Tuesday, April 30, 2013

Thơ Võ Trung Hiếu

Tôi vào Facebook mới biết Hiếu và thích đọc thơ của Hiếu. Một người trẻ thích làm thơ, rất thẳng thắn nên thơ cũng rất bộc trực. Xin giới thiệu với bạn:http://nguyenhuuhongminh.com/photos/news_129954003691871250.jpgVõ Trung Hiếu.  Tên thật Võ Trung Hiếu, sinh năm 1970. Cũng là bút danh. Học phổ thông ở Ban Mê Thuột, tốt nghiệp ĐH Tổng hợp TP HCM khoa tiếng Anh năm 1991.Tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế ĐH American Capital University năm 2004. Hiện là giám đốc dịch vụ mặt đất của Singapore Airlines tại TP Hồ Chí Minh.  
Tác phẩm:
- Mưa mùa hạ (thơ)/ NXB Văn học, 1999.
- Hoa hồng giấy (thơ)/ NXB Văn học, 2000.

* GIẢI PHÓNG
Năm 3013
Nếu nhân loại vẫn bình yên
"Giải phóng" trong từ điển sẽ là một từ rất khác
Không đơn giản chỉ là ngừng tiếng súng
Không đơn giản là cắm cờ chiến thắng
Không đơn giản chỉ là ung dung ủi sạch một ngôi nhà hay thửa ruộng
Không đơn giản chỉ là đọc dõng dạc một lời tuyên ngôn

Năm 3013
Với thế giới đã qua nhiều thế kỷ thăng trầm văn minh
" Giải phóng " không còn là tiến quân đánh chiếm
Không còn là rùng rùng biểu ngữ băng - rôn
Không còn là thay cộng hoà bằng dân chủ
Không còn chỉ là thay một chính thể, một màu cờ
Không còn là thay một thửa ruộng bằng sân gôn hay chung cư
Không còn là giao mặt bằng cho các nhà đầu tư

Năm 3013
" Giải phóng " phải là mang lương tri, hạnh phúc vượt biên thuỳ
Phải là sự lên ngôi của chính nghĩa và lẽ phải
Phải là xoá tan những cách ngăn, hận thù, sợ hãi
Phải là sự đổi thay đầy ắp công bằng, tiến bộ, văn minh
Phải là những khát vọng, ước mơ được giải thoát, phóng sinh
Phải là triệu trái tim hoà nhau thành một mối
thực sự giống nòi
đúng nghĩa anh em
Cùng chung tay và nhìn về phía trước
Gác lại lịch sử hôm qua, làm rạng ngời tổ quốc

" Giải phóng " - xét cho cùng nghĩa là thế thôi ...
Năm 3013
Tôi và bạn khuất rồi
Sao kịp thấy thế nào là giải phóng ?
Nhưng dẫu sao ta có quyền hy vọng
Khi lương tri, đạo lý, nhân văn còn ngự trị trên đời
Hễ cuộc sống đặt ra biện chứng nhu cầu
Người đủ văn minh mà giải phóng cho nhau
30.4.2013
* Bên thắng cuộc
“Bên nào là bên thắng cuộc ?”
Câu hỏi không dễ trả lời
Cuộc đời này dài rộng lắm
Thắng – thua là phạm trù thôi

Thắng mà kiêu ngạo, lạc thời
Ngủ quên trên ngàn khẩu hiệu
Nghĩ mình là mạnh nhất rồi
Thì cũng có ngày ốm yếu

Thắng mà tư duy lạc điệu
Không nghĩ sâu không nhìn xa
Không chuyển động cùng thế giới
Thì thắng cũng chẳng bằng hoà

Thế giới bao lần thua – thắng
Đầu rơi máu chảy triền miên
Chỉ nhân dân là kẻ bại
Trong những cuộc cờ đảo điên

Nếu cuộc chơi thành vô duyên
Sau thắng cuộc là cay đắng
Tôi xin nhận làm kẻ thua
Và sẽ vươn mình đứng thẳng.

* Lơ mơ  

Thành phố lơ mơ đợi mưa tháng Tư

Mùa hè lờ đờ lơ mơ ngủ gật
Các nhà thơ lơ mơ trên Facebook
Lơ mơ cãi nhau thế nào là thơ
Lơ mơ không biết thơ đực hay cái
Lơ mơ thơ tồn tại đến bao giờ
Lơ mơ nhân sinh, lơ mơ nghệ thuật
Lơ mơ nên viết bằng tim hay đầu
Lơ mơ sứ mệnh, lơ mơ bản ngã
Lơ mơ không biết gieo vần vào đâu
Các sử gia lơ mơ trước sự thật
Thời buổi thông tin lan trong tích tắc
Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi
Lịch sử càng lúc càng thêm minh bạch
Đây đó xuất hiện ngã ba ngã tư
Đâu là giả thiết, đâu là mệnh đề ?
Đứng trước lịch sử hưng thịnh – suy vong
Đâu là sự thật nghĩ mà ngao ngán ?
Các nhạc sỹ đang lơ mơ thăng giáng
Thời buổi nhạc viết theo đơn đặt hàng
Thời buổi nhạc đạo không bằng đạo nhạc
Thời buổi nghị quyết hát bằng nhạc rap
Nhạc đỏ cau có nhìn nhạc thị trường
Lơ mơ giận hờn nhớ thương vu vơ
Lơ mơ ca tụng những điều vụn vặt
Các nhà giáo dục lơ mơ gà gật
Giáo sư, tiến sỹ càng ngày càng nhiều
Mà sách giáo khoa bao lần cải cách
Vẫn lỗi chính tả, bàn dân xì xào
Vẫn phí hàng đống tiền của đất nước
Vẫn chưa sánh kịp bạn bè năm châu
Các kinh tế gia lơ mơ gãi đầu
Giá cả loạn tăng, dân tình ta thán
Chứng khoán đóng băng cùng bất động sản
Giá vàng bỗng dưng đắt nhất hành tinh
Mặc những nào là bình ổn, cứu trợ
Mặc những tuyên ngôn trên đài truyền hình
Mặc những chính sách “kịp thời, đúng lúc”
Những tréo ngoe ấy từ đâu mà nên ?
Thành phố lơ mơ đợi chiều vào đêm
Ve sầu lơ mơ đợi hè thoát xác
Tôi lơ mơ viết bài vè lơ mơ
Tặng cho một thời lơ mơ ngơ ngác …
 29.4.2013

* NGƯỜI THẮP LỬA

Tôi mất ngủ khi xem một bức ảnh
Không hề được nguỵ tạo

Không hề bị dàn dựng
Của một người đàn ông dũng cảm khoác lửa lên người
Chạy jogging trên đường phố
Tại một quốc gia đang giàu lên nhưng lại có những cư dân rất u uất và nghèo

Nghìn đôi mắt phàm trần hoảng hốt nhìn theo
Shock, sợ sệt, tò mò, xúc động, run rẩy và ngưỡng mộ
Chiếc áo lửa phấp phới rực đỏ
Đôi mắt ngầu lên rực đỏ
Đôi tay vung lên khát thèm tự do
Đôi chân dũng mãnh đạp toang xiềng xích

Những chiếc máy ảnh luống cuống loé lên lưu lại khoảnh khắc hiếm hoi sự thật
Tôi tự hỏi đám đông lúc ấy nghĩ gì …

Anh là ai giữa cuộc đời này ?
Điều gì khiến anh tìm đến với lửa ?
Anh là người thứ bao nhiêu khoác lửa lên người để đòi hoà bình – công lý – dân chủ – tự do kể từ ngày con người biết thắp lửa ?
Kể từ ngày ấy loài người đã xử sự thế nào với nhau ?
Kể từ ngày ấy sao vẫn còn nhức nhối những nỗi đau ?
Để những con người vốn nhân-chi-sơ-tính-bổn-thiện đành phải dùng chiếc áo lửa để làm nên lễ hội

Lễ hội fashion festival của lửa
Ngọn lửa thắp sáng những hang động ẩm thấp giữa lòng người tối tăm
Ngọn lửa sưởi ấm những giá trị nhân văn bị nhân loại bỏ quên rỉ mòn trong tủ lạnh
Ngọn lửa của lương tri kêu gọi lương tri thức tỉnh
Thiêu rụi những lời cáo buộc bỉ ổi, xấu xa

Lễ hội của lửa chỉ diễn ra
Khi khát vọng không thể nói bằng lời
Khi hy vọng chìm trong bóng tối
Và lương tri không được lắng nghe

Tôi mất ngủ anh à …
Người dũng sỹ khoác chiếc áo lửa
Chúng ta khác quê hương và bất đồng ngôn ngữ
Nhưng ngọn lửa của anh đã lặng lẽ bén sang tôi và biết bao người
Và trở nên âm ỉ, lầm lỳ, thiêu đốt mãi khôn nguôi …

Những bước chạy của anh ngắn thôi
Đủ để bước vào miền ánh sáng

15.5.2012
CHẾT
Facebook hỏi, " Cậu đang nghĩ gì ? "
Thôi chán quá, tớ đếch thèm nghĩ nữa
Cứ áo quần xông xênh, cơm ngày ba bữa
Chăm chút việc làm ăn, kệ bố sự đời

Cứ sống lặng im, mũ ni che tai
Tránh không xem chương trình thời sự
Chỉ nên quan tâm thể thao, phụ nữ
Sáng cắp ô đi, tối cắp ô về

Ai bảo gì cũng nhất trí, ô-kê
Không tranh luận, không trình bày quan điểm
Cuộc đời này ngắn chẳng tày gang
Thôi xin kiếu những ước mơ phù phiếm

Mặc kệ những cơn cuồng phong từ biển
Và những thân tàu trơ trọi giữa trùng khơi
Về rửa đít cho con là hạnh phúc
Ta là ai mà đánh cược với đời ...

Năm vài ba lần đi du lịch xả hơi
Cố gắng thăm bảy kỳ quan thế giới
Tránh đi xong lại ngồi thừ nghĩ ngợi
Tại sao nước mình thế nọ thế kia ...

Cố gắng để không trằn trọc thức khuya
Mất ngủ vì những tin này báo nọ
Cố gắng yên tâm, đâu còn có đó
Đã có những người trách nhiệm lo rồi

Mình sẽ xếp hàng sau những người đương thời
Những kẻ bịt tai, bịt mồm, bịt mắt
Vào dãy zê-rô đang kéo dài tít tắp
Thỉnh thoảng nấc lên những khẩu hiệu vô hồn

Rồi mình sẽ già và có thể cô đơn
Có thể sẽ thấy nơi nào huyệt mộ
Mình chưa chết nhưng thấy mình dưới đó
Trên tấm bia ghi rõ " một thằng hèn ... "

Mỗi chúng ta đôi lúc giữa bình yên
Ngày lặng lẽ qua vô tình ta chẳng biết
Bên áo cơm và sấp ngửa mưu sinh
Về triết học, từ lâu ta đã chết ...
2.12.2012
* MẶC NIỆM
Tôi gặp những khu đô thị mới Sinh thái xanh tươi như chưa thế bao giờ Thiên nhiên được tay người mông má Rồi đem chào bán lấy tiền đô …
Tôi gặp những cánh đồng uể oải dật dờ Chờ ngày hoá thân biến thành cao ốc Hạt lúa gục đầu rưng rức khóc Lưỡi liềm oằn cong như dấu hỏi lặng im … 
Tôi gặp nhiều ngơ ngác những đàn em Đứa đi đánh giày, đứa cầm vé số Trong những binh đoàn lang thang nghèo khổ Đứa nào Tiên Lãng, đứa nào Văn Giang ?
Tôi đi qua những xóm, những làng Đắm mình giữa nền văn minh lúa nước Miên man mãi mà chưa từng hiểu được Vì sao cây lúa chín gục đầu …
Chân lý đôi khi giản dị gì đâu Cây lúa chín cúi đầu để gạo thành sự sống Người nông dân đội mưa nắng lên đầu Chỉ cúi mặt khi quanh mình sấm động
Họ vẫn luôn không được có nhiều quyền Bất đắc dĩ được làm nhân chứng sống Cho những đổi thay – giá mà có nhân văn Cho những vẽ vời - giá mà có công bằng Cho những tính toan – giá mà giản dị như đồng ruộng …
Tôi dừng lại và cúi đầu nhìn xuống Mặc niệm nỗi buồn không gọi nổi thành tên ...
28.4.2012
* Có những khi 
Có những khi
Ta chẳng khóc chẳng cười
Chỉ muốn ngồi bên hiên im lặng
Nhìn mãi theo từng giọt nắng
Rơi rơi trên đá cuội bùn rêu

Có những khi
Trong đỏ rực ráng chiều
Xa tít một chân trời tím
Ta nghe lòng chết lịm
Giữa con tim là yên lặng hoàng hôn

Có những khi
Ngồi đếm những nụ hôn
Của con sóng mãi dành cho bờ cát
Chợt nghe lòng dào dạt
Muốn được như thuyền yêu biển ngàn năm

Có những khi
Nghe tiếng hát xa xăm
Nối hai đầu thương nhớ
Ta chợt thấy lòng mình hé mở
Chợt xôn xao như chưa thế bao giờ

Có những khi
Bừng tỉnh một cơn mơ
Chợt thấy lòng trống vắng
Chợt như giữa đầu môi là vị đắng
Chợt gặp mình cô quạnh đến bơ vơ

Có những khi
Như chưa thế bao giờ
Chỉ trong mơ và thiên đàng mới có
Ta chợt thấy mình giữa hoa hồng và cỏ
Giữa yêu thương về ngọt lịm đầu môi

Có những khi
Là mơ mộng mà thôi
Chỉ ước phải chi cuộc đời đẹp thế
Chỉ muốn hư không trở thành có thể
Chỉ muốn thảnh thơi lòng nhẹ nhàng vui

THỈNH THOẢNG ...
Thỉnh thoảng có một thứ dài khủng khiếp
Cô độc khủng khiếp
Mơ hồ khủng khiếp
Được gọi là đêm ...

Thỉnh thoảng có một thứ rất vô duyên
Đầy lo lắng và buồn phiền
Đầy vô định, trắc trở và bấp bênh
Được gọi mỹ miều là " cuộc sống " ...

