là đặc quyền đặc lợi mà coi là sứ mạng lịch sử trao cho, là nhiệm vụ nặng nề phải gánh lấy, dù biết phải hy sinh lợi ích riêng, kể cả tính mạng. Vì thế tất nhiên ĐCSVN giành được tín nhiệm tuyệt đối của nhân dân. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và mấy cuộc kháng chiến chống xâm lược là những sự thực lịch sử không thể phủ nhận, đem lại uy tín cao cho Đảng.

Về sau, do học theo Điều 6 Hiến pháp Liên Xô mà Hiến pháp 1980 và 1992 của ta có thêm Điều 4 ; nhưng ĐCSVN không vì thế mà mạnh lên, ngược lại càng suy thoái biến chất tới mức như Nghị quyết 4 nhận định, khiến lòng tin của dân ngày một giảm sút và tiềm ẩn nguy cơ tự tan vỡ từ bên trong [4]. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lo nghĩ : « Bây giờ trong Đảng [ĐCSVN] cũng có sự phân hoá giàu-nghèoMai kia Đảng này sẽ là đảng của ai? Có giữ được bản chất là đảng cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc không?  »[5]. Nỗi lo ấy rất có lý, vì khi ĐCSVN do quan liêu, tham nhũng, đặc quyền đặc lợi mà đánh mất bản chất cách mạng thì nước ta tất sẽ đi theo vết xe đổ của Liên Xô.

Trên thế giới ngày nay hầu hết các nước đều do một hoặc vài chính đảng lãnh đạo. Lịch sử Việt Nam trao cho ĐCSVN sứ mạng lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng nước ta trở thành một nước dân chủ tự do, giàu mạnh văn minh. ĐCSVN đã hoàn thành sứ mạng giành độc lập, thống nhất tổ quốc và hiện đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước. Tuy rằng thời gian qua trong Đảng xuất hiện tình trạng suy thoái biến chất nguy hiểm ở một bộ phận không nhỏ đảng viên cán bộ khiến cho uy tìn của Đảng bị giảm sút, nhưng đa số nhân dân ta vẫn ủng hộ Đảng.

Hơn nữa, sau gần 70 năm cầm quyền, ĐCSVN đã xây dựng được một hệ thống chính trị, tư tưởng, văn hóa, tổ chức vững mạnh ở tất cả mọi cơ sở dân cư, tổ chức xã hội, kinh tế, chính trị, quân đội …, nắm chặt cương vị lãnh đạo từ cấp thấp nhất tới cao nhất trong cả nước. Các thế lực ngoài Đảng dù mạnh đến đâu cũng không xóa bỏ nổi vai trò lãnh đạo của ĐCSVN. Nguy cơ làm Đảng mất quyền lãnh đạo chỉ có thể đến từ trong Đảng, Hiến pháp chẳng thể cứu được, như bài học Liên Xô đã cho thấy.

Trưởng ban Nội chính Trung ương Đảng Nguyễn Bá Thanh mới đây nói : « Tình hình của Đảng đang lâm nguy. Nếu như không mở được ‘cuộc chiến’ giành lại lòng tin của chính đảng viên và của dân thì gay đến nơi rồi. » [6]

Đúng vậy, chỉ có giành lại lòng tin tuyệt đối của nhân dân thì ĐCSVN mới giữ được vai trò lãnh đạo. Lòng tin mạnh hơn luật pháp và không thể áp đặt, Điều 4 không làm dân thêm tin Đảng mà còn bị một bộ phận không nhỏ đảng viên coi là vũ khí đem lại đặc quyền đặc lợi cho họ; chớ nên tin nó là bảo bối có thể giữ được vai trò lãnh đạo của Đảng. Khi Đảng đã suy thoái mà còn trông chờ vào Điều 4 thì khác gì người sắp chết đuối trông chờ vào cọng rơm.

