Wednesday, December 31, 2014

Bài viết hay(1733)

Chúc mừng năm mới 2015. Vĩnh biệt năm cũ. Nhìn về con đường trước mắt sau những màn pháo hoa tưng bừng rực rỡ để thấy một năm mới với ngỗn ngang công việc, trăm ngàn lo toan, bộn bề trăn trở... Phe chống Cộng và dân chủ vẫn chưa có gương mặt nào sáng giá đáng tin cậy trong khi phe CSVN cũng chẳng có gương mặt nào sáng giá hơn Nguyễn Tấn Dũng cho dù ai cũng chán ông ta vì con người nhiều mặt mà lời nói không bao giờ đi đôi với việc làm. Tóm lại, năm 2015 chẳng thấy tín hiệu nào lạc quan hơn. Bởi vậy cứ đi cày trả nợ đời. Giữ sức khỏe để đi tới!

Chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới
Khi nhìn ra thế giới, nói chung, chúng ta còn thua kém nhiều dân tộc khác trên thế giới, thế nên, xin miễn được đề cao người mình, những cái hay cái tốt mà nhiều người đã nói tới, mà hãy cùng nhau nhìn thẳng vào khuyết điểm của mình, để may ra có sửa chữa, thăng tiến hơn không.
Thấy người mà nghĩ đến ta, tôi thấy chúng ta phải quan tâm nhiều hơn và đúng mức đối với vấn đề của dân tộc, vì rằng, nói chung dân tộc ta kém xa các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới. Còn lý do tại sao chúng ta kém, chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào sự thực. Đã có hằng trăm cuốn sách khen ngợi người Việt rồi, nếu chúng ta tự mãn với những điều đó, liệu chúng ta khá lên không, hay từ bao trăm năm qua vẫn thế? Văn hóa Việt có những ưu khuyết điểm nào? Ai cũng biết một số ưu điểm, nhưng phải biết khai thác ưu điểm và quan trọng hơn là nhìn thẳng vào khuyết điểm lớn để sửa chữa ngay.
Ai chẳng tự ái, muốn bênh vực dân tộc mình, nhưng nhìn lại từ thời hữu sử tới nay đã hơn 4.000 năm qua, chúng ta chỉ có một số thời gian ngắn yên bình thịnh trị, còn hầu hết là chiến tranh, không nội chiến thì ngoại xâm. Nội chiến vì chúng ta chia rẽ, còn ngoại xâm vì chúng ta ở một vùng địa lý chính trị quan trọng mà lại không biết giữ. Tại sao dân tộc ta cứ mãi mãi lầm than, khốn khổ như vậy?
Học giả Trần Trọng Kim trong cuốn Việt Nam Sử Lược trang 6 đã viết:
Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy, vẫn hay có tính tinh vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác chế nhạo. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn có sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỷ luật.
Học giả Nhất Thanh Vũ Văn Khiếu trong cuốn Đất Lề Quê Thói (Phong Tục Việt Nam) trang 68, cũng nhận xét rằng:
Người mình phần đông thường ranh vặt, qủy quyệt, bộ tịch lễ phép mà hay khinh khi nhạo báng. Tâm địa nông nổi, khoác lác, hiếu danh…”.
Đại văn hào Lỗ Tấn của Trung Quốc đã từng ví người Hoa như ba con vật:
Tàn bạo như Sư tử, gian xảo như Hồ ly, nhút nhát như Thỏ đế.”…
Không vì những ý kiến thẳng thẳn đó mà dư luận người Hoa cho rằng ông bôi bác hay phản bội dân tộc.
Tuy mỗi người nhìn và đặt vấn đề một cách khác nhau, nhưng họ có chung niềm trăn trở và chúng tôi công nhận là họ đã can đảm nói lên những điều xấu của người mình, là một trong những điều tối kỵ, ít ai dám nói tới. Đôi khi chúng ta cần gạt bỏ tự ái để nhìn thẳng vào sự thật, cố gắng sửa chữa để tiến thân, cho mình cũng như cho dân tộc. Tôi thấy hơn bao giờ hết, đây là dịp người Việt thẳng thắn nhìn lại người mình, cởi mở và dọn mình để mang tâm thức lớn, cùng nhân loại bước vào thế kỷ 21. Nói vậy chứ cũng đã trễ lắm rồi, bây giờ mà sửa soạn thì may ra vài chục hay cả trăm năm sau mới bắt đầu có kết quả.
Người Việt có những tính tốt nào? Người Việt hiếu học ư, cũng hiếu học đấy, nhưng vẫn chỉ là một số nào đó, một số lớn vẫn ít học, cho là nghề dạy nghề, tức tùy tiện tới đâu hay tới đó. Mà đa số trong số hiếu học ấy vẫn mang nặng tinh thần từ chương, quan lại, trọng bằng cấp từ ngàn xưa. Họ học để tìm sự giàu có, phong lưu cho bản thân và gia đình hơn là giúp đời. Họ được gọi là trí thức, nhưng chỉ biết tri thức chuyên môn, hầu như họ sống cách biệt, không dính gì tới đại đa số đồng hương mà họ cho là thấp kém.
Kiến thức tổng quát của họ là một mớ hời hợt, thường có được là qua những buổi trà dư tửu hậu, chứ không qua sách vở nghiêm túc.
Nói chi tới dân thường, có nhiều người cả năm không mua một cuốn sách, một tờ báo. Họ chỉ thích nghe lóm và chỉ đọc sách báo khi có ai đó mua thì mượn đọc ké thôi. Người mình lại suy nghĩ thiếu khoa học nên dễ tin, đọc một bản tin trên báo hay nghe truyền miệng mà đã tin, nên dễ bị kẻ xấu lừa.

Cứ nói người dân mình thích đọc sách và ham học lắm, nhưng tôi có cảm tưởng không phải như thế. Thực ra, dân mình mê khoa bảng, kiếm chút bằng để kiếm ăn. Sách in ra đa số nhận rất ít phản ứng… Việc đọc sách chưa được xã hội hóa, hàng tháng không có thông tin về sách mới ra, không giới thiệu, không phản hồi, không thống kê, giới viết và đọc không hội họp….
Nhờ tới họ việc gì, luôn luôn họ giẫy nẩy lên trả lời là bận lắm, bận lắm; Biết họ bận gì không? Họ bận kiếm nhiều tiền để mua nhà, mua xe, chứng tỏ sự thành đạt của mình với chung quanh. Để tỏ ra là cha mẹ có trách nhiệm, họ luôn luôn bận lo cho tương lai học hành của con cái, thúc đẩy con học những ngành yên ấm mà kiếm được nhiều tiền chứ không tạo cho chúng tinh thần xã hội, góp phần xây dựng đất nước… Họ lúc nào cũng bận quây quần với vợ con, bận tụm đám bạn bè vui chơi!!! Người Việt luôn nặng tình cảm, đôi khi đến độ che mờ lý trí.
Chúng ta có được tinh thần gia đình thương yêu, đùm bọc khá cao, nhưng qua những cuộc đổi đời mới đây, một số gia đình cũng bắt đầu tan nát. Tinh thần hiếu khách, dù là nhà nghèo, nhưng hầu hết người Việt có gì cũng sẵn sàng đem ra cho khách dùng.
Người Việt có những tính xấu gì? Có thể nói là thiếu ý chí, thiếu sáng tạo, thiếu tinh thần khoa học, thiếu nghiên cứu, thiếu mạo hiểm, thiếu tầm nhìn xa, nói dối quanh, ít nhận lỗi, thiếu trật tự, thiếu nguyên tắc, thiếu tôn trọng của công, ăn cắp vặt, tự cao, tự ty, ỷ lại, thù dai, nặng mê tín, mau chán, thiếu tinh thần dân chủ vì độc đoán ít dung hợp ý kiến người khác, lúc nào cũng có cả trăm lý do để trễ hoặc không giữ lời hứa, nặng tình cảm mà thiếu lý trí, tinh thần địa phương, tôn giáo… Nhưng đáng kể là thói ích kỷ và nhất là đố kỵ làm trầm trọng thêm sự chia rẽ, đó là những cố tật lớn nhất đã làm cho người Việt không đoàn kết, hợp quần, tiến nhanh lên được. Xin hiểu cho là cà một dân tộc thì có người nay người kia, nên nói như thế không có nghĩa mọi người như vậy và một người đồng thời có tất cả những tính xấu ấy cùng lúc.
Tại sao trong khi hầu hết người Nhật và Hoa thường tìm đến cộng đồng của họ thì có một số khá nhiều người Việt tìm cách xa lánh nếu không muốn nói là sợ chính cộng đồng của mình (trừ khi gặp khó khăn cần giúp đỡ)?
Chúng ta không thể thay đổi truyền thuyết chia ly giữa Lạc Long Quân và bà Âu Cơ, hẹn khi cần mới gọi nhau hợp sức. Tức là bình thường thì chia rẽ, chỉ khi không sống được mới đoàn kết, rồi lại chia rẽ. Nhưng chúng ta, bằng lòng thành và ý chí phải vượt qua “định mệnh” không hay này.
Về bản thân người Việt, thân hình nhỏ bé, tuổi thọ thấp, sức lực kém, không bền bỉ, mà làm việc lại hay qua loa, tắc trách, đại khái nếu không nói là cẩu thả, nên nói chung năng suất kém.
Chúng ta thử nhìn xem, trong bất cứ một nhà ăn quốc tế như ở các trường Đại học có nhiều nhóm người thuộc nhiều nước thì nhóm nào nhỏ người nhất, lộn xộn và ồn ào nhất có nhiều phần chắc đó là nhóm người Việt. Nhóm này còn thêm cái tật hút thuốc, xả rác khá bừa bãi nữa.
