Wednesday, July 31, 2013

Công trình của 10 kiến trúc sư nổi tiếng nhất thế giới

Những thiết kế của các kiến trúc sư này không thể nhầm lẫn với bất cứ ai khác vì sự táo bạo, độc đáo, mang đầy tính nghệ thuật và đi trước thời đại. 

1. Frank Gehry

Người ta không thể nhầm lẫn các tác phẩm của Gehry với bất cứ ai. Mỗi năm, hàng trăm ngàn khách du lịch kéo tới các công trình được ông thiết kế để chiêm ngưỡng những tuyệt tác đương đại trong ngành xây dựng. Gehry đặc biệt thành công khi tạo ra những không gian kiến trúc không tưởng với sự kết hợp nhiều chất liệu tưởng chừng chẳng có mối liên hệ nào.
Những công trình nổi tiếng nhất của Gehry bao gồm: The Walt Disney Concert Hall tại Los Angeles, bảo tàng Guggenheim ở Bilbao, Der Neue Zollhof ở Düsseldorf và khách sạn Marques de Riscal Vineyard ở Elciego.
 City of Wine, Bắc Tây Ban Nha.
 Lou Rovo Center.
 
 The Walt Disney Concert Hall.
2. Frank Lloyd Wright
Giống như Frank Gehry, Frank Lloyd Wright được coi là kiến ​​trúc sư vĩ đại nhất của mọi thời đại. Suy nghĩ của Wright về sự hòa hợp giữa nội và ngoại thất của mỗi công trình đều đi trước thời đại về hình thức, phương pháp xây dựng và chưa bao giờ được giảng dạy trong các trường đại học. Những ý tưởng thiết kế mang âm hưởng thiên nhiên của ông chưa từng lỗi thời, và người ta vẫn bắt gặp chúng trong nhiều công trình đương đại, dù đã trải qua 150 năm lịch sử.
Những công trình nổi tiếng nhất của Wright bao gồm: Bảo tàng Guggenheim ở New York, Residence Fallingwater ở Mill Run, Pennsylvania, Thính phòng đại học bang Arizona và studio ở Scottsdale, Arizona.
Các công trình nổi tiếng của Wright.
Một góc bảo tàng Guggenheim ở New York.
3. Ieoh Ming Pei - IM Pei
Sinh ra và lớn lên ở Trung Quốc, chuyển tới Mỹ học ngành kiến trúc và sau này trở thành một trong những kiến trúc sư đương đại nổi tiếng nhất thế giới, thành quả sáng tạo của IM Pei trong 80 năm có thể thấy ở mọi nơi. Những tác phẩm của ông đều phản ánh sức ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, là sự kết hợp giữa yếu tố hình học phương Tây và lý thuyết phong thủy của châu Á.
Những công trình nổi tiếng nhất của IM Pei bao gồm: Thư viện Tổng thống John F. Kennedy và bảo tàng ở Boston, bảo tàng nghệ thuật quốc gia ở Washington, Le Grand Louvre ở Paris, Bank of China Tower ở Hong Kong và bảo tàng Nghệ thuật Hồi giáo tại Doha.
Trung tâm nghiên cứu khí quyển quốc gia của Mỹ.
Kim tự tháp kính Louvre (Le Grand Louvre) nằm ở giữa sân Napoléon của bảo tàng Louvre, Paris.
Chân dung IM Pei.
4. Zaha Hadid
Là nữ kiến trúc sư đầu tiên giành giải thưởng Pritzker, Zaha Hadid được biết đến là người có những sáng tạo hiện đại, độc đáo, táo bạo, đậm chất nghệ thuật và đi trước thời đại. Đó cũng là lý do khiến rất nhiều ý tưởng thiết kế của bà không bao giờ được xây dựng. Nữ kiến trúc sư người Anh gốc Irac này từng đứng thứ 69 trong bảng xếp hạng những phụ nữ có ảnh hưởng nhất thế giới của tạp chí Forbes vào năm 2008.
Những công trình nổi tiếng nhất của Zara Hadid: Bảo tàng quốc gia về nghệ thuật thế kỷ 21 tại  Bridge Pavilion ở Zaragoza, Bergisel Ski Jump ở Innsbruck, Trung tâm Khoa học Phaeno và nhà hát Opera House tại Quảng Châu.
Bảo tàng quốc gia về nghệ thuật thế kỷ 21 tại  Bridge Pavilion.
 
 Maggie's Centre, Kirkcaldy.
 
 Bergisel Ski Jump, Innsbruck, Australia.
5. Philip Johnson
Là kiến trúc sư người Mỹ đã thành lập Bộ Kiến trúc và Thiết kế tại bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại ở thành phố New York, Johnson nổi tiếng trên khắp thế giới với những sáng tạo từ ống thép, thủy tinh và pha lê. Các công trình của ông hầu hết được thiết kế theo trường phái tối giản hóa nội thất, tận dụng ánh sáng từ lớp tường kính, phong cách thường thấy trong nghệ thuật kiến trúc đương đại mà nhiều tòa nhà hiện đại đang áp dụng.
Những công trình nổi tiếng nhất của Philip Johnson là tòa nhà Seagram ở New York (phối hợp với kiến ​​trúc sư Mies van der Rohe), tư dinh của ông ở Berlin, Đức, và The Crystal Cathedral ở California.
Tư dinh của Philip Johnson - một thiết kế kính điển hình.
Nhà thờ Pha Lê (The Crystal Cathedral) ở California.
Chân dung Philip Johnson.
6. Tom Wright
Chỉ với thiết kế duy nhất được biết đến trên tòan thế giới, Tom Wright đã được vinh danh là một trong những kiến trúc sư đương đại vĩ đại nhất. Công trình đó chính là tòa khách sạn cao nhất thế giới Burj Al Arab ở Dubai. Khách sạn nổi tiếng này toạ lạc trên một bán đảo nhân tạo bên bờ biển Dubai, có bãi đáp máy bay và sân tennis trên tầng thượng.
Khách sạn Burj Al Arab ở Dubai.
Sân tennis trên tầng thượng.
Góc nhìn lên trần phía trong khách sạn.
Chân dung Tom Wrigh.
7. Ludwig Mies van der Rohe
Thường được gọi với cái tên Mies, kiến trúc sư người Mỹ gốc Đức này là một trong những người tiên phong cho phong cách kiến trúc hiện đại, cùng với Le Corbusier và Walter Gropius. Mies là người đi đầu trong phong cách tối giản với phương thức thiết kế "ít là nhiều" bằng cách sử dụng tấm kính kết cấu thép để phân chia không gian nội thất. Những khái niệm kiến trúc tối giản hóa của ông đã được những thế hệ sau phát triển, trong đó có Philip Johnson.
Dự án đáng chú ý nhất của ông bao gồm Pavilion Barcelona ​​ở Barcelona, ​​Tây Ban Nha, Thư viện quốc gia mới ở Berlin, Đức, Tòa nhà Seagram ở New York và Crown Hall ở Chicago, Illinois.
Crown Hall.
Barcelona Pavilion.
Chiếc ghế nổi tiếng được ông thiết kế.
Chân dung Mies.
8. Renzo Piano
Sớm nổi danh nhờ những sáng tạo độc đáo về vật liệu và chi tiết nội thất, kiến trúc sư người Ý Renzo Piano từng đoạt giải Pritzker là một đại diện cho xu hướng kiến trúc hiện đại với những công trình chọc trời, mang tính ứng dụng cao. Một trong những công trình nổi tiếng nhất của ông là Shard - tòa nhà cao nhất châu Âu ở London. Khi ý tưởng được công bố, thiết kế này phải đối mặt với nhiều tranh cãi trong thời gian dài, nhưng rồi chính công trình này đã đưa London trở thành đại điện tiêu biểu cho kiến trúc hiện đại của thế kỷ 21. Piano từng được tạp chí Time xếp vào danh sách 100 người có ảnh hưởng nhất thế giới năm 2008.
 
Shard Bridge ở London, Anh.
 
Sân bay quốc tế Kansai ở Osaka, Nhật Bản.
 
Trung tâm khoa học NEMO Amsterdam.
 
Chân dung Renzo Piano.
9. Jean Nouvel
Nouvel là một kiến trúc sư gốc Pháp đã từng giành giải Pritzker vào năm 2008. Chiến thắng trong cuộc thi thiết kế cho Học viện Thế giới Ảrập tại Paris đã giúp ông nổi danh trên toàn thế giới. Ý tưởng tuyệt vời về hệ thống chiếu sáng tự động của ông hiện được nhiều kiến trúc sư trên thế giới áp dụng.
 
Học viện Thế giới Ảrập.
 
Bức tường ứng dụng phương pháp lấy sáng của Jean Nouvel.
 
Tòa nhà Dentsu.
 
Thiết kế tổng thể đảo Seguin của Pháp.
10. Moshe Safdie
Moshe Safdie đã được vinh danh với huy chương vàng từ Viện hàn lâm Kiến trúc Hoàng Gia Canada cho những cống hiến của ông với ngành xây dựng của quốc gia này. Safdie cũng là người đã thiết kế Thư viện quốc gia của Canada.
Thư viện quốc gia Canada.
Chung cư 67.
 