Cách duy nhất đúng là thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết 4, sao cho toàn thể đảng viên giữ được phẩm chất tiên phong, liêm khiết, Đảng thực sự trong sạch vững mạnh. Đây là một cuộc chiến cực kỳ gian nan, đau khổ, vì phải chiến đấu với chính mình, với đồng chí, người thân của mình. Nhưng cách làm này có lợi cho dân tộc và cả cho ĐCSVN, vì thế là thượng sách.
Hồ Anh Hải 
 Nhiều lúc muốn vứt mẹ hết thảy vào sọt rác
Những mua những bán
Báo cáo báo mèo
Những bình minh bắt đầu bằng alarm báo hiệu họp hành
Những ngày nôn nao sợ điều gì không kịp deadline
Những cơn mơ thấy inbox đỏ lừ những email chưa đọc …
Nhiều lúc muốn vứt quách cho nhẹ đầu nhẹ óc  
Những iphone, email, password, account  
Những Facebook, Yahoo, WordPress, Google  
Những thứ công cụ giải phóng tay chân nhưng bủa vây màng não …
Nhiều lúc muốn mù để đừng sáng sáng lên ba-sàm hay blog nọ kia đọc báo  
Để không biết, không buồn và nghĩ ngợi linh tinh  
Để không thở dài và đôi khi phẫn chí dẩu môi Đan Mạch chuyện xứ mình Chuyện tử tế dài nhiều tập …
Nhiều lúc chỉ muốn lồng ngực trống không để không còn cảm giác  
Để không cần ai bố thí cho mình Hiến Pháp  
Để không cần ai định nghĩa dùm mình Tự Do  
Để không cần ai vẽ lề
Để không cần ai dạy dỗ làm người thế nào cho phải đạo
Nhiều lúc hèn hèn  
Cũng thử giả vờ lơ láo  
Bắt chước người đời không thấy – không nghe  
Tự tiêm cho mình vài ba mũi gây mê  
Được ít giờ sau lại tỉnh …
Nhiều lúc Chí Phèo  
Thấy xung quanh Vũ Đại ngổn ngang lò gạch  
Thị Nở bỏ làng đi nên tuyệt chủng cháo hành  
Lũ Bá Kiến đông còn hơn quân Nguyên  
Chén rượu uống chưa khỏi mồm đã tỉnh
Nhiều lúc buồn đời ngứa tay  
Chỉ biết túm lấy câu thơ mà đánh. 
Võ Trung Hiếu
Khẩu nghiệp
Người xưa nói: “Họa từ miệng ra, lời nói không cẩn thận nhỏ thì là ảnh hưởng đến sự vinh nhục của cá nhân, lớn thì dẫn đến nước mất nhà tan”
Tục ngữ Việt nam có những câu:
“Lời nói không mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
hoặc:
“Tiếng chào cao hơn cổ”
hoặc
“Ngọt mật chết ruồi”. .v. v...
Những câu tục ngữ này chứng tỏ sự lợi hại của lời nói có thể có ảnh hưởng thu phục nhân
tâm, hoặc tạo nên nguy hiểm chết người, và từ đó gây nên những nghiệp quả không tốt.
Khẩu nghiệp là kết quả của cái miệng. Mà nhiệm vụ của cái miệng bao gồm sự ăn uống và cách diễn đạt tư tưởng tình cảm của con người. Khẩu nghiệp muốn ám chỉ hậu quả của lời nói, và hậu quả của lời nói có thể tốt hoặc xấu.
Sau đây là một câu chuyện trong quốc văn giáo khoa thư. Một hôm ông phú hộ ra lệnh cho người làm giết heo và chọn phần quí nhất của con heo làm cho ông một món ăn. Người làm vâng lời và sau đó dâng cho ông một món ăn mà phần quí nhất là cái lưỡi heo. Ông phú hộ hỏi tại sao thì người làm trả lời rằng cái lưỡi là bộ phận quí nhất, vì nhờ cái lưỡi mà con người có thể diễn đạt những tình cảm chân thành, những ý tưởng cao siêu, ích nước lợi dân và có ích cho nhân loại. Ít lâu sau, ông phú hộ lại ra lệnh cho người làm giết heo và chọn một bộ phận xấu xa nhất làm cho ông một món ăn. Người làm vâng lời và sau đó dâng cho ông phú hộ một dĩa đồ ăn mà bộ phận xấu xa nhất lại cũng là cái lưỡi heo.
Ông phú hộ hỏi tại sao, người làm bèn trả lời rằng vì cái lưỡi có thể nói lên những lời nói xấu xa nhất tàn ác nhất làm tan nát gia đình xã hội và có thể khuynh đảo nước nhà ngay cả làm hại cho nhân loại. Ông phú hộ vô cùng ngợi khen sự thông minh của người làm. Thật là cái lưỡi không xương nhiều đường lắc léo.
Người xưa có nói “nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ tán bang” nghĩa là một lời nói có thể xây dựng nước nhà, mà cũng có thể làm tan nát nước nhà.
Phật giáo cho rằng con người có ba cái nghiệp chánh, thân, khẩu và ý, mà xem ra khẩu nghiệp lại có thể gây nên tai hại nhiều nhứt hơn cả hai nghiệp kia tức là thân nghiệp và ý nghiệp.
Nghiệp tốt của lời nói được gọi là thiện khẩu nghiệp. Nếu miệng người đọc những lời cầu nguyện cùng các đấng thiêng liêng cầu nguyện cho chúng sanh cùng thế giới thì những lời cầu từ miệng nói ra như là phun châu nhả ngọc. Nếu miệng nói ra điều lành, điều tốt cho mọi người và cho chúng sanh, hoặc nói lên lời giáo hoá, dạy dỗ con người như phát ra ánh sáng đẹp đẻ phá trừ ngu si tăm tối, hoặc thốt lên lời nói thành thật biểu lộ tình thương yêu an ủi kẻ khổ đau, thì những lời nói ấy là thiện nghiệp.
Cái lưỡi là một lợi khí không nhỏ của nhơn sanh. Nó có thể tạo lợi ích mà cũng có thể gây tai hại. Muốn làm hại người khác, người ta không ngần ngại dùng cái lưỡi để bóp méo sự thật để biến kẻ ân thành oán, tạo nên sự giận dữ, hận thù, dẫn đến chỗ tương sát tương tàn, biết bao thảm kịch nước mất nhà tan cũng đều do miệng lưỡi, cái lưỡi có thể tạo những sự chia rẽ, những sự phân tranh phá tan sự đoàn kết, tình thân yêu của nhơn loại, nó cũng là nguồn cội của bao sự bất hòa, hiềm khích.
Khẩu thì có bốn nghiệp: nói thêu dệt, nói không thật, nói lời ác, nói lưỡi hai chiều.
Nói lời thêu dệt thì đại khái như đặt ra những chuyện xấu nhằm làm tổn hại danh dự của người nào, khiến người khác có ấn tượng xấu về người này.