Nay đã là đầu thế kỷ 21, thử nhìn việc lưu thông ở các thành phố lớn Việt Nam xem. Thật là loạn không đâu bằng. Người ngoại quốc nào đến Việt Nam cũng sợ khi phải hòa mình vào dòng xe cộ đó, và nhất là khi băng qua đường. Tỷ lệ tai nạn xẩy ra rất cao, ai cũng ta thán, thế mà bao năm qua vẫn mạnh ai nấy chạy, mạnh ai nấy đi. Những ngã năm, ngã bảy xe đông nghẹt mà hầu như không chia làn đường, nhiều nơi không có bệ tròn để đi vòng, không cảnh sát hướng dẫn lưu thông, Từ mọi phía xe cứ đổ dồn thẳng vào rồi mạnh ai người nấy tìm đường tiến lên. Đã cấm đốt pháo được mà sao tệ nạn lưu thông đầy rẫy, mỗi một chuyện cỡi xe gắn máy phải đội nón an toàn đã bao năm qua vẫn chưa giải quyết được. Sống trong xã hội mà dường như có rất đông người Việt hầu như không muốn bất cứ một luật lệ nhỏ nào ràng buộc mình. Cứ làm đại, làm càn rồi tới đâu hay tới đó!?
Tôi vẫn nghĩ, một dân tộc có văn hóa cao, thực sự hùng mạnh không thể nào nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chỉ biết xâu xé nhau.
Chính tính xấu chung của người Việt mới nẩy sinh ra lãnh đạo tồi và chia rẽ mà sinh ra chiến tranh, chiến tranh mới đào sâu thêm hố chia rẽ và làm lụn bại dân tộc. Thất phu hữu trách mà, vận nước hôm nay là trách nhiệm chung của mọi người, không chỉ có người lãnh đạo mà người dân cũng chung trách nhiệm.
Thử nhìn các lãnh vực văn, thơ, nhạc của chúng ta mà xem, đâu đâu cũng than mây khóc gió là chính. Đồng ý là có nhiều chuyện buồn nên sáng tác nội dung buồn, nhưng buồn mãi vậy ích lợi gì, sao không tìm cách giải quyết cái buồn. Có biết đâu những tư tưởng yếm thế đó càng làm cho tình hình xấu thêm. Nếu có tư tưởng nào tích cực thì muôn đời vẫn chỉ thuần là tư tưởng, vì chính tác giả của tư tưởng ấy chỉ viết hay nói ra cho sướng, nói ra để lấy tiếng với đời, chứ chính họ không có trách nhiệm thực thi.
Những gì cụ Phan Bội Châu báo động, kêu than trong cuốn “Tự Thán” đã gần một thế kỷ qua mà như đang xẩy ra quanh đây thôi.
Nếu chúng ta không có can đảm trị căn bệnh ngàn năm của mình thì dù có hết chiến tranh, dân Việt vẫn mãi mãi khó mà vươn lên được. Chí sĩ Phan Bội Châu đã hy sinh cả cuộc đời vì nước, vào sinh ra tử không tiếc thân, thế mà trong cuốn “Tự Phán”, cụ đã thẳng thắn nhận đủ thứ lỗi về phần mình. Cụ hối hận nhất là không đủ tri thức về ngoại ngữ và tình hình thế giới. Nhưng trong đó, cụ cũng không quên nêu lên một số khuyết điểm chính của người mình thời đó. Như người lãnh đạo không lo cứu nước, dân không lo việc nước. Chỉ tranh thắng với nhau trên bàn cờ, hay cốc rượu, mà bỏ mặc vận nước cho ngoại xâm giày xéo…
Ai cũng biết, Nhật Bản là một đảo quốc, đất hẹp, dân đông, nhưng người Nhật đã khéo léo thu thập tinh hoa thế giới để bồi đắp quê hương mình trở thành một cường quốc, đôi khi vượt qua cả những nước bậc thầy của họ trước đó. Thật là hiện tượng hiếm có, không mấy dân tộc nào làm được. Nhật Bản có thể ví như một nhà nghèo mà đông con, thế mà đã nuôi được cho tất cả các con ăn học thành tài. Nên đây thật là tấm gương lớn cho người Việt chúng ta học hỏi vậy.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, Việt Nam và Nhật Bản thời cận đại và hiện đại đã có những chọn lựa hướng đi khác nhau.
Khi Pháp đòi Việt Nam mở cửa và đe dọa bằng cách bắn phá đồn Đà Nẵng năm 1856, Việt Nam đã chủ trương bế môn tỏa cảng. Thế nên năm 1858, Pháp đem 14 tàu chiến và 3.000 lính đến bắn tan đồn lũy Đà Nẵng. Phía Việt Nam chống cự đến cùng, để rồi bị thua và toàn quốc bị đô hộ 80 năm. Chúng ta có tính can trường và bất khuất, nhưng thiếu khôn ngoan về một tầm nhìn xa cho đất nước chăng? Đặc biệt Việt Nam hầu như chỉ dựa vào một cường quốc, khi sợ nước nào thì chỉ dựa theo nước đó, thiếu tầm nhìn toàn diện.
Thật vậy, khi thấy Pháp mạnh thì bỏ Trung Hoa theo Pháp, rồi theo Nhật Bản, theo Hoa Kỳ hay Liên Xô. Theo đuổi chính sách như vậy, dễ bị một cường quốc lấn át và khi các cường quốc này yếu đi thì hoang mang, không biết trông vào đâu. Sau Thế chiến Thứ II, thế giới có phong trào giải thực, hàng chục quốc gia được độc lập một cách dễ dàng, riêng một số nhà lãnh đạo Việt Nam chọn con đường chiến tranh, hy sinh khoảng 4 triệu người và 30 năm chiến tranh. Điều này đã khiến quốc gia bị tụt hậu, trở thành chậm tiến và nhất là phân hóa, chưa biết bao giờ mới hàn gắn được.
Tại sao Việt Nam ở bao lơn Thái Bình Dương, vị trí địa lý chính trị cực kỳ quan trọng như vậy mà chỉ trở thành mục tiêu cho các đế quốc xâm lăng, còn không học hỏi để tự vươn lên được? Tại sao các đế quốc nhìn ra vị thế quan trọng của Việt Nam mà chính người Việt lại không nhìn ra và tự tạo cho mình một vị thế tương xứng như vậy? Tại sao người Việt đã đầu tư quá nhiều vào chiến tranh mà chúng ta vẫn thiếu hẳn một đường hướng xây dựng, phát triển quốc gia thích hợp? Với lối phát triển quốc gia trong nhiều thế kỷ qua, bao giờ Việt Nam mới theo kịp các nước trung bình trên thế giới, tức ngang với tầm vóc đáng lẽ phải có về dân số và diện tích của Việt Nam?
Trong lúc đó, năm 1853, khi bị Hoa Kỳ uy hiếp, Nhật Bản cắn răng chịu nhục, quyết định bỏ chính sách bế môn tỏa cảng. Nhưng họ mở rộng ngoại giao, không chỉ với Hoa Kỳ mà với cả ngũ cường, thêm Anh, Pháp, Nga, Đức… mặt khác, họ cố gắng học hỏi ở các nước ấy, để 30, 40 năm sau vươn lên ngang hàng. Nhưng Nhật đã bắt chước các đế quốc, đi vào con đường chiến tranh sai lầm, góp phần gây nên Thế chiến Thứ II, hy sinh khoảng 3,1 triệu người và đất nước tan hoang. Sau Thế chiến Thứ II, Nhật Bản đứng trước một tương lai cực kỳ đen tối chưa từng có. Nhưng họ đã chọn con đường xây dựng quốc gia bằng hòa bình, cố gắng làm việc, chỉ 25 năm sau, Nhật Bản lại trở thành cường quốc.
Giờ đây, vận nước vẫn còn lênh đênh, mà người lãnh đạo lẫn người dân, nhiều người vẫn như xưa, chưa thức tỉnh. Đặc biệt, nay có cả mấy triệu người được ra nước ngoài, tri thức thăng tiến bội phần, nhưng chỉ có một phần nhỏ quan tâm tới cộng đồng và đất nước, còn phần lớn mạnh ai nấy lo làm giàu cá nhân…
Vài năm trước, tôi có được đọc trong một cuốn sách, đại ý thuật lại lời một người trí thức Nhật với một người Việt ở Việt Nam ngay sau khi Thế chiến Thứ II vừa chấm dứt năm 1945. Người Nhật ấy nói rằng, vì thua trận, từ nay đất nước Nhật Bản bước vào thời kỳ đen tối, còn Việt Nam sẽ thoát khỏi nạn thực dân, được độc lập và tương lai sáng lạn. Nghĩ vậy, thế nhưng người Nhật đã cố gắng phục hưng đất nước một cách nhanh chóng. Trong khi đó, tình hình Việt Nam đã không diễn biến như hoàn cảnh thuận lợi cho phép.
Tại sao có điều nghịch lý là sách giáo khoa Nhật Bản viết nước Nhật vốn “rất nghèo tài nguyên”, mà nay người Nhật xây dựng thành “giàu có”, còn sách giáo khoa Việt Nam có lúc viết nước Việt vốn “rừng vàng biển bạc” mà lại hóa ra “nghèo nàn”? Tại sao người Việt chỉ biết đem tài nguyên sẵn có và nông phẩm là thứ đơn giản và rẻ nhất đi bán? Dù ai cũng biết đây là thứ kinh tế mới chỉ ngang tầm thời Trung cổ.
Ngay nước gần chúng ta như Thái Lan cũng ở tình trạng tương tự, nhưng khéo ngoại giao hơn, không tốn xương máu mà vẫn giữ được hòa bình để phát triển. Do đó, điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là không chỉ thu học kỹ thuật của người, mà cần để ý đến văn hóa, là mặt tinh hoa tạo nên tinh thần người Nhật hay người Đức. Có tinh thần mạnh thì như họ, dù thua Thế chiến Thứ II, cũng nhanh chóng vươn lên. Tinh thần yếu thì dù đất nước có giàu có cũng sẽ bị lụn bại đi như nhiều đế quốc trước đây trong lịch sử.