Đài tưởng niệm di sản Khalsa ở Punjab, Ấn Độ.
Chân dung Moshe Safdie.
Hạ Minh
Theo Freshome/Infonet

KTS danh tiếng: Ngô Viết Thụ

Ngô Viết Thụ (Sinh: 17 tháng 9, 1926 tại Lang Xá, Thừa Thiên-Huế. Mất: 1 tháng 1, 2000 tại Saigon, thọ 73 tuổi), là một kiến trúc sư Việt Nam danh tiếng, ông đã đoạt giải Khôi nguyên La Mã năm 1955 là tác giả nhiều công trình kiến trúc hiện đại tại VN. Là con của ông Ngô Viết Quang và bà Nguyễn Thị Trợ. Ông lập gia đình với bà Võ Thị Cơ từ năm 1948, trong khi theo học dự bị kiến trúc tại trường Cao đẳng Kiến trúc ở Đà Lạt. Trong giai đoạn 1950-1955, ông là sinh viên ngành kiến trúc tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Quốc gia ở Paris. Năm 1955, ông nhận giải nhất Giải thưởng lớn Roma về kiến trúc, thường được gọi là khôi nguyên La mã, và tốt nghiệp kiến trúc sư D.P.L.G.. Trong thời gian 1955-1958, ông lưu trú tại Biệt thự Medicis của viện hàn lâm Pháp tại Roma để làm nghiên cứu về quy hoạch và kiến trúc.
Từ năm 1960, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ về Việt Nam làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông đã tổ chức triển lãm các dự án nghiên cứu của ông ở châu Âu tại Tòa Đô Chính Sài Gòn. Nhà cầm quyền và dư luận rất quan tâm đến dự án nối kết Sài Gòn với Chợ Lớn của ông bằng một khu trung tâm hành chính mới. Rất tiếc là vì lý do thời cuộc, dự án này không thực hiện được.Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.)J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy HryniewieckiJohn B. Parkin. cùng với một số kiến trúc sư danh tiếng cùng thời như vàÔng đã thiết kế nhiều công trình xây dựng lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật.
Từ năm 1960, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ về Việt Nam làm việc theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ông đã tổ chức triển lãm các dự án nghiên cứu của ông ở châu Âu tại Tòa Đô Chính Sài Gòn. Nhà cầm quyền và dư luận rất quan tâm đến dự án nối kết Sài Gòn với Chợ Lớn của ông bằng một khu trung tâm hành chính mới. Rất tiếc là vì lý do thời cuộc, dự án này không thực hiện được.
Năm 1962, ông là người châu Á đầu tiên trở thành Viện sĩ Danh dự của Viện Kiến trúc Hoa Kỳ (H.F. A.I.A.) cùng với một số kiến trúc sư danh tiếng cùng thời như J.H. Van den Broek, Arne Jacobsen, Steen Eiler Rasmussen, Hector Mestre, Amancio Williams, Hernan Larrain-Errazuriz, Emilio Duhart H., Jerzy Hryniewiecki và John B. Parkin.
Sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, ông bị bắt đi học tập cải tạo một năm.
Ông đã thiết kế nhiều công trình xây dựng lưu dấu ấn đầy giá trị về kỹ thuật lẫn mỹ thuật. Ông còn cộng tác với nhiều KTS khác trong các công trình Viện Quốc Tế Mỷ Thuật Paris (với nhóm KTS Pháp, 1958-1960), chợ Đà Lạt (chỉnh sửa lại tổng thể thiết kế của KTS Nguyễn Duy Đức, bổ sung thiết kế cầu nổi và các khu phố lầu, 1958-1962), Trường Đại Học Y Khoa TP Hồ Chí Minh (trưởng nhóm KTS Việt Nam, cộng tác với nhóm KTS Mỹ).
Ngoài ra, ông còn chứng tỏ năng lực xuất sắc của mình trong lĩnh vực hội họa với bức tranh "Thần Tốc" và bộ tranh Sơn hà cẩm tú. Bộ tranh này và được treo trong dinh Thống Nhất, gồm có 7 bức, mỗi bức dài 2 m và rộng 1 m. Ông cũng là một nghệ sĩ sành sỏi các loại nhạc cụ dân tộc như đàn nguyệt, đàn tranh, đàn kìm và sáo, để lại hàng trăm bài thơ và bài viết.
Ông qua đời năm 2000 tại Saigon.

Con trai ông, Tiến sĩ, kiến trúc sư (KTS) Ngô Viết Nam Sơn hiện là một chuyên gia về kiến trúc và quy hoạch đồng thời cũng là giảng viên đại học tại Bắc Mỹ. KTS Ngô Viết Nam Sơn tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Washington, thạc sĩ tại Đại học Tổng hợp California thành phố Berkeley và văn bằng KTS tại Đại học Kiến trúc thành phố Hồ Chí Minh. Tham gia các dự án đã và đang được thi công như Phố Đông Thượng Hải (được giải thưởng danh dự của Viện kiến trúc Hoa Kỳ), Đô thị mới Filinvest và Nhà ga sân bay quốc tế Aquino tại Philippines, Cao ốc đa chức năng Almaden tại San Jose (Mỹ), Cao ốc Công ty HDB tại Singapore, Trung tâm huấn luyện phi công tại Orlando (Mỹ), Tổng mặt bằng quy hoạch phát triển mở rộng campus và khu dân cư lân cận của Đại học Washington tại Seattle (Mỹ). Có 3 dự án mà anh mong có cơ hội cùng hợp tác với những người có cùng chí hướng:
- Giáo dục - Học bổng Ngô Viết Thụ: Tìm nguồn hỗ trợ tài chính và cộng tác về tổ chức quản lý để tuyển chọn mỗi năm một nhóm chuyên viên thuộc nhiều ngành (quy hoạch, kiến trúc, kỹ thuật, kinh tế, xã hội và quản lý) cùng đi làm việc trong 3 tháng hè tại một nước APEC với sự hướng dẫn của một nhóm giáo sư hoặc chuyên gia quốc tế, để nghiên cứu một vấn đề bức xúc của đô thị, sau đó đúc kết lại trong một báo cáo về khả năng ứng dụng các bài học kinh nghiệm đó tại Việt Nam.
- Quy hoạch - Tư vấn chiến lược: Viết bài hoặc tham gia vào các nhóm tư vấn chiến lược cho các nhà lãnh đạo trung ương và địa phương trong việc vạch ra đường hướng mới cho chiến lược và chiến thuật phát triển và bảo tồn di sản đô thị tại các vùng đô thị đang phát triển mạnh.
- Kiến trúc Việt Nam và APEC: Cùng vận động để các KTS Việt Nam được quyền hành nghề tại các nước APEC, và hợp tác cùng đồng nghiệp trong việc lập ra một trường phái kiến trúc hiện đại có bản sắc riêng, gắn liền với truyền thống lịch sử và văn hóa của Việt Nam, đặc biệt là trong thiết kế các công trình với kỹ thuật tiên tiến; quy hoạch và kiến trúc một campus đại học tổng hợp quốc tế tại Việt Nam.
(Trích từ: http://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Vi%E1%BA%BFt_Th%E1%BB%A5
http://web.thanhnien.com.vn/Kieubao/2006/3/5/140834.tno)

Trường Trung học Phổ thông Lê Quý Đôn (Sàigòn)

Trường Trung Học Phổ Thông Lê Quý Đôn là một trường trung học công lập xưa nhất Sàigòn, được thành lập năm 1874, với tên gọi ban đầu Collège Chasseloup-Laubat.Quá trình hình thành và phát triển
Sau khi chiếm được toàn cõi Nam kỳ, ngày 14 tháng 1 năm 1874,Thống đốc Nam kỳ,chuẩn đô đốc(Contre-amiral) Pháp Jules François Emile Krantz (1821-1914) đã ký nghị định thành lập một ngôi trường trung học tại Sài Gòn nhằm phục vụ nhu cầu đào tạo con em những thực dân người Pháp tại Sài Gòn. Chương trình giảng dạy theo chính quốc, dạy từ tiểu học đến tú tài (chương trình Pháp). Trường sở được khởi công xây dựng ngay vào năm 1874 và hoàn tất vào năm 1877. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), không lâu sau được đổi tên thành Collège Chasseloup Laubat, theo tên Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại (còn gọi là Bộ Thuộc địa) lúc bấy giờ là François Marquis de Chasseloup-Laubat (1754-1833).
Ban đầu, trường chỉ nhận các học sinh người Pháp, đến đầu thế kỷ 20 thì mở rộng để nhận thêm học sinh người Việt, tuy nhiên phải có quốc tịch Pháp. Do đó, trường phân biệt thành 2 khu:
  • Khu dành riêng học trò người Pháp, gọi là Quartier Européen
  • Khu dành cho học trò Việt có học thêm giờ tiếng Việt, gọi là Quartier indigène (khu bản xứ)