Nói không thật, hay vọng ngữ, là điều mọi người dễ phạm phải. Nhiều khi nói không đúng sự thật, nói lời dối ngụy mà vô tình không hay biết.
Nói lời ác, là dùng lời thô lỗ mắng người khác, chọn những câu thật tục tĩu khó nghe, hay những lời độc địa, như vậy gọi là ác khẩu.
Nói lưỡi hai chiều, cũng như kẻ mang hai bộ mặt, trước mặt anh A thì nói xấu anh B, trước mặt anh B thì nói xấu anh A, gây mâu thuẫn giữa hai người, làm cho họ xích mích với nhau như nước với lửa, trong khi ấy thì mình đứng ở ngoài bàng quan xem hai bên kình địch nhau, nghêu cò tranh chấp cho ngư ông thủ lợi.
Những lời nói nhiều khi rất ngọt ngào, làm cho người khác dễ dàng tin theo, nhưng sự thật thì toàn là những dối trá thêu dệt, gây nên sự hiểu lầm giữa con người và con người. Người ta hay gọi là ngọt mật chết ruồi, hay còn gọi là khẩu mật phúc kiếm, nghĩa là lời nói ngọt ngào như mật, mà bụng thì chứa gươm đao. Tục ngữ Việt Nam cũng còn có câu khẩu Phật tâm xà nghĩa là miệng nói lời hiền lành như Phật, mà lòng dạ độc ác như rắn độc. Khẩu Phật tâm xà chỉ loại người nham hiểm, miệng giả bộ nói lời hiền từ mà lòng dạ ác độc như rắn rít.
Khẩu Phật tâm xà đồng nghĩa khẩu mật phúc kiếm, chỉ người nham hiểm, miệng nói ngon ngọt là lòng dạ rất ác độc. Trái ngược với khẩu Phật tâm xà là khẩu tâm như nhứt là lời nói và lòng dạ như một, nghĩa là lòng suy nghĩ thế nào thì nói ra thế nấy.
Tất cả những lời nói đều do tâm mà ra. Khi tâm điên đảo xấu xa, tàn ác muốn mưu hại người khác, tâm sẽ khiến cho miệng lưỡi dùng đủ mọi mánh khoé, hoặc ngọt ngào, hoặc hung dữ, hoặc dối trá thêu dệt, nói xấu người khác và có thể làm tan nát cả cuộc đời của con người.
Trong một bối cảnh rộng lớn hơn, lời nói có thể làm tạo nên hiềm khích giữa các quốc gia hoặc cộng đồng nhơn loại, tạo nên sự tàn sát giữa quốc gia, nhà tan cửa nát, nhân loại điêu linh.
Sau đây là câu chuyện từ quyển quốc văn giáo khoa thư. Một người khách cưỡi ngựa qua một làng nọ, tiếng vó ngựa làm giật mình một con chó đang nằm ngủ bên đường. Con chó hoảng sợ sủa vang, người khách tức giận, bèn la lên “chó dại, chó dại,” người đi đường tưởng thật bèn rượt theo đập chết con chó. Nguy hiểm thay! chỉ vỏn vẹn mấy tiếng để vu cáo con chó mà có thể giết chết được con vật. Còn trong lịch sử, ta cũng thường thấy nhiều vị hôn quân nghe lời dèm xiểm của kẻ nịnh thần mà giết kẻ tôi trung.
Về phương diện nhân sinh, khi người khác nhận ra những lời giả dối, lường gạt hại người, họ sẽ không còn tin tưởng, mà trái lại sẽ khinh miệt, ghê tởm và sợ hải những người giả dối. Không còn ai muốn giao tiếp với người giả dối, và họ sẽ nhận nhiều đau khổ từ hậu quả của những việc mình làm. Luật lệ Hoa kỳ phạt tội nặng những người giả dối tuỳ theo hậu quả của những hành động gian dối. Khi nói dối trước toà án, người nói dối coi như lũng đoạn công lý và có thể bị phạt tù tới năm năm. Ở Anh quốc, tội nói dối trước toà có thể bị phạt tù chung thân khổ sai.
Tôn giáo coi nói dối là một tội lỗi, và là một Giới cấm mà ta có thể thấy trong bất cứ tôn giáo nào, từ Phật giáo, đến Khổng giáo, đến Thiên Chúa giáo.
Đạo Cao Đài coi Giới cấm vọng ngữ là một Giới cấm vô cùng quan trọng.
Đức Chí Tôn có dạy rằng: Thầy đã nói rằng nơi thân phàm các con, mỗi đứa Thầy đều cho một chơn linh gìn giữ cái chơn mạng sanh tồn. Thầy tưởng chẳng cần nói, các con cũng hiểu rõ rằng: đấng chơn linh ấy vốn vô tư, mà lại đặng phép giao thông cùng cả chư Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Ðấng trọn lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt điều lành và việc dữ đều ghi chép không sai, đặng dâng vào Tòa phán xét, bởi vậy nên một mảy không qua, dữ lành đều có trả; lại nữa, các chơn linh ấy, tánh Thánh nơi mình đã chẳng phải giữ gìn các con mà thôi, mà còn dạy dỗ các con, thường nghe đời gọi là "lộn lương tâm" là đó. Bởi vậy chư Hiền, chư Thánh Nho nói rằng: "Khi nhơn tức khi tâm," "Hoạch tội ư thiên, vô sở đảo dã." Như các con nói dối, trước chưa dối với người, thì các con đã nói dối với lương tâm, tức là chơn linh.
Thầy đã nói chơn linh ấy đem nạp vào Tòa phán xét từ lời nói của các con, dầu những lời nói ấy không thiệt hành mặc dầu, chớ tội hình cũng đồng một thể. Nơi Tòa phán xét, chẳng một lời nói vô ích mà bỏ, nên Thầy dạy các con phải cẩn ngôn, cẩn hạnh, thà là các con làm tội mà chịu tội cho đành, hơn là các con nói tội mà phải mang trọng hình đồng thể”.
Lời dạy này cho thấy rằng khi ta dối người, thì là đã dối mình, tức là dối lương tâm của mình. Lương tâm của mình là một phần linh quang của Đức Chí Tôn, nên dối lương tâm tức là dối Đức Chí Tôn. Ngày xưa dối vua là phạm tội khi quân phải bị chém đầu, mà dối Đức Chí Tôn thì tội lỗi biết là bao.
Con đường tu hành có nhiều giai đoạn, giai đoạn đầu tiên là Giới, có giữ Giới được mới có thể bước qua giai đoạn kế tiếp tức là định, huệ, tri kiến và giải thoát. Mà nếu ta không giữ Giới được thì mong gì tiến tới trên con đường tu hành, còn mong gì được hiệp một cùng Đức Chí Tôn. Ngoài ra, nói dối có thể gây nên tội ác, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Mà đã gây nên tội tình thì lương tâm dày vò cắn rứt làm cho mình bị đau khổ triền miên.
Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là nghiệp lực khó khắc phục nhất cho việc tu hành, là lực cản trở lớn nhất cho việc tu hành chứng đạo, là sức mạnh sát hại sinh mạng lớn nhất, là nghiệp lực chính yếu đưa con người đọa xuống ác đạo, khiến cho đạo tràng không được thanh tịnh, thị phi không ngừng, khiến cho con người không hòa hợp, đạo pháp không hưng thịnh, làm chúng sanh mất đi đạo tâm, làm mất đi thiện căn con người.
Tội gây ra bởi khẩu nghiệp sâu nặng không gì sánh bằng. Người tu hành nếu không dứt đoạn được khẩu nghiệp thời vĩnh viễn phải bị đọa vào đường ác, gánh chịu “khổ khẩu vô lượng” không có ngày ra khỏi.
Cũng có trường hợp nói dối không hại người, mà nhiều khi nói dối có thể giúp người và được gọi là thiện nghiệp. Khẩu nghiệp có thể tốt hoặc xấu, tuỳ theo sự nói dối làm hại hay là làm lợi cho người. Những lời nói tốt đẹp dạy dỗ hướng dẫn người đời sống hợp theo đạo lý là một hành động đạo đức tốt đẹp và cao thượng và được coi như là thiện nghiệp. Những lời nói tốt đẹp hay xấu xa đều do nơi tâm của con người mà ra. Người ác tâm nói lên lời lẽ ác độc có hại cho người, nhưng nhiều khi lời nói ác độc trở thành thói quen và sẽ duy trì hoặc tạo thêm tánh ác. Do đó, con người muốn tu tâm sửa tánh trước phải cẩn thận lời ăn tiếng nói, đừng để lời nói của mình gây nên ác nghiệp.
Phật giáo coi thân, khẩu, ý là ba trở ngại lớn trong con đường tu hành và khuyến khích người tu nên tịnh thân, tịnh khẩu, và tịnh ý.
Muốn tịnh khẩu để tu hành con người phải quyết chí. Sau đó là tĩnh lặng. Tĩnh lặng là một trạng thái tự nhiên của mọi vật. Âm thanh là sự náo động, nhiễu loạn. Sự nhiễu loạn của tư tưởng và âm thanh làm tiêu hao khí lực của con người.
Đạo giáo có dạy rằng khẩu khai thần khí tán, thiệt động thị phi sanh, nghĩa là mở miệng thì thần khí hao tán, lưỡi động thì sanh thị phi. Do đó tịnh khẩu là một biện pháp bảo vệ khí lực, phục hồi sức khoẻ bản thân và làm cơ thể trở nên trẻ trung. Hơn nữa nếu ta muốn chứng nghiệm về Đạo để đi vào cốt lõi bên trong của sự sống thì không có cách nào tốt hơn là im lặng.
Như một vị thầy từ xưa đã nói “Tiết kiệm lời nói là trở về với tự nhiên”, và “Những người nói nhiều là những người hiểu ít”. Đức Lão Tử dạy rằng lời thật thì không đẹp, lời đẹp lại không thật, người tốt thì không hùng biện, người hùng biện lại khộng tốt, kẻ biết thì không cần học rộng, kẻ học rộng lại không biết. Có nhiều cách để trau dồi lời ăn tiếng nói:
- Thứ nhất là nên hiểu giá trị của lời nói, mỗi ngôn từ phát ra đều là dạng khí, nó biểu trưng cho sức sống. Nếu muốn có sức mạnh ta cần phải bảo vệ khí lực của mình bằng cách đặt một giá trị vào từng lời nói, không nên nói nhiều, nói thừa và nói tràng giang đại hải. Có nghĩa là ta sẽ không nói nếu không cần thiết phải nói. Ta phải cố tìm ra lời nói thích hợp và chính xác cho từng trường hợp giao tiếp.
Bằng cách đó ta sẽ biết được khí lực của mình.
Lời nói của ta sẽ có tiếng vang và ảnh hưởng. Hơn thế nếu muốn lời nói có giá trị, ta phải biết giữ gìn lời nói. Có nghĩa là để nói sao mà không bị lỡ lời, không phải xin lỗi người khác. Cuối cùng, ta đừng nói lời khoác lác khuếch trương.
- Thứ hai là im lặng, vì khi im lặng ta càng tiến gần tới sự thật. Vì Đạo là vô vi nên ta không thể nói một điều gì về nó cả mà chỉ có thể cảm nhận nó.
- Thứ ba là không đua tranh, hơn lời và tranh cãi: Nên để cho mình thấp hơn người khác. Thánh nhân không bao giờ tranh lời. Khi ta không nói, tư tưởng ta được bình yên, nó sẽ tìm ra lối xử lý thích đáng.
- Thứ tư là đừng chỉ trích và phê phán: Đạo là không phê phán chỉ trích. Người có Đạo không chỉ trích kẻ khác, họ có một sự từ bi vô lượng. Họ yên lặng chấp nhận mọi thứ, mọi người khác trong yên lặng và ủng hộ mọi người làm theo cái lý của họ. Sự chỉ trích và bình luận kẻ khác làm tiêu phí năng lực, khuấy nhiễu tâm hồn của ta làm con người bị mệt mỏi.
Thứ năm là khi cần phải nói, hãy nói vắn tắt, gọn gàng.
Muốn giữ gìn lời ăn tiếng nói, ta cần tịnh khẩu một ngày mỗi tuần. Khi tịnh khẩu ta sẽ tìm thấy được sự bình an trong tâm hồn.
Tâm là chính yếu, muốn tịnh khẩu trước phải tịnh tâm. Trong con người, tai ghi nhận âm thanh; mắt chụp lại hình ảnh; vị giác (lưỡi) xúc giác báo cáo cảm giác; tất cả đưa về não bộ (Tâm hay Ý). Chính Tâm (Ý) sẽ quyết định rồi thân và miệng sẽ phát động.
Do đó khi tịnh tâm, ta có thể dùng tâm chế ngự lời nói để tạo nên thiện nghiệp.
Sau đây là một đoạn trong bài Kinh Sám Hối:
Gìn lòng ngay thẳng thật thà,
Nói năng minh chánh lời ra phải nhìn.
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Dối người nào khác dối Trời.
Trời đâu dám dối ra đời ngỗ ngang.
Tất cả đều do tâm, con người phải mở rộng tình thương yêu đến với tất cả mọi chúng sanh. Khi thương yêu tất con người sẽ có những lời nói êm đềm, tốt đẹp và xây dựng. Tình thương yêu chân thật là giải pháp tốt đẹp cho tất cả những vấn đề ở thế gian.