Vậy người Việt bị thua kém, tụt hậu vì những khâu nào? Tại sao đa số người Việt mua thực phẩm là món ăn vật chất hàng ngày, có thể mua nhạc hàng tháng để giải trí mà có khi cả năm mới mua một cuốn sách là món ăn tinh thần? Tại sao, năm 2007, người Việt dù có 3 triệu ở hải ngoại hay 85 triệu ở quốc nội, mỗi tựa sách (đầu sách) cũng chỉ in trung bình khoảng 1.000 cuốn? Như vậy người Việt có thực sự chăm tìm tòi, học hỏi không? Nếu bảo rằng sách đắt thì số người Việt tới thư viện sao cũng không cao.
Nói chung, không có dân tộc nào tiến mạnh mà sách vở lại nghèo nàn. Bởi chính sách vở là kho kiến thức, làm nền tảng để phát triển. Người Nhật tiến mạnh được là nhờ họ biết tích lũy kinh nghiệm. Người đi trước khi học hỏi, họ ghi chép rất cẩn thận, sau này nhiều người trong số đó viết sách để lại cho người đi sau và cứ thế. Có những người Việt giỏi, nhưng không chịu khó viết sách để lại, nếu người ấy mất đi thì bao nhiêu kinh nghiệm tích lũy hàng mấy chục năm cũng mất theo luôn, thật là uổng phí. Hơn nữa, ai cũng rõ, nếu hiểu biết chỉ được thu thập thuần bằng kinh nghiệm chưa hẳn đã là chính xác và phổ quát, lúc viết sách, người viết sẽ phải tham khảo rất nhiều, khi đó, từ các suy nghĩ cho tới dữ kiện mới dần dần được hoàn chỉnh hơn.
Tại sao người Việt ở cả trong và ngoài nước được kể là học khá, nhất là về toán, mà không tìm ra một công thức hay có được một phát minh thực dụng đáng kể nào? Tại sao lúc nào cũng đầy người tụ ở quán cà phê và hiệu ăn mà không hề nghe có lấy được tên một nhà thám hiểm Việt Nam nào? Tại sao chúng ta thiếu hẳn óc tìm tòi, mạo hiểm, nhẫn nại và cố gắng?
Người ngoại quốc nào nghe người Việt nói cũng thấy lạ, thấy hay, vì líu lo như chim, âm thanh trầm bổng như có nhạc. Bởi tiếng Việt có khoảng 15.000 âm với 6 dấu thinh/giọng, lên xuống như “sắc, huyền”, uốn éo như “hỏi, ngã”, rung động như “r”… thế nhưng, đa số người Việt không biết gì về nhạc lý cả. Trong khi tiếng Nhật rất nghèo nàn về âm, chỉ có 120 âm, mà đa số người Nhật rất giỏi nhạc, có nhiều nhạc trưởng hòa tấu hàng quốc tế, còn đi sửa các dàn organ cho cả Âu châu… Người Việt hầu hết chỉ biết mua nhạc cụ chơi, tới khi hỏng thì chịu, thấy tình trạng bết bát quá, chính người Nhật phải qua sửa giúp nhạc cụ của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam khoảng đầu thập niên 90.
Trong tiến trình phát triển quốc gia, cụ thể là trên bình diện kinh tế, từ khâu đầu tư, tụ vốn, lập công ty, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, nghiên cứu, sản xuất, cải tiến, quản lý phẩm chất, quản lý tài chính, quảng cáo, buôn bán, phân phối, bảo trì, tái biến chế, bảo vệ môi sinh… Tất nhiên làm ăn cá thể thì người Việt thường chỉ mạnh ở khâu buôn bán nhỏ hoặc kinh doanh hiệu ăn lấy công làm lời.
Ngay khâu buôn bán, người bán thường chú trọng mua hàng ngoại hạng nhất về bán kiếm lời và người tiêu dùng cũng lo bỏ ra thật nhiều tiền tìm mua hàng ngoại hạng nhất để khoe mà nhiều khi không biết dùng hoặc không cần dùng tới! Tại sao lại chuộng “hàng ngoại” đến như vậy? Hàng hóa ở Việt Nam ngày nay khá nhiều, nhưng người Việt không tự sản xuất lấy được khoảng 10% trong cấu thành sản phẩm đó. “Sản xuất” nếu có, “hàng nội” nếu có, thực ra chỉ là đốt giai đoạn, dùng máy ngoại quốc rồi nhập vật liệu và làm gia công. Sau này, khi máy hư hỏng thì lại mua máy mới, không dần dần tự chế máy thay thế như người Nhật hay người Hoa được. Cạnh tranh trong thương trường, người Việt thường tìm cách hạ nhau, coi thành công của người khác là thiệt hại của mình; như bày cua trong rọ, cứ kẹp nhau để rồi kết quả là không con nào ra khỏi rọ được.
Người Mỹ có châm ngôn làm ăn đại ý rằng:
- “Cạnh tranh là tự cải tiến sản phẩm của mình chứ không phải bỏ thuốc độc vào hàng của người khác”.
Người Nhật thì chủ trương:
- “Khách là nhất. Khách nuôi nhân viên chứ không phải chủ, phải làm sao cho vừa lòng khách”.
Sự phồn vinh rất “giả tạo” hiện nay ở Việt Nam là do sự cởi mở về kinh tế, nhưng phần lớn là do tiền từ bên ngoài. Tới năm 2007, trong hơn 30 năm qua, Việt kiều gởi về khoảng 70 đến 80 tỷ Mỹ kim, cộng thêm một số tiền đầu tư trực tiếp và gián tiếp của ngoại quốc 100 tỷ Mỹ kim (trong các công trình hợp doanh, phía đầu tư của Viện Nam chỉ chiếm khoảng 10% số này) và viện trợ ODA khoảng 20 tỷ. Với số tiền khổng lồ khoảng 200 tỷ đó chưa kể Tổng sản lượng quốc dân (GDP) khoảng 500 tỷ do người Việt làm ra trong thời gian này, nếu có chính sách giáo dục, kinh tế tốt hơn và nhất là không bị quốc nạn tham nhũng thì mức sống của người dân có lẽ đã gấp hai, gấp ba lần hiện nay, mức chênh lệch lợi tức giữa người thành thị và nông thôn sẽ không quá xa. Ở hải ngoại cũng vậy, với nhà cửa rộng lớn, xe hơi sang trọng tất nhiên do nhiều nỗ lực cá nhân, nhưng yếu tố chính cũng là do may mắn từ môi trường thuận tiện sẵn có, như thể “đẻ bọc điều, chuột sa hũ gạo”. Chứ xét về bản chất, không khác với người trong nước.
Phải chăng các điều trên chỉ là những câu hỏi luôn làm trăn trở, bứt rứt một số rất ít những người Việt có tâm huyết với sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Phải chăng còn đại đa số thì không quan tâm và bằng lòng với công việc buôn bán nhỏ hay đi làm thuê hiện tại?
Vì kiếm thật nhiều tiền cho mình và gia đình là quá đủ và hết thì giờ để nghĩ và làm thêm bất cứ chuyện gì khác? Thử hỏi như vậy Việt Nam sẽ đi về đâu? Tất nhiên, đã là con người thì dân tộc nào cũng có đủ các tính tốt và xấu, nhưng người Việt dường như bị nhiễm nhiều tính xấu ở mức độ rất trầm trọng.
Psonkhanh

 ABC CHÍNH TRỊ
Người ta dùng tiền thuế của bạn làm chính trị
Người ta giả danh bạn, tự ủy quyền làm chính trị
Người ta tự sắp xếp mọi ghế
Người ta tự vẽ ra các loại luật
Người ta bắt bạn, con cái, cháu chắt của bạn tuân theo, cúi đầu
Người ta cựa quậy thoải mái
Nhưng cấm bạn quậy cựa
Người ta bắc loa khắp nơi
Nhưng cấm bạn mở mồm
Người ta và con cháu người ta có đủ loại quyền
Còn bạn và con cháu bạn thì bị hạn chế
Người ta bốc tiền, chia tiền từ công quỹ
Tự động ăn chia từ bán tài nguyên
Khai thác tài nguyên, khoáng sản
Người ta tự ý rút tiền từ vay tài trợ ký nhân danh bạn
Và chén
Nhưng bạn chỉ được đứng ngoài
Người ta chiếm hết của cải, tài sản của đất nước trong tay
Nhân danh ông trời
Nhân danh và cười nhạo vào bạn
Đất đai tài sản ông bà tổ tiên để lại
Họ cho bạn tấm giấy lộn
Nói rằng bạn chỉ được dùng nó có thời hạn
Mà không có quyền làm chủ chi hết
Bạn có quyền sở hữu cái dạ dày của bạn không?
Bạn có quyền sơ hữu cái cần câu cơm của bạn không?
Dù bạn có tiền mua chúng đi nữa
Không, bạn chỉ được thuê nó có thời hạn
Và có quyền phải nộp đủ thứ thuế, lệ phí,
Kể cả quyền buộc phải a dua vào phạm luật, đút lót, chạy chọt giấy tờ
Và khi họ muốn lấy đất đai thậm chí tài sản khác của bạn,
Họ chỉ cần hô biến
Họ cũng vẽ ra đủ màu giấy tờ
Và bắt bạn mua các chứng chỉ đó
Họ cho bạn chạy đèn cù
Họ luôn thắng
Bạn luôn thua
Bạn đòi lại các quyền của bạn
Từ quyền sống tới quyền tự do ư?
Quyền sở hữu, tư hữu ư?