Thỉnh thoảng có một thứ
Nhiều bọt lung linh ngũ sắc như xà phòng
Trơn tuột, rất gần nhưng chẳng bao giờ cầm được trên tay
Gọi là hy vọng

Thỉnh thoảng
Tôi cứ lẫn lộn lỗn lận giữa đêm đen và cuộc sống
Tôi cứ nhầm nhọt trồng trọt giữa hy vọng và bọt xà phòng
Giữa cầu vồng và mớ bòng bong
Giữa bọn điên và các anh hùng
Giữa vĩ nhân và lũ vĩ cuồng
Giữa tự do và trong chuồng
Giữa lối thoát và con đường
Giữa vô cảm và bình thường

Thỉnh thoảng
Tôi cần một tấm gương thật sâu
Để thấy khuôn mặt mình nhá nhem hằn đầy lọ nghẹ
Để tôi sẽ rủ bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp cùng soi
Xem thiên hạ quanh tôi buồn vui xấu đẹp thế nào

Thỉnh thoảng
Thí dụ như ngay lúc này
Thấy cuộc đời lem nhem luốc nhuốc chẳng ra sao
Hạnh phúc chỉ là thứ đom đóm ma trơi lập loè ảo ảnh

Thỉnh thoảng
Có lẽ không chỉ mình tôi
Thấy cuộc đời ráo hoảnh
Đem vô vi đi khai căn hay tích phân
Cũng thế mà thôi ...

Thỉnh thoảng
Nhân danh một human being
Thơ tôi lên men và hơi bị chán đời
Ai lỡ dại đọc rồi buồn ráng chịu

Tôi chỉ là
Hạt bụi con bé xíu
Bạn giận bụi được bao lâu ?
15.4.2013

* Rồi sẽ có một ngày
Rồi sẽ có một ngày con ạ
Báo đăng tin tàu Việt Nam bị tàu nước lạ bắn chìm
Lúc ấy con và lũ bạn con sẽ làm gì nhỉ ?
Xuống đường gào lên hay ngồi thiền lặng im ?

Rồi sẽ có một ngày
Báo đăng tin một công ty bên đại lục hay Hồng Công
Đã trúng thầu dự án khu đất thân yêu nơi gia đình con đang ở
Con có cảm thấy bất an hay dự cảm điều gì đáng sợ ?
Con có đành khoanh tay ngồi yên ?

Rồi sẽ có một ngày
Con chợt thấy bản đồ thành phố Saì Gòn thân yêu
Không còn những con đường mang tên Ngô Quyền, Yết Kiêu, 

Quang Trung, Bà Trưng, Bà Triệu
Thay vào đó là những cái tên Vương, Tôn, Lý, Quách, Giả, 

Ưng, Uông, Liễu …

Con sẽ đau nhói thẫn thờ hay chỉ ngồi há hốc ngạc nhiên ?

Ba không biết có sống đủ lâu để cùng con nhìn thấy những bình minh
Nhìn thế hệ của ba và con làm thế nào mà giữ nước
Làm thế nào mà chặn quân xâm lược
Khi chúng không chỉ có vũ khí, quân đội, tình báo, vệ tinh, 

truyền thông, học thuyết
Mà còn thừa mứa đô-la để thắng những gói thầu
Và muôn vàn mưu ma chước quỷ thâm sâu
Để đưa mọi thứ trên đất nước này vào vòng u mê kiềm toả

Rồi sẽ có một ngày con ạ
Xem thời sự trên tivi và phải nhói lòng
Ba chẳng đùa đâu con có biết không …



Một đất nước lặng im là một đất nước hôn mê
Một dân tộc lặng im là một dân tộc chết

*NGHĨ QUẨN ...

Ở một đất nước người dân rủ nhau trốn thuế
Còn các loại thuế mỗi lúc một nhiều
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Ở một đất nước người dân không buồn lên tiếng
Thậm chí nhiều người không thèm đọc báo nghe đài
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Ở một đất nước mà đi đâu cũng nghe hai từ " nhân dân "
Nhưng Hiến Pháp được hàng nghìn người yêu cầu viết lại
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Ở một đất nước mà nhân tài không buồn cống hiến
Nhiều cuộc tuyển chọn kết quả đến từ cửa sau
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Ở một đất nước ra đường đầy trộm cướp
Nhà tù bỗng chốc trở thành quá tải
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Ở một đất nước khách du lịch nghe đầy tai những lời than vãn
Từ miệng gã xe ôm đến ngài giáo sư
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Ở một đất nước mà sách giáo khoa được cải cách hàng năm
Bệnh nhân lũ lượt nằm dưới gầm giường
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Ở một đất nước mà sự thật được rỉ tai nhau ngoài quán cà phê
Sự giả tạo, tệ bè phái, chứng cơ hội ngập ngụa phát tán trong hội trường, công sở
Không hề là chuyện đùa
Hẳn phải có lý do ...

Hãy thử nhìn quanh, chơi trò tự vấn
Tiền thuế được dùng vào những việc gì ?
Ai biết lắng nghe những lời thẳng thắn ?
Chất xám từ đâu và chảy đi đâu ?
Kỷ cương, pháp luật có còn đủ mạnh ?
Một khi xã hội khủng hoảng niềm tin
Con người sẽ lấy gì làm lẽ sống ?

Đất nước nào cũng cần một tương lai
Cũng cần phát triển, hoà bình, no ấm
Cũng cần hoà cùng thế giới văn minh
Lũ trẻ cần lớn lên trong hy vọng...

Ở một đất nước
Mỗi ngày trên báo là những chuyện thật như đùa
Cười ra nước mắt

Nghĩ quẩn mãi cũng buồn
Nhưng ngạn ngữ từng nói
"Everything happens for a reason "
Mọi thứ sinh ra trên đời phải có lý do

02.3.2013

 * Tôi chỉ có mình tôi
Tôi chỉ có mình tôi 

 Ở cũng vậy mà đi cũng vậy
Bỗng một ngày nào đấy
Tôi mặc kệ đời, đời cũng chẳng cần tôi

Tôi một mình, chỉ mỗi một mình thôi
Ðến cũng được mà đi cũng được
Sống trên đời ai biết trước
Bởi có khi thua được cũng bằng nhau

Tôi một mình, có nhiều ít gì đâu
Một hạt cát giữa vô cùng vũ trụ
Vậy thôi là cũng đủ
Cười khóc, buồn vui cho một kiếp người

Tôi một mình mê mải rong chơi
Giữa cuộc sống ngọt ngào và cay đắng
Giọt nước mắt nào mằn mặn
Chợt hóa hạt sương trên một nụ hồng

Tôi một mình ngơ ngẩn số không
Chỉ muốn một mai cựa mình tỉnh giấc
Làm một điều gì nhỏ nhặt
Số không vu vơ thành có nghĩa cho đời

Tôi một mình và chỉ một mình tôi
Ðời rộng lắm mà vòng tay hẹp quá
Muốn được là tất cả
Ôm cả trăng sao, ngày tháng vào lòng

Tôi một mình ngơ ngác có và không
Cái có chẳng cần, cái cần chẳng có
Nên suốt đời lọ mọ
Tự hỏi chính mình những chuyện vu vơ

Tôi một mình nên cặm cụi làm thơ
Trút vào đó những nỗi buồn vụn vặt
Sẽ có một ngày người ta cúi nhặt
Câu thơ vô tình góc phố bỏ quên . 

* Mạng - buồn và vui
Có lúc thu mình tôi không nhận nhắn tin
Có lúc thích lặng im tôi tắt đi hội thoại
Mạng là những điều khó lòng lèo lái
Là buồn vui lẫn lộn mỗi ngày qua

Mỗi account như mỗi một căn nhà
Có người đi qua ghé thăm vồn vã
Có kẻ đi qua dửng dưng xa lạ
Không một tiếng "Hi", không một nụ cười

Mạng có phải chăng là một cuộc chơi?
Kẻ được quá nhiều, người thua cháy túi
Kẻ toét miệng cười, người ôm buồn tủi
Tờ hóa đơn cuối tháng lại bằng nhau

Mạng cũng là đời có khác gì đâu
Bạn hữu làm quen mày tao chí tớ
Mạng cũng là nơi gái trai duyên nợ
Mạng cũng là nơi lòng hiểu được lòng

Mạng cũng là tất cả, cũng là không
Anh tắt máy với nỗi lòng ấm ức
Tôi tắt modem với nỗi lòng rạo rực
Mạng khiến bao người yêu ghét mỗi lần vô

Mạng là mỗi đêm mòn mỏi ngóng chờ
Mắt cứ đăm đăm mỗi lần kết nối
Là những dòng tin cuống cuồng gõ vội
Là những e-mail thấp thỏm trông chờ

Mạng là chiếc nôi của văn và thơ
Bao kẻ khô khan bỗng thành thi sỹ
Bao người thấy đời chán chường vô vị
Bỗng thành nhà văn, tâm sự nghẹn ngào

Mạng là nơi không thể nói "Vì sao?"
Mỗi khi thức vì một điều nhỏ lắm
Mạng là nơi ta thấy lòng chợt ấm
Mỗi lúc đằng kia là ánh mắt nheo cười

Mạng là nỗi buồn trộn lẫn niềm vui
Mỗi khi đi xa thấy lòng chợt nhớ
Mạng - thế giới dịu dàng nho nhỏ
Ngày đêm loay hoay ra chán lại vào

Mạng là có lần trong giấc chiêm bao
Ai đó gọi tên account ai đó
Mạng là sau chiếc modem nho nhỏ
Có tiếng thở dài ngao ngán đêm khuya

Mạng là nơi tôi từng được sẻ chia
Những lúc cô đơn, những lần trống vắng
Mạng là nơi tôi một mình im lặng
Viết những dòng thơ gửi tặng bạn bè

Mạng là nhỏ thôi một cõi đi về
Chốn hư ảo giữa bộn bề đời thực
Là nơi tôi tìm giữa đêm về thao thức
Một niềm vui nào nho nhỏ xinh xinh.

*BỜM

Áo đứt khuy, phơi cái bụng với đời
Cái bụng dễ nuôi, ăn gì cũng được
Một cục xôi hơn mọi điều ao ước
Ai cần chi ao cá với trâu bò?

Cả gia tài, một cái quạt mo
Nghiêng, che nắng; phe phẩy làm gió mát
Vắt qua vai gãi lưng soàn soạt
Miệng Bờm cười mãn nguyện làm sao!

Đổi xôi rồi, quạt mo còn đâu
Gặp trời nắng: xòe bàn tay che nắng
Gặp trưa nóng: nhảy xuống ao mà tắm
Ngứa lưng à? - Thì cà gốc cây cau.

Cây cau rung, rụng xuống mo cau
Và như thế là Bờm có quạt
Lại che nắng, lại phe phẩy mát
Áo gió phanh, phơi cái bụng với đời.

Phía trước Bờm, như lại có cục xôi!

KHÁM BỆNH
Đi khám bệnh
Gặp những thân hình hom hem còm cõi
Mới thấy thời gian quả thật là vàng Mới thấy cuộc đời quả là đáng quý

Đi khám bệnh
Đối diện với mất còn-rủi may
Chợt thấy mình xấu xí
Những ái ố sân si bé mọn, tranh giành
Những ảo vọng đã một thời mê đắm
Những phù hoa cho một kiếp thiên di

Đi khám bệnh và được dịp trầm tư
Gặp những ngọn đèn cạn dầu sắp tắt
Chợt thấy thực ra sống chết cũng thường thôi
Có khi vươn tay cố níu kéo cuộc đời
Cũng chỉ để nhạt những ngày vô vị

Có khi tự làm bác sỹ
Đem tâm hồn ra lộn trái, cân đo
Giật mình nhận ra ngoài dăm thứ hay ho
Còn lại rặt những tế bào đang chết

Có khi nhìn quanh và mỏi mệt
Tự hỏi mình có đang cần một thứ vitamin
Đủ mạnh mẽ ngọt ngào để có thể tự tin
Đứng thẳng dậy và ngắm nhìn thế giới

Đi khám bệnh
Và nhiều khi tự hỏi
Người cần sống lâu
Hay cần được sống vui ?

Câu trả lời
Chắc lại là câu hỏi
Ta cắp nách mang đi
Rồi lặng lẽ mang về
27.4.2013

http://vanviet.info/wp-content/uploads/2014/04/unnamed49.jpg
VIẾT VỘI TẠI QUÁN CÀ PHÊ
 Đàn bà được ví như cây đàn
Đàn ông nói cho cùng cũng thế
Đàn bà hay rơi lệ
Đàn ông ai cũng biết khóc thầm
Đàn bà lấy chồng
Đàn ông lấy vợ và tưởng mình đã lớn …
Trăm năm được mấy lần hò hẹn? 
Ái ân được mấy lần vui?
Đổi bao nhiêu cái ngậm ngùi
Được mấy nụ cười hạnh phúc?
Vẫy vùng trong đục
Tình yêu – cơn khát khôn cùng
Hàng triệu môi hôn tay nắm
Ai đa tình, ai thuỷ chung?
Ngồi quán cà phê và nghĩ ngợi mông lung
Cà phê đắng, và tình yêu cũng đắng …
 22.12.2003
NHIỀU LÚC …
Nhiều lúc muốn vứt mẹ hết thảy vào sọt rác
Những mua những bán
Báo cáo báo mèo
Những bình minh bắt đầu bằng alarm báo hiệu họp hành
Những ngày nôn nao sợ điều gì không kịp deadline 
Những cơn mơ thấy inbox đỏ lừ những email chưa đọc …
Nhiều lúc muốn vứt quách cho nhẹ đầu nhẹ óc
Những iphone, email, password, account
Những Facebook, Yahoo, WordPress, Google
Những thứ công cụ giải phóng tay chân nhưng bủa vây màng não …
Nhiều lúc muốn mù để đừng sáng sáng lên ba-sàm hay blog nọ kia đọc báo
Để không biết, không buồn và nghĩ ngợi linh tinh
Để không thở dài và đôi khi phẫn chí dẩu môi Đan Mạch chuyện xứ mình
Chuyện tử tế dài nhiều tập …
Nhiều lúc chỉ muốn lồng ngực trống không để không còn cảm giác
Để không cần ai bố thí cho mình Hiến Pháp
Để không cần ai định nghĩa dùm mình Tự Do
Để không cần ai vẽ lề
Để không cần ai dạy dỗ làm người thế nào cho phải đạo 
Nhiều lúc hèn hèn
Cũng thử giả vờ lơ láo
Bắt chước người đời không thấy – không nghe
Tự tiêm cho mình vài ba mũi gây mê
Được ít giờ sau lại tỉnh …
Nhiều lúc Chí Phèo
Thấy xung quanh Vũ Đại ngổn ngang lò gạch
Thị Nở bỏ làng đi nên tuyệt chủng cháo hành 
Lũ Bá Kiến đông còn hơn quân Nguyên
Chén rượu uống chưa khỏi mồm đã tỉnh 
Nhiều lúc buồn đời ngứa tay
Chỉ biết túm lấy câu thơ mà đánh 
25.1.2013
NGẠT
Tôi thấy mình đi qua thành phố
Còn dở hơi hơn cả đàn bò
Chỉ cần cỏ là đàn bò hạnh phúc
Chỉ cần rơm là đàn bò hoan hô 
Có con đường xác xơ lẽo đẽo theo tôi
Khóc nấc lên sau những lần bị đem ra đào bới
Những vết thương nhói lên sau những xẻng xà bần lấp vội
Triệu bàn chân sớm mai lại bước vô tình
Tôi thấy những nàng Tấm thị thành
Đi chơi game show, may áo dài sát nách
Mặc xường xám vô tư đi dự hội non sông
Sáo chửa sang sông, nàng đã vội theo chồng
Tôi thấy giữa công viên là những bàn cờ thế
Những đàn ông trẻ già nét mặt đăm chiêu
Những nước cờ trí tuệ biết bao nhiêu
Mà thế sự hết quẩn rồi lại bí?
Tôi cố hít thở bằng cái gọi là không khí
Cũng có vẻ oxy mà sao rất nặng nề
Giữa ban ngày mà nửa tỉnh nửa mê
Thành phố chắc lại đang cần dưỡng khí
Tôi giãy dụa giữa một ngày vô vị
Thoi thóp cùng tôi là cả triệu người
Đàn bò đi qua và ré lên cười
” Làm người đếch gì khổ thế? “
 18.4.2012