(HDV: HT. BÙI ĐẮC HÙM)

LÀM THẾ NÀO ĐỂ KHÉP LẠI QUÁ KHỨ ?!
Trí Nhân Media: Bà Trần Thị Hồng Sương là dược sĩ dưới thời VNCH, hiện đang sinh sống tại Cần Thơ. Tác giả viết bài này vào năm 2007, vào cái năm mà tờ báo Việt Weekly (tại miền Nam bang California Hoa Kỳ) chưa hiện nguyên hình là cánh tay nối dài của truyền thông Đảng, và dĩ nhiên giờ đây chúng ẳng gâu theo tiếng kêu của loài khuyển mã.
Nhân đọc bài "Hòa Hợp và Hòa Giải Dân Tộc" đăng trên tờ Pháp Luật Thành Phố ngày 27-01-2013, Trí Nhân Media cũng xin mở lại bài viết cũ của tác giả Trần thị Hồng Sương vào năm 2007.
Tôi khép lại quá khứ do có một quá khứ nhẹ tênh để bước vào tương lai, nhưng nhiều Việt kiều có tâm sự nặng nề và rất khác vì cả gia đình gánh chịu quá nhiều bất hạnh, chết chóc, tai họa trên đường di tản, bị bỏ rơi, bị giam cầm sĩ nhục do sai lầm của Mỹ, của Ông Diệm, ông Thiệu, ông HCM, ông Lê Duẫn, Ông Đỗ Mười, Ông Lê đức Thọ ...Tôi thấu hiểu vì sao còn có sự khác biệt !
Tôi có ấn tượng rất tốt với bài phát biểu tích cực, thể hiện tấm lòng hoà ái mong muốn điều tốt đẹp cho mọi người, cũng như tăng năng lực cho đất nước của ông Võ văn Kiệt. Tôi cũng có ấn tượng tốt vì càng ngày càng có nhiều bài báo VN được trích đăng ở kênh thông tin nước ngoài và VietNamNet nay đăng lại bài viết về cuộc phỏng vấn của phóng viên báo Việt Weekly (Mỹ).
Khi phóng viên trong nước, ngoài nước đọc báo của nhau dần dà sẽ có tiếng nói chung bởi sự thu hút của chân lý rất mạnh mẽ. Một bài viết gần đây về quá trình lập nghiệp của Ông Lê kiên Thành (con Ông Lê Duẫn), ông Thành không núp dưới bóng râm chánh trị của ông Lê Duẫn khiến tôi tin là cá tính ông mạnh mẻ. Chỉ cần ông có nhận định đúng nguyên do thất bại của CSVN thì sẽ có tác dụng xã hội tích cực. Ông Thành cũng đóng góp ý kiến có giá trị, đáng tán dương để góp phần giải quyết bộ máy hành chánh cồng kềnh không hiệu quả hiện nay.
Tôi sẽ khâm phục nếu như Ông Kiệt Ông Thành có cái nhìn về đất nước khách quan hơn. Quá khứ bao cấp không ngăn cản VN vào WTO thì quá khứ CS không ngăn cản các vị ủng hộ phong trào dân chủ, đứng về phía dân.
Cũng như VietNamNet tôi quan tâm phân tích của Ông Võ văn Kiệt về nguyên do chưa thành công để có sự đồng tâm hợp tác giửa VK với nhà nước CSVN. Nhưng ý kiến của tôi có nhiều điểm khác.
Với tựa đề :Nếu cứ cố chấp với nhau, dân tộc không lớn mạnh được! VienamNet đang muốn tuyên truyền để có một kết quả tích cực hơn trong mối quan hệ “Việt kiều-Chánh quyền CSVN”. Khi nghĩ suy sâu rộng về vấn đề thống nhất lòng dân sẽ thấy “cố chấp” xuất phát từ sai lầm, định kiến và cả phương pháp tư duy. Cách biện hộ cái sai dẫn đến không khách quan, đẩy cao lên sẽ xúc phạm vu khống, tiến đến việc hai phía không ai thấy ra cái sai để sửa. Chính CSVN trong lợi thế đã không thấy sai trước và xúc phạm trước.
Người CSVN chắc đã phải thấy trong CCRĐ, chánh quyền không nghe dân Ông HCM làm theo Trung Quốc, không tự nhận thức ra lầm lạc mà chỉ sửa sai khi có áp lực của thế lực chánh trị khác cũng đang điểu khiển ông là Liên Xô. Khi không khác trước thì chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều sai lầm tiếp theo. Gây ra cái chết nhiều như thế mà không tự thấy có thể nhìn ra vấn đề bản chất Ông HCM không có đức hiếu sinh, không có tư duy độc lập. Cho nên lãnh đạo sai phải xuống, không phải vì cố chấp với sai lầm mà vì nguy cơ sai lầm tiếp theo. Càng không đem xương máu tài sản dân ra làm vật thí nghiệm cho các ý tưởng đồng bóng cá nhân chưa hề được thẩm định khoa học, xem xét cặn kẻ.
Một bộ phận Việt kiều có oán thán những chánh sách từng gây ra đau đớn chết chóc, nay vẫn chưa được một lời nói phải một nhìn nhận minh bạch. Nhưng chính sự bảo thủ, độc tài, cố chấp của CSVN mà 30 năm sau, gia đình VK còn ở lại VN chưa có cuộc sống ổn định mới khiến cho nhiều VK tăng phần xa cách, chê trách đến oán ghét. Gia đình VK trong nước chưa ủng hộ, dân trong nước còn cố bỏ ra đi thì VK làm sao mà dám về hợp tác. Chuyện hợp tác còn dính đến cuộc sống cá nhân và gia đình rất khó quyết định “tự mang tròng vào cổ “. Thật sự thì ở nước ngoài cũng giúp gia đình, giúp đất nước được, có khi còn hiệu quả hơn. Chính nhờ VK mà gia đình còn ở lại VN vượt qua khó nghèo.
Công cuộc xoá đói giảm nghèo của VN được thế giới ngạc nhiên tán thưởng nhìn ra công của VK ít ra là một nửa tức 50% đấy ! Bây giờ thêm việc lấy chồng ngoại chiếm ¼ tức 25% hiệu quả xoá đói giảm nghèo, trang trãi nợ nần, thuốc thang cho người bệnh. Chánh sách nhà nước là ¼ (25%) và chỉ nhằm vào đối tượng chánh sách.
Cần phải chấp nhận một thực tế rất con người là khi quá khứ quá đau thương, khó ai có thể quên. Không chống là tốt rồi, không thể tay bắt mặt mừng, chỉ có thể xa nhau, mạnh ai nấy sống suốt đời thôi! Hai vợ chồng từng yêu thương có con chung khi ly dị có khi tổn thương quá lớn còn chẳng chịu nhìn nhau suốt đời kia mà! Đó là hậu quả không tránh khỏi, nhà nước phải biết trước khi ra các chủ trương, gây xúc phạm, xâm hại một con người.
Khi cứ cố chấp trong đánh giá cuộc chiến và tô vẻ chiến thắng quá lố, xa với thực tế là số phận VN nằm trong bàn cờ quốc tế, ắt phải có biện giải sự thật, thêm dầu vào lửa, khơi dậy đau lòng. Khi cứ thần thánh hoá tất có phản biện để nhìn chân giả. Có Lê văn Tám huyền thoại, người không có, việc không thật, thì tất có chê trách sự ăn gian nói dối của Đảng CSVN.
Tôi biết dân không khoan dung, nhà nước cũng không thể đòi người thiệt thòi phải chấp nhận không bồi thường, không hồi tố. Dân không khoan dung như mẹ chồng vốn dĩ xét nét con dâu suốt ngàn năm vậy đó ! Nhưng dân không “cố chấp” như CSVN hay như loại bà mẹ chồng trái tính thành thói cay nghiệt, mà dân rất “sòng phẳng”.
Dân chúng hai miền và VK đã có sự hoà giải tốt như Tổng thống Bush vui mừng nói là con Ông Nguyễn tấn Dũng cưới một việt kiều. Với chánh quyền và cụ thể một số người tiến hành chủ trương cay nghiệt thì khác, đã và sẽ không hề được chào đón.
Việc Sàigòn và miền Nam hối hả vinh danh những người đó qua việc lấy làm tên thành phố, tên đường, tên trường học, đi trước cả các đánh giá của một lịch sử khách quan là vì muốn xoá đi một quá khứ dù chưa tốt nhưng không xấu như hiện tại. Điều này khơi ra tranh luận, làm sống lại hồi tưởng đau khổ, và dấy lên các bực tức chê trách mỉa mai.
Đảng viên tốt cũng như trí thức đã và đang cùng nhau phải đầu tư công sức giải trừ ngộ nhận của chánh quyền CSVN. Nhóm cựu kháng chiến trước đây và tướng Trần Độ sau này hay cụ Hoàng Minh Chính và nhóm các nhà dân chủ nhìn thấy vấn đề sớm hơn dân, lên tiếng cảnh báo, CSVN sao lại không nghe !