Coi chừng, chỉ nghĩ trong đầu, cửa nhà tù đã mở
Thậm chí là nắp săng quan tài đã hé
Họ dùng tiền của bạn
Mua súng ống, đạn dược
Sắm dùi cui, dao kiếm,
Dựng xà lim, lập phòng tra xét
Căng lưới kẽm gai và tường đá nhà tù
Cả thuê những đao phủ, chỉ điểm và lính kín
Dựng cả những quan tòa đểu, những thẩm phán được điều khiển
Tất cả là từ tiền của bạn và con cháu bạn
Để chơi chính bạn
Cho bạn đo ván
Không ngóc đầu lên
Và họ bảo bạn đừng nên quan tâm tới CHÍNH TRỊ
Họ làm cho bạn tin rắng không quan tâm cái đó là thời thượng
Là hành vi hợp lý
Cứ cúi đầu mà làm, mà ăn
Thế là khôn
Thành đổ vua xây,
Việc gì gái góa lo ngày lo đêm?
Và họ còn thành công, chừng nào còn làm cho bạn sợ
Và tin rằng im lặng, bị động thông đồng, a tòng là hợp lý
Nhưng bạn có biết con trâu không?
Bạn có biết con ngựa không?
Có bao giờ bạn thấy mình giống chúng không?
Giống ư, không giống ư, giống nhiều ư, giống ít ư, không bình luận gì ư?
Đó là quyền và nhận thức tùy bạn
Nhưng đấy
Chính đấy
Là thứ chính trị
Mả họ muốn bạn vờ như không biết
Như không thấy chính bạn tồn tại trên đời

Ngô Quốc Phương, 27.5.2013
Trí thức, kẻ bất lực của muôn đời
Mao Trạch Ðông có một câu khó ngửi về trí thức. Vậy mà không ít trí thức trên đời, không phải hạng xoàng, ngửi được. Không có gì đáng ngạc nhiên. Ông có lý, trí thức thường là kẻ bất lực. Khổng Minh nhường thiên thời cho Tào Tháo, địa lợi cho Tôn Quyền, chỉ dựa vào nhân hoà mà dựng nhà Hậu Hán, thật là người trí thức phi thường. Nhưng cũng phải thở dài, gục xuống Kỳ Sơn. Thật là kẻ bất lực trước thời thế. Nguyễn Trãi chủ trương đánh vào lòng người hơn đánh thành, giúp Lê Lợi đánh bạt quân Minh, tuyệt vời không kém Khổng Minh. Rồi cũng bị loại: thế giới phong kiến không có đất sống cho loại người như vậy, loại người biến mệnh trời thành lòng dân. Tại sao kỳ lạ thế?
Những từ trí thức, giới trí thức (intelligentsia), trong nghĩa hiện nay của chúng, ít nhất trong văn hoá Pháp, không có từ muôn đời. Nó manh nha ở Pháp từ thế kỷ 17, hình thành trong thế kỷ 18, trở thành khái niệm trong thế kỷ 19, thịnh vượng trong thế kỷ 20, suy tàn (?) cuối thế kỷ 20. Không ở đâu, người trí thức có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội như ở Pháp. Thí dụ, Hiến pháp đầu tiên của Pháp, thậm chí Hiến pháp của Mỹ, không thể có được nếu không có trào lưu văn học và tư tưởng của Pháp trong thế kỷ 18. Hiến pháp là một vấn đề văn hoá trước khi trở thành vấn đề chính trị hay luật pháp. Vậy cũng nên tìm hiểu quá trình hình thành khái niệm trí thức ở Pháp.
Khi nói tới trí thức người ta dễ liên tưởng tới sự hiểu biết, tới khả năng tìm sự thật, tới khoa học. Người ta thường cho rằng tư tưởng hiện đại, tư tưởng khoa học, bắt đầu với hệ luận của Descartes. Tới mức từ cartésien đồng nghĩa với có lý như 2+2=4. Xem kỹ lại, hệ luận ấy bắt đâu bằng một nghi vấn và một sự khẳng định: cho rằng ta chấp nhận ta nghi hoặc tất cả, ta không thể nghi ngờ rằng ta đang nghi hoặc, vậy, ta đã nghi hoặc thì ta có thật. Dĩ nhiên, luận điểm ấy không đủ để chứng minh ta có thật hay không có thật, nhiều trường phái khác, cùng thời và sau này, đã chứng minh ngược lại. Ðiều quý ở đây không ở sự chứng minh, nó ở hai ý khác. Một mặt, nó ở một lối suy luận có phương pháp, giúp con người tránh thành kiến, tránh mâu thuẫn (trong nghĩa thông thường). Mặt khác, nó ở sự khẳng định triết học: thật hay không thật, một khi ta đã chấp nhận làm người, thì nguồn gốc mọi sự thật, mọi giá trị đều từ ta. Câu je pense, donc je suis [1] đẹp ở tính chất thơ của nó, và do đó cứ khắc mãi vào lòng người. Sartre đã biến nó thành Je pense, donc je ne suis pas [2] và, vì như thế nhân bản hơn, đã chinh phục nhiều người. Trong thời Descartes, từ trí thức chưa xuất hiện. Nhưng những trí giả đều quý trọng ông.
Trong thế kỷ 18, Voltaire, một nhà văn nghộ nghĩnh, đưa đầu ra đối địch với triều đình để bảo vệ Callas. Với tư cách gì ông can thiệp vào vụ này? Chính trường và luật lệ nào phải lãnh vực chuyên môn của ông?
Trong thế kỷ 19, Émile Zola lại đưa đầu ra can thiệp vào vụ án Dreyfus, viết bài văn nổi tiếng J'accuse [3]. Với tư cách nào? Với tư cách một nhà văn đứng lên bảo vệ sự thật và lẽ phải. Nhiều người trí thức cũng hưởng ứng. Từ trí thức, trong nghĩa ngày nay của nó, có từ đó.
Trong thế kỷ 20, nhiều nhà bác học, nhà khoa học, nhà văn, nghệ sĩ, đã đưa đầu ra đấu tranh cho đủ mọi chuyện không liên quan tới chuyên môn của họ. Quần chúng thường xem họ là người trí thức và quý mến họ, không phải vì họ có một tri thức đặc biệt về vấn đề được tranh luận, mà vì quần chúng tin rằng, do tri thức của họ, họ là những người tôn trọng, quý trọng sự thật. Như thế, trí thức là người lăn xả vào một lãnh vực thường không thuộc chuyên môn của mình để bảo vệ một sự thật nào đó.
Tìm sự thật, tôn trọng sự thật. Sự thật nào? Có thể có sự thật không? Ở đây có sự nhập nhằng. Sự thật về sự vật, sự kiện, nếu có thể có, cũng khác xa sự thật của con người. Ðiều đó ai cũng cảm nhận dễ dàng. Không ai tin rằng dùng một công thức toán có thễ chứng minh một tín ngưỡng, một giá trị đạo đức, kể cả giá trị tôn trọng sự thật. Như thế làm sao có thể tin một người trong một vấn đề không thuộc lãnh vực chuyên môn của nó? Có lẽ vì sự nhập nhằng kia có cơ sở. Quan điểm của Descartes (tuy ông đã rút ra kết luận ngược lại) có thể hiểu: trên đời này không có một sự thật nào độc lập với người quan sát, tìm kiếm nó, nhưng người ta có thể dựa vào phương pháp suy luận để tránh thành kiến. Quan điểm ấy vẫn còn phù hợp với khoa học ngày nay. Như thế, người ta có thể quý mến người trí thức ở tính chất tự do suy luận (libre penseur) của người đi tìm sự thật, và trên cơ sở đó, tin cậy phần nào khả năng suy luận không thành kiến của họ: ngay trong lúc quan sát thiên nhiên vẫn phải đặt câu hỏi đối với chính mình. Ðó là đối với sự thật về sự vật, sự kiện. Vấn đề sự thật của con người rắc rối hơn. Không những nó không thể độc lập với người quan sát, nó còn không thể có được nếu không có sự hiện diện và sự ưng thuận của người khác. Robinson, một mình trên đảo hoang, không thể có một sự thật hay một giá trị nhân bản nào. Chỉ khi Vendredi xuất hiện, vấn đề sự thật, vấn đề giá trị mới có thể đặt ra. Khi người trí thức lao mình bảo vệ một sự thật về một vấn đề nào đó, họ làm một lúc hai chuyện:
1) Vận dụng phương pháp suy luận khoa học mình vốn có để xem xét một cách đầy đủ và khách quan nhất những sự vật, sự kiện, những quá trình diễn biến của chúng.
2) Kêu gọi sự ưng thuận của người khác để cùng nhau tái tạo hay sáng tạo một sự thật, hay nói đúng hơn, một giá trị của con người trong một thời đại, ít nhất là giá trị tôn trọng sự thực về sự vật, sự kiện.