 ĐA CỰC
Một cộng một chưa chắc là hai
Nếu chúng ta ở trong trường không gian khác
Nếu hệ quy chiếu của chúng ta  không phải là các trục tung hoành
Nếu chúng ta có dịp ngồi uống bia cùng Albert Einstein 
Tư duy nhiều lúc có thể cong 
Ánh mắt có thể vòng vèo khó hiểu
Lời nói có thể mang ngữ nghĩa nhiều tầng
Chúng ta có thể sinh ra giống mà lại lớn lên khác nhau
Chúng ta hít thở và nghĩ ngợi đa chiều đa cực
Chúng ta vốn dĩ là những đám đông tưởng như vô thức
Cho nên bi kịch bắt đầu xảy ra
Từ lúc niềm tin được thay bằng chủ nghĩa
Từ lúc chân lý bị đầu cơ rồi phân phối độc quyền
Từ lúc chúng ta phải dối lòng nói những lời kẻ khác muốn nghe để đổi lấy bình yên
Là khi một ngày dài bằng thế kỷ
Chúng ta đa phần thực bất tri kỳ vị
Mâm cỗ cuộc đời dọn ra theo sẵn menu
Nghịch lý, vô luân, mâu thuẫn, giáo điều
Chúng ta đành nhẫn nhịn nuốt vào để không chết đói
Chúng ta như những hạt cát đôi khi cố lăn ngược chiều gió thổi
Sa mạc thì mênh mông
Chúng ta thì luôn hữu hạn giữa vô cùng
Tôi rỗi hơi viết nhảm ấy mà
Bạn đừng bi quan rồi nghĩ ngợi lung tung
” Chúng ta ” không cần phải gồm cả bạn
Ngày mai trời lại sáng
Kệ mẹ bọn ” chúng ta ” ỉ ôi sướt mướt
Kệ mẹ tôi – thằng dở hơi nói nhảm
Bạn cứ đi tìm kính thưa các thể loại niềm vui
Tôi bận mất rồi
Tôi đang muốn căng lên một tấm băng-rôn
” Thế giới này đa cực ! “
6.8.2013
NHIỀU KHI …
Nhiều khi để xua đêm tối
Chỉ cần làm một que diêm
Nhiều khi để xua im lặng
Chỉ cần lặng lẽ hát thầm
Nhiều khi để không cô độc
Bạn hãy ngủ cùng chó mèo
Nhiều khi để không đi lạc
Bạn hãy sẵn sàng phiêu lưu
Nhiều khi để không cần yêu
Bạn phải giả vờ đáng ghét
Nhiều khi để không sợ chết
Bạn phải nghĩ mình chết rồi
Nhiều khi để làm điều thiện
Chỉ cần dừng việc ác thôi
Nhiều khi để không dối trá
Chỉ cần im lặng được rồi 
Cuộc đời nhiều khi bé mọn
Chỉ là khoảnh khắc qua mau
Cuộc đời nhiều khi quá rộng
Sẩy chân chẳng thể ngoái đầu
Nhiều khi vì ngại xả rác
Nên tôi không đành nhảy lầu
Nhiều khi giữ gìn trật tự
Nên tôi chả buồn đi đâu 
Giữ gìn hoà bình thế giới
Tôi giấu cơn điên trong đầu
Một ngày vu vơ tháng chạp 
Có ai thấy hồn tôi đâu? 
 9.1.2014
Nói với con trai ...
Ngày con thôi nôi
Các chú các cô quấn lên người lá cờ tổ quốc
Xuống đường đòi lại đất quê hương
Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam
Là máu thịt không thể nào chia cắt ...

Rồi ngày mai lớn khôn

Con sẽ biết xem bản đồ thế giới
Giữa biển Đông vời vợi
Con thử tìm xem Hoàng Sa - Trường Sa
Những hòn đảo nhỏ rất xa
Mà máu xương bao thế hệ ông cha
Đã đổ xuống để giang sơn này gấm vóc
Ở đâu đó trong những bài con học
Sẽ là " Biển Đông" hay " South China Sea"?
Những đêm giao thừa liệu trên ti-vi
Người ta có còn trực tiếp cầu truyền hình với những người lính Trường Sa hồn hậu?

Thế giới này chao đảo

Địa cầu quay trên chiếc trục già nua
Mạnh được, yếu thua
Chân lý ấy vẫn chẳng thay đổi bao nhiêu kể từ ngày con người biết tranh giành miếng ăn trong những vòm hang tiền sử
"Nước Việt Nam ta lớn hay nhỏ?"
Cha còn nhớ người ta tranh luận trên diễn đàn ngày hôm qua
Mà hôm nay giọt nước mắt vỡ oà
Giọt nước mắt Việt Nam mằn mặn...
Giọt nước mắt Việt Nam chát đắng
Giọt nước mắt đau đáu nỗi buồn từ mấy nghìn năm ...

Cha nghe từ xa xăm

Tiếng reo hò của những đoàn quân xăm lên tay hai chữ kiêu hùng "Sát Thát"
Tiếng sóng gầm kiêu hãnh Bạch Đằng Giang
Cha ông từng viết những trang hùng sử vẻ vang
Bằng máu xương và những giọt mồ hôi nhọc nhằn quả cảm ...

Cha yêu con nhiều lắm

Nhiều như cha yêu mảnh đất quê hương
Muối mặn gừng cay, cau trầu vấn vương
Cánh cò lả vượt ruộng băng đồng lạc vào ca dao, cổ tích

Quê hương là máu thịt

Con sẽ hiểu thêm nhiều những lúc đi xa
Giữa Paris, London thèm một miếng dưa cà
Quê hương đó, khó quên mà giản dị ...

Rồi con lớn và biết nghĩ

Hãy nghĩ bằng tim, bằng óc quê hương

Cha ước mong

Con không phải xuống đường
Đòi lại quê hương vào một ngày Chủ Nhật ...
Võ Trung Hiếu, 17-12-2007

Bốn ông họ Lê



“Bằng cách nào cũng phải chiếm lại Hoàng Sa” – câu nói của Lê Duẩn qua lời bà Bảy Vân, phu nhân của ông, trong một cuộc trả lời phỏng vấn Đài BBC. 
Cho đến nay, chưa có bất cứ lãnh đạo nào của VN thể hiện quan điểm và quyết tâm sắt đá lấy lại Hoàng Sa như Lê Duẩn. Tầm nhìn sâu sắc của Lê Duẩn về các mưu đồ đen tối của TQ đối với VN đã được lịch sử chứng minh đầy thuyết phục.
Trong khi Hồ Chí Minh với tài ngoại giao kiệt xuất của mình đã cân bằng mối quan hệ tam giác phức tạp giữa VN, TQ và LX, làm cả hai nước “đàn anh XHCN” đều trợ giúp VN trong cuộc chiến với người Mỹ thì Lê Duẩn – không ít trường hợp, không ngần ngại bày tỏ sự không hài lòng của ông đối với các nhà lãnh đạo TQ. Ông giao thiệp với Mao một cách bình đẳng, nhận ra lối chơi chữ của Mao rất nhanh. Một lần Mao hỏi Lê Duẩn: “Có phải Việt Nam đã đánh thắng quân Nguyên và quân Thanh không?”. Lê Duẩn đáp: “Đúng, còn đánh thắng cả quân Minh nữa” – quân Minh là người Hán, dân tộc đa số của TQ. Ý của Lê Duẩn là chúng tôi đã và sẽ đánh thắng các ông, chúng tôi không sợ các ông đâu.
Trong một lần gặp khác, chẳng biết Mao có ý gì khi nói với Lê Duẩn rằng hiện ở nông thôn TQ thì địa chủ trở lại thống trị, còn ở thành thị thì giai cấp tư sản thống trị, vì rằng các Chủ nhiệm hợp tác xã đều lấy vợ là con của địa chủ, các giám đốc Xí nghiệp đều cưới con của tư bản làm vợ? Mao rất đểu, nói theo kiểu bóng gió, ám chỉ…? Lê Duẩn rất bực, nói với Trần Quỳnh,  “Cha này lý luận lang bang, lấy vợ địa chủ trở thành giai cấp địa chủ” (theo hồi ký Trần Quỳnh). Sử dụng từ “cha này” để chỉ Mao, điều đó có nghĩa là Lê Duẩn không hề coi Mao là “thần thánh” hay “lãnh tụ” gì cả. Khác với Mười Cúc Nguyễn Văn Linh, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, khi nói chuyện với Mao, thường gọi Mao là “Bác Mao” (Uncle Mao) – Thưa bác Mao! Đúng vậy, bác Mao. Như bác Mao nói…
Đối với Mao như thế, thì đối với Chu Ân Lai hay Đặng Tiểu Bình, có gì đáng ngại?
Lê Duẩn đã trách cứ Chu về việc ép VN ký Hiệp nghị Geneve, chia cắt hai miền Nam – Bắc, Chu đã phải tỏ ý xin lỗi ông. Đến năm 1972, Chu sang Hà Nội thông báo về cuộc đi thăm TQ của Nixon, Chu lại bị Lê Duẩn chất vấn, rằng TQ đưa VN ra đổi chác và Chu – lần thứ hai, lại phải xin lỗi ông. Khi Chu trở về nước, Lê Duẩn thậm chí không tiễn ông ta theo phong cách ngoại giao! Nhớ lại những năm năm mươi thế kỷ trước, Lê Duẩn hoạt động bí mật ở miền Nam, thường lánh sang Cambodia. Tại Phnôm Pênh, có những khi ông lặng lẽ quan sát dòng người vô tận Cambodia vẫy cờ hoa đón Chu Ân Lai – khi đó Chu thật nổi danh trên toàn thế giới. Thế nhưng giờ đây, ông đang đối mặt ngang hàng với Chu, kiên quyết bảo vệ lợi ích của VN.
Còn Đặng – một con người ghê gớm, đã không thể nào thuyết phục nổi Lê Duẩn đi với TQ để chống LX, dù ông ta hứa cho không VN 2 tỷ nhân dân tệ. Cú đụng đầu lịch sử giữa TQ và VN vào tháng 2 năm 1979, cũng có thể coi là giữa Đặng và Lê Duẩn, kết thúc với thất bại thảm hại của Đặng.
Lê Duẩn – tất nhiên, không phải là nhà quân sự chuyên nghiệp, song ý kiến của ông trong nhiều chiến dịch rất sắc sảo. Ông đã trực tiếp viết một bức điện gửi Văn Tiến Dũng, đại diện A.75, trong trận Buôn Ma Thuột: “Hai ngày nay tôi không ngủ được vì các anh đánh phân tán – Ba”. Nhưng thế nào là “đánh phân tán” thì ông không chỉ ra.
Sau trận Buôn Ma Thuột, tình hình phát triển quá nhanh làm các nhà lãnh đạo Bắc VN quyết định chiếm miền Nam trước mùa mưa. Thấy đã chắc ăn, Lê Đức Thọ bèn xin Lê Duẩn vào Nam và được Lê Duẩn đồng ý với lời dặn dò: lần này vào, nếu có gì trắc trở, hãy ở lại, giải phóng miền Nam xong rồi mới về.
Ngày 28.3.1975, Lê Đức Thọ đến Buôn Ma Thuột. Các lực lượng tại đấy nhận lệnh gấp rút chuẩn bị cuộc đón tiếp. Một địa điểm được chọn là căn cứ Trung đoàn 45 ở phía Đông thị xã, vừa đảm bảo an toàn, vừa đảm bảo bí mật và khang trang hơn nơi khác. Gần trưa, mọi công tác chuẩn bị đón tiếp tạm xong thì một tiếng nổ long trời vang lên, làm rung chuyển các cánh cửa chớp rồi xen kẽ là các tiếng nổ khác. Hóa ra, một kho đạn súng bộ binh nằm ngay cạnh phòng khách phát nổ. Thế là lại phải chạy nháo nhào tìm một địa điểm khác đón Lê Đức Thọ.
Đây không phải là lần đầu tiên Lê Đức Thọ vào Nam. Năm 1949, ông là Phó bí thư Xứ ủy Nam Bộ mà Bí thứ là Lê Duẩn. Năm 1955, ông tập kết ra Bắc và cuối năm đó, ông được bầu bổ sung vào Bộ chính trị. Trong cuộc tổng tấn công năm 1968, ông cũng vào Nam chỉ đạo nhưng đến tháng Năm, tình hình gần như không còn chút hy vọng gì vào một chiến thắng quân sự nữa, ông được gọi trở về Bắc để làm Cố vấn đặc biệt cho Đoàn đại biểu VNDCCH tại cuộc đàm phán Pari về VN. Ông có mặt ở nhiều sự kiện nổi bật của lịch sử VN, song hãy nghe Lê Duẩn nhận xét, “anh lạ thật… Những khi nào cần nổi danh là anh cứ xin tôi, đi Pari, rồi đi miền Nam khi sắp giành chiến thắng…”.
Và giờ đây, Lê Đức Thọ – người được giải thưởng Nobel Hòa bình với Kissinger, đang tiếp tục di chuyển vào Nam Bộ theo đường 14 với mục tiêu “giải phóng miền Nam”. Công binh được lệnh phải rà phá kỹ bom mìn, lại phải đưa nhiều xe tải chở đầy gạo chạy trước mở đường, tất cả tuyệt đối không đi chệch khỏi vệt bánh xe, khi nghỉ chỉ đứng giữa đường. Từ trạm đón tiếp của Trung ương Cục, một chiếc Honđa chở Lê Đức Thọ tới nơi làm việc của Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng đang nóng lòng đón đợi.
 