Cả 2 khu này đều học chung chương trình Pháp và thi tú tài Pháp.
Tuy là một khu trường dành cho những người có quốc tịch Pháp (do đó, trường còn có tên là trường Bổn quốc Sài Gòn, khác với các trường bản xứ khác), vào năm 1926, những học sinh người Việt đã viết lên bảng 4 chữ A.B.L.F, viết tắt câu "A bas les Français" (nghĩa là "Đả đảo thực dân Pháp") trong một lần bãi khoá để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.
Ngày 28-11-1927, Toàn quyền Đông Dương G. Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và môt giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.
Ngày 11-8-1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều, thành lập tại Chợ Quán, kể từ kỳ tựu trường 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée) để thành lập một trường mới, về sau có tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký, hay trường Pétrus .
Sau năm 1954, với dụng ý tránh gợi nhớ thời thuộc địa, trường được đổi tên là trường Jean Jacques Rousseau, dạy chủ yếu là học sinh người Việt nhưng vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường được trả lại cho Việt Nam: hiệu trưởng bên Tiểu học là thầy Hồ Văn Thể, bên Trung học là thầy Phan Văn Huấn, sau là thầy Nguyễn Trung Ngươn, rồi thầy Hồ Văn Thể kiêm nhiệm luôn cả Trung Tiểu học và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Thầy Từ Văn Bê là Tổng Giám Thị, thầy Phạm Minh Mẫn là Giám học. Lúc ấy, từ lớp 6, chúng tôi được học cả Anh Văn lẫn Pháp văn (2 sinh ngữ cùng lúc), canh nông(thầy Chức), công kỹ nghệ(thầy Ngôn), hội họa(thầy Tam Nhiều), âm nhạc (thầy Trần Anh Linh, cũng là người thành lập thiếu đoàn Hướng Đạo Lê Quý Đôn thuộc đạo Thủ Đô). học võ Tae Kwon Do với võ sư Nguyễn Mười Nho (võ đường Chung Do Kwan).
Từ 1975, chính quyền Việt Nam vẫn giữ tên gọi Lê Quý Đôn cho ngôi trường này.
Kiến trúc khu trường
Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu của ngôi trường vẫn còn gân như nguyên vẹn, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ "khẩu". Với lối kiến trúc mang đậm chất Tây Âu, trường sở được xem như một kiến trúc cổ có lịch sử văn hóa lâu đời, vẫn giữ gìn được nét truyền thống cổ kính mặc dù đã được trùng tu, sửa chữa. Dựa trên nền kiến trúc cổ, hiện tại trường sở đã xây thêm một số công trình phụ gồm nhà luyện tập thể thao và 10 phòng học kiểu mới. Tính truyền thống và hiện đại được nhà trường chú ý ngay trong khâu thiết kế và trang trí, vì thế ngôi trường Lê Quý Đôn vẫn mang đậm nét cổ kính.

Sự kiện
Thời Pháp, trường nổi tiếng với nhiều giáo viên và học sinh giỏi được lưu danh nhưng thời gian gần đây trường đã bị tai tiếng vì scandal chạy điểm, phóng điểm. Năm 2006, trường được nhiều báo chí đề cập về vụ "chạy trường" tại đây: một số học sinh không đủ tiêu chuẩn vào trường đã đưa tiền để được nhận vào học. Thành thật mà nói, trường tôi vẫn được xem là trường của "con ông cháu cha" từ xưa đến nay !
Một số giáo viên và học sinh tiêu biểu thời Pháp:
Thời Pháp trường nổi tiếng với nhiều giáo viên và học sinh giỏi được lưu danh. Ngày nay, trường là một trong những trường đầu tiên thực hiện mô hình chất lượng cao tại thành phố HCM. Năm 2009 trường đã hoàn tất lứa đầu tiên của mô hình mới vơí tỉ lệ tốt nghiệp 100% và chính thức trở thành trường Công lập tự chủ tài chính.
Những nhân vật lịch sử từng học tại trường Lê Quý Đôn (trước là Lycée Jean Jacques Rousseau hay Chasseloup Laubat)
Lưu Văn Lang (1880 – 1969): là một nhà trí thức yêu nước nổi tiếng ở miền Nam nửa đầu thế kỷ 20. Người kỹ sư đầu tiên của Đông Dương thuộc địa. Học ở Chasseloup Laubat: khoảng 1894 – 1897.
Cao Triều Phát (1889 – 1956): nguyên đại biểu Quốc hội, cố vấn uỷ ban Kháng chiến Nam bộ, uỷ viên thường trực Quốc hội, uỷ viên UBMTTQ Việt Nam… Học ở Chasseloup Laubat: khoảng 1902.
Nguyễn An Ninh (1900 – 1943): nhà văn hoá, lãnh tụ lớn của phong trào yêu nước Việt Nam trước Cách mạng tháng 8.1945. Học ở Chasseloup Laubat: khoảng 1914 – 1916.
Vương Hồng Sển (1902 – 1996): nhà văn hoá, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Học ở Chasseloup Laubat khoảng 1915.
Nguyễn Văn Hưởng (1906 – 1998): nguyên bộ trưởng bộ Y tế, uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phó chủ tịch Uỷ ban thường vụ Quốc hội, đại biểu Quốc hội khoá I, II, III. Học ở Chasseloup Laubat khoảng 1923.
Trần Văn Giàu (1911 – 2010): nguyên bí thư Xứ uỷ Nam kỳ, nguyên chủ tịch uỷ ban Kháng chiến Nam bộ. Là nhà khoa học, nhà nghiên cứu lịch sử, triết học và là nhà giáo Việt Nam. Học ở Chasseloup Laubat: khoảng 1926 – 1928.
Dương Văn Minh (1916 – 2001): ngày 28.4.1975, ông chính thức nhậm chức tổng thống Việt Nam cộng hoà. Học ở Chasseloup Laubat: khoảng 1938.
Phạm Ngọc Thảo (1922 – 1965): đại tá, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên phó phòng Mật vụ ban Quân sự Nam bộ. Có tài liệu nói, có thời gian ông học tại trường Chasseloup Laubat.
Norodom Sihanouk (1922 –): quốc vương của Vương quốc Campuchia. Ông học tiểu học tại Phnom Penh, trường Pháp École François Baudoin, học trung học tại Sài Gòn ở trường Chasseloup Laubat.
Trịnh Công Sơn (1939 – 2001): là nhạc sĩ nổi tiếng, tốt nghiệp tú tài ban triết tại Chasseloup Laubat.
Trịnh Xuân Thuận (1948 – ): nhà vật lý thiên văn kiêm nhà văn nổi tiếng. Từng học tại Lycée Jean Jacques Rousseau.
Tôi đã học ở đây suốt 11 năm (trừ 1 năm phải qua St. Exupéry), có rất nhiều kỷ niệm với trường. Có những người bạn tài hoa cùng lứa với tôi như Lưu Minh Dũng, Lê Trọng Thuỳ Nam... đã nằm xuống. Hầu hết đã ra nước ngoài; ở lại trong nước chỉ còn vài đứa, đếm chưa đủ 10 ngón tay. Lần nào về VN, tôi vẫn ghé thăm trường cũ, nhớ những gốc cây, dãy lầu, hoa viên phiá trước Hồng Thập Tự... Nhìn lớp "đàn em" hôm nay tan trường, tự dưng nhớ lại ngày nào... Nhớ làm sao trường cũ, bạn xưa và các thầy cô của mình ngày ấy!
Vụ xây cao ốc ở trường Lê Quý Đôn
Nên giữ trọn đất cho một ngôi trường
SGTT.VN - Giữ nguyên vẹn khuôn viên đất cho trường Lê Quý Đôn không chỉ là để góp phần phát triển giáo dục mà còn là để bảo tồn các giá trị văn hoá – lịch sử chứa đựng trên trăm năm nơi đây. Việc ấy vì thế nên làm, phải làm. Không phải hôm nay thì còn lúc nào nữa?
Hình ảnh xưa của trường Collège Chasseloup-Laubat