Người trí thức là người muốn tin tưởng ở tự do của con người (mặc dù hạn chế của nó), muốn dựa vào con người, để cùng nhau tái tạo hay sáng tạo những giá trị nhân bản của thời đại mình, để bảo vệ, để xây dựng một thế giới tinh thần, một tương lai vượt những quy luật vật chất của cuộc sống. Tính cách trí thức không tùy thuộc mức tri thức trong bất kể lãnh vực chuyên môn nào. Nó nở ra như một ảo vọng trong một thực tế nghiệt ngã. Nó khẳng định: nhân cách cần thiết cho cuộc sống. Nó tin tưởng: nhân cách là có thể, ngay hôm nay, ngay bây giờ. Ở khía cạnh ấy, có thể coi người trí thức như một nhà thơ có học, một nhà thơ nghiệp dư, chưa biết gieo vần, cấy vận. Người trí thức chỉ có thể hình thành và tồn tại trên cơ sở tự do của người khác. Do đó, xưa nay, nó thường là kẻ bất lực. Vì con người chưa quen sống (và đối với 3/4 nhân loại hôm nay, trong đó có Việt Nam, chưa đủ khả năng sống một cách đàng hoàng, bình đẳng) với tự do của người khác. Ta chỉ coi những tình cảm biết mấy quan trọng, biết mấy nhỏ nhoi trong cuộc sống hàng ngày của ta cũng rõ. Ta có thể yêu mãi mãi một người đã chấp nhận mãi mãi là của ta hay không? Ta dám yêu mãi mãi một người mà ta biết, sáng mai, có thể yêu người khác? Thực tế, dù muốn dù không, như mọi người, hai chuyện ấy ta đều làm được. Ngược lại, trong nhiều lãnh vực, đặc biệt những lãnh vực lịch sử, chính trị, văn hoá, tư tưởng, lắm lúc ta rất e dè. Vì ta sợ hãi chính mình? Hay nói cách khác, ta chưa dám tin người khác? Trong thế giới hôm nay, làm sao tin được? Nhưng nếu ta không dám tin, không dám yêu tự do của người khác, thế giới hôm nay còn gì đáng sống? Ån, ngủ, đụ, ỉa và... hư vô. Ðã sống, phải thèm ăn, thèm ngủ, thèm đụ, thèm ỉa. Vì những điều ấy không thể thực hiện được một cách nhân đạo trong sự cô lập, trong luật rừng, phải từ chối hư vô, phải yêu đời, tức là phải quý tự do của người khác, và trả cái giá phải trả: hôm nay. Dù là một hôm nay bất lực. Người trí thức là người phải và dám đánh cuộc vào tự do của người khác. Vì thế, các chế độ độc tài vừa muốn khai thác tri thức của nó vừa muốn bóp chết trí tuệ, nhân cách tự do của nó. Ðó là điều không thể thực hiện được một cách triệt để, vì hai khía cạnh đó trong con người, như Descartes đã linh cảm, không hoàn toàn độc lập với nhau.
Trần Đạo
7-1992
Viện Khổng Tử ở Việt Nam
Hôm nay, đọc được một tin mà không biết nên mừng hay buồn, có lẽ quan tâm thì đúng hơn. Đó là bản tin về Viện Khổng Tử được khánh thành ở ĐH Hà Nội. Thật ra, nhìn bề ngoài thì chẳng có gì phải quan tâm, vì từ ngày Tàu bắt đầu khá lên, họ "rải" Viện Khổng Tử khắp thế giới. Ở Úc này, các đại học lớn đều có Viện Khổng Tử, do Chính phủ Tàu tài trợ và có lẽ dính dáng vào việc điều hành. Nhưng ở Việt Nam thì khác, vì chúng ta có một mối liên hệ lâu dài và bão táp với cái nước khổng lồ ở phương Bắc đó. Nói xa không qua nói gần: chúng ta đã từng bị lệ thuộc (có người dùng chữ "nô lệ") vào Tàu đã quá lâu, sự hiện diện của Viện Khổng Tử có lẽ mở thêm một cánh cửa để Việt Nam lọt vào quĩ đạo lệ thuộc hơn nữa vào Tàu. Và, trong lúc chúng ta đang muốn "thoát Trung", Viện Khổng Tử là một bước lùi. Nhìn như thế, việc lập Viện Khổng Tử ở Hà Nội cũng là một tin buồn.
Tôi không am hiểu về Nho Giáo và Khổng Tử, nhưng có đọc khá nhiều sách về ông, nên chỉ muốn nhân dịp này góp vài lời "mua vui cũng được một vài trống canh". Dĩ nhiên, tôi cũng sẽ nói qua suy nghĩ của mình về sự hiện diện của Viện Khổng Tử ở VN. Nói đến Khổng Tử và Khổng Giáo là đề tài quá lớn, chẳng ai dám nói mình am hiểu, nên tôi chỉ có thể nói theo cách hiểu của tôi. Trước đây, ông Nguyễn Gia Kiểng có một bài dài bàn về Khổng Tử, và tôi có lấy vài dữ liệu trong bài đó. Ngoài ra, tôi có sử dụng phần lớn nguồn dữ liệu từ wikipedia và sách của hai học giả Nguyễn Hiến Lê và Trần Trọng Kim. Tôi sẽ bàn về con người của Khổng Tử, học thuyết (nếu có thể dùng chữ đó) của ông, và tại sao Tàu muốn quảng bá viện Khổng Tử.
Một con người máy móc
Cuộc đời của Khổng Tử cũng rất thú vị, nhưng nếu đọc kĩ thì hình như ông chẳng có đóng góp gì quan trọng lắm. Ông tên là Khổng Khâu, sinh năm 551 trước Công Nguyên, ở nước Lỗ, trong một gia đình [nói theo ngôn ngữ thời nay] là trung lưu vì ba của ông là một vị quan thuộc nước Lỗ. Tuy ông được người đời sau tôn thành "Vạn thế Sư biểu" (Bậc thầy của muôn đời), nhưng cuộc đời và sự nghiệp của ông nếu được soi rọi kĩ thì không hẳn xứng đáng với danh hiệu đó. Nói chính xác, ông là một … thầy cúng. Theo sử sách để lại, năm 19 hay 20 tuổi, ông ra làm quan, chuyên nghề thu thuế. Sau đó, ông được giao việc chăm sóc các con vật dùng vào cúng tế.
Có lẽ chính vì cái xuất thân này mà ông rất quan tâm đến thủ tục cúng tế. Có lẽ vì xuất thân là người thu thuế, kế toán, nên ông rất quan tâm đến sự chính xác. Ông sống như kẻ trưởng giả, suốt đời từ cách ăn uống, cách mặc, cách đi đứng, cách cư xử, lúc nào cũng theo qui ước. Sách Luận Ngữ viết rằng ông chỉ ăn thức ăn nấu thật chín, món ăn phải theo mùa, lượng rau và thịt không thay đổi. Ông cũng uống rượu nhưng không bao giờ để cho say xỉn. Ăn mặc thì không mặc quần áo màu mè, lễ phục thì cánh tay mặt phải dài hơn cánh tay trái, quần áo ngủ phải dài hơn quần áo ban ngày nửa thước. Còn nói thì nói chậm, và không dùng ngón tay để chỉ một vật gì. Trong triều đình cung cách của Khổng Tử là "thượng đội hạ đạp". Đối với các quan cấp dưới thì ông tỏ ra cứng cỏi, còn đối với các quan cấp cao hơn thì uyển chuyển. Đó là chân dung của một người rất máy móc, cứng nhắc, và sống theo qui ước cho chính ông đặt ra.
Không được trọng dụng

Thời thanh niên và trung niên, Khổng Tử không được trọng dụng vì ông chẳng có đóng góp gì quan trọng. Ông lưu lạc rất nhiều nước, nhưng chẳng có vua chúa nào trọng dụng tài của ông. Cuối cùng ông về nước Lỗ và mở trường dạy học. Nên nhớ rằng thời đó, chỉ có triều đình và những "hiền nhân" mới có quyền mở trường dạy học. Nhờ trường của Khổng Tử mà nhiều môn đồ sau này làm lớn trong triều đình. Ông đào tạo khoảng 3000 môn đồ. Nghe nói công lớn của ông là làm cho khoảng cách giữa người "quân tử" và "tiểu nhân" ngắn hơn, nhưng có người cho rằng đó là một ảnh hưởng vô ý thức, vì trong thâm tâm ông không muốn vậy. Theo sách vở để lại, ông xem kẻ tiểu nhân không đáng được kính trọng, không cần nể nang (giống như Francis Galton bên Anh).
Khổng Tử được tôn xưng là một nhà đạo đức, nhưng "đạo đức" ở đây có nghĩa là ông làm đúng nghi lễ, chứ không hẳn là có đạo cao đức trọng. Ông dạy môn đồ phải trung thực, giữ tín nghĩa với bạn bè, phải phụng dưỡng cha mẹ, giúp người già sống yên ổn, yêu trẻ thơ. Đó thật ra là những chuẩn mực chung thời đó của người Á Đông. Nhưng Khổng Tử không có tầm vóc "global" của Phật Thích Ca hay Chúa Jesus, những người có khả năng xây dựng hẳn một nền triết lí và đạo đức học để cứu rỗi thiên hạ. Thậm chí, ông còn kém hơn Gandhi một bậc.
Ông cũng có vẻ rất thích tự xem mình làm việc của thánh. Ông từng nói rằng "Bảo ta là thánh thì ta không dám, nhưng ta làm việc thánh không biết chán, dạy người không biết mỏi." Ông cũng khá tự tin về tài năng của mình. Ông từng phán rằng vua chúa nào mà biết trọng dụng ông thì chỉ một năm ông sẽ làm cho nước đó khá lên, 3 năm là sẽ thành công. Nhưng trong thực tế, chẳng vua chúa nào tin dùng ông cả. Chứng cứ cho thấy ông làm quan nước Lỗ gần 10 năm mà nước này có khá lên đâu. Khổng Tử chủ trương tập trung quyền lực vào vua chúa, không cho các đại thần tham chính. Chính vì thế mà các đại thần rất ghét Khổng Tử, họ khuyên vua chúa nên xa lánh ông quân sư này.
Có thể nói rằng Khổng Tử là người thích làm quan cầu vinh và … trốn thực tế. Ông khuyên người quân tử nên mưu tìm học đạo chứ đừng quan tâm đến miếng cơm manh áo. Lí do, theo ông, học đạo thì sẽ ra làm quan, vinh danh phú quí. Làm quan thì ắt sẽ có miếng ăn. Khi đã làm quan, ông khuyên rằng nước nào thịnh thì tìm đến xin làm quan, còn nước nào khó khăn thì bỏ đi. Ông cũng khuyên rằng nước lâm nguy thì không nên vào, nước bị loạn thì không nên ở. Cái triết lí này cũng từng được nho sĩ Nguyễn Khuyến áp dụng triệt để. Khi nước mất về tay người Pháp, ông lui về ở ẩn để ngâm vịnh thơ ca, chứ chẳng có đóng góp gì đáng chú ý.