Đồng chí Lê Đức Thọ tại căn cứ Trung ương Cục miền Nam năm 1968. Ảnh tư liệu


Tại rừng Lộc Ninh, Trung ương Cục, Quân ủy Miền với sự chỉ dẫn chi tiết từ Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương, đang gấp rút vạch kế hoạch đánh chiếm Sài Gòn. Trời mưa, đường sá lầy lội, ông Thọ lo lắng tốc độ hành quân bị chậm lại trong những vần thơ:
Nghe chim tu hú gọi
Rừng Lộc Ninh sáng rồi
Suốt đêm qua không ngủ
Nằm đếm tiếng mưa rơi
Lo cho anh bộ đội
Lầy lội quãng đường dài
Xem ra, qua thơ ca, Lê Đức Thọ “lo cho anh bộ đội” không chỉ một lần. Nhân chuyến thăm biên giới phía Bắc, Tết năm 1983, Lê Đức Thọ có bài thơ nổi tiếng Điểm tựa:
Hàn thử biểu chỉ độ không
Đêm nay trời rét lắm
Cái rét biên thuỳ lạnh buốt thịt da
Cả núi rừng chìm đắm dưới sương khuya
Gió vi vút rít qua khe cửa nhỏ
Trằn trọc mãi thâu đêm chẳng ngủ
Thương anh nhiều anh chiến sĩ của tôi ơi
Những người lính VN nơi biên giới gần như “phát khóc”, bởi họ thấy cấp trên thấu hiểu cặn kẽ cuộc sống và chiến đấu của mình đến thế. Nếu “cụ” Thọ hiểu hoàn cảnh của mình nghĩa là Đảng sẽ hiểu. Và một khi Đảng đã hiểu thì Đảng sẽ có cách giải quyết – họ luôn tin tưởng điều đó.
Đây là cuộc sống của người lính:
Gạo sấy khoai mỳ, “bát canh toàn quốc”
Và “nước chấm đại dương” đỡ lúc đói lòng
Cũng có khi “thịt ấm chân răng”
Nhưng có bữa cơm toàn muối trắng
Hãy đọc thêm hai câu:
Đời chiến sỹ còn nhiều khổ cực
Quần áo mong manh, cơm có bữa chưa no
Hai câu thơ thật đơn giản, cũng chẳng có nhiều chất thơ lắm. Nhà thơ Vũ Quần Phương bình luận: hai câu thơ ấy “đủ lay động tâm hồn toàn quân và toàn dân ta. Cái hay của thơ ở đây không để rung đùi mà để dẫn tới hành động…đó là cái hay ở một cách nhìn, một thái độ đối với hiện thực, đó là cách nhìn tôn trọng hiện thực, tôn trọng hiện thực vì yêu thương con người”. (?!).
Dù sao phải thừa nhận, Điểm tựa là một hiện tượng thời ấy, người ta thảo luận, bàn tán, khen ngợi rất sôi nổi. Nếu không phải tác giả của nó là Lê Đức Thọ, người khác viết như thế là “chết liền” – vào thời điểm ấy. Có lẽ, cái đặc sắc nhất là ở chỗ nó nói lên được sự gian khổ của người lính nơi biên giới.
Năm sau, đón xuân ở Minh Hải, mảnh đất cuối cùng của đất nước, trong cảnh nắng ấm, nhà thơ lại nhớ về “anh bộ đội” đang chịu cảnh rét mướt ở biên thùy phía Bắc:
Đường lên biên giới đâu xa lắm
Nhưng khó thăm anh lại một lần
Mở đài nghe báo tin thời tiết
Đợt rét mùa này rét rét thêm
Tôi ở miền Nam tràn nắng ấm
Ước gì nắng ấm cả vùng biên
Ba từ “rét” của đoạn thơ ở đây cũng khá hay đấy chứ. Ý tưởng của tác giả, xem ra vẫn là “gửi nắng ra ngoài ấy”…
Thời ấy, các nhà lãnh đạo Bắc VN, phải vào sinh ra tử, không có điều kiện học hành bài bản, song họ am hiểu rất nhiều lĩnh vực. Và nhiều nhà lãnh đạo còn làm thơ, thích làm thơ. Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và tất nhiên – Tố Hữu, thường làm thơ và có không ít những vần thơ khá hay. Còn Lê Duẩn thì sao? Thật thú vị khi biết ông đã đọc bài thơ của mình tặng bà Bảy Vân (Nguyễn Thụy Nga) trong đám cưới của họ năm 1948 mà Lê Đức Thọ làm ông mai, Phạm Hùng làm chủ hôn:
Hỡi cô con gái Đồng Nai
Năm nay là mấy năm rồi cô yêu?
Hôm qua gió lạnh đìu hiu
Lòng cô man mác trăm chiều nhớ thương
Hôm nay trời tạnh mây quang
Gió xuân đầm ấm mùi hương đậm đà
Tự tình ta lại với ta
Say sưa bao xiết là ta với mình
Cho hay là giống hữu tình
Đố ai cắt được tơ mành làm đôi
Phải chăng đây là bài thơ duy nhất của Lê Duẩn? Nghe như thơ của Nguyễn Bính vậy. Hình như Lê Duẩn thích thơ Nguyễn Bính. Trong một lần Pháp càn vùng Đồng Tháp Mười, cơ quan phải di chuyển. Trần Bạch Đằng và Lê Duẩn cùng đi trên một chiếc xuồng ba lá, ông Đằng bơi lái, ông Duẩn bơi mũi, xuôi theo kinh Dương Văn Dương ra sông Vàm Cỏ Tây. Đường xa, bơi đêm, để quên mệt, ông Trần Bạch Đằng đọc bài “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính. Ông Lê Duẩn bảo đọc to lên một chút. Ông vừa bơi vừa nghe, thỉnh thoảng bình: hay. Gần sáng, đến nơi an toàn, ông bảo Trần Bạch Đằng đọc lại lần nữa và ông gật gù: Tay Nguyễn Bính này giỏi thật.
Lê Duẩn cũng rất am hiểu các vấn đề văn hóa. Một hôm, Trần Độ, bấy giờ là Trưởng ban Văn hóa – Văn nghệ Trung ương được gọi lên báo cáo với Tổng bí thư về vấn đề văn hóa để chuẩn bị cho Đại hội V. Ông hy vọng đây là dịp tốt để có thể trình bày với Tổng bí thư toàn bộ quan điểm đổi mới về văn hóa theo kinh nghiệm của LX. Thế nhưng, Trần Độ mới trình bày được mươi phút thì Lê Duẩn đã ngắt lời và nói luôn một mạch cho đến hết buổi sáng. Nói về văn hóa nhưng cách diễn đạt của Lê Duẩn đượm màu sắc triết học làm Trần Độ hết sức ngạc nhiên và thích thú. Và như thế, suốt cả buổi sáng, Trần Độ không nói thêm được một câu nào. Ông Duẩn hẹn chiều làm việc tiếp trong sự phấn khích. Trần Độ hy vọng buổi chiều sẽ tìm cách trình bày cho được ý kiến của mình. Nhưng vừa ngồi xuống ghế, chưa uống hết ly nước, ông Duẩn đã bắt đầu nói một mạch hơn cả tiếng đồng hồ. Nhân lúc ông Duẩn dừng lại uống nước, ông Độ chen vào nói, nhưng cũng chỉ được mươi phút, khi ông Độ dừng lại nhìn vào sổ tay, ông Duẩn “chiếm lại diễn đàn” và cứ thế nói cho đến hết cả buổi chiều.
Mặc dù không trình bày được ý tưởng của mình, song Trần Độ rất thán phục sự am hiểu về văn hóa của Lê Duẩn.
Tướng Lê Đức Anh
Con người ta khác nhau là ở phong cách. Người nào không có phong cách riêng, phải thấy rằng người đó không có gì hết. Nếu như phong cách của Trường Chinh là từ tốn, nghiêm trang, nói năng cân nhắc thận trọng, ít khi ngắt lời người khác thì phong cách của Lê Duẩn lại sôi nổi, mạnh mẽ, quyết đoán. Một khi ông đã định làm gì là làm ngay hoặc cho phép làm ngay.
Lê Duẩn có một cái đầu luôn luôn suy nghĩ, sáng tạo, ông đánh giá sự vật, hiện tượng một cách sắc sảo, có tầm nhìn xa.
Tháng 8 năm 1975, phát biểu tại cuộc họp trù bị của Hội nghị Trung ương lần thứ 24, Lê Duẩn đã có cái nhìn rất thoáng đối với nền kinh tế miền Nam:
“Xưa nay ở miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật. Nếu chúng ta đi sai quy luật mà đưa vào miền Nam thì càng sai lầm. Vì vậy, nay có được miền Nam là để chúng ta thấy lại cho rõ hơn. Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột người ta dữ mà năng suất lao động vẫn cao”.
“Tại sao người thợ ở ngoài này không bằng người thợ ở trong kia? Mình trả lời làm sao? Anh là chủ nghĩa xã hội mà tại sao anh không được bằng trong kia, anh trả lời làm sao?”
“Ở miền Bắc trước đây phải hợp tác hóa ngay lập tức…Nhưng miền Nam bây giờ không thể làm như vậy. Miền Nam bây giờ anh không để cho giai cấp tư sản phần nào đấy, mà nông dân thì phần nào hóa tư sản rồi, anh mà làm sai đi thì công nông không liên minh được đâu. Phải có tư sản, phải cho nó phát triển phần nào đã”.
Tiếc rằng, những tư tưởng đó không được phát triển, có thể bị chìm đi trong không khí say sưa vì thắng lợi và mười năm sau đó, dưới sự lãnh đạo của ông, kinh tế VN xuống dốc thê thảm, lâm vào khủng hoảng chưa từng có. Những sai lầm, khuyết điểm đó, “anh Ba là người chủ trì có trách nhiệm lớn” – Võ Nguyên Giáp.
Có thể nhận xét, Lê Duẩn là “nhà cách mạng thành công, người xây dựng thất bại” hay không?
Tư tưởng về chiến tranh của Lê Duẩn bao giờ cũng sâu sắc. Một lần, Lê Duẩn gọi Lê Trọng Tấn và Lê Đức Anh lên chỉ thị, cố gắng giải phóng xong Cambodia sớm rồi rút quân về Nam Bộ làm ruộng. Lúc bấy giờ, trong Trung ương cũng có nhiều ý kiến khác nhau về chiến lược tại Cambodia. Nhưng rồi trên thực tế, VN đã ở lại Cambodia hơn mười năm với 200 ngàn quân, 4 Ủy viên Bộ chính trị, 9 Ủy viên Trung ương, 2 Phó thủ tướng, 30 Thứ trưởng, 54 Thường trực tỉnh ủy đã từng có mặt và trực tiếp làm nhiệm vụ tại Cambodia (theo Huỳnh Anh Dũng, cựu Đại sứ VN tại Cambodia).
Ngày 25.12.1978, VN sử dụng một lực lượng hùng hậu gồm bộ binh, hải quân, không quân, xe tăng, thiết giáp….tổng tấn công Cambodia. Tướng Lê Trọng Tấn là Tư lệnh chiến dịch. Còn Lê Đức Thọ, đại diện của Bộ chính trị, giám sát tổng quát cuộc hành quân, trực tiếp chỉ đạo toàn bộ việc giải quyết cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam.
Với sức mạnh quân sự tuyệt đối của VN, Cambodia nhanh chóng sụp đổ.
Sau khi giải phóng Cambodia, Lê Đức Thọ là “Toàn quyền” Cambodia, Lê Đức Anh là Tư lệnh quân tình nguyện VN và Lê Khả Phiêu là Phó Tư lệnh chính trị quân tình nguyện. Ba ông họ Lê đóng vai trò quan trọng nhất tại Cambodia, tất nhiên, dưới sự chỉ đạo tối cao của một ông họ Lê khác từ Hà Nội – Lê Duẩn.
Hơn mười năm quân đội VN ở Cambodia là một trong những giai đoạn khó khăn, phức tạp nhất trong lịch sử VN hiện đại, để lại nhiều vấn đề mà cho đến nay cũng chưa thể đánh giá hết được.
Chúng ta đều biết, trong thời gian tướng Lê Đức Anh chỉ huy quân tình nguyện VN đã xẩy ra sự kiện Xiêm Riệp, phản ánh sự ấu trĩ không thể tin nổi của quân báo VN tại Cambodia. Bọn Pol Pot, được các cố vấn TQ bày mưu, bèn cho một tên Trung đoàn phó ra trá hàng nhằm đánh phá từ bên trong. Đáng ngạc nhiên là quân báo VN lại mắc mưu trá hàng của tên này một cách dễ dàng. Hàng loạt cán bộ bị bắt. Xe của bộ đội VN đi đến đâu là ở đó khiếp sợ. Cho đến khi một cán bộ cao cấp của Cambodia tự sát để phản đối, VN mới nhận ra sai lầm.
Tướng Lê Đức Anh cho rằng, khi xẩy ra vụ Xiêm Riệp, ông ta đang chữa mắt ở Liên Xô, Lê Đức Thọ điện gọi về gấp. Bộ chính trị họp xét vụ này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã phê phán rất gay gắt và đề nghị một mức kỷ luật rất nặng đối với toàn bộ cán bộ chủ chốt của Bộ tư lệnh mặt trận 479 và 719 có liên quan đến vụ việc. Sau khi bàn bạc, Bộ chính trị giao cho Lê Đức Anh xử lý. Vấn đề là có chuyện tướng Hồ Quang Hóa đã ra Hà Nội báo cáo “cấp trên”. Vậy “cấp trên” đó là ai? Lê Đức Anh đã khéo léo đề nghị chỉ xin xử lý “những việc cụ thể” và “những con người cụ thể”, Bộ chính trị đồng ý. Rốt cuộc, chỉ có tướng Hồ Quang Hóa và Tư Thanh bị kỷ luật, mỗi người bị hạ một cấp và cho về nước. Bộ chính trị lại cử Chu Huy Mân sang xin lỗi đảng Cambodia.
Việc tướng Lê Đức Anh cho xây dựng tuyến tuần tra biên giới, biệt danh là K5, dài tới 800 cây số, cho đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Một số ý kiến cho rằng K5 tốn kém và không cần thiết.
Tướng Lê Đức Anh là người khá sáng tạo khi chấp hành lệnh của cấp trên. Sau Hiệp định Pari, lệnh của trên là lui quân về vùng U Minh để củng cố, bấy giờ ông là Tư lệnh Quân khu IX cho rằng, nếu lui là mất đất, mất dân và ra lệnh cho Tham mưu trưởng cho quân ở yên, không có lui gì hết. Tại Cambodia, ông không chấp nhận bỏ chế độ Đảng ủy trong quân đội, dù Đại tướng cố vấn Liên Xô nói, đồng chí không chấp hành là không mácxít. Ông đáp, đồng chí hãy chỉ cho tôi, cả bản tiếng Nga và bản tiếng Việt, chỗ nào Mác nói trong quân đội không cần chế độ đảng ủy thì tôi nhận là sai và xin chấp hành. Bộ chính trị sau đó họp ở Sài Gòn nhất trí với ý kiến của ông.
Năm 1974, Lê Đức Anh được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng, đến năm 1984, ông đã là Đại tướng. Sau khi hai Đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn mất đột ngột, Lê Đức Anh lên làm Bộ trưởng Quốc phòng. Trước Đại hội VII, ngày 24.6.1991, Lê Đức Anh gửi thư cho “anh Linh, anh Tô, Bộ chính trị, Ban bí thư”: “Xin Đảng cho phép tôi, phân công cho tôi chuyên trách công tác tổng kết kinh nghiệm chiến tranh…và xin được rút khỏi danh sách đề cử vào Bộ chính trị Trung ương khóa VII”. Thế nhưng, Lê Đức Anh vẫn trúng cử Trung ương, Bộ chính trị và năm 1992, Quốc hội đã bầu Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước.
Đạo đức cộng sản như vậy, chớ đâu phải như đạo đức phong kiến.
Trước mắt tôi là cuốn Tam Quốc chí, kể chuyện Tào Phi (con cả Tào Tháo) phế bỏ vua Hiến Đế. Các “cố vấn” của Phi ép vua Hiến Đế phải thảo chiếu nhường ngôi cho Phi. Tào Phi nghe xong chiếu, muốn nhận ngay. Song, Tư Mã Ý can rằng, chớ nên nhận vội, điện hạ hãy dâng biểu nói nhún mà từ đi, để bịt miệng thiên hạ dèm chê. Phi nghe lời, sai làm bài biểu, nói nhún rằng đức mình mỏng lắm, xin cầu người đại hiền khác để nối vào ngôi trời. Vua xem xong, trong bụng nghi hoặc, hỏi quần thần, Ngụy Vương khiêm tốn không chịu nhận, thì làm thế nào? Hoa Hâm tâu, bệ hạ phải giáng chiếu lần nữa, Ngụy Vương tất phải nghe. Phi tiếp được tờ chiếu, mừng rỡ lắm, bảo Giả Hủ, tuy rằng hai lần có chiếu, nhưng vẫn còn ngại đời sau chê cười ta thoán thiết, thì làm thế nào? Hủ thưa, việc ấy cực dễ, hãy sai Hoa Hâm nói với vua làm một cái đền thụ thiện, chọn ngày lành tháng tốt, hội cả công khanh lớn nhỏ đến hết ở dưới đền, để thiên tử nhường ngôi cho điện hạ, như thế thì không còn ai nghi việc gì, mà bịt được mồm thiên hạ. Tào Phi lên ngôi vua như thế đấy.
Năm 1997, Lê Đức Anh thôi chức Chủ tịch nước và cùng năm đó, một ông họ Lê khác trở thành Tổng Bí thư trong một Hội nghị Trung ương chứ không phải Đại hội Đảng – Lê Khả Phiêu.