 Cổng trường THPT Lê Quý Đôn mặt đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Cổng trường THPT Lê Quý Đôn mặt đường Nguyễn Thị Minh Khai
Hành lang lớp học trường THPT Lê Quý Đôn hướng đường Võ Văn Tần
Sân trường THPT Lê Quý Đôn
Ưu tiên cho giáo dục, mở rộng và nâng cấp các trường học hiện hữu là quan điểm xuyên suốt của các nhiệm kỳ lãnh đạo TP.HCM từ sau năm 1975 cho đến nay. Tất nhiên, có một khu đất quý để mở rộng một ngôi trường chưa hẳn đã đồng nghĩa với chất lượng dạy và học của ngôi trường đó. Còn phải xem thầy thế nào, trò thế nào, phương pháp dạy và học tiên tiến hay lạc hậu. Nhưng, đó là chuyện của một quá trình. Còn chuyện đất đã được cấp có thẩm quyền chỉ đạo quy hoạch để mở rộng trường (trường Lê Quý Đôn, phường 6, quận 3, TP.HCM), mà rồi loay hoay “năm dài tháng rộng” thế nào mới đây lại xoay sang thành đất xây cao ốc của một ngân hàng, thì quả là câu chuyện ứng xử tiền hậu bất nhất cần phải lên tiếng. Xung quanh khu đất này ở trường Lê Quý Đôn, đã có hàng loạt văn bản pháp lý được ban hành. Cụ thể:
Văn bản chỉ đạo của UBND thành phố (ngày 6.12.2007) về việc lập phương án giải phóng mặt bằng (bồi thường theo giá thị trường), di dời tổng thể mặt bằng khu đất trường Lê Quý Đôn (bao gồm khu nhà 112 và ngôi nhà mà chi nhánh ngân hàng Công thương đang thuê sử dụng) để đầu tư xây dựng mở rộng trường Lê Quý Đôn.
Quyết định 02 năm 2003 của UBND thành phố về việc phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới trường học của ngành giáo dục – đào tạo thành phố đến năm 2020, trong đó chỉ đạo cụ thể việc kiên quyết thu hồi các diện tích đất thuộc khuôn viên các trường học bị chiếm dụng vào các mục đích ngoài giáo dục.
Quan điểm xuyên suốt của các nhiệm kỳ lãnh đạo thành phố từ sau năm 1975 đến nay là luôn ưu tiên cho giáo dục, mở rộng và nâng cấp các truờng học hiện hữu. Quan điểm đúng đắn này được thể hiện một lần nữa trong nghị quyết số 23 (năm 2005) của HĐND thành phố, yêu cầu các ngành, các cấp, các cơ quan nhanh chóng di dời các hộ dân trong khuôn viên trường học; thực hiện nghiêm việc di dời các cơ sở kinh doanh gần trường học.
Quyết định gần đây nhất của UBND thành phố (số 5360, ngày 25.11.2010) về việc kiểm kê, bảo tồn đối với 168 công trình, địa điểm có dấu hiệu đủ tiêu chuẩn xếp hạng di tích lịch sử - văn hoá – trong đó có trường Lê Quý Đôn, số 110 Nguyễn Thị Minh Khai, phường 6, quận 3.
http://sgtt.vn/ImageHandler.ashx?ImageID=136715
Xe công trình đang dọn dẹp mặt bằng để chuẩn bị xây cao ốc trong khuôn viên trường Lê Quý Đôn, ngôi trường 137 năm tuổi, nơi đào tạo nhiều danh nhân lịch sử - văn hoá của các nước Đông Dương và Việt Nam. Ảnh chụp ngày 3.4.2011. Ảnh: Lê Hồng Thái
Trường Lê Quý Đôn được xây dựng từ năm 1874 đến năm 1877 thì xong. Tên ban đầu của trường là College Indigene (trung học bản xứ), sau đó đã hai lần đổi tên trước năm 1970: Chasseloup Laubat và Jean Jacques Rousseau. Từ năm 1970 đến nay trường mang tên Lê Quý Đôn. Trường Lê Quý Đôn có dấu hiệu đủ tiêu chuẩn xếp hạng di tích ở ba yếu tố. Về niên hạng, trường được xây dựng cách thời điểm này 137 năm (luật Di sản Văn hoá Việt Nam quy định niên hạng di tích là 100 năm, nếu có yếu tố đặc biệt thì niên hạng có thể cho phép là 70 năm). Về kiến trúc, sau hơn một thế kỷ xây dựng, trường vẫn giữ nguyên vẹn cấu trúc chính gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại thành hình chữ “khẩu” và những chi tiết kiến trúc cổ Tây Âu từ giữa thế kỷ 18. Về giá trị tinh thần, trường là nơi đào tạo nhiều danh nhân lịch sử – văn hoá của các nước Đông Dương và Việt Nam: cựu vương Campuchia Norodom Xihanuc, cựu Chủ tịch Nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào Xuphanuvong, nhà cách mạng – nhà sử học Trần Văn Giàu, nhà báo – nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, cố bộ trưởng Y tế GS.BS Nguyễn Văn Hưởng, nhà thiên văn học nổi tiếng thế giới GS.TS Trịnh Xuân Thuận, nhạc sĩ nổi tiếng Trịnh Công Sơn…
Cho xây cao ốc của một ngân hàng trong khuôn viên thửa đất mang đậm tính di tich kiến trúc – lịch sử của trường Lê Quý Đôn quả là điều bất cập. Hậu quả dễ nhận biết nhất là: một cao ốc nhiều tầng ngay trong khuôn viên thửa đất vốn là của ngôi trường 137 tuổi không những sẽ phá vỡ sự hài hoà của cảnh quan kiến trúc; mà còn tước đi diện tích cần thiết để mở rộng ngôi trường, cơ hội đem đến những điều kiện giáo dục hiện đại trong một không gian cổ kính chứa đựng nhiều giá trị văn hoá – lịch sử cho các thế hệ người dạy và người học nơi đây. Nhưng, từng ấy hậu quả vẫn chưa phải đã hết lo lắng. Lo hơn, phải chăng cách làm ấy như là “mở đường”, như là tạo tiền lệ cho quá trình thực thi bài toán bảo tồn và phát triển – trong đó yếu tố bảo tồn dường như sẽ (đã) luôn bị lép vế trước sức mạnh của phát triển. Ai và cái gì làm ngay ra tiền có lẽ dễ được thuyết phục hơn trong quá trình xem xét các dự án xây dựng công trình đô thị. Rõ ràng là đang có một cuộc chạy đua không cân sức giữa các dự án bảo tồn giá trị văn hoá – lịch sử với các dự án xây dựng mới (hầu hết mang tính thương mại – dịch vụ) với giá trị dự án ngày càng lớn hơn và đến nay vẫn chỉ tập trung loanh quanh ở khu trung tâm thành phố – nơi mà hấp lực của các “khu đất vàng” không ngừng tăng lên, không ngừng tác động mạnh mẽ – có lúc có nơi còn là sự “đe doạ” các giá trị tinh thần, của xã hội.
Giữ nguyên vẹn khuôn viên đất cho trường Lê Quý Đôn không chỉ là để góp phần phát triển giáo dục mà còn là để bảo tồn các giá trị văn hoá – lịch sử chứa đựng trên trăm năm nơi đây. Việc ấy vì thế nên làm, phải làm. Không phải hôm nay thì còn lúc nào nữa?
Nguyễn Thế ThanhKÝ ỨC CÒN LẠI
          Khi tôi viết những dòng này thì 36 năm đã trôi qua, nhìn lại tóc đã bạc nhưng bạn học cũ thì vẫn biền biệt để gởi một lời thăm hỏi. Sau cái ngày định mệnh đó, các bạn trong lớp 12B và tôi rời trường. Tôi vẫn còn nhớ cái không khí cuối cùng ấy tại nhà của cô bạn Phương Dung học sau tôi 4 lớp tại đường Pasteur. Lúc đó tôi có ý định không theo học ở trường nhạc nữa nhưng các bạn tôi khuyên: “ Mầy đã có trường chuyên môn để học rồi thì đừng bỏ chứ tụi tao chẳng biết còn được tiếp tục đi học nữa không?”. Thế rồi tôi nghe theo lời bạn tiếp tục đi học và tốt nghiệp ra trường năm 1977 và về Tiền Giang tới giờ.         
Rồi thời gian dần trôi qua, các bạn học của tôi lần lượt bỏ xứ mà đi, tôi lần lượt mất đi các bạn. Tôi nhớ có lần tôi ghé nhà Mai Hương trong đêm giao thừa, cũng là lúc Mai Hương chuẩn bị rời Việt Nam, tôi buồn lắm nhưng cũng chẳng biết nói lời gì cả; rồi lần lượt đến anh Đỗ Mạc Lô cũng ra đi. Nhiều lúc tôi về Sài Gòn, tôi đi suốt đêm ngoài đường vì hầu như không còn bạn bè nào nữa, họ đã đi hết rồi. Như vậy cuối cùng tôi còn 3 người bạn học chung lớp còn lại ờ Việt Nam là anh Hồ Tuấn Ngọc ở Cần Thơ, anh Lê Quang Minh và anh Quan ở Sài Gòn. Anh Ngọc thì mất năm 1995 vì bệnh gan, anh Quan thì biệt tích không biết giờ này anh ở đâu làm gì còn anh Minh thì bị tai biến năm 2007 vì chuyện buồn gia đình. Sở dĩ tôi phải dài dòng là vì tôi muốn giới thiệu sơ lược về lớp tôi và bản thân tôi, sau đây tôi sẽ kể cho các bạn về ngôi trường của chúng ta mà những gì ký ức của tôi còn nhớ được.
1.NHỮNG LỚP “PILOTE” VÀ SỰ RA ĐỜI TRUNG TÂM GIÁO DỤC LÊ QUÝ ĐÔN
Tôi mới đầu học ở trường Lamartine (cạnh hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước mặt sở thú) đến cuối năm 1963 khi cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm, trường bị hư hại hoàn toàn do nằm cạnh thành Cộng Hòa. Tụi tôi được chuyển sang trường Saint ex, rồi Collette và Marie Curie để học tạm. Đến năm 1966, tôi được chuyển qua J.J.Rousseau vào lớp 8­e C. Năm 1967 chính quyền Pháp dưới thời De Gaulle quay sang ủng hộ Hà Nội đã tạo ra cuộc biểu tình chống Pháp tại Việt Nam dưới cái tên là “A bat De Gaulle”. Việc biểu tình này đã khiến cho Pháp buộc phải trả lại cho chính phủ sài Gòn trường J.J.Rousseau và Hồng Bàng, thế là các học sinh trung học thì được chuyển sang trường Marie Curie còn các học sinh tiểu học thì ở lại chuyển sang chương trình Việt. Và các lớp học đó được gọi là lớp “Pilote”, hồi đó tụi tôi gọi đùa là lớp dạy phi công vì chữ pilote có nghĩa đen là phi công nhưng thực tế là lớp chuyển tiếp.
Đến năm 1967, trường chính thức mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn nhưng phải đợi đến năm 1969 mới làm lễ chính thức. Vị hiệu trưởng là ông Nguyễn Văn Huấn nguyên là hiệu trưởng trường Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho đặc cách về. Ông Huấn người da ngăm đen, tướng thấp đi xe Mobylette màu vàng 2 gọng. Trường trở thành thí điểm của Bộ Giáo dục và Thanh niên thực hiện chương trình giáo dục tổng hợp nghĩa là ngoài các môn đã dạy ở bậc trung học, chúng tôi còn phải học các môn như: Doanh thương, Vẽ kỹ nghệ họa, thuyết trình trước đám đông, đánh máy, điện gia dụng, âm nhạc, hội họa, nữ thì học thêm môn nữ công gia chánh. Riêng hai môn Sử và Địa được gộp chung tên là Kiến thức tổng hợp. Thời gian học thì nghỉ 2 buổi nghỉ ngày thứ năm và chủ nhật. Chương trình thực hiện được 2 năm thì đình chỉ vì không có ngân sách để trang bị và xây dựng nên quay trở lại chương trình bình thường. Trường Lê Quý Đôn tự dưng vươn lên thành ngôi trường số một của Sài Gòn hơn hẳn trường Petrus Ký. Trường trở thành nơi các COCC học nhiều nhất, tôi bây giờ chỉ còn nhớ một số như: Nguyễn Cao Thắng, Nguyễn Cao Trí con của phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Khắc Dũng, Nguyễn Thiên Hương con của tư lệnh CSQG Nguyễn Khắc Bình, Lữ Thị Anh Thư con tướng Lữ Lan, Nguyễn Bá Long cháu chủ tịch thượng viện Nguyễn Bá Cẩn, con của Phạm Sanh chủ tịch ngân hàng Nam Việt, con của thứ trưởng giáo dục, ngoài ra con các sĩ quan, viên chức khác thì vô số.
Thời gian sau thì ông Hồ Văn Thể về làm hiệu trưởng, ông này có con là Hồ văn Bạch cũng học tại trường chung lớp với tôi. Đây cũng là thời gian xảy ra vụ lùm xùm giữa cô Hồ Ngọc Tùng với ông Hồ Văn Thể được báo lá cải Trắng đen đang gần cả tháng. 
2. NHỮNG HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC LÊ QUÝ ĐÔN
Hai năm khi trung tâm chính thức ra đời, nhà trường có quyết định cải tạo phòng tập thể dục có trước đó của trường J.J.Rousseau thành hội trường sinh hoạt trong đó có một sân khấu biểu diễn văn nghệ, các bàn ping pong, đánh vũ cầu. Trước đó tại nơi đâu trường có tổ chức thi bích báo các lớp rất nhộn nhịp.
Còn những hoạt động khác của trường thì trí nhớ của tôi giờ cũng phai mờ trất nhiều cho nên tôi dẫn dưới đây bài viết của thầy Nguyễn Tri Phương đăng trên trang web lequydonsaigon.net cho các bạn nắm:
Vài Nét Về Sinh Hoạt Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn
      Ba lần dự thi chương trình Đố Vui Để Học do Trung Tâm Học Liệu thuộc bộ Giáo Dục tổ chức trên đài truyền hình VN, đội Lê Quý Đôn đều toàn thắng cả ba. Trong các lần đó, phải kể công đóng góp rất hữu hiệu của Bá, Mạnh Tiến, Trường Sơn, Trí Lê, Hoàng Minh, Đức Nhân và Liên Hương. Ngoài phần thưởng toàn đội, Lê Quý Đôn còn đoạt luôn giải Cá Nhân Xuất Sắc. Kỳ thi đố vui lần cuối mà Liên Hương tham dự là niên khóa 1971- 1972 .
      Hàng năm, cứ vào dịp Tết Nguyên Đán, hiệu đoàn TTGD Lê Quý Đôn đón Xuân bằng những sinh hoạt đa dạng như báo chí, văn nghệ thật rộn rịp. Với sự yểm trợ tài chánh của phụ huynh, giai phẩm Đặc San Xuân được ấn hành thật đẹp với nội dung phong phú, phát hành không phải chỉ trong nội bộ học sinh toàn trường mà còn được học sinh các trường bạn trong thủ đô ủng hộ hết sức nhiệt tình. Hội diễn văn nghệ mừng Xuân gồm nhiều tiết mục công phu, đầy tính chất nghệ thuật. Ban Đàn Dây Hoàng Lan của đài phát thanh Sàigòn, nữ ca sĩ Mai Hương, nghệ sĩ tài danh Thanh Nga, nữ nghệ sĩ BíchThuận . . . là những người đã từng yểm trợ trong phần hướng dẫn kỹ thuật. Đoàn văn nghệ Lê Quý Đôn đã ba lần trình diễn trên đài Truyền Hình Việt Nam qua chương trình văn nghệ Tiếng Nói Động Viên mừng Xuân.
      Về mặt rèn luyện thân thể, trường có hai sân quần vợt, hai sân vũ cầu, sân bóng chuyền, bóng rổ, thể dục môn. Các đội thể thao gồm: hai đội bóng bàn nam nữ, hai đội vũ cầu, đội điền kinh, bóng chuyền, bơi lội và ba đội bóng rổ hai nam một nữ. Ngoài các trận đấu giao hữu, TTGD Lê Quý Đôn còn tham dự các giải vô địch học sinh và đã đoạt nhiều phần thưởng thật xứng đáng. Chỉ tính nội niên khóa 1874-75, Lê Quý Đôn đã thu hoạch được những thành quả thật khả quan như sau:
·         Vô địch học sinh giải Bóng Bàn Thiếu Niên do Nha Sinh Hoạt Học Đường tổ chức với đấu thủ Phan Huy Hoàng .
·         Vô địch học sinh Bóng Bàn Nữ Liên Trường với đấu thủ Phạm thị Minh Hà và giải Nhì Toàn Đội Nữ
·         Giải Nhì Bóng Bàn Toàn Đội Nữ do Tổng Nha Thanh Niên tổ chức
·         Vô địch học sinh bóng rổ nữ nhân ngày Phụ Nữ lễ kỹ niệm Hai Bà Trưng
·         Đoàn diễn hành Lê Quý Đôn đoạt giải nhứt trong cuộc thi diễn hành kỹ niệm ngày Quốc Khánh tại vận động trường Cộng Hòa.