Học thuyết của Khổng Tử
Cũng như các "học thuyết" thời xưa, những gì Khổng Tử để lại chẳng là bao nếu so với tiêu chuẩn hiện nay. Tác phẩm của ông là Tứ Thư và Ngũ Kinh. Nếu gộp lại thì chắc độ 300 trang. Ấy thế mà suốt đời này sang đời khác, người ta lải nhải nhắc đến những sách này như là "học thuyết"!
Nếu hỏi một người bình thường, hay ngay cả một bậc trí giả, rằng Khổng Giáo dạy cái gì, thì chắc chắn họ sẽ lúng túng. Có thể họ sẽ kể ra đó là triết lí trung, hiếu, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Nhưng đó là những giá trị thì đúng hơn, và những giá trị đó cũng mập mờ, chứ không được phát triển thành hệ thống triết học như phương Tây. Tuy nhiên, có thể nói rằng Khổng Giáo dựa trên "tam cương, ngũ thường". Tam cương là 3 bổn phận của kẻ sĩ: trung với vua, hiếu với cha mẹ, chung thủy với vợ. Ngũ thường thì vẫn được coi là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Về sau, Khổng Giáo còn được bổ sung thêm các giá trị dành cho phụ nữ: tam tòng, tứ đức. Tam tòng là ba sự phục tùng mà người đàn bà phải tuân thủ: lúc còn con gái thì phải phục tùng cha, lấy chồng thì phải phục tùng chồng, chồng chết thì phải phục tùng con. Tứ đức là bốn đức tính người đàn bà phải rèn luỵện, đó là công, dung, ngôn, hạnh (khéo tay, có nhan sắc, ăn nói tốt, và hạnh kiểm tốt). Khổng Giáo cũng rất quan tâm đến một giá trị đặc biệt: đó là chữ trinh tiết của người phụ nữ.
Cần phải nói rằng Khổng Tử đề ra những giá trị đó một cách … khơi khơi. Ông chẳng đưa ra được chứng cứ gì có hệ thống, chẳng thèm phân tích lí lẽ. Ông chẳng chứng minh bằng logic hay biện luận như triết gia phương Tây. Ông chỉ phán chung chung, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Còn các giá trị ông đề ra cho phụ nữ phải nói là lạc hậu (so với ngày nay). Những giá trị đó còn hạ thấp vai trò của người phụ nữ, xem họ như là vật dụng. Thật là vô lí khi đòi hỏi người phụ nữ phải phục tùng chồng con! Còn đòi hỏi trinh tiết như là một giá trị có người xem là … đểu cáng. Chúng ta còn nhớ chuyện anh chàng Chử Đồng Tử bị công chúa nhìn thấy trần truồng trong lúc tắm, và thế là nàng ta xem mình bị … mất trinh. Đã thế còn phải cưới anh ta làm chồng. Phải nói là hài hước đến độ khó tin! Ngày nay, những giá trị đó của Khổng Tử không thể áp dụng được vì đó là một hệ giá trị quái đản.
Giá trị "nhân" không được ông định nghĩa đàng hoàng. Trong Luận Ngữ, Khổng Tử viết rằng nhân là người trí thì thích nước, người nhân thì thích núi, người trí thì động còn người nhân thì tĩnh. Chẳng ai hiểu ông định nghĩa gì. Chữ "lễ" của Khổng Giáo cũng là một sự mập mờ và dễ gây hiểu lầm. Luận Ngữ xem lễ chỉ là nghi thức và hình thức cúng bái và ứng xử với vua chúa ra sao. Cũng xin nói thêm rằng hiện nay ở VN có phong trào "tiên học lễ hậu học văn", nhưng đây là một "áp dụng" sai. Như đề cập, lễ ở đây có nghĩa là nghi thức (học quì, lạy, cúi đầu). Như vậy nói "tiên học lễ, hậu học văn" là rất ngược đời.
Nhà văn Bá Dương (người Tàu) là tác giả cuốn sách nổi tiếng "Người Trung Quốc Xấu Xí" vạch ra những cái xấu của người Tàu và văn hoá Tàu. Trong sách, ông xem Khổng Giáo là một hũ tương đặc sệt. Nhưng có người xem nó còn tệ hơn một hũ tương, vì Khổng Giáo còn đề cập đến quỉ thần, phục tùng vua chúa, đặt ra những qui ước ăn ở trong gia đình, tu thân, v.v. Ông Nguyễn Gia Kiểng xem Khổng Giáo là một "hũ mắm thập cẩm, thịt có, cá có, tôm có, mà rau cũng có. Mỗi người nếm nói một cách riêng, người thì bảo là thịt, người thì nói là cá, người lại nói là tôm. Ai cũng đúng cả mà cũng chẳng ai đúng cả. Cho nên có người nói Nho Giáo là hệ thống chính trị, có người nói đó là một triết lí và cũng có người coi nó là đạo lí."
Tại sao Tàu muốn vực dậy Khổng Tử
Quan điểm của Khổng Tử được các chế độ toàn trị và quân chủ chuyên chế rất thích. Ông kêu gọi tôn quân, phân biệt người quân tử và bậc tiểu nhân, những điều rất phù hợp với quan điểm các chế độ toàn trị. Ông quan niệm rằng "quân tử học đạo tác ái nhân, tiểu nhân học đạo tạc đi sử giả" (người quân tử mà có đạo thì yêu người, còn kẻ tiểu nhân mà có đạo thì dễ sai bảo). Ông còn nói "quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa vi loạn, tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo" (kẻ quân tử có dũng khí mà không có nghĩa thì là kẻ loạn, kẻ tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa thì đi ăn trộm). Cũng giống như trong chế độ toàn trị, kẻ làm quan hay cán bộ được xem là "cao thượng", còn dân chúng là hạng thấp kém, hèn hạ, cần phải được rèn luyện và giáo dục. Có lẽ vì thế mà các chế độ này rất tôn kính ông như là một bậc thánh.
Có vài đặc điểm về Khổng Giáo mà giới toàn trị rất ưa thích. Thứ nhất là tinh thần thủ cựu, bảo thủ. Khổng Tử, như tôi mô tả trên, là người rất tôn trọng nghi thức (ông gọi là "lễ"), suốt năm này sang năm khác, ông chỉ lặp lại những nghi thức, lễ giáo ông đặt ra. Không sáng tạo cái gì mới, thậm chí còn thù ghét cái mới. Thứ hai là thiếu tính khoan dung và độc quyền chân lí. Các giá trị mà Khổng Tử truyền bá là qua áp đặt chứ không qua thuyết phục. Ông không muốn có một chân lí khác ngoài chân lí của ông. Thứ ba là tính sùng bái cá nhân, sùng bái cấp trên một cách bệnh hoạn. Đặc điểm thứ ba này cũng rất phù hợp với quan điểm của các chế độ quân chủ và toàn trị, vì họ thích dựng lên những cá nhân bán thần thánh.
Nhìn như thế, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy đảng cộng sản Tàu muốn vực dậy Khổng Tử. Nên nhớ rằng trước đây Mao Trạch Đông rất ghét Khổng Tử, ông nhìn thấy mấy nhà thờ Khổng Tử là muốn đốt! Có lẽ một phần là do mặc cảm, vì Mao xuất thân là kẻ thất học? Nhưng trong thời đại mới, Tàu có lẽ tìm thấy vài điều hay ho từ Khổng Tử và muốn quảng bá ra ngoài. Do đó, họ đã đầu tư rất nhiều cho viện Khổng Tử. Đã có hơn 300 viện Khổng Tử mọc lên từ nhiều đại học trên thế giới, phần lớn là Phi châu.
Thật ra, Viện Khổng Tử không hẳn quảng bá những lời dạy của Khổng Tử, mà quảng bá hình ảnh của một nước Tàu thời hậu Mao. Ngoài ra, còn có nhiều thông tin, kể cả thông tin từ các giáo sư bên Tàu, cho biết các viện Khổng Tử ở nước ngoài là những ổ gián điệp, nơi mà Tàu thu thập thông tin tình báo. Ngay cả những "giáo sư thỉnh giảng" được Tàu gửi sang các viện Khổng Tử cũng là tình báo. Chẳng ai ngạc nhiên vì một chế độ với bản chất lừa dối như Tàu nếu họ khoác mặt nạ học thuật cho một cơ sở tình báo và tuyên truyền.
Giới chính trị Tàu xem Viện Khổng Tử như là một loại "quyền lực mềm" (soft power). Họ muốn bắt chước Đức, Mĩ, Anh, Pháp, v.v. bằng hình thức quảng bá văn hoá ra ngoài. Nhưng họ quen thói độc quyền tư tưởng, nên sự hiện diện của các viện Khổng Tử là một đe doạ đến tự do học thuật. Thật vậy, một hiệp hội giáo sư Mĩ đã đồng thanh lên tiếng tẩy chay các viện Khổng Tử ở Mĩ vì họ xem viện Khổng Tử là một công cụ tuyên truyền của nhà nước Tàu cộng sản, và tuyên truyền thì không tôn trọng tự do học thuật. Hồ Cẩm Đào chẳng dấu giếm gì về ý đồ tuyên truyền khi ông nói rằng viện Khổng Tử là “cửa ngõ quan trọng để làm sáng danh văn hóa Trung Quốc, giúp mở rộng văn hóa Trung Quốc, đó là phần của chiến lược tuyên truyền quốc tế”. Một số trường đại học bên Mĩ đã từ chối viện Khổng Tử. Nhưng giới trí thức ở VN thì không có cái may mắn có tiếng nói như đồng nghiệp bên Mĩ.