Nguồn: Lê Mai Blog

Đêm giữa ban ngày - Vũ Thư Hiên - Chương 31

Tên tuổi Lê Ðức Thọ ngày nay không những được biết đến ở Việt Nam, mà cả trên thế giới. Hình ảnh Lê Ðức Thọ được in trong những cuốn từ điển bách khoa, với tiểu sử tóm tắt và sự nhấn mạnh về công trạng tìm kiếm hòa bình cho cuộc chiến tại Việt Nam trong cuộc hòa đàm Paris với Henry Alfred Kissinger(1) và được trao giải thưởng Nobel hòa bình cùng với ông ta trong năm đó.
Ở Việt Nam tên Lê Ðức Thọ gắn liền với vụ nhóm xét lại chống Ðảng, và rất nhiều vụ oan khuất khác do Ban Tổ chức Trung ương tiến hành.
Tôi tiếc không được biết Lê Ðức Thọ một cách gần gụi để có thể viết nhiều và viết kỹ về nhân vật một thời làm mưa làm gió trên chính trường Việt Nam. Hi vọng rồi đây sẽ có người làm việc này một cách nghiêm túc, bởi vì Lê Ðức Thọ là một hiện tượng đặc thù trong hình thái xã hội từng được gọi là xã hội chủ nghĩa.
Ý định của Lưu Quý Kỳ về việc cho ra một tờ báo châm biếm tương tự tờ Cá Sấu của Liên Xô để phê phán các hiện tượng tiêu cực, mà tôi có nhắc tới trong một đoạn trên, không phải là ý định suông. Ðiều Lưu Quý Kỳ không ngờ là ý muốn chân thành của anh đã dẫn tới tai họa. Lê Ðức Thọ xồng xộc đến tận Sở báo chí để tự mình uốn nắn ý nghĩ ngạo ngược của anh. Mà Lưu Quý Kỳ được Thọ coi như đệ tử ruột một thời. Tinh thần cảnh giác cao chưa một lần ngủ quên của Sáu Búa Lê Ðức Thọ không thể lơ là để xảy ra một sự lỏng dây xích như vậy.
Tôi có mặt ở đấy khi xảy ra sự việc.
Con người cao to, tóc bạc trắng, với giọng nói cố ý kéo dài bắt người nghe chờ đợi câu tiếp theo, để lại trong tôi ấn tượng nhạt nhẽo và khó chịu. Tôi dị ứng với những gì không thật. Trong Lê Ðức Thọ tôi nhìn thấy đầy rẫy của giả. Mọi người khúm núm, sợ sệt. Tôi nhìn Thọ dửng dưng, bằng con mắt lạnh lùng.
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ở tuổi 30, chính quyền đã vững vàng, đám lãnh tụ đã học thuộc bài lên xe xuống ngựa xênh xang, đệ tử bâu quanh như ruồi thấy mật. Một chút khiêm tốn giả vờ, một chút bình dân đóng kịch, trộn với rất nhiều phô trương quyền thế, là nét nổi bật trong Thọ. Nói tóm lại, một tên hãnh tiến điển hình. Trong cuốn Sửa Ðổi Lề Lối Làm Việc ông Hồ Chí Minh gọi căn bệnh này là bệnh lãnh tụ.
Vào những năm đang được nói tới Lê Ðức Thọ là ủy viên Ban bí thư, ủy viên Thường vụ Trung ương Ðảng. Nhưng cả hai chức ấy chẳng có nghĩa gì so với một chức nghe khiêm tốn hơn, là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương. Thọ giữ chức này ba mươi năm liền, kể từ khi ra Bắc.
Từ một cơ quan bình thường, mang nặng tính chất sự vụ, làm công việc quản lý cán bộ Ðảng thời Lê Văn Lương, Ban Tổ chức Trung ương trong tay Thọ nhanh chóng trở thành cơ quan siêu mật thám, nắm trong tay quyền lực cao nhất, mạnh nhất trong toàn bộ hệ thống Ðảng. Nó bao trùm tất cả, đứng trên tất cả. Nằm trong quyền điều khiển của nó có cả Bộ Nội vụ. Với thể chế Ðảng cầm quyền, tình hình đó là lẽ đương nhiên.
Ban Tổ chức Trung ương của Lê Ðức Thọ trong thực tế không chỉ nắm lý lịch đảng viên và cán bộ Ðảng, mà cả cán bộ chính quyền, từ cấp thấp nhất tới cấp cao nhất, theo một hệ thống dọc.
Mỗi cán bộ đều có một cuốn lý lịch, nó dính vào anh suốt đời, như một cái bướu. Mỗi lần xét lên lương, xét cho đi học, xét cấp nhà, thậm chí một cái phiếu mua xe đạp, là một lần lý lịch anh lại được mở ra, được tính đến. Giá trị con người tính bằng mức độ trung thành với Ðảng, hồng là hơn chuyên, đức là hơn tài. Lý lịch là chứng chỉ xác nhận giá trị xã hội của mỗi cá nhân thành viên, do đó nó quan trọng vô cùng. Lý lịch còn được cập nhật, được bổ sung liên tục bởi công an chìm và nổi, bởi cán bộ tổ chức, cán bộ bảo vệ, các bạn đồng sự, bởi ông hàng xóm hoặc ông tổ trưởng dân phố. Hết thảy đều được dạy dỗ để theo dõi lẫn nhau, được khuyến khích thu thập tin tức về nhau.
Nhân vô thập toàn, con người ta ai cũng có lúc mắc khuyết điểm, không lúc này thì lúc khác, không ở nơi này thì nơi kia. Nếu chẳng may khuyết điểm bị tổ chức phát hiện, nó sẽ được ghi nhận, được xếp vào hồ sơ, còn sau này có dùng đến hay không, dùng vào lúc nào, là chuyện khác.
Tại Hỏa Lò tôi ngạc nhiên thật sự khi Huỳnh Ngự, với nụ cười trịch thượng trên môi, chìa cho tôi xem bản liệt kê tất cả những gì tôi đã viết, đã in, trong đó có nhiều cái ba lăng nhăng chính tôi cũng quên bẵng từ lâu. ỉ thì cứ cho rằng từ năm 1961 khi tôi viết Ðêm Mất Ngủ bị Tố Hữu đánh, lúc ấy nghi ngờ tôi là có lý. Nhưng làm sao trong hồ sơ lại có cả những bài báo ngô nghê đăng trên tờ Nhân dân và Văn nghệ từ mãi những năm 1954-1955, khi tôi còn là một con chiên ngoan đạo ? Thì ra khi có một bút danh mới xuất hiện những cán bộ tổ chức theo dõi văn nghệ liền ghi ngay vào sổ, và nếu có một chút nghi ngờ thì một hồ sơ liền được lập. Nếu không làm sao người ta có thể có những bản liệt kê những thứ tầm phơ như thế ?
Dù có căm ghét hệ thống quản lý cán bộ ấy tới mức nào chăng nữa tôi vẫn phải khâm phục tính chất vô nhân và vô luân hoàn hảo của nó. Về hệ thống của Thọ cần có nhiều công trình nghiên cứu nghiêm túc trên hai bình diện : môi trường xã hội cần và đủ cho sự nảy sinh và tồn tại của hệ thống, cách vận hành nó. Ðảng cộng sản Việt Nam có quyền tự hào - trong lĩnh vực này kể cả Gestapo của Ðệ tam Ðế chế cũng khó sánh được với Ban Tổ chức Trung ương.
Bên cạnh Ban tổ chức Trung ương, Lê Ðức Thọ đặt ra Ban bảo vệ sức khỏe Trung ương. Nó được lập ra để bảo vệ sức khoẻ cho các ủy viên Trung ương, nhưng chủ yếu là các Trung ương ủy viên cổ cánh, và trước hết là các ủy viên Bộ Chính trị. Theo quy định, cán bộ đã tham gia hoạt động cách mạng trước 9-1945 đều nằm trong sự chăm sóc của Ban này, nhưng đó là quy định được đặt ra cho vui chứ không phải thực tế là như vậy. Không hề có dấu bằng giữa một đảng viên chịu đựng nhiều hy sinh cho cách mạng, với một ủy viên Bộ Chính trị đỏ da thắm thịt.
Sức khỏe các ủy viên Bộ Chính trị thời Duẩn-Thọ đượctiêu chuẩn phục vụ tối đa, với tất cả khả năng mà nền y học Việt Nam hiện đại có. Trong tay Ban bảo vệ sức khỏe Trung ương có những bác sĩ hàng đầu ở các bệnh viện tốt nhất. Có vị còn được cấp phát một nữ sinh viên để thứ bảy chủ nhật đến săn sóc sức khoẻ và bầu bạn cho đỡ buồn. Khi cô sinh viên "xin phép chú cháu đi lấy chồng" thì chú nước mắt nước mũi giàn giụa nằng nặc giữ cô lại. Ðời con gái có thì, cô ta không chịu, thế là nhà lãnh đạo ngã bệnh, các chuyên gia Việt Nam khám không ra, chữa không được, ông phải đáp chuyên cơ(2) ra nước ngoài chạy chữa. Cuộc tình bao cấp được Thọ cho quay phim, chụp ảnh lén, sẽ có lúc dùng tới. Chuyện thâm cung bí sử này lọt ra ngoài cũng từ cái Ban bảo vệ sức khỏe Trung ương nọ.
Cái sự ham muốn quyền lực thường có ở những người đã được nếm mùi quyến rũ của nó. Nhưng ở Lê Ðức Thọ nó mang một sắc thái đặc biệt, với một bề ngoài đạo đức giả điêu luyện. Những người tiên đoán mâu thuẫn giữa Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ nói rằng cặp này sớm muộn sẽ loại trừ nhau chính là do quyền lực. Tôi nghe vậy biết vậy, chứ không nghĩ rằng nhận định của họ có sở cứ, mặc dầu đó là những người biết cả Duẩn và Thọ từ những năm ở bưng biền. Sau mới biết là đúng.
Cuối năm 1967 tôi và mẹ tôi vào Hà Ðông thăm bác Ðinh Chương Dương, bác kể mới tháng trước có mấy cán bộ ở Ban lịch sử Ðảng vào gặp bác để lấy tài liệu về phong trào cách mạng và cộng sản ở Nam Ðịnh. Mấy nhà sử học quan phương một mực dỗ dành nhà cách mạng lão thành xác nhận bằng văn bản rằng Lê Ðức Thọ là người cộng sản đầu tiên ở Nam Ðịnh. Bác Ðinh nghe rác tai quá, mới bảo họ :"Này các anh, nghe tôi khuyên đây : nếu muốn chép sử thì nhất nhất phải chép theo sự thật. Còn muốn viết sử thì cứ việc viết theo ý các anh muốn, hoặc theo ý người trên. Không làm được Tư Mã Thiên thì làm thư lại mà giữ lấy nếp nhà lương thiện". Kể lại chuyện này, bác Ðinh nói với tôi :"Khi bố cháu đã hoạt động cách mạng rồi thì anh Thọ này còn là học sinh(3). Chẳng hiểu sao anh ta lại thích được ghi vào sử đảng rằng anh ta là người cộng sản đầu tiên ở Nam Ðịnh đến thế ? Con người tham thật, được bao nhiêu cũng chưa vừa lòng". Anh Kỳ Vân kể hồi anh đã là xứ ủy viên Bắc Kỳ, Lê Ðức Thọ cũng từng hoạt động với anh. "Hồi ấy hắn ta không như bây giờ bây giờ đâu. Khiêm tốn lắm, nhũn nhặn lắm. Mà trình độ hiểu biết chính trị thì a b c, biết cái khỉ gì đâu. Cho nên nịnh Trường Chinh lắm, nghe Trường Chinh như nghe thánh sống. Thế mà sau năm 54 ở trong Nam ra hắn đã câng câng, nhìn thiên hạ bằng nửa con mắt. Trường Chinh nâng đỡ hắn là thế, vậy mà khi Trường Chinh thất thế, hắn cũng vênh váo cả với Trường Chinh mới tệ".
Mà nào có phải Lê Ðức Thọ là nhà cách mạng kiên cường cho cam ! Năm 1943, ông Sao Ðỏ Nguyễn Lương Bằng vượt ngục Sơn La về ở nhà tôi, tại 65 phố Nhà Rượu (phố Nguyễn Công Trứ bây giờ), ông còn bảo cha tôi :"Anh chịu khó đi Nam Ðịnh tìm thằng Khải(4) hỏi thẳng nó xem nó có còn muốn hoạt động với anh em nữa không, hay chỉ nằm nhà ôm vợ ?". Cha tôi đạp xe đi Dịch Lễ, tìm được Lê Ðức Thọ, lôi Thọ ra khỏi cái giường êm, trả về cho tổ chức. Về chuyện này cha tôi có ghi lại trong tập hồi ký "Tháng Tám cờ bay".
Lạ nữa là chẳng phải một mình Lê Ðức Thọ làm to. Hai người em ruột Thọ là Ðinh Ðức Thiện (tức Phan Ðình Dinh) và Mai Chí Thọ (tức Phan Ðình Ðống), cho tới Cách mạng Tháng Tám chưa hề có tiếng tăm trong hàng ngũ cách mạng cũng làm to nốt. Một người lên đến thượng tướng, bộ trưởng Bộ Công nghiệp nặng, Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí, một người được phong đại tướng ngành Công an khi về hưu. Những nhà cách mạng lão thành cứ ngẩn ngơ trước sự thăng tiến vù vù trên hoạn lộ của ba anh em nhà nọ. Quả là sự hi hữu trong lịch sử.