·         Đoàn bơi lội Lê Quý Đôn với các danh tài Chung thị Thanh Lan, Chung thị Thanh Vân, Lê Trọng Thùy Nam, Lê Trọng Thùy Đan chiếm hầu hết tất cả các huy chương vàng trong lần so tài tại hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm do Tổng Cuộc Bơi Lội tổ chức nhân dịp lễ Quốc Khánh. Ngày phát giải thưởng tại vận động trường Cộng Hòa là một niềm hảnh diện khó quên. Các tuyển thủ Lê Quý Đôn thay đổi chổ cho nhau trên ba bục Nhất, Nhì, Ba tiếp nhận huy chương từng đợt cho nhiều giải: Vô địch toàn đội, vô địch các kiểu bơi, và vô địch các cự ly . Ngày hôm ấy, trên hai mươi ngàn quan khách các ban ngành đoàn thể đã vổ tay hoan hô đoàn bơi lội Lê Quý Đôn từng chập, rồi hứng khởi quá, Ông Đô Trưởng, Ông Tổng Giám Đốc Thanh Niên, ông Trưởng Trưởng Giáo Dục đứng lên cùng mọi người cổ vỏ hoan hô kéo dài suốt gần nửa giờ cho thành tích kỷ lục nầy. Sau lần đó, hội Phụ Huynh Lê Quý Đôn đồng ý lời đề nghị của Hiệu Đoàn Trưởng, yểm trợ kỹ thuật cũng như kinh phí tài chánh để xây cho trường một hồ bơi nổi.
Thầy Nguyễn Tri Phương - 1986
Khi làm giáo sư hướng dẫn cho lớp tôi, thầy Trần Anh Linh có đề xuất với chúng tôi là thầy sẽ thành lập thiếu đoàn Lê Quý Đôn thuộc đạo Thủ đô, châu Gia định. Chúng tôi đều đồng ý với thầy thế là thiếu đoàn Lê Quý Đôn ra đời gồm có khoảng 3, 4 đội (không còn nhớ rõ). Đội của tôi lớp 9B là đội Mãnh hổ , anh Lê Phong Sơn đội trưởng và tôi làm đội phó. Khoảng mấy tháng sau chúng tôi tham dự trại Suối tiên. Tôi còn nhớ có các đội bạn từ Phillipines, Thái lan, Cambốt, Đài loan,… qua tham dự, còn hậu cần nước do quân đội Mỹ đảm trách.
Cuộc đời làm hướng đạo sinh lưu lại trong tôi nhiều kỷ niệm, các vùng đất như: Tam Hà. Dòng Salésien, dòng Don Bosco, Lái Thiêu, núi Châu Thới, Vũng Tàu, Vĩnh Long. Lasan Mai Thôn đều có bước chân của tôi.
Đến năm 1973, thầy Linh có lẽ vì mâu thuẩn với trường, đã không còn ở trường nữa. Về thay thế cho thầy với vai trò là đoàn trưởng là Anh Cao Thái Hà. Lúc đó đang là thầy 6 ở chủng viện thánh Giuse. Thiếu đoàn duy trì hoạt động đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì giải tán.
Sau ngày 30 tháng 4 tôi có đi ngang qua trụ sở hội hướng đạo ở đường Bùi Chu thấy người ta đang dọn dẹp các hồ sơ. Tôi cảm thấy tiếc cho một phong trào. Suốt hơn 30 năm sau đó có đêm tôi nằm mơ thấy mình đang dự các buổi cắm trại của hướng đạo. Niềm ao ước phong trào sẽ hồi sinh lại cứ thôi thúc trong tôi như lần gặp lại anh Cao Thái Hà ở nhà thờ Tân Định năm 1978, anh củng có ước mơ giống như tôi. Sau nầy nhân lúc vào trang web tôi mới biết phong trào đã nhen nhúm thành lập lại ở Sài Gòn và một số tỉnh, tôi rất mừng là mong ước của tôi đã thành hiện thực.
Tiện đây tôi cũng nói thêm Chung thị Thanh Lan sau ngày 30 tháng 4 vẫn giử chức vô địch bơi lội ở Sài Gòn. Còn anh Nhân học lớp 10 và một số bạn nữa đã có công trình thiết kế nhà đồng bằng sông Cửu Long đạt giải lớn của thành phố.
Ngoài ra trường còn tổ chức cho học sinh đi ủy lạo cây mùa xuân chiến sĩ ở bệnh viện Cộng Hòa, đi tham quan công ty Thành Lễ ở Bình Dương, đi dã ngoại tại Long Hải.
Năm 1974, hiệu trưởng Hồ Văn Thể bị thuyên chuyển do dính líu tới bê bối. Vi hiệu trưỡng mới là thầy Nguyễn Trung Ngươn về.
Năm 1978 xảy ra vụ nạn kiều, một số người Hoa chạy sang Trung quốc trong đó có anh Đặng Ngọc Hân (Tăng Dục Hính) học sinh lớp 10 bấy giờ. Sau anh này có lên đài truyền hình tố cáo Trung quốc.
Ngoài ra còn một vài chuyện đáng lý tôi không đề cập ở đây nhưng vì đã xảy ra lâu rồi nên sẳn đây tôi cũng nói luôn.
Chuyện Anh Lương Bá Cần, anh này học đến lớp 10 thì nghỉ sang trường khác. Anh này dính tới một vụ buôn lậu ở Tân Sơn Nhất, là một trong 3 tay buôn lậu lớn nhất thời đó, tin này được đang trên báo Công an thành phố.
Chuyện anh Vĩnh Sa Kima, học sinh trường chúng ta. Anh này với vợ cùng nhau gian lận giấy tờ chiếm đoạt mấy trăm triệu đồng lúc khoảng năm 1986, 1987 gì đó và bị bắt tại Đà Lạt. Tin này cũng do báo Công an thành phố đăng.
3. Lớp tôi và tờ báo “Vững tiến”
Năm 1969, anh Lê Phong Sơn và tôi đề xuất với thầy Linh ra một tờ báo nội bộ và được thầy chấp thuận. Sau khi bàn bạc xong, chúng tôi thống nhất lấy tên là Vững tiến, anh Sơn là tổng thư ký, tôi là phó. Báo được in bằng ronéo là cách in ấn phổ biến lúc bấy giờ. Tin tức về tờ báo được anh Sơn thông báo với các lớp trong trường thông qua ban đại diện học sinh. Nói về ban bệ của tờ báo có tổng thư ký, phó tổng thư ký nghe cho oai thực ra anh Sơn cũng không có dính dáng nhiều mà phần lớn là tôi kiêm luôn đánh stencil, vẽ, trình bày, duyệt bài vỡ, tư in ấn ( một phần thì in ở Trung tâm học liệu 240 Trần Bình Trọng qua trung gian giới thiệu của thầy Linh) và bán. Hồi đó tôi rất giỏi về chuyện nhớ bài vì tôi thường xuyên mua và đọc các báo Tuổi thơ, Tuổi ngọc, Thiếu nhi nên các bài viết tôi đều nắm cả khó có các bạn nào “đạo văn, đạo thơ” được. Tờ báo chúng tôi làm theo từng chuyên đề được đông đảo bạn học hưởng ứng. Được vài năm thì phong trào chống đối chế độ bắt đầu ảnh hưởng đến trường tôi từ các báo trường bạn đều mang hơi hướm phản chiến. Lúc đó, tôi nhớ hình như thầy Hiệp coi về báo chí của trường thay cho thầy Linh đã chuyển đi, kêu chúng tôi đình chỉ tờ báo. Thế là đến năm 1974 tờ báo của chúng tôi chấm dứt hoạt động.
Việc tôi biết đánh máy và in ronéo cũng nhờ các thầy cô trong phòng hành chánh chỉ dẫn. Các thầy cô giao cho tôi hai bàn đánh máy và  hai máy in ronéo. Tôi nhớ một máy hiệu Extar của Mỹ (máy này rất dỡ, dễ hư), một máy hiệu Gestener của Anh, máy này rất tốt. Mực in và giấy tôi cứ tự nhiên sử dụng, máy có trục trắc tôi mở ra sửa. Thậm chí các thầy cô còn giao cả chìa khóa phòng cho tôi giữ nữa. Cũng nhờ máy này mà tôi kiếm được một số tiền phụ giúp gia đình như việc thầy Le Bourg nhờ tôi đánh tư liệu dạy cho ông. Ông là người hiểu rõ hoàn cảnh của tôi và cũng rất thương tôi. Mỗi lần đánh xong và in xong ông đưa tôi số tiền là 5.000 đồng (Lúc đó có giá trị lắm).
Giờ đây gần 40 năm trôi qua, nhiều khi tôi tự hỏi làm sao tôi có khả năng làm những việc đó. Đây phải nói là một nổ lực đáng kể. Ngày nay nhờ tiến bộ của kỷ thuật việc tôi vừa kể là một việc làm dể dàng.
4. Ban đại diện học sinh
Năm 1969, Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn mới chính thức ra mắt mặc dù đã có tên từ năm 1967 vì Pháp còn duy trì các lớp bên khu trung học của trường. Sau khi thành lập trường đã tổ chức cuộc bầu bán Ban đại diện học sinh và tôi cũng có chân trong ban đại diện với chức vụ là trưởng khối báo chí, trong đó có các bạn tôi còn nhớ tên đến ngày nay như Anh Thư, Nhân, Minh Dũng và Lê Phong Sơn là tổng thư ký.
Trong suốt thời kỳ từ năm 1969 đến năm 1975, ban đại diện học sinh đã làm được một số chuyện như:
-         Phối hợp với nhà trường tổ chức các cuộc văn nghệ cây mùa xuân.
-         Đi thăm ủy lạo chiến sĩ ở bệnh viện Cộng Hòa.
-         Vận động các bạn học đóng góp cho đồng bào lũ lụt miền trung năm 1973 ở Quãng Ngãi. Trong chuyến đi này, tôi có tham gia. Chuyến ra đi bằng phi cơ C 130 tại Tân Sơn Nhất và dự tính về bằng Air Việt Nam nhưng vào giờ chót phi cơ Air Việt Nam không ghé được Quãng Ngãi vì phi trường bị hư hại do bão lụt. Lúc đó dân biểu Trần Văn Đôn đơn vị Quãng Ngãi và tỉnh trưởng Lê Bá Phẩm điện về Sài Gòn xin chiếc chuyên cơ của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa chúng tôi về nhưng phải lại đáp tại Đà Nẳng.
-         Đi nghe buổi nói chuyện của nhà văn Duyên Anh ở trường Petrus Ký.
-         Tổ chức đợt dã ngoại tại biển Long Hải.
-         Đi thăm trường tiểu học cộng đồng Cai Lậy.
-         Đi tham quan xưởng sơn mài Thành Lễ.
-         Và còn nhiều nữa nhưng giờ phút này tôi chỉ nhớ có chừng đó.
5. Số phận các lớp đầu đàn chúng tôi
Các lớp chuyển tiếp từ chương trình Pháp sang Việt cuối cùng còn lại hai lớp là lớp 8 và lớp 7 cùng một số lớp 6 từ các nguồn tuyển khác nhau đã hình thành trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Hai lớp của chúng tôi có số lượng học sinh rất ít chỉ có khoảng 15 người trở xuống. Chính vì vậy nhà trường kiếm cách chuyển chúng tôi 2 lần sang trường Petrus Ký đối với nam còn sang  Trưng Vương hay Gia Long đối với nữ. Quyết định này vấp phải sự phản đối của các phụ huynh học sinh, nhất là các phụ huynh có thế lực ở xã hội lúc bấy giờ nên nhà trường đàng hủy bỏ quyết định trên. Và với số lượng như thế, chúng tôi tồn tại đến năm 1975. Hai lớp chúng tôi là quá khứ của trường J.J.Rousseau và hiện tại là trường Lê Quý Đôn còn sót lại, là quá khứ của nền văn hóa Pháp đang lụi tàn dần nhường chổ cho văn hóa Mỹ đang lấn át. Khi tôi rời trường thì lúc còn lại là lớp 11B, không biết số phận các bạn ra sao, ai đi ai ở; lâu rồi tôi không còn tin tức về các bạn nữa.
6. Lê Quý Đôn những ngày tháng cuối cùng
Tháng 3 năm 1975, tình hình chiến sự càng ngày càng căng thẳng, nó cũng là đề tài mà chúng tôi bàn bạc trong mỗi buổi học. Tôi nhớ Ông Lê An, Đoàn Chính, Bùi Thiện ở trường quốc gia âm nhạc, tay cầm tờ báo với vẻ mặt lo lắng nói: “Sao ngày nào cũng mất một tỉnh thế!”. Mấy ông này sợ vì mấy ổng là dân chiêu hồi.
 Ngày 8 tháng 4, tôi còn nhớ vào lúc 8 giờ sáng. Khi thầy Quảng Lan đang viết trên bảng chữ Log népérien, còn các lớp khác thi đang thi đệ nhị lục cá nguyệt (kỳ bán niên) thì một tiếng phản lực gầm rú bay qua. Tôi chợt nghỉ:” Ủa, khu vực này làm gì cho phép máy bay bay ngang” thì một tiếng nổ lớn vang lên từ dinh Độc Lập rồi kèm theo là tiếng súng cao xạ bắn theo. Tôi và anh Ngọc vội chạy ra lớp, thấy các thầy cô và các học sinh chạy tán loạn. Tôi nói với anh Ngọc lấy máy chụp hình chạy ra cổng chính đường Hồng Thập Tự qua bờ rào dinh đến đường Huyền Trân Công Chúa chụp hình. Những hình ảnh này anh Ngọc giữ và về Cần Thơ nhưng anh đã mất năm 1995, tôi không có cơ hội để thấy lại những hình ảnh này nữa. Đến 9 giờ thì có lệnh nghỉ học, tôi lấy xe đạp đạp ra hồ con rùa thì được biết dinh bị đánh bom bởi chiếc F5 và Nguyễn Thành Trung là người thực hiện. 10 giờ tôi nghe trên đài Sài Gòn lời của tổng thống Thiệu nói:”….. đó là hành động của một quân nhân vô kỷ luật….nhờ ơn trên tôi và gia đình đã thoát nạn”.
Đầu tháng 4 Sài Gòn rung chuyển bởi đàn máy bay vận tải C141, cứ 20 phút là một chuyến đáp đề chở nhân viên chế độ Sài Gòn và những người làm việc cho Mỹ di tản. Ngày đó tại phi trường Tân Sơn Nhất đầy rẩy xe cộ mà những người ra đi bỏ lại, họ bỏ lại giấy chủ quyền xe cho không. Đó cũng là lúc anh Lê Phong Sơn ra đi. Tôi và các bạn trong lớp đều ngỡ ngàng và những ngày cuối tháng 4 trường đóng cửa.
Ngày 2 tháng 5 chúng tôi lại vào trường theo lệnh của chính quyền mới. Trường lúc này là một sự bề bộn chưa từng thấy, lớp thì bộ đội vô đóng quân trong trường, lớp thì thầy giáo và học sinh chờ đợi sự sắp xếp. Chúng tôi nhận được sự phân công của quận đoàn quận 3 thông qua anh Năm Rô một cán bộ hoạt động thành. Tôi làm trường ban tự vệ đoàn lo việc an ninh kiêm phụ trách phần tập dượt văn nghệ trong khi anh Lô trưởng ban văn nghệ, anh Ngọc trưởng ban xã hội, còn một số bạn nữa lâu quá tôi đã quên tên. Công việc đầu tiên của tôi lúc đó là thu gom hết số vũ khí mà lính nhảy dù bỏ lại trong các lớp. Số vũ khí này khi gom hết lại, ban quân quản phường Hiền Vương phải chở mấy xa GMC mới hết.
Ban văn nghệ trường Lê Quý Đôn là một ban văn nghệ mạnh nhất thành phố lúc đó vì hầu hết các thành viên đều học tại trường quốc gia âm nhạc. Ban văn nghệ gồm: bộ phận ca khoảng 30 học sinh, bộ phận nhạc công gồm cả chục bạn trong đó tôi phân công cho Phương Dung (piano) và Tố 
Loan
 (Mandolin) trông coi còn bộ phận múa giao cho anh Lâm Thanh Hải là em ruột nhạc sĩ Thanh Trúc Phụ trách. Tôi rất thích anh này vì mặc dù là dân tham gia cách mạng nhưng anh không có cái tính hay lên lớp chính trị với người khác. Trong bộ phận múa lúc đó có anh Nghiêm Phú Phiệt con của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi (hiệu trưởng trường quốc gia âm nhạc). Ban văn nghệ trường có hình trong áp phích báo cáo 1 tháng thành tựu văn hóa xã hội của thành phố lúc đó.
Ngoài ra tôi cũng thành lập một tổ giữ xe lấy tiền cải thiện cho anh em vì trường thường được lấy làm địa điểm học tập cho các nơi. Một tháng sau đơn vị bộ đội rút ra trả lại trường, họ để lại bao nhiêu đồ đạc, bàn ghế  hư hỏng, 2 khu nhà cầu thì tràn ngập phân và giấy đi cầu. Mấy ông bà lao công phải một phen vất vả để dọn dẹp mọi thứ.
Rồi ngày thi đến, chúng tôi lớp 12B đi thi tại hội đồng thi trường Hùng Vương cạnh bệnh viện Hồng Bàng (Phạm Ngọc Thạch) và lấy kết quả tại ngôi trường tiểu học trên đường Phan Đình Phùng ( Nguyễn Đình Chiểu, quận 1). Chúng tôi đều đậu cả trên tay gọi là tấm bằng tốt nghiệp cấp 3 lúc đó không gọi là bằng tú tài. Ngày chia tay tại nhà Phương Dung ở đường Pasteur rất nhiều lưu luyến. riếng tôi còn phải bận lo tốt nghiệp trường nhạc. Sau này tôi thường rủ anh Lô vào trường ở lại mỗi đêm để nhớ lại thời học trò của chúng tôi, chúng tôi mượn nồi của anh Tâm bảo vệ nấu cơm với ít rau lang hái ở sau trường. Tháng 11 năm 1977 tôi về Tiền Giang, thời gian tôi tiếp xúc với bạn bè càng ít vì chuyện đi lại thời gian này rất khó khăn. Dần dần các bạn của tôi ra đi hết. Năm 2000 tôi có về thăm lại trường, gặp lại anh Tâm. Năm 2006, tôi lại lần nữa ghé thăm và được biết anh Tâm chuân bị hưu, còn cô Yến đang ở trong trường chuẩn bị dọn đi vì khu cô ở sắp phá đi để xây dựng lại. Trong đêm đó tôi bước đi trong sân trường đến bên cạnh lớp học cũ nhìn lần cuối trước khi nó bị phá đi để xây dựng lại, nhớ lại những kỷ niệm về một quãng đời học sinh tươi đẹp của mình cũng như của các bạn bè tôi.
7. TRONG TRƯỜNG VÀ NGOÀI TRƯỜNG CÓ GÌ?
Đây là phần tôi viết về những gì ngoài lớp học và trường học của chúng ta để cho các bạn học cùng thời còn hình dung lại trong ký ức và để cho các em học sinh thế hệ sau nầy biết được thời điểm đó trong trường và chung quanh trường có những gì.
a. Trong trường:


1. Đây là khối nhà ở của giáo viên và hiệu trưởng trường Jean Jacques Rousseau, sau đó là trung tâm nghiên cứu của Bộ giáo dục và thanh niên chế độ VNCH.
2. Đây là văn phòng, phòng hiệu trưởng, hiệu phó và phòng giáo viên của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn.
3. Đây là phòng học môn philosophie (triết học) trường Jean Jacques Rousseau sau đó là phòng nghe nhìn và thư viện của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn (tầng trệt).
4. Đây là phòng giám thị của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn (tầng trệt).
5. Đây là giảng đường trường Jean Jacques Rousseau.
6. Đây là Phòng học môn hóa trường Jean Jacques Rousseau sau đó nó cũng là Phòng học môn hóa và phòng học môn gia chánh của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn.
7. Đây là phòng W.C của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn mặt trước là phòng lao công.
8. Đây là Phòng tập thể dục trường Jean Jacques Rousseau sau đó được cải tạo thành hội trường + sân khấu + phòng đánh bóng bàn của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn.
9. Đây là phòng lao công, kế bên đàng sau là phòng y tế của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn.
10. Đây là văn phòng, phòng hiệu trưởng, hiệu phó và phòng giáo viên của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn phần tiểu học.
11. Đây là căn tin của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn kế bên cũng là căn tin của trường Jean Jacques Rousseau khi xưa. Ở trên lầu là phòng học hội họa của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn.
12. Đây là Phòng học môn lý và hóa của trường Jean Jacques Rousseau khi xưa sau là phòng học của 2 lớp 11B và 12B.
13. Đây là vườn thực vật của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn.
14. Đây là phòng học môn sinh vật của Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn.
Giữa hai khu trung và tiểu học có bức tường ngăn cách. Bức tường này được xây thời hiệu trưởng Hồ Văn Thể (1970-1974).
b. Ngoài trường:



1. Phía đường Công Lý (Nam Kỳ Khởi Nghĩa):
Có nhà bà già người Pháp sống một mình. Bà bị người cháu giết chết để lấy của trong những ngày gần 30 tháng 4 năm 1975.
Có hai trường tư thục giờ đây tôi chỉ còn nhớ mang máng là hình như tên một trường là Nguyễn Huệ.
2. Phía đường Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần):
Có hotel Đức là nơi tuỳ viên quân sự Mỹ mướn để ở. Hồi đó mấy thằng Mỹ ở đây ghét tôi lắm vì tôi thường phá mấy chiếc xe của tụi nó đậu bên này trường.
Ngay trước mặt cổng bên tiểu học có 2 xe bán nước giải khát, xe của vợ chồng người Bắc (nhà ở đường Yên Đổ “Lý Chính Thắng”) là đông nhất. Chắc giờ này hai vợ chồng này đã mất rồi.
Ở góc đường là một garage sửa xe.
Bên kia đường nay là nhà trưng bày chiến tích chiến tranh, hồi đó là trụ sở cứu hỏa của Mỹ còn xa xưa nó là của đại học y khoa Sài Gòn. Đội cứu hỏa của Mỹ rất uy tín khi chữa cháy nên hầu hết các đám cháy ở Sài Gòn lúc đó dân thường điện đến nhờ trợ giúp.
Phía đối diện là sạp báo. Sạp này có liên quan đến vụ ám sát sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật ngày 26 tháng 5 năm 1971 khi tên ám sát dấu khẩu súng tại đây.
3. Phía đường Lê Quý Đôn:
Ở góc đường bây giờ là một khách sạn cao tầng nhưng thời đó là một ngôi nhà trệt đây là Nha báo chí và văn phòng của cơ quan Việt tấn xã của VNCH.
Xích tới là một quán giải khát, tôi nhớ ở quán này có ông cảnh sát già trông lo việc an ninh cho khu vực trường.
Khu khách sạn và ăn uống tại đường Lê Quý Đôn hiện nay thời đó là khu biệt thự. Đi tới nữa cạnh tòa soạn báo Giác ngộ là một ngôi nhà xưa mà đạo diễn Khôi Nguyên sử dụng để quay phim Ván bài lật ngữa tập 3. Qua ngã tư Lê Quý Đôn – Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu) ta có thư viện Abraham Lincoln của Mỹ (đây là nơi trưng bày viên đá lấy từ mặt trăng về năm 1969). Năm 2006 tôi về Sài Gòn thì nơi này đã bị phá đi rồi không biết bây giờ xây cái gì.
Trên đây là những gì mà giờ phút này tôi còn nhớ nếu các bạn có đọc trang này có biết thêm xin bổ túc giúp tôi.
8. Chung quanh có bán những gì?
Các trường học ở thời chúng tôi đều có những hàng quán di động ăn theo bọn học trò cũng như thời hôm nay. Ở đây tôi chỉ nói đến những hàng quán mà thời nay không còn thấy xuất hiện nữa hoặc nếu có cũng thay đổi cung cách buôn bán theo thời gian.
Thời đó ở các trường trung tiểu học thường có những xe bán bò bía, xe bánh bánh bột chiên, xe bán gỏi đu đủ, xe bán khô nướng của những người Tàu . Ngoài ra còn có những xe bán nước giải khát (ở phần trước tôi có nói tới 2 quán bán nước giải khát ở đường Trần Quý Cáp (Võ Văn Tần) và đường Lê Quý Đôn. Còn nếu muốn mua đọc các loại truyện tranh thì có những chổ bán di động trên lề đường.
Tôi còn nhớ sự hấp dẫn của những xe bán bán bò bía, xe bánh bánh bột chiên, xe bánh đu đủ gỏi. Mặc dù chỉ là những xe bán bình dân nhưng chất lượng thì không chê. Không thể chê món nước tương + giấm của món đu đủ gỏi cùng với bò khô và gan bò mặn ngọt (riêng món này sau này tôi có hỏi những người Tàu cách làm nhưng không ai biết – có lẽ họ dấu-). Món bột chiên thì ngon tuyệt, hồi đó tôi cứ tưởng bột chiên làm bằng bột gạo nhưng không phải sau này mới biết đó là bột củ cải trắng. Riêng mùa thơm của khô nướng đứng trên đầu gió thì ai ai cũng muốn móc tiền ra mua, còn món bò bía chấm với tương đen và tương đỏ thiệt lắm hấp dẫn.
Muốn đọc truyện tranh hay truyện chữ thì có đủ loại. Thời đó nhiều nhất là các tập truyện tranh Batman, Superman, Flashman,…..của quân đội Mỹ. Truyện bằng chữ thì thượng vàng hạ cám từ kiếm hiệp, tình cảm đến khoa học viễn tưởng. Tôi nhớ vào khoảng năm 1962 lúc đó tôi ở số 153 đường Tự Đức (Nguyễn Văn Thủ bây giờ), tôi có đọc cuốn Long hình quái khách và cuốn người ngoài hành tinh từ sao mộc. Hai cuốn đó tôi rất thích.
Các sinh hoạt này đã đi vào kỷ niệm một thời học sinh không thể nào quên của chúng tôi. Dù bây giờ đang ở đâu trong hay ngoài nước, chúng tôi cũng đều tiếc nuối quãng đời ấy.