Thư lại VN ca ông Lê Duẫn là cái đầu trăm ngọn nến nhưng tôi cho ông đứng vào phía sai của lịch sử và đổ công sức xương máu dân chúng vào chuyện “ nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì!” như dã tràng xe cát biển Đông. Tệ hơn là gây chiến quá thảm thương chỉ để che dấu việc không xây dựng nổi kinh tế miền Bắc. Sau 1975 Hà Nội đâu có tự lực gạo thóc và cho đến nay chưa tự lực ngân sách hay kinh phí xây dựng...
Dân chúng khắp trời VN bây giờ rất lo lắng u hoài, bức xúc đến tự thiêu hay thiếu ăn giết con tự tử. Dân bị va chạm quyền lợi từ tôn giáo đến kinh tế, do đảng viên mang óc vua con, quan cha...Người dân nay mới hiểu thế nào là cái khổ khi sống dưới chế độ CS ngồi xổm trên đầu luật pháp chung cho dân. Nói theo từ chánh trị là thân phận con dân ban cho phận nào phải cam phận nấy của cách đảng trị giống như xứ sở thần quyền Hồi giáo Afganistan.
Người ta có lý do tôi cũng bắt đầu thích nhắc lại câu nói của Ông Thiệu, dần dà trở thành đúng nhất: ”Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm !” Tôi may mắn nhìn rất kỷ những gì CS làm và nhìn với thái độ cố thấu hiểu trong lo lắng ức lòng, chứ không phải trong cố chấp hiềm thù .
Ông Kiệt lý giải: Trước có ông Bill Clinton và mới đây là ông Bush, đã có sự hoà giải tốt. Nếu đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, dẫu trước đây là kẻ thù của nhau vẫn có thể khép lại quá khứ để hoà bình hữu nghị, để cùng phát triển. Bởi vậy không lý nào người Việt Nam với nhau lại không thể khép lại quá khứ.
Mỹ không thù Hà Nội, không đánh Hà Nội, Mỹ chỉ có kế hoạch ngăn không cho miền Bắc tràn vào Nam . Mỹ biết rõ hơn cả Nam VN về chế độ CS phi nhân, nô lệ con người. Mỹ là kẻ thù tự tạo của Hà Nội khi Hà Nội chọn sai. Và chính Hà Nội đi săn lùng giết Mỹ. Chánh phủ Mỹ bang giao nhưng không có người Mỹ sống ở VN . Người Mỹ chưa nói là thích sống dưới chế độ CSVN vì tốt như Mỹ, không nói muốn làm ăn sinh sống ở VN vì nền chánh trị tốt, thậm chí thích du lịch đến VN vì an toàn thực phẩm và an ninh sinh hoạt cao hơn Singapore chẳng hạn! Còn VK khi về phải sống cùng chịu chung với dân trong chánh sách bất thường của CSVN nên phải khác chứ ! Đâu thể nói “VK cố chấp hơn Mỹ“. Lý luận này không logic!
Miền Nam biết Mỹ giúp VN rất nhiều. Mỹ cho biết số tiền Mỹ bỏ ra tính trên đầu người dân VN là một triệu đồng /người. Một triệu đồng thời đó là “trúng số lô độc đắc” mua được một biệt thự và một xe Mercedes! Nhưng Mỹ đổ nó vào chiến tranh chứ không phải dân sinh nên không có được đồng thuận của dân miền Nam. Cao trào là chống Mỹ dội bom Miền Bắc vì nguy cơ sát hại dân thường. Nhưng chuyện chánh quyền Diệm tham nhũng, gia đình trị, kỳ thị tôn giáo dân không thể ngăn được Ông Diệm cũng như không ngăn nổi Mỹ dội bom miền Bắc.
Chế độ Diệm hay CSVN đều không đứng về phía quyền sống của dân. Ý dân mà cho là đối lập chánh quyền là sai. Đây là lòng dân một đường ý chánh quyền một nẽo do chánh quyền độc tài áp chế bất công hay tham nhũng.
Tôi cũng từng muốn chấm dứt chiến tranh qua thương lượng để VN có “ba điều ước” : Thống nhất, Hoà bình và có chánh quyền tốt hơn. Lý do rất đơn giản cùng là người VN không thể giết hại nhau vì bất cứ lý do gì. Tiếc thay sau 1975 dân cũng không ngăn được nhà nước lùa đi học tập, đảng viên tham nhũng, cha truyền con nối vua cha, vua con đầy dẫy, ăn trên ngồi trước...và lòng dân một đường ý đảng một nẽo...Chánh phủ lạm quyền tham nhũng ức hiếp chứ dân chỉ muốn yên ổn làm ăn muốn công bình chứ “đối lập” làm chi ? Cám ơn CA giử an ninh trật tự trấn áp phe nhóm băng đảng khá tốt nên VN ít có tội phạm có tổ chức lớn như Mexico chẳng hạn. Đây là điều tốt cần ghi nhận. Tuy nhiên CA làm chánh trị trong nhiều ngộ nhận thì như đàn ong quấy nhiễu không thuyết phục ai !
Ông Bush hoà giải với chánh quyền VN vì cá nhân ông “chưa thấy quan tài chứ đổ lệ “ không từng có thiệt hại gì và đang nghĩ về quyền lợi nước Mỹ. Cá nhân tôi, dù tôi có bức xúc nghĩ rằng dân tộc VN còn lâu mới khắc phục hậu quả sai lầm của đảng CSVN, tôi không muốn thấy sai lầm cứ tái diễn, quá tội nghiệp cho dân chúng. Nhưng điều này không ngăn tôi có thể khép lại quá khứ, một quá khứ đau buồn không thay đổi được.
Tôi làm được việc này chỉ vì tôi chỉ lướt qua cuộc chiến, chứng kiến chứ không có mất mát sinh mạng hay thiệt hại lớn trong chiến tranh, chỉ bị kỳ thị thiệt thòi chút ít, sá gì !
Hơn nữa sống trong nước, mối quan hệ thân tình đã có phát triển với cá nhân đảng viên tốt, quan hệ nhân thân và gia đình khá tốt vì chỉ làm nghề y tế và giáo dục . Có tình thân tộc chồng chéo với những người phía CS khiến tôi luôn muốn ai là người Việt cũng được an lành. Chánh trị chỉ là một phần cuộc sống con người .
Cứ là CS nếu còn cho là tốt, còn tôi đã không tin và có bằng chứng xác đáng, CS nay chỉ còn là phe cánh để gây thanh thế, dành quyền lực, hưởng đặc quyền. Nhưng vẫn có thể có những vấn đề tôi chấp nhận nối vòng tay lớn thực hiện như công việc từ thiện xã hội cứu giúp người cơ nhở, trẻ mồ côi, người bệnh chẳng hạn...Trẻ con chẳng thể ngưng sống trưởng thành để chờ chánh quyền tốt lên được ...
Cá nhân đảng viên tốt hãy nghĩ đến các ngộ nhận. Đảng viên không hiểu về đảng là có thật !Tôi khép lại quá khứ do có một quá khứ nhẹ tênh để bước vào tương lai, nhưng nhiều Việt kiều có tâm sự nặng nề và rất khác vì cả gia đình gánh chịu quá nhiều bất hạnh, chết chóc, tai họa trên đường di tản, bị bỏ rơi, bị giam cầm sĩ nhục do sai lầm của Mỹ, của Ông Diệm, ông Thiệu, Ông HCM, ông Lê Duẫn, Ông Đỗ Mười, Ông Lê đức Thọ ...Tôi thấu hiểu vì sao còn có sự khác biệt !
Ngoài vấn đề đoàn kết, còn có các vấn đề lý giải chưa thông suốt:
- Điều 4 Hiến pháp và cách hiểu về đoàn kết dẫn đến biện pháp độc đảng và coi dân chủ nội bộ trong đảng CS là giải pháp là hoàn toàn sai vì vẫn còn đặt dân ra bên lề xã hội .
- Cuộc nội chiến 1954-1975 không thể mang tên giải phóng !
- Chính Đảng CSVN liên tục thất bại khiến không thể có quyền độc quyền tồn tại, dẫn đến quan điểm đa đảng chứ không phải là xu hướng mà chính là giải pháp ?
CSVN thất bại cho dù có một số đảng viên tốt. Thất bại lớn nhất là không thiết kế ra nổi một cơ chế điều hành đất nước và không thành công trong việc buộc đảng viên sống và làm việc theo luật pháp tiến bộ. Đảng viên mới vào thì còn giử kẻ còn đóng vai tốt, càng có chức cao càng hư.
Chính những đảng viên Đảng CSVN lâu năm và tốt ủng hộ đa đảng chứ không chỉ có dân hay Việt kiều ..
Trần thị Hồng Sương
Cần Thơ, 24-01-2007  
KHI GIẬN, CON GÁI THƯỜNG NÓI:
1: Muốn làm gì thì làm!
2: Chả sao hết!
3: Không quan tâm!
4: Ừm, hết yêu rồi!
5: Đi chỗ khác đi!
6: Tùy!
7: Chả muốn gì cả.
8: Ghét!
9: Yêu ai thì yêu!
10: Đi theo nó luôn đi.
Nhưng tất cả những điều muốn là hoàn toàn ngược lại và… có bao nhiêu người hiểu được đâu?
 