Trong 1000 năm Tàu đô hộ Việt Nam, Tàu không hề xây dựng một lăng miếu Khổng Tử nào cả. Có lẽ đó là chính sách ngu dân của Tàu thời đó. Ấy thế mà ngày nay họ trịnh trọng đem cái viện Khổng Tử đó sang Việt Nam! Nhưng chúng ta có muốn học cái văn hoá "hũ tương" của Tàu? Ngày xưa, có người như Phan Kế Bính, một học giả xuất chúng, rất sùng ái Khổng Tử. Trong một tranh luận với Phạm Quỳnh, Phan Kế Bính viết rằng: "Đạo lí là đạo lí Khổng Mạnh. Như vậy phải chăng các dân tộc không biết tới Khổng Mạnh là những dân tộc không có đạo đức?" Kinh chưa! Nhưng ngày nay, chúng ta thấy Tàu chẳng có cái gì để chúng ta học cả. Chính quyền Tàu đem đến VN toàn những rủi ro, độc hại, và nguy cơ. Người Nhật, người Hàn đã thoát Tàu và đã đạt thịnh vượng. Không có lí do gì để chúng ta phải du nhập những giá trị "hũ tương", "hũ mắm thập cẩm" đó để kìm hãm sự phát triển của dân tộc và đất nước.
GS Nguyễn Văn Tuấn

Theo FB Que Diêm
Người Việt ở Mỹ nghĩ gì về Việt Nam năm 2014?
Mặc dù có hơn 4.5 triệu người Việt trải dài khắp địa cầu, nhưng tựu chung đa phần người Việt chỉ quan tâm đến một số sự kiện đáng chú ý trên thế giới, bao gồm Hoa kỳ, Trung Quốc, Đông Âu và Việt Nam.
Hoa Kỳ
Là nơi có đa số người Việt sinh sống nhất bên ngoài Việt Nam, người Việt tại đây quan tâm nhất là các vấn đề đối nội, đối ngoại của chính phủ tổng thống Obama. Về đối nội, điều mà người Việt Hải Ngoại quan tâm bao gồm việc thúc đẩy mạnh chính sách hỗ trợ tiểu thương (SBA) của chính phủ, một điều được xem là "xương sống" của nền kinh tế cộng đồng.
Chương trình Obama Care dành cho những người có lợi tức thấp, giới hạn toa thuốc hay chọn lọc bác sĩ trong các chương trình hỗ trợ y tế (medical hay medicare). Sự thăng tiến của cộng đồng người Mỹ gốc Việt về sinh hoạt dòng chính (đặt biệt là mảng chính trị). Cuối cùng là chương trình di trú theo đó bao gồm gia tăng số lượng du học sinh từ Việt Nam và chương trình định cư bằng đầu tư từ Việt Nam (thường được gọi là EB-5) đang được xem là "hot" nhất hiện nay.
Về đối ngoại, có vẻ người Việt ít quan tâm đến những điểm nóng ở Trung Đông và Ukraine, họ quan tâm nhiều hơn đến quan hệ giữa Hoa Kỳ - Việt Nam hoặc Hoa Kỳ - Trung Quốc. Quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam cho đến thời điểm này được xem là không còn mặn mà như dưới thời nhiệm kỳ của Tổng thống Bush và Clinton. Cộng đồng Việt Nam vẫn quan tâm nhiều nhất là hồ sơ nhân quyền và quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam càng lúc càng tệ hơn, sự bất công trong chính sách giao thương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam theo đó cộng đồng Việt Nam cho rằng Hoa Kỳ đã nhượng bộ quá nhiều với chính phủ Việt Nam.
Bên cạnh đó là mối quan tâm về mức độ phức tạp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, đặc biệt là lập trường của Hoa Kỳ tại khu vực Biển Đông và vùng Bắc Á. Cộng đồng Việt Nam cũng giống như cộng đồng bản xứ, dường như đang có chiến dịch "thoát Trung" đồng loạt ở khắp nơi trên toàn quốc, nhiều gia đình Việt Nam đã không còn mua dùng hàng rẻ ‘Made in China’, các khu shopping lớn bán hàng hiệu dường như đã "cất bớt" những mặc hàng Made in China.
Họ quan tâm vì sinh viên từ Trung Quốc đã chiếm nhiều ghế hơn trong các trường đại học ở Hoa kỳ, và nhiều khu phố cổ truyền thống của người gốc Á ở nhiều thành phố lớn, đã bắt đầu bị thu mua bởi các "đại gia" đến từ Thượng Hải, Bắc Kinh hay Thẩm Quyến.
Trung Quốc
Sự kiện giàn khoan HD 981 đánh dấu căng thẳng lớn trong quan hệ Việt Trung trong nhiều năm.
Sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 thăm dò dầu khí trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông, nơi Việt Nam khẳng định chủ quyền vào đầu mùa hè 2014, đã khiến cho cộng đồng Việt Nam quan tâm hơn về nội tình của Trung Quốc, nơi mà Tập Cận Bình đang thực hiện chiến dịch "đả hổ" đánh tham nhũng, nhưng trên thực tế đều bị người Việt Hải ngoại nhìn dưới góc độ là "thanh trừng" thống nhất quyền lực.
Nếu đầu thập niên 2000, nhiều người gốc Việt đua nhau sang Trung Quốc đầu tư kiếm nguồn làm ăn thì nay tình thế có vẻ xoay chiều, hiện nhiều đại gia Trung Quốc đã mò mẫm vào các khu vực của cộng đồng Việt Nam để kiếm cách đầu tư và sinh lợi theo kiểu R.O.I (Return Of Investment). Thị trường địa ốc thời gan gần đây đã xuất hiện những "ngân hàng đen", sẵn sàng cho vay với phân lời cao hơn dành cho những người mua nhà nhưng không đủ điều kiện vay ở các ngân hàng lớn (mức lãi suất từ 10% đến 12% một năm, so với các ngân hàng lớn hiện nay là dưới 4% một năm cho món nợ 30 năm). Những "ngân hàng đen" này đều được ghi nhận là do các "đại gia" người Trung Quốc đứng phía sau.
Cộng đồng Việt Nam ở nhiều nơi trên toàn nước Mỹ hầu như không có thiện cảm với chính quyền Bắc Kinh, đặc biệt là thời gian cuối mùa hè vừa qua, họ ủng hộ hoàn toàn cho cuộc xuống đường của sinh viên Hong Kong, thậm chí còn có nhiều tổ chức chính trị trong cộng đồng bay qua tận Hong Kong để ủng hộ và để học hỏi. Tóm lại cộng đồng Việt Nam luôn theo dõi sát những gì Hoa kỳ thương thảo với Trung Quốc, vì cho rằng mọi việc đều ảnh hưởng tới quê hương gốc của họ bên kia bờ đại dương.
Đông Âu
Thực trạng đồng rúp mất giá và kinh tế Nga gặp khó khăn có ảnh hưởng không nhỏ tới cộng đồng người Việt tại đây.
Khu vực mà lượng kiều hối chiếm nhiều nhất trong những năm sau này (mặc dù theo thống kê toàn cảnh ở Hoa kỳ vẫn chiếm 57%). Tình hình căn thẳng giữa Hoa Kỳ và Nga liên quan đến Ukraine cũng là mối quan tâm nhiều nhất tại đây, đơn giản là vì nhiều "đại gia" ngân hàng và bất động sản ở Việt Nam hiện nay, có một số nhân vật nổi trội đều xuất thân từ Đông Âu, đặc biệt là từ Nga và Ukraine.
Cộng đồng Việt Nam ở khu vực này khá phức tạp, gồm nhiều thành phần khác nhau, được chia làm hai nhóm, một nhóm sang làm việc theo dạng "lao động xuất khẩu" và một nhóm có truyền thống định cư lâu đời kể từ khi chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ tại Nga. Nếu những năm giữa thập niên 90, dưới thời của Tổng thống Yeltsin, người Việt tại Nga và Đông Âu kiếm tiền như nước, thì nay dưới thời ông Putin, họ phải đương đầu với nhiều thách thức, nhiều "đại gia" Việt ở Nga hiện đang tìm cách chuyển dời tài sản của họ sang các quốc gia tây phương an toàn hơn, chính họ cũng không dám chuyển tài sản về Việt Nam vì những biến động "đấm đá" chính trị đang diễn ra.
Lượng kiều hối tại khu vực này năm nay có vẻ sụt giảm mạnh do nhiều yếu tố khác nhau, dường như vùng đất Đông Âu đã không còn là mảnh đất màu mỡ cho người Việt tìm đến nữa.
Việt Nam
Thủ tục để Việt kiều mua nhà tại Việt Nam được xem là còn nhiều khó khăn.
Là hồ sơ mà người Việt hải ngoại quan tâm nhiều nhất, vì đây là quê hương gốc của họ. Tuy nhiên sự quan tâm được đánh giá là theo chiều hướng tiêu cực nhiều hơn, những sự kiện xảy ra trong năm 2014, càng lúc họ càng bất tín nhiệm chính phủ trong nước. Bên cạnh đó là những thái độ làm việc của quan chức Việt Nam đan xen lẫn những vụ tham nhũng càng gây bất mãn hơn cho người Việt ởi hải ngoại khi nhìn về quê hương gốc của họ. Từ căn biệt thự 'khủng" của Trần Văn Truyền chỉ bị phạt cảnh cáo, cho đến những lạm quyền quá mức của công an, những dự án xây dựng bị bỏ hoang, những con đường mới xây bị sập, sự bất lực của bộ y tế hay guồng máy hành chánh bị xem là "hành" dân, khiến nhiều người Việt Hải Ngoại tin rằng Việt Nam đang bị băng hoại toàn diện.