Người làng Dịch Lễ nói rằng ba anh em Khải-Dinh-Ðống lên nhanh thế là nhờ mồ mả. Tôi không tin. Sau này, được chính anh cháu ruột Lê Ðức Thọ, một nhà khoa học hẳn hoi chứ không phải người không hiểu biết, kể cho tôi nghe chuyện ngôi mộ cụ thân sinh Lê Ðức Thọ tôi mới đâm ra ngờ vực - chẳng lẽ thuật để mả có từ lâu đời ở nước ta lại có thật ? Không khoa học nào thừa nhận môn phong thủy, nhưng trong chuyện vận may của nhà họ Phan xem ra nó lại có lý hơn mọi cách giải thích khác. Sống vì mồ vì mả, không sống vì cả(5) bát cơm, không phải vô lý mà các cụ ta đã có câu như vậy.
Nhà khoa học kể : gia đình Lê Ðức Thọ gồm hai chi. Chi trên, ngành cả, là chi bác ruột của Thọ, cụ Phan Ðình Hòe, và chi dưới, cụ Phan Ðình Quế, thân sinh ra ba ông quan lớn sau này. Cụ Hòe từ nhỏ tư chất thông minh, văn hay chữ tốt, sau đỗ đạt cao, làm quan nhất phẩm, thượng thư hay là cái gì đó tương tự, tôi nghe nhưng không nhớ. Ông em ruột cụ là cụ Quế thì ngược lại, học trước quên sau, được cái tính củ mỉ cù mì, an phận thủ thường ở nhà với vợ, chịu khó cày sâu cuốc bẫm, chăn gà chăn lợn.
Cụ Hòe thôi việc quan, được một thầy địa lý nổi tiếng trong vùng chọn cho một huyệt tốt phòng khi cụ hai năm mươi, gọi là huyệt Lỗ Ao. Tại sao nó có tên như vậy thì nhà khoa học không biết, cũng không được ai giải nghĩa. Thế nhưng cụ Hòe lại thọ, thành thử huyệt đã sẵn mà cụ vẫn sống phây phây để rồi gặp được một thầy địa lý khác, theo lời thiên hạ đồn thì cao tay hơn ông thầy trước nhiều.
Thầy địa lý này trẻ mà kênh kiệu, cụ Hòe vời mấy lần mới chịu tới. Trước mặt cựu thượng quan thầy cung kính chắp tay thưa : "Kẻ hèn võ vẽ chuyện đất đai, nghe lời cha mẹ dạy trước nay làm việc này chỉ cốt được sự phúc đức. Thấy ai không hiểu biết, lỡ đặt cha mẹ hoặc thân nhân nhằm chỗ đất độc thì mách cho người ta đặt lại kẻo rồi sau di hại đến con cháu. Chứ tìm đất tốt phát vương phát bá thì kẻ hèn này không có tài ". Cụ Hòe nói muốn nhờ thầy xem lại huyệt Lỗ Ao. Thầy vâng lời, xem xong rồi thưa :"Bẩm, quan lớn là bậc đa kiến văn, trí lự hơn người, xin quan tự định liệu. Huyệt này đúng là phát, phát lắm. Tiếc thay, nó phát một đời, nhưng lại bị nguyền rủa muôn đời".
Cụ Hòe giật mình, dặn con cháu :"Công hầu khanh tướng chẳng qua chỉ là giấc mộng hoàng lương. Ta chết đi chúng bay cứ chọn chỗ cao ráo cho ta nằm. Ta không muốn giòng họ ta vì phát một đời mà chịu tiếng xấu muôn đời !". Con cháu nghe lời bỏ huyệt Lỗ Ao. Cụ Hòe có để lại một bài tứ tuyệt nói lên ý trên, đúng là khẩu khí của bậc hiền nho, nhưng nhà khoa học kể chuyện này không thuộc.
Cụ Quế tiếc rẻ cái huyệt phát, bảo: "Bác cả không nằm, để tao nằm". Cụ qua đời, con cháu táng vào huyệt Lỗ Ao.
Câu chuyện này tôi được nghe vào năm 1966, thời cực thịnh của Lê Ðức Thọ.
Cho đến khi tôi viết những dòng này Lê Ðức Thọ bị nguyền rủa đã nhiều. Trong cả nước. Từ dưới dân đen tới những tầng cao chế độ. Không phải chỉ những người bị Lê Ðức Thọ hãm hại và con cháu họ, mà cả những người vô can. Người ta coi Lê Ðức Thọ là đệ nhất gian thần trong lịch sử nước nhà.
Ðinh Ðức Thiện không chịu chung những lời nguyền rủa với ông anh cả. Trong cuộc đời không dài Ðinh Ðức Thiện đã giữ những chức vụ rất quan trọng - bộ trưởng Bộ Cơ khí và Luyện kim, Trưởng ban xây dựng Khu gang thép Thái Nguyên, Phó chủ nhiệm Tổng cục hậu cần, Tổng cục trưởng Tổng cục dầu khí, hàm thượng tướng. Ông ít học. Trình độ học vấn không quá bậc sơ đẳng. Thế nhưng Ðinh Ðức Thiện khinh trí thức lắm. Ông hạ lệnh cho các kỹ sư điện tính toán thời hạn lắp đặt đường dây cao thế Thái Nguyên - Hà Nội. Họ tính kỹ rồi báo cáo lên Ðinh Ðức Thiện: không thể dưới hai năm. Ông ta nghe xong liền nổi khùng :"Rặt một lũ ăn hại đái nát ! Làm chó gì mà mất những hai năm. Tôi mà ra lệnh cho công binh làm ấy à, chỉ hai tháng là cùng. Tính với chả toán, tính như con c... Các anh lúc nào cũng cúi đầu làm theo sách vở của bọn thực dân đế quốc. Vào rừng chặt cây về mà làm cột, mắc điện vào. Là xong. Trí thức với chả trí ngủ !". Người kể lại chuyện này là một kỹ sư tốt nghiệp Cao đẳng kỹ thuật thời Pháp, hôm ấy được nghe Ðinh Ðức Thiện trực tiếp quát mắng.
Các kỹ sư tốt nghiệp ở các nước xã hội chủ nghĩa cũng chẳng được ông tướng trọng vọng hơn. Họ dặn nhau :"Ðến yết kiến lão phải phơi nắng vài ngày cho da đen đi cái đã. Mà nhớ lấy nhá, chớ có đi giày tây, chớ có diện củ(6), lão hò hét gì mặc lão, cứ vâng dạ. Chớ cãi, cãi lão chỉ có chết". Thấy anh nào trắng trẻo, ăn vận sạch sẽ, có dáng ở Tây về, ăn nói thiếu thưa bẩm, cử chỉ không giữ gìn thận trọng trước cấp trên là ông quan hét ầm ầm:"Ði xuống cơ sở(7). Ngay lập tức, không oong đơ gì hết, Lao động một năm rồi về đây gặp tao". Ðinh Ðức Thiện dị ứng với bằng cấp. Kẻ có bằng cấp muốn được ông thu dụng phải nhoài người ra mà nịnh ông cho tới khi ông mềm lòng.
Có một thời sự thiếu học được coi là niềm tự hào - người ít học là người có quá khứ trong sạch, không dính với thực dân, phong kiến. Ðinh Ðức Thiện tự hào về sự thiếu học của mình lắm. Ông vỗ ngực đồm độp :"Xem tao đây này, tao chẳng có cái bằng chó nào hết, thế mà tiến sĩ kỹ sư sợ tao một phép. Chúng nó ỷ có học, nhưng học gì lũ chúng nó, học vẹt ấy thì có, rời sách vở ra là chịu chết. Trí thức mà không có thực tế chỉ là cục c... Chính tao này, tao chỉ đạo kỹ thuật cho chúng nó, chứ ai ? Nghe cái bọn quen bơ thừa sữa cặn ấy chỉ có mà ăn cháo, ăn cháo !".
Cũng lại là công nhân theo lý lịch tự khai chứ không theo định nghĩa của Mác, Ðinh Ðức Thiện khó chịu với mọi biểu hiện ông cho là ăn chơi của cấp dưới. Lúc nào ông cũng phô cái quá khứ nhọc nhằn. Thực ra quá khứ của ông chẳng nhọc nhằn gì, người làng Dịch Lễ nói vậy. Ông sướng từ bé, lớn lên ra tỉnh ăn chơi lêu lổng, chim gái thành thần, họ kể. Nhưng ông cứ xưng xưng nói thế. Ông không cho phép cái lũ không biết nhọc nhằn là gì được phép sung sướng. Ông chỉ cho phép mình sung sướng thôi. Mà Ðinh Ðức Thiện là người biết cách để sung sướng lắm.
Hồi kháng chiến chống Pháp, công tác tại Liên khu 3, Ðinh Ðức Thiện rủ Hoàng Minh Chính mở một hộp đêm để giải sầu :"Chúng mình đầu tắt mặt tối, vào sinh ra tử, khổ bỏ mẹ, phải có một chỗ để thỉnh thoảng giải khuây, làm một phát cho khoái". Hoàng Minh Chính không đồng tình :"Mày nói thế chó nó nghe được. Cán bộ cách mạng mà làm bậy, tổ chức kỷ luật chết". Ðinh Ðức Thiện cười vào mặt Hoàng Minh Chính :"Xì, mày ngu bỏ mẹ, tiền lấy ở quỹ đen, mình làm đen luôn, giữ bem(8) tốt, thằng chó nào biết !". Hoàng Minh Chính kể cho tôi nghe chuyện này vào mùa hè năm 1965, cũng nhân nói tới sự thăng tiến kỳ lạ của ba anh em họ Phan. Anh không hề có ác cảm với Ðinh Ðức Thiện khi kể lại câu chuyện đó. Hai người là bạn với nhau một thời, tuy không thân thiết.
Một người bạn tôi có hồi công tác dưới quyền Ðinh Ðức Thiện, thường được ông cho đi săn cùng. Ði săn là thú chơi của Ðinh Ðức Thiện. Anh kể mỗi lần ông ta ra lệnh đi săn là mỗi lần nhân viên phục vụ ông tướng quýnh quáng sửa soạn đủ thứ ông tướng cần, không được để thiếu thứ gì. Ông đi một xe, một xe chở lính hầu, súng săn, xoong nồi, bia rượu và trăm thứ bà rằn khác, kể cả lều bạt phòng khi ông hứng lên nghỉ lại trong rừng.
Sinh ư nghệ tử ư nghệ, Ðinh Ðức Thiện chết bất đắc kỳ tử trong một chuyến đi săn. Ðâu như lúc mở cửa xe bước xuống Ðinh Ðức Thiện bị súng cướp cò, đạn bắn vào đầu. Sau cái chết đột ngột của viên tướng có tin đồn : Ðinh Ðức Thiện bị hạ sát bởi tay Lê Ðức Thọ. Trước đó tôi cũng có nghe thiên hạ nói nhiều về mối bất hòa giữa hai anh em họ Phan. Người họ Phan nói chuyện đó có thật. Họ cho biết thêm : kể cả Mai Chí Thọ cũng không ưa Lê Ðức Thọ. Mỗi lần Mai Chí Thọ từ Sài Gòn ra Hà Nội ông ta đều đến thăm bà chị ruột góa chồng (ông chồng bà đã treo cổ tự tử trong Cải cách ruộng đất) và Ðinh Ðức Thiện, nhưng không đến Lê Ðức Thọ. Cũng người trong nhà nói ra thì Ðinh Ðức Thiện biết những việc ám muội của ông anh có lần đã quát vào mặt Lê Ðức Thọ :"Anh làm thế để thiên hạ đào mả bố lên à ?". Làm thế cụ thể là làm gì thì người kể chuyện không nói. Bởi vì chẳng nói người nghe cũng hiểu - trong đời mình Lê Ðức Thọ làm quá nhiều điều thất nhân tâm.
Tôi không tin chuyện Lê Ðức Thọ giết em. Trong một chuyến đi săn, cũng theo lời bạn tôi kể, có hai lái xe, mấy bảo vệ tháp tùng, không dễ gì mua chuộc hoặc cưỡng bức được bằng ấy người một lúc. Lời đồn chỉ chứng tỏ thiên hạ tin ở sự nhẫn tâm của Lê Ðức Thọ mà thôi(9). Tuy nhiên, tôi vẫn không hiểu vì lẽ gì người ta giấu nguyên nhân tai nạn. Hình như việc này cũng không đến nỗi khó hiểu, thậm chí còn tầm thường - nếu không giấu nguyên nhân tai nạn thì chôn Ðinh Ðức Thiện ở nghĩa trang Mai Dịch xem ra danh không chính ngôn không thuận. Ông tướng không tử trận, không chết trong khi thừa hành công vụ, mà chết trong khi đuổi theo mấy con vịt giời.
Mai Chí Thọ một thời gian dài làm giám đốc Công an, rồi chủ tịch ỷy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, sống như một ông hoàng. Trong ngôi biệt thự to lớn ở Sài Gòn Mai Chí Thọ có cả một khu vườn rộng nuôi trăn, nuôi vượn, nuôi gấu. Người Sài Gòn tính : hàng tháng riêng tiền chi cho việc mua giày Addidas và vợt Wilson để chơi tennis Mai Chí Thọ đã phải bỏ ra một số tiền gấp năm sáu lần lương ông ta. Tiền đâu ra ? Không phải Mai Chí Thọ lấy ở quỹ đen nào, không phải Mai Chí Thọ tham ô công quỹ. Ðơn giản là trước thời kỳ "bung ra","đổi mới", các phú thương Hoa kiều bị khốn đốn trong cuộc cải tạo tư sản hoành tráng của Ðỗ Mười, họ thoát hiểm nhờ tìm thấy nơi Mai Chí Thọ vị "đại huynh" rộng lòng bảo trợ. Ðể đền ơn đáp nghĩa họ chiều chuộng "đại huynh" hết lòng.
Ðám cán bộ ba cọc ba đồng bất bình trước cuộc sống sa hoa của Mai Chí Thọ. Không tham nhũng không thể sống như vậy được, họ nói. Người Sài Gòn cười hắc hắc, phẩy tay :" Mấy ông tướng thời trước cũng dzậy à, hà cớ phải bực mình. Ông nầy không tồi hơn. Cờ tới tay ai người đó phất ! Tòa án thành phố có lần gửi giấy triệu Mai Chí Thọ tới tòa làm nhân chứng cho vụ án xử thương gia Triệu Bỉnh Thiệt. Ðồn rằng hồi ấy phe chống Mai Chí Thọ xui mấy ông quan tòa nhân chuyện Triệu Bỉnh Thiệt phạm pháp sẽ hỏi nhân chứng một chặp rồi trước bách tính công chúng đưa Mai Chí Thọ qua ngồi ghế bị cáo. Không thể để cho cấp dưới làm chuyện đã rồi với ông em, làm mất thể diện mình, Lê Ðức Thọ cấp tốc triệu Mai Chí Thọ ra Hà Nội. Sau vụ này Mai Chí Thọ vào Bộ Chính trị.