NẾU - VIỆT NAM KHÔNG CÓ HIỆP ĐỊNH PARIS 1973 ???
(trích từ "Hiệp Định Paris: Mặt Trái cái Huy Chương" - Hoàng Thanh Trúc
Bài viết cho ngày HD Paris 27-1-1973)
Như chúng ta và cộng đồng nhân loại, truyền thông quốc tế đều biết, Hiệp Định Paris là : “..Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở VN đã được ký kết tại Paris ngày 27-1-1973 giữa bốn bên: Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng hòa - CS Bắc Việt và MT/GPMN.
Nội dung Hiệp Định [Paris] tương đối rõ ràng (dù VNCH chịu nhiều bất lợi) để từng bước vãn hồi trật tự lập lại hòa bình trước khi nói đến chuyện thống nhất đất nước . Tuy nhiên cũng giống như hành vi trắng trợn vi phạm Hiệp Định Geve 1954 trước đó . Cùng một bản chất vị kỷ, cuồng tín, đặt quyền lợi đảng phái của một nhóm người lên trên quyền lợi quốc gia dân tộc, các “chóp bu” CSVN và tay sai MTGP/MN đến tham dự hội đàm Paris không đơn giản chỉ với mục đích tốt đẹp là : “chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình” mà là với thủ đoạn và dã tâm bằng mọi cách duy trì sự vi phạm Hiệp Định Geve ( binh lính và vũ khí đưa vào miền Nam trước đó) và cố “đẩy” quân đội Mỹ ra khỏi miền Nam.
Không còn là “ẩn dụ” mà đúng như lời nói “chữ ký chưa ráo mực” . Trong năm 1973 Hoa Kỳ hoàn tất việc rút hết quân về nước, thì đầu năm 1974 trên đất liền CS BắcViệt tăng cường tối đa quân đội và vũ khí hạng nặng mở nhiều mặt trận tấn công tổng lực vào miền Nam . Lợi dụng không còn quân Mỹ hổ trợ, dưới biển Đông CS Trung Quốc cũng xua quân tấn công xâm lược toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong tay QL/VNCH – 74 chiến sĩ hải quân miền Nam VN hy sinh đền nợ nước. Tất cả diễn ra khi Hiệp Định Paris chưa tròn 1 tuổi .!?
Không còn được hổ trợ tiếp liệu quân sự , QLVNCH không thể duy trì tối đa khả năng chiến đấu - 30/4/1975 , CS Bắc Việt đánh chiếm được toàn miền Nam .
Trong lịch sử thế giới cận đại thì CS Bắc Việt là “nhà nước” thứ 2, sau Hitler phát xít Đức, ngang nhiên đơn phương tự xóa bỏ chà đạp một Hiệp Định mà mình vừa ký trước quốc tế , trong công pháp và tập quán đối ngoại quốc tế thì đây là hành vi “hạ đẳng” tồi tệ, xấu xa nhất của nhà nước hay chính phủ một quốc gia .
Nó càng hèn mọn và ô nhục hơn khi CS Trung Quốc vi phạm điều khoản 1 Hiệp Định Paris mà chính TQ đã thò tay ký : “các nước khác tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” Khi TQ xâm lược Hoàng Sa trong tay QL/VNCH , dù CP/VNCH đề nghị với CS Bắc Việt cùng lên án trước LHQ và Cộng đồng thế giới nhưng CS BắcViệt từ chối ??
Chúng ta nghiệm xem,có bi hài không ? Nếu CSVN bây giờ đòi TQ trả lại Hoàng Sa, Trung Quốc lập luận : “ Sao gần 40 năm trước, 1974 khi tao đánh chiếm, mày không phản đối ? Nếu nó là của mày thì hồi đó mày phải la lên liền chớ ? hơn nữa còn cái công hàm 1958 thủ tướng mày cũng xác nhận với tao rồi” thì chắc CSVN phải cuối gầm mặt xấu hổ vì “khôn nhà mà dại chợ”.
Ngoài sự vi phạm thô bạo 2 điều khoản 4 và 5 tấn công VNCH , CS Bắc Việt còn dã man vi phạm công khai điều khoản 3. : “ Tất cả tù binh chiến tranh của các bên sẽ được trao trả không điều kiện trong vòng 60 ngày. Các tù nhân chính trị sẽ được trả tự do sau đó theo thoả thuận chi tiết của các phía Việt Nam.” Sau 30/4 CS Bắc Việt thi hành ngay sự tàn bạo : ( Hình như Các chế độ CSVN “giết người” không phải do tư thù mà đó là sách lược và thi hành có hệ thống rặp khuôn đầy bạo lực của CS quốc tế từ cái gọi là Bộ Chính Trị đảng CS BắcViệt – Một cái Bộ mà từ khi xuất hiện, bản chất của nó đã là “không dị ứng với máu người” mà “đấu tố tàn sát trong CCRĐ” (1953-1956) là một điển hình )
CS Bắc Việt tập trung tù đày giết hại 1/3 trong gần nửa triệu các sĩ quan công chức miền Nam, những người chưa hề đặt chân ra miền Bắc gây nợ máu xương với đồng bào mình, (như CS Bắc Việt gây chiến tranh tại miền Nam) CS Bắc Việt bắt bỏ tù tất cả mà không đưa ra tòa án xét xử như qui định của “công ước tù binh” quốc tế, bởi nếu đưa ra xét xử thì CS Bắc Việt sẻ khó chối cải việc “vi phạm Hiệp Định Paris” tấn công miền Nam.
Tóm lại,gần như CS Bắc Việt và MTGPMN chà đạp vi phạm toàn bộ các điều khoản họ đã ký trong Hiệp Định Paris, khi tấn công miền Nam bằng vũ lực , đó là lý do mà hơn 30 năm CSVN dấu nhẹm, không phổ biến nội dung các điều khoản này ra toàn dân, nhất là ở miền Nam VN, cho đến ngày nay khi truyền thông đa phương tiện nối mạng toàn cầu, mọi việc không thể che đậy .
Và khi mà họ, CSVN, năm 1979 đã từng xua đại quân qua Campuchia trong gần 10 năm, thương vong gần 50.000 quân với mưu toan “cộng sản hóa” xứ chùa tháp, nhưng 1989 phải rút quân về nước vì thất bại thì chúng ta cũng có thể đặt câu hỏi, nếu tại miền Nam Việt Nam CS Bắc Việt củng thất bại thì chuyện gì xảy ra :
NẾU VIỆT NAM KHÔNG CÓ HIỆP ĐỊNH PARIS 1973 ??
Nhiều lắm, vô vàn những “viễn cảnh” dự đoán suy ra từ các quốc gia láng giềng hay đồng minh của Mỹ quanh khu vực. Tuy nhiên “cận cảnh” chắn chắn toàn dân Việt Nam phải thấy được, vì chiến lược toàn cầu, căn cứ hải quân tiền phương của hạm đội 7 hải quân Mỹ vẫn bám trụ tại quân cảng “tốt nhất thế giới” Cam Ranh, để bảo vệ hải trình cho Mỹ và đồng minh trên biển Đông kéo dài xuống eo biển “yết hầu” trọng yếu Malacca - Điều này là cực kỳ quan trọng cho Việt Nam, nó có ý nghĩa : Hoàng Sa, Trường Sa và toàn khu vực biển Đông vẫn yên bình dưới sự tuần tra giám sát của hải và không quân Việt Mỹ mà Trung Quốc chỉ có thể đứng nhìn từ đảo Hải Nam .
Và đến bây giờ thì 40 triệu đồng bào miền Nam không thể quên được, thập niên 1970 Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia “mở - tự do” 100% , du lịch và du học quốc tế “vô điều kiện” , người dân ai có khả năng tài chính thì cứ mua vé bước lên máy bay xuất cảnh du học hay du lịch tự do mà không có bất cứ một rào cản nào , đội ngủ máy bay phản lực “hàng không Việt Nam” tốt ngang tầm châu Á mà Trung Quốc lúc bấy giờ còn không sánh bằng nói chi tới CS BắcViệt chưa biết tới hàng không dân dụng là gì và toàn dân miền Bắc như trong bức màn sắt bế quan tỏa cảng khổng lồ hàng ngày chỉ có thấy búa liềm và mơ có cái gì cho vào bụng thôi …
Tóm lại.
Thay vì bảo vệ vững chắc biển đảo trong một miền Nam SàiGòn phú cường như Đài Loan hay Singapore với nền kinh tế, tài chính, quốc phòng hùng mạnh thì chính cái Hiệp Định Paris từ 40 năm trước do CSVN chủ trương đã đẩy cả dân tộc vào một nghịch cảnh mà “đất trời, ải Nam Quan Bắc biên giới,Hoàng Sa, Gạc Ma biển đảo quê nhà” nằm trong tay kẻ thù truyền kiếp của dân tộc thì biết đến bao giờ mới lấy lại được ?? hỡi 14 con người đang “ăn” hại bằng mồ hôi nước mắt nhân dân đang ngồi rung đùi trong Bắc bộ phủ kia ?
Hãy trả lời đi – Hiệp Định Paris Vinh hay nhục ?
Có nhớ không lời tiền nhân: Vua Trần từng chiếu chỉ : "kẻ nào dâng một tấc đất cho giặc ắt phải bị tru di tam tộc" .
Hoàng Thanh Trúc - Trí Nhân Media
NGẠT
Tôi thấy mình đi qua thành phố
Còn dở hơi hơn cả đàn bò
Chỉ cần cỏ là đàn bò hạnh phúc
Chỉ cần rơm là đàn bò hoan hô