những hình ảnh kỷ niệm

Tôi với anh Lê Phong Sơn (đằng sau là cuộc thi bích báo tại phòng tập thề dục sau này là hội trường)
Tiết mục văn nghệ Cây mùa xuân năm 1971 trong hình có 2 bạn là Nguyễn Thị Anh Thư và Phạm Thị Diễm Trang
Tiết mục văn nghệ Cây mùa xuân năm 1971
Cắm trại tại Long Hải (Thầy đeo mắt kính đen là thầy Xuân dạy môn Vạn vật)
Cắm trại tại Long Hải (Thầy đeo mắt kính đen là thầy Xuân dạy môn Vạn vật)
Cắm trại tại Long Hải (Thầy Tam Nhiều đang đứng)
  
Trong hình là bạn Thu Trang tại Long Hải
Trước nhà hàng Mỹ Lệ Hoa Đà Nẳng năm 1973 (Thầy ?, thầy Hải , anh Lê Trần Dũng, anh Hồ Tuấn Ngọc và tôi)
Cứu trợ đồng bào lũ lụt tại Quảng Ngài năm 1973 (trong hình có thầy Mẫn và ông Trần Văn Đôn lúc đó là dân biểu đơn vị Quảng Ngãi )
Cứu trợ đồng bào lũ lụt tại Quảng Ngài năm 1973 (trong hình có cô Diệp và vợ thầy Mẫn)
Tôi đứng trước đống hàng cứu trợ tại Tân Sơn Nhất
Các bạn lớp 11B năm 1974
Thầy Tam Nhiều dẫn học sinh trường tham quan sơn mài Thành lễ Bình Dương
Đứng có tôi, anh Lương Bá Cần, anh Hồ Tuấn Ngọc
Ngồi là anh Lê Trần Dũng
Tôi, anh Biện Phước Lợi và anh Vương Thiên Phước
Dãy lớp 11B và 12 B. Bây giờ dãy này đã bị phá đi rồi
Lớp 8ème C của tôi  năm cuối cùng của lycée J.J. Rousseau
Bạn Vân Tiên
Một góc sân bên tiểu học
Bạn  này có 2 chị em cùng học chung truong giờ đã quên tên
Anh Hồ Tuấn Ngọc trên bờ sông Hàn Đà Nẳng
Bạn  này có 2 chị em cùng học chung truong giờ đã quên tên
Tôi đang đứng trước gian hàng bán tượng cẩm thạch đường Quang Trung Đà Nẳng
"Lũ quỹ đói" phía sau tôi là bạn Nguyên Hùng thì phải và một bạn tôi đã quên tên
  

Vũ Thị Minh Trang
                                                     
Trương Thị Diễm Hoa

Lê Phong Sơn

                                                                    Từ Mai Chi

Võ Thị Tuyết Trang năm lớp 7/8

Lê Cẩm Lệ năm lớp 10B4

Hồ Tuấn Ngọc lớp 12B đã mất


Nguyễn Thị Ngọc Trâm năm lớp 10B4


Dương Ngọc Oanh    lớp 10A4

                                                                     Lê Cẩm Chi

                                                                    Nguyễn Anh Thư

                                             Em gái của anh Hồ Tuấn Ngọc cũng học cùng trường

Lớp đệ thất ( tôi đứng thứ 1 hàng thứ 2 từ phải sang)


Lớp nhất ( Tôi đứng thứ 3 hàng thứ 2 từ trái sang)


Lớp 8 ( Tôi đứng thứ 1 hàng thứ 2 từ phải sang)


Các thầy cô chụp hình nhân chuyến thăm của ông phụ tá tổng trưởng giáo dục thanh niên


Lễ ra mắt hiệu đoàn Lê Quý Đôn

Lễ ra mắt hiệu đoàn Lê Quý Đôn


Thể dục đồng điễn nhân chuyến thăm của ông phụ tá tổng trưởng giáo dục thanh niên


Chuyến ủy lạo cây mùa xuân chiến sĩ tại bệnh viện Cộng Hòa 1973
Các em học sinh trong ảnh là học sinh các lớp 8



Chuyến đi thăm nhà sản xuất tranh sơn mài Thành Lễ tại Bình Dương


Chuyến đi sinh họat tại Long Hải Bà Rịa






Từ trái sang:
Nguyễn Văn Thảo, Bùi Tuấn Kiệt, Phan Tấn Minh, Hồ Tuấn Ngọc (đã mất tại Cần Thơ năm 1995)


Lớp 12B vẽ theo ký ức. Dãy lớp này bây giờ bị phá bõ đi năm 2006 để xây dãy mới. Phía sau dãy là nhà cô Yến y tá của trường và các nhà của lao công trường.
Đây là bài hát tôi viết năm 2006 sau khi về thăm trường trong đêm. Một mình tôi đi rảo qua các lớp học để nhớ về kỷ niệm. Lúc đó anh Tâm còn làm bảo vệ, giờ anh đã về hưu rồi (ảnh cũng là người cũ như chúng mình vậy)
n-721832-1372606082_500x0.jpg
Ngôi trường trung học lâu đời nhất thành phố Hồ Chí Minh là trường THPT Lê Quý Đôn. Không nhiều bạn biết, trường được thành lập năm 1874 với tên gọi trước kia là Collège Chasseloup-Laubat. Đến 1967, trường được trả lại cho Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ 1975, chính quyền Việt Nam vẫn giữ tên gọi Lê Quý Đôn cho ngôi trường đấy nhé!
m-449011-1372606082_500x0.jpg
Câu nói nổi tiếng của cụ Lê Quý Đôn: “Phi trí bất hưng” để nhắc nhở hậu thế mai sau gây ấn tượng từ ngay lúc vào trường.
l-908719-1372606082_500x0.jpg
Cột đá mới được dựng lên để kỷ niệm vị cố Quốc vương Campuchia - Norodom Sihanouk đã từng được đào tạo tại đây.
k-808967-1372606082_500x0.jpg
Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu của ngôi trường vẫn còn gần như nguyên vẹn, bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ "khẩu".
i-673660-1372606083_500x0.jpg
Trường đã xây thêm một số công trình phụ gồm nhà luyện tập thể thao và 10 phòng học kiểu mới nhưng cũng dựa theo lối kiến trúc cũ.
h-575532-1372606083_500x0.jpg
Chiếc trống trường vẫn đứng lặng nhìn bao thế hệ đi qua.
g-343485-1372606083_500x0.jpg
Những hàng cây cổ thụ hơn trăm năm tuổi này luôn rợp bóng mát.
e-282886-1372606083_500x0.jpg
Mặc dù đã được trùng tu, sửa chữa nhưng ngôi trường vẫn giữ gìn được nét truyền thống cổ kính với lối kiến trúc mang đậm chất Tây Âu.
d-989370-1372606083_500x0.jpg
Cố nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn cũng đã tốt nghiệp tú tài ban triết tại trường này.
c-369685-1372606083_500x0.jpg
Nữ sinh ngồi ôn bài ở ghế đá bên vườn hoa trong trường.
b-301882-1372606083_500x0.jpg
Có cả hội trường xây theo kiểu nhà hát thời đó, là nơi các bạn tập dợt các phong trào văn nghệ.
a-909711-1372606084_500x0.jpg