Người Sài Gòn kể chuyện Mai Chí Thọ có một đệ tử chuyên dắt gái cho họ Mai là Năm T. Cậy có ô dù của đàn anh, Năm T. tổ chức hẳn một hộp đêm bề thế cho các quan chức cấp tỉnh lên ăn chơi ở Sài Gòn. Vụ này vỡ lở, dư luận ầm ĩ, các vị chức sắc tay đã nhúng chàm im re, mặc cho Năm T. vào khám. Năm ngồi tù mất hai hoặc ba năm, sau mới được đàn anh can thiệp cho ra trước hạn.
Một dạo Sài Gòn ồn lên cái gọi là "phương án 2", cho phép người di tản đóng thuyền vượt biên, miễn nộp vàng cho Nhà nước. Thiên hạ rủ nhau đi như trẩy hội. Ði theo "phương án 2" người ít nhất cũng vài lạng, người nhiều hai ba chục "cây". Ðó là một secret Polichinelle(10) được cả các quan chức lẫn dân vượt biên đồng tình giữ kín.
Tôi cho rằng Nhà nước, với tư cách bộ máy điều hành quốc gia, không có chủ trương đốn mạt đến thế, như một số báo chí hải ngoại viết. Ðây là sự thông đồng, toa rập của một đường dây quyền lực từ trên xuống dưới, một thứ mafia đã tạo kén trong hệ thống cai trị. Nhà nước, hoặc nói hẹp hơn, ngân khố quốc gia, chẳng thu được gì. Chỉ một số quan chức ở Sài Gòn (và cả ở Hà Nội) là vớ bẫm. Trong đó, cũng theo lời đồn, không thể thiếu anh em họ Phan.
Những lời đồn nói trên rất phổ biến, là thứ chúng khẩu đồng từ ông sư cũng chết, tuy hỏi kỹ thì lại không có chứng cứ nào cả. Mặt khác, chẳng ai có thể bác bỏ chúng bởi vì chúng đầy tính thuyết phục. Vụ tử hình vội vã tên Mười Vân(11), giám đốc Công an Ðồng Nai, được thiên hạ bình luận như một hành động xóa dấu vết cho "phương án 2", nói cho đúng là xóa dấu vết cho các vị đã vớ bở(12).
Người Việt Nam vốn hào phóng với của chùa - tức là của chung cả làng, cả nước, của tập thể, cũng tức là chẳng của riêng ai, cho nên Mai Chí Thọ không bị nguyền rủa. Thực vậy, trong sự tham nhũng tràn lan từ trên xuống dưới, dư luận không xếp Mai Chí Thọ đứng đầu bảng. Còn có những nhân vật tham nhũng lớn hơn.
Dân chúng kết luận : mỡ đến miệng mèo, mèo không ăn mèo ngu. Mọi kẻ có chức quyền ở Việt Nam đều tham nhũng, khác nhau ở chỗ kẻ ít người nhiều mà thôi. Nếu ở các nước tư bản chủ nghĩa người có của dễ có quyền, thì ở nước xã hội chủ nghĩa người có quyền ắt có của.
Dân chúng quen làm ăn với những quan tham mất rồi, làm việc với quan tham không khó, tuy tốn kém, nhưng bù vào đấy lại nhanh hơn, được việc hơn. Có chuyện tới cửa công mà vớ phải ông thanh liêm thì hết hơi, người ta nói thế. Quan thanh liêm như con quạ trắng, dân sợ, dân xa lánh. Thời buổi này mà cứ thẳng băng, đúng phép tắc, không linh động gì hết, thì rõ là bôn-sê-vích dở hơi. Phép nước thì loạn xà ngầu, điều luật này chửi cha điều luật kia, nghị định này leo lên đầu nghị định khác, chính ông thanh liêm sa vào mê lộ luật pháp cũng còn lúng túng như gà mắc tóc, nói gì dân. Thành thử với lũ tham quan người ta khinh đấy, tởm đấy, nhưng để được việc người ta không chọn các quan thanh liêm.
Nếu thuyết phong thủy đúng thì huyệt Lỗ Ao ở làng Dịch Lễ ảnh hưởng quá ghê gớm tới vận mệnh dân tộc. Nó không phải chỉ ảnh hưởng tới một Việt Nam mà còn ảnh hưởng tới cả các dân tộc láng giềng.
Nói những chuyện trên ra để ta cùng suy ngẫm về một hiện tượng, tôi không có ý phủ nhận sạch trơn những gì tốt mà ba anh em họ Phan đã làm. Những cái đó, trong thời đại của những nghịch lý, đều có thật, nhưng là cái hoàn toàn bình thường - bất cứ ai được đặt vào trong những cương vị như thế đều phải làm được cái gì đó, thậm chí là công trạng.
Nói đến Lê Ðức Thọ không thể không nói tới sự kiện Việt Nam chiếm đóng Kampuchea. Việc đưa 200.000 quân Việt Nam vào Kampuchea và ở lì đất nước người ta mười năm là việc liên minh Duẩn - Thọ chủ trương, trong đó Thọ vừa là người khởi xướng, vừa là người thực hiện. Thế giới không bênh vực Khmer Ðỏ. Cả thế giới lên án Khmer Ðỏ vì tội ác diệt chủng. Người Kampuchea đã hoan hỉ đón quân đội Việt Nam vào Kampuchea đánh đuổi Khmer Ðỏ. Nhưng không phải vì thế mà họ hoan nghênh quân đội Việt Nam chiếm đóng nước họ. Hai việc khác nhau không thể nhập một, không thể lấy cái tốt nọ để che cái xấu kia.
Sự kiện Khmer Ðỏ tấn công vùng biên giới Tây Nam hoàn toàn không phải là lý do để Việt Nam đưa quân sang chiếm đóng đất nước người khác(13). Không một người Việt Nam nào muốn đưa con em mình đi chết ở đó. Nhưng bất chấp dư luận, Duẩn - Thọ cứ xua quân sang. Làm gì nhau tốt ? Rồi để quân lại đó, cũng làm gì nhau tốt ? Ðảm bảo cho hành động phiêu lưu quân sự này đã có Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt-Xô, thực chất là hiệp ước liên minh quân sự, ký ngày 3.11.1978. Ông chiếm Kampuchea đấy, thử đụng vào ông coi thử ? Ðàng sau ông là Liên Xô hùng mạnh với tiềm lực nguyên tử dồi dào, thằng nào muốn đụng đầu với Liên Xô cứ việc nhảy vào. Cũng giống như vụ Liên Xô chiếm đóng Afganistan, thế giới phản đối om xòm, nhưng chẳng ai dại gì thò tay vào ổ kiến lửa. Kể cả nước Mỹ.
Ai cũng thấy rằng sau những cuộc chiến tranh dai dẳng trên đất nước mình, các nhà lãnh đạo Việt Nam lẽ ra phải đủ tỉnh táo để chỉ làm một cuộc chiến tranh hạn chế khi Khmer Ðỏ cả gan vượt biên giới, tàn sát người Việt. Cùng lắm, có thể truy kích chúng, với mục đích răn đe, rồi rút quân về. Có thể để lại trang bị, vũ khí giúp nhân dân Kampuchea chống lại bọn diệt chủng. Gia dĩ có thể đào tạo cán bộ giúp họ. Và chỉ thế mà thôi. Nhân dân Kampuchea sẽ ghi ơn các chiến sĩ Việt Nam. Thế giới sẽ hoan nghênh Việt Nam biết xả thân giúp đỡ hàng xóm láng giềng trong cơn hoạn nạn.
Cuộc chiến tranh không tuyên bố ở Kampuchea đã xảy ra. Nó là cuộc chiến tranh không tuyên bố vì Quốc Hội không được hỏi ý kiến về cuộc chiến tranh này. Không hề có một cuộc biểu quyết nào tại Quốc Hội về việc đưa quân đội ra ngoài biên giới. Nhà nước Việt Nam không hề tuyên chiến với nước Kampuchea. Quốc Hội là cơ quan quyền lực tối cao của quốc gia, nhưng nó chẳng có quyền gì cả. Quốc Hội do Ðảng nặn ra, là tay sai của Ðảng, hơn nữa còn là tay sai bị khinh rẻ, đến nỗi Ðảng không cần dùng đến nó cho một việc hợp pháp hóa thông thường.
Thiếu tướng Hồ Quang Hóa, ủy viên Trung ương Ðảng, người được Thọ đưa lên và cũng do Thọ mà trở thành vật hiến tế trong vụ Xiêm Rệp (Siam Reap)(14) nói rằng vụ này cũng như mọi việc lớn việc nhỏ khác ở Kampuchea, đều do Lê Ðức Thọ chỉ đạo. Thái thú Lê Ðức Thọ phế truất Tổng bí thư kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Pen Xô Van(15). Thái thú Lê Ðức Thọ đưa cô y tá Quân khu 7 Miên Xam On vào Trung ương Ðảng Nhân dân cách mạng Kampuchea. Cô gái dân tộc Kmer ở Việt Nam 26 tuổi lên chức vèo vèo : làm Trưởng ban Tuyên huấn Trung ương, rồi ủy viên Bộ Chính trị. Cô lên nhanh như thế, theo các cán bộ Việt Nam có mặt tại Kampuchea hồi ấy, là nhờ thường xuyên ra vào ngôi biệt thự sau điện Chăm Ca Mon để được thái thú "dạy dỗ".
Cần phải làm rõ sự thật này một cách dứt khoát : cuộc chiến tranh ở Kampuchea là cuộc chiến tranh của Ðảng cộng sản Việt Nam. Không phải là cuộc chiến tranh của nhân dân Việt Nam.
Liên minh Duẩn - Thọ đã biến một dân tộc hiền hòa thành quân xâm lược.
Cũng có thể cãi cho Lê Duẩn chút ít, rằng trong việc này ông ta không phải là đầu vụ. Còn đang say sưa với chiến thắng 1975 và những chương trình lớn, nhiều ảo tưởng hơn thực tế, Lê Duẩn hầu như mặc Thọ muốn làm gì thì làm. Ông ta cũng chẳng thiệt. Cuộc phiêu lưu Kampuchea do Thọ lo toan, xét cho cùng, vẫn cứ mang lại cho Lê Duẩn thêm một vinh quang. Mà vinh quang thì không bao giờ thừa.
Lê Duẩn không biết trong lòng Thọ đang nung nấu mưu đồ lớn. Nếu Thọ thành công trong việc dựng nên một chính phủ Kampuchea vâng lời Thọ thì Thọ sẽ có thêm một sức mạnh quyết định trong mưu toan nặn ra một Liên bang Ðông Dương. Trong Liên bang này Thọ sẽ là đồng chí trên hết các đồng chí. Ðến lúc đó Lê Duẩn sẽ chỉ là bí thư một nước thành viên mà thôi.
Ðám đệ tử Lê Ðức Thọ quá hí hửng về tiền đồ sáng lạn đã để lộ mưu đồ đó ra ngoài. Văn Cao có kể cho tôi nghe chuyện người của Thọ đã gặp những nhạc sĩ nào để gợi ý họ viết quốc thiều cho Liên bang Ðông Dương. Những nhạc sĩ nhận lời được Lê Ðức Thọ mời cơm tại nhà. Ông Bùi Công Trừng có lần nói với tôi : "Thằng Thọ nhiều tham vọng lắm, cháu ơi. Quan sát kỹ động thái của nó cháu sẽ thấy : mọi việc nó làm đều dẫn tới một cái đích - hất Lê Duẩn. Mà không phải chỉ nhằm cái chức tổng bí thư đâu, cái đó chưa đủ cho lòng tham của nó. Nó còn muốn làm tổng bí thư Liên bang Ðông Dương kìa". Như vậy, từ những nguồn tin khác mưu đồ của Thọ cũng đã tới tai Bùi Công Trừng. Ông không ưa Lê Duẩn, nhưng không vì thế mà ông ưa con chuột chũi đang đào hầm dưới ghế Duẩn.
Khi Lê Duẩn phát hiện được mưu toan của Thọ nhằm phế truất mình thì Lê Duẩn căm Thọ lắm lắm. Ðến mức thẳng cánh đuổi Thọ ra khỏi nhà trong lần Thọ đến chia tay với tổng bí thư đang hấp hối. Người trong gia đình Lê Duẩn cho biết Duẩn gọi vỗ mặt Thọ là "thằng phản bội".
Cũng theo tướng Hóa, Lê Ðức Thọ đã lẩn trốn trách nhiệm trước vụ Xiêm Rệp, cũng như nhiều vụ khác nữa, viện cớ bận họp, bận chữa bệnh.
- Anh hãy tìm cho tôi một kẻ dám chống lệnh ông Sáu vào thời gian ấy. - tướng Hồ Quang Hóa nói với tôi trong một bữa cơm ở Sài Gòn - Không ai được phép tự ý làm một việc gì nếu không có lệnh ông Sáu.
Cuộc phiêu lưu quân sự được tiến hành theo sáng kiến và sự chỉ đạo của Lê Ðức Thọ đã làm cho khoảng 52.000 chiến sĩ chết trận, 200.000 chiến sĩ bị thương(16). Chẳng những thế, nó còn làm cho dân tộc Việt Nam bị nhục nhã trước thế giới trong bộ mặt kẻ xâm lược, bị tẩy chay, bị trừng phạt.
Nước Việt Nam được gì, mất gì ở Kampuchea ? Tại sao cho tới nay Ðảng cộng sản Việt Nam không dám nói tới, không có can đảm nhận lỗi trước những người láng giềng đau khổ để xóa đi một trang sử nhơ nhớp ? Thọ đã chết trước khi phải ra đứng trước vành móng ngựa một phiên tòa liên tịch hai nước, với tư cách tội phạm chiến tranh.
Người duy nhất đủ tư cách thay mặt Thọ hôm nay là Lê Ðức Anh.