Có con đường xác xơ lẽo đẽo theo tôi
Khóc nấc lên sau những lần bị đem ra đào bới
Những vết thương nhói lên sau những xẻng xà bần lấp vội
Triệu bàn chân sớm mai lại bước vô tình

Tôi thấy những nàng Tấm thị thành
Đi chơi game show, may áo dài sát nách
Mặc xường xám vô tư đi dự hội non sông
Sáo chửa sang sông, nàng đã vội theo chồng

Tôi thấy giữa công viên là những bàn cờ thế
Những đàn ông trẻ già nét mặt đăm chiêu
Những nước cờ trí tuệ biết bao nhiêu
Mà thế sự hết quẩn rồi lại bí ?

Tôi cố hít thở bằng cái gọi là không khí
Cũng có vẻ oxy mà sao rất nặng nề
Giữa ban ngày mà nửa tỉnh nửa mê
Thành phố chắc lại đang cần dưỡng khí

Tôi giãy dụa giữa một ngày vô vị
Thoi thóp cùng tôi là cả triệu người
Đàn bò đi qua và ré lên cười
” Làm người đếch gì khổ thế ? “
18.4.2012
Võ Trung Hiếu

  01/04 là ngày nói dối.
01/05 là ngày quốc tế lao động.
01/06 là ngày quốc tế thiếu nhi.
==> Ta có 1 vòng liên hệ rất logic:
Họ lừa nhau ==> Họ cùng lao động ==> Thiếu nhi ra đời...