1067950_ongLeKhaPhieu-450
Trong khi các cánh quân đang buộc phải rút lui khỏi Huế trong Mậu Thân 68 thì Trung đoàn 9 chủ lực do Lê Khả Phiêu làm Chính ủy lại được tăng cường vào chiến trường. Gạo hết, tất cả đều rất khó khăn, dựa vào dân cũng có hạn, vì dân đâu có nhiều gạo mà san sẻ cho bộ đội. Theo tự truyện của nhà sử học Nguyễn Đắc Xuân, ông Trần Anh Liên, Chính ủy cánh Bắc ra lệnh cho Đội công tác thanh niên đi quyên góp lương thực cung cấp cho Trung đoàn 9. Có người kêu lên:
- Trời ơi, người ta đã rút ra rồi mà các ông còn vào chiến trường nữa, khổ đến thế này!
Vẫn theo tự truyện nêu trên, năm 1997, ông Nguyễn Đắc Xuân đến giúp ông Trần Anh Liên biên tập cuốn hồi ký, nhân xem truyền hình, được biết Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) vừa bầu Lê Khả Phiêu làm Tổng bí thư.
Ông Trần Anh Liên hỏi ông Nguyễn Đắc Xuân:
- Anh có nhớ Trung đoàn 9 vào chiến trường nhằm lúc có lệnh rút lui, không chiến đấu được lại thiếu gạo nhờ anh em mình chạy gạo cho họ hồi Tết Mậu Thân không?
- Dạ nhớ chứ! Em bị các bạn thanh niên Huế thắc mắc vì sao đơn vị đang thiếu gạo mà lại đem gạo chia cho bộ đội chủ lực.
Ông Liên cười khặc khặc:
- Đúng rồi, đúng rồi. Ông Chính ủy đơn vị thiếu gạo ấy là Lê Khả Phiêu vừa được bầu làm Tổng bí thư đấy. Ông ta tiến bộ nhanh thật.
Trước đó, tháng 1.1994, Lê Khả Phiêu được bầu vào Bộ chính trị. Như vậy, việc ông ta vào Bộ chính trị hay lên Tổng bí thư đều không phải diễn ra trong Đại hội Đảng toàn quốc, mà là Đại hội giữa nhiệm kỳ và Hội nghị Trung ương.
Rời Cambodia, ông Lê Đức Anh trở về nước năm 1986, làm Tổng tham mưu trưởng rồi Bộ trưởng Quốc phòng. Sau khi quân VN rút khỏi Cambodia, ông Lê Khả Phiêu cũng trở về nước với chức vụ Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Con đường thăng tiến đến đỉnh cao quyền lực của ông Phiêu diễn ra khá nhanh chóng.
Cũng là gặp Giang Trạch Dân, nhưng hai ông họ Lê mỗi người có một cách ứng xử khác nhau. Ta biết, TQ luôn luôn tìm mọi cách tác động vào nội bộ VN và họ sử dụng rất nhiều âm mưu, thủ đoạn thâm độc. Để bình thường hóa quan hệ Việt – Trung, tháng 8.1991, với tư cách “đặc phái viên của Bộ chính trị”, ông Lê Đức Anh sang thăm nội bộ TQ. Trước khi vào hội đàm, có ít phút trò chuyện, Giang nói với Lê Đức Anh: “Tôi ở địa phương mới lên làm Tổng bí thư. Trước chưa biết, nhưng nay nghiên cứu lịch sử mới biết Trường Sa là của TQ”. Ông Lê Đức Anh đáp: “Tôi cũng giống như đồng chí, tôi ở chiến trường mới về. Khi về Trung ương có dịp nghiên cứu về lịch sử, địa lý và pháp lý thì thấy rõ, Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ VN”. Nghe vậy, Giang không nói gì nữa, chỉ cười. Rõ ràng, đây là một cú nắn gân của Giang.
Khi Lê Khả Phiêu làm Tổng bí thư, Giang lại đề nghị cuộc gặp với ông Phiêu để bàn về biên giới và biển Đông. Đáng chú ý là trong những người cùng đi có Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm và Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Trần Đình Hoan bị phía TQ ngăn lại, không cho vào hội đàm. Sự việc này đã gây nên nhiều phiền phức cho Lê Khả Phiêu sau này. Vào ngày cuối cùng của năm 1999, truyền hình đột ngột loan tin về việc ký Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa VN và TQ – một Hiệp ước có rất nhiều tranh cãi cho đến nay.
Dường như Lê Khả Phiêu muốn tạo ra một sự khác biệt so với những người tiền nhiệm và có vẻ ông đã làm được điều đó, chí ít là ở bề nổi. Cuộc họp báo quốc tế do Tổng bí thư chủ trì sau khi nhận chức không lâu với gần 200 phóng viên trong nước và quốc tế tham dự quả là một sự kiện đặc biệt. Ngồi “rỉ tai, mách nước” bên cạnh Lê Khả Phiêu là Nguyễn Mạnh Cầm, Bộ trưởng Ngoại giao. Cũng có đôi câu hỏi tương đối khó từ phóng viên phương Tây, nhưng ông ta trả lời khá trôi chảy. Các ngài đổi mới, chấp nhận kinh tế thị trường, vậy tại sao Thủ tướng Phan Văn Khải mới đây lại tuyên bố không đi theo chủ nghĩa tư bản? Ngài xuất thân từ quân đội, liệu ngài có hiểu biết về kinh tế hay không? Theo ông Phiêu, Phan Văn Khải trả lời như vậy là đúng. Còn nói tôi xuất thân từ quân đội, thì nhiều người tiền nhiệm của tôi như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười cũng vậy. Dĩ nhiên, chúng tôi nắm vững các vấn đề về kinh tế…
Về lĩnh vực chống tham nhũng, ông Lê Khả Phiêu cũng nổi lên rất ấn tượng, mà đầu tiên là vụ cắt chức Ngô Xuân Lộc, Phó Thủ tướng. Sau khi thôi chức Tổng bí thư, phát biểu của ông về xây dựng, chính đốn Đảng, về chống tham nhũng, chống chủ nghĩa cá nhân ngày càng mạnh mẽ.
“Cống ở xã tôi cũng bị xơi một nửa” – câu nói rất hay của ông Lê Khả Phiêu nhân trả lời phỏng vấn tờ Tuổi trẻ năm 2005:
“Ngay ở xã tôi, làm cái cống cũng bị xơi hơn một nửa. Tôi về thì bà con bảo: hai trăm triệu mà xơi tới trăm hai, còn có tám chục. Đấy mới chỉ là công trình nhỏ thôi đấy”. Ở đây, “xơi” là một từ được ông dùng rất “đắt”.
Đó là chuyện ở xã ông Lê Khả Phiêu. Còn với bản thân ông thì sao?
- “Tôi nói thật có chuyện họ đến biếu tiền, năm nghìn, mười nghìn chứ không ít đâu”.
- “Năm, mười nghìn đô?”.
- “Đô chứ. Lúc tôi còn thường trực Bộ Chính trị đã có rồi, lúc làm Tổng bí thư càng có”.
Thật khó mà tin được một ông Tổng bí thư bộc lộ vấn đề chống tham nhũng một cách thẳng thắn đến thế. Năm 2009, trang mạng BBC có loan truyền hình ảnh đến thăm nhà cựu Tổng bí thư Lê Khả Phiêu. Người ta thấy, trong nhà ông có từ cặp ngà voi đến một chiếc lư được bảo quản cận thận trong hộp kính, chiếc trống đồng, còn trên sân thượng là vườn sau rạch – những hình ảnh chẳng biết hư thực ra sao.
Thời gian gần đây, người ta ít khi thấy ông Lê Khả Phiêu lên tiếng, kể cả việc triển khai Nghị quyết 4 về phê bình và tự phê bình mới đây, trong khi ông đi thăm đây đó lại khá nhiều. Cũng có ý kiến cho rằng, việc ông thường xuất hiện với một ông “quan to” Chính phủ gây nên sự “phản cảm” – vì uy tín ông “quan to” ấy rất thấp và ngày càng xuống thấp. Nhưng, trong chính trị, người ta hiểu rằng, thông điệp mà ông phát ra, có lẽ, chính là ở sự “sát cánh” ấy.
Bốn ông họ Lê – thực ra chỉ có ba ông họ Lê thôi, còn một ông họ Phan (Phan Đình Khải – Lê Đức Thọ). Những chức danh quan trọng nhất trong thiết chế chính trị VN, bốn ông họ Lê đều đã từng nắm giữ: Tổng bí thư, Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước, Trưởng ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Quân ủy Trung ương, Tổng tham mưu trưởng, Bộ trưởng Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị, Thượng tướng, Đại tướng…
Có những sự trùng hợp kỳ lạ: Lê Duẩn và Lê Đức Thọ là một “cặp bài trùng” nổi tiếng, cộng tác chặt chẽ với nhau từ những ngày chống Pháp, ấy thế mà thời gian cuối đời hai ông lại có những ngã rẽ đáng kinh ngạc. Còn ông Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu, có thể nói điều gì tương tự? Việc ông Lê Khả Phiêu lên Tổng bí thư, tất nhiên ảnh hưởng của ông Lê Đức Anh rất lớn; ngược lại, cũng từ ảnh hưởng của ông Lê Đức Anh và hai ông có vấn khác mà ông Phiêu bị hạ bệ. Thời tiết chính trị, thật chẳng bao giờ có thể dự đoán chính xác được.
Bốn ông họ Lê đều nổi danh trong lịch sử VN hiện đại và chúng ta tin rằng rồi đây lịch sử sẽ dành cho họ những hàng chữ nét đậm. 
Lê Mai