Nền báo chí của Việt Nam cũng bị đánh giá là "xuống cấp" trầm trọng, bao gồm cả chuyên môn lẫn thị trường. Họ ít tìm hiểu những tiêu cực trong guồng máy lãnh đạo vì ngại "đụng chạm", vì sợ mất việc hay sợ bị "trả thù", đa phần chỉ khai thác những tai tiếng của giới giải trí để câu view giữ quảng cáo, đây là thời kỳ mà một số quan chức trong Việt Nam gọi là thời kỳ "đâm thuê chém mướn" của giới báo chí. Truyền hình thì không có sáng tạo, chỉ mua lại những game show của ngoại quốc cho "an toàn", báo chí thì khai thác tối đa những trò khoe "hàng" khoe "của" trong giới giải trí hay đại gia.
Cuối cùng là việc bắt bớ, đàn áp và sử dụng côn đồ đánh đập, gây khó khăn cho những nhà bất đồng chính kiến của an ninh Việt Nam. Theo cái nhìn của người Việt Hải Ngoại, chính phủ Việt Nam trả tự do cho một số người để đổi trác quyền lợi với Hoa kỳ, thì họ cũng bắt lại một số khác để "lấp kho", họ cho rằng chính phủ Việt Nam dùng con dân của mình làm "con tin" đổi trác quyền lợi. Những tiêu cực trên đã đem đến cho người Việt hải ngoại cái nhìn đầy "thất vọng" về sự điều hành đất nước của đảng Cộng Sản Việt Nam, tổ chức "tự" khẳng định họ về quyền lãnh đạo duy nhất.
Năm 2014 dưới nhận định chủ quan của người Việt hải hgoại, xã hội Việt Nam đã không còn an toàn về nhiều lãnh vực, từ những vụ "làm tiền" ở các cửa khẩu hải quan, cướp bóc, tệ nạn xã hội gia tăng, thực phẩm thiếu an toàn cho đến những tiêu cực trong cơ cấu chính phủ, tệ nạn "con ông cháu cha" được cân nhắc lên các vị trí quan trọng, khiến cho người Việt hải ngoại càng không tin tưởng vào cơ chế hiện nay.
Kết luận
Bước qua năm 2015 người Việt Hải Ngoại có vẽ sẽ tập trung vào khu vực địa phương của họ nhiều hơn, quan tâm hơn về tương lai của chính họ ở quê hương thứ hai. Họ có vẽ không còn háo hức như thời kỳ đầu Việt Nam mở cửa với câu hỏi thường thấy "chừng nào về bển?", bất kể chính phủ Việt Nam ra nhiều nghị định tạo thuận lợi cho họ nhiều hơn về làm ăn, đầu tư buôn bán ở Việt Nam.
Riêng cộng đồng Việt Nam tại Hoa kỳ năm 2015 sẽ đánh dấu đúng 40 năm họ định cư, tị nạn ở Hoa Kỳ. Có lẽ họ sẽ càng thấy khác biệt nhiều hơn với chính quyền trong nước Việt Nam, nhất là dịp tháng Tư nhà nước Việt Nam sẽ tổ chức rình rang việc họ làm chủ đất nước 40 năm qua, do đó phía cộng đồng Việt Nam tại Hoa kỳ tựu chung sẽ có hai khuynh hướng rõ rệt. Một là họ sẽ bỏ mặc không quan tâm nhiều đến những biến chuyển tại Việt Nam dù tốt hay xấu. Hai họ sẽ tiếp tục thúc đẩy việc áp lực Việt Nam thay đổi cơ chế để phù hợp với yêu cầu của cộng đồng quốc tế, để Việt Nam có thể "thoát Trung" một cách hoàn toàn.
Tuy nhiên cũng có thể sẽ có những biến chuyển ngoạn mục ở Việt Nam trước cuộc "thay triều đổi đại" về quyền lực trong Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam trước năm 2016. Người Việt hải ngoại vẫn đang hy vọng.

Bài viết hay(1732)

Trong những phút cuối cùng của năm 2014, tui không muốn nhìn lại quá khứ nữa mà chỉ hướng về tương lai. Thêm già đi một tuổi. Sống cũng chẳng biết còn được bao lâu. Tham sân si làm gì cho mệt. Quẳng gánh lo đi mà sống cho hết quãng đời còn lại. Just forgive and forget. Một năm cũ qua đi, năm mới lại đến, tui vẫn chưa thấy điềm lành nào đủ cho mình lạc quan hơn một chút khi vẫn thấy những khuôn mặt bát nháo háo danh hám lợi tham quyền chạy quanh đèn cù y hệt lũ thiêu thân lao vào đốm sáng le lói...
Điều gì cần cho Việt Nam lúc này?
“Với thế giới này, chúng ta phải đặt ngang bằng. Khi đã ngang bằng thì tiếng nói của chúng ta sẽ có trọng lượng. Nếu ta dựa vào phía này hay dựa vào phía khác và sợ hãi chỗ này chỗ khác thì sẽ không dẫn đi đâu cả” - Nhà văn Nguyễn Quang Thiều.
LTS:Một năm mới đã lại đến, những ước mơ khát vọng đưa dân tộc đến văn minh vẫn luôn trong tiềm thức mỗi người dân Việt. Lịch sử đã chứng minh, mỗi khi Việt Nam đứng trước những khúc quanh sẽ phát lộ điểm sáng. Trong cuộc trò chuyện đầu năm mới cùng Tuần Việt Nam, nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã đề cập tới con đường phát triển đưa dân tộc đi đến văn minh.Tư duy khoa học, hành xử văn hóa
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều nói:
Một dân tộc văn minh cần thực hiện hai việc quan trọng nhất: Dân tộc đó phải tư duy bằng khoa học và hành xử bằng văn hóa.
Trong tư duy khoa học bao hàm rất nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn như khoa học trong luật pháp, hành pháp, hay trong hoạch định chính sách. Dân tộc đó cần ứng xử trong tinh thần cao nhất của trí tuệ, nhân văn.
Đó là hai điểm quan trọng. Bất kì một dân tộc nào muốn đi đến văn minh phải làm được hai điều đó.
Tôi cũng xin nhắc lại rằng con đường để phát triển của một dân tộc được xây trên một nền móng không có gì khác ngoài văn hóa. Văn hóa chứa đựng nhiều ý nghĩa, nhưng phải hiểu văn hóa trong ý nghĩa sâu xa, đa tầng của nó.


Nhà văn Nguyễn Quang Thiều
Nếu một dân tộc không dựa trên nền văn hóa thì sẽ không biết đi đến đâu. Văn hóa không chỉ tạo ra các giá trị tinh thần mà còn xác lập những giá trị vật chất, các giá trị khác bao quanh nó. Dựa trên nền tảng đó mới thúc đẩy các lĩnh vực khác. Không phải chỉ phát triển một đất nước tràn ngập vật chất, chỉ biết ăn, sử dụng hưởng thụ vật chất. Ở đó, ta rời bỏ đi những suy nghĩ cũ, điều tối tăm và tư duy vụn vặt.
Như ông nói, văn hóa là nền tảng để thúc đẩy các lĩnh vực khác đi đến văn minh. Vậy ông có thể chia sẻ thêm, làm thế nào để tạo lập được nền tảng văn hóa đó?
Không có gì ngoài giáo dục.
Giáo dục ở đây không chỉ hiểu là Bộ quản lý ngành, đừng chỉ hiểu là trong các nhà trường hay các học viện, các lớp tập huấn. Giáo dục trên một tập thể xã hội với những chính sách lớn đúng đắn. Tôi đã nói đến ba ngôi nhà hệ trọng nhất trong đời sống dân tộc VN: nhà trường, ngôi nhà, nhà chùa. Ba thành trì quan trọng nhất mà nếu bị vỡ thì xã hội sẽ vỡ toàn bộ.
Hiện nay, cả ba ngôi nhà đó đang bị những cơn bão đe dọa. Trong từng mái nhà, vẫn có những vấn đề đau lòng. Trong nhà trường cũng vậy. Trong nhà chùa, bắt đầu những người có tiền lại dùng đồng tiền để làm lung lay, hoảng loạn cho chính các sư trụ trì.
Từng đi nhiều, trải nghiệm nhiều, chiêm ngưỡng nhiều nền văn minh và quan sát những nền văn hóa hiện đại. Ông có thể chia sẻ một câu chuyện cụ thể về tính văn minh của một quốc gia trên thế giới mà anh ấn tượng hay không?
Nhật Bản là một ví dụ. Nếu quan sát suy ngẫm sẽ thấy tư duy, chiến lược phát triển kinh tế, công nghệ, ý thức về tính khoa học của họ rất chuẩn xác.
Họ có tầm nhìn dài hơi, từ việc đưa ra chiến luợc lớn cho cả quốc gia để phát triển kinh tế xã hội cho đến chăm chút tỉ mỉ những thứ nhỏ nhất trong đời sống hàng ngày. Điều đó minh chứng khi bước vào ngôi nhà của họ sẽ thấy họ đối xử một cái cây giống như đối xử với một con người, đôi xử với dòng sông như với một sinh linh…
Tính chuẩn xác trong khoa học còn thể hiện trong việc tính toán sao chuyến tàu từ nơi này đến nơi khác đúng giờ nhất, chọn giờ làm việc các khu vực hợp lí nhất, hay bữa ăn trưa ở công sở bằng tính toán khoa học cao nhất để đảm bảo sức khỏe, năng lượng, tâm lí. Đồng thời họ cũng chăm chút một cách kĩ lưỡng vô cùng từ những chi tiết nhỏ như đĩa ăn, cây cối.
Tôi có người cháu học ở nước ngoài về nói rằng họ có thể chăm chút cả đám mây bay trên bầu trời, đó là một ví dụ. Tất nhiên họ cũng đang tìm cách cân bằng lại việc đó rằng sự thông minh hay tính khoa học quá mức có làm khô kiệt đi đời sống tinh thần con người không?!
Giải phóng tư duy
Câu chuyện ông kể khiến tôi chợt nghĩ, phải chăng một dân tộc văn minh phải bắt đầu từ những công dân văn minh? Ông có gợi ý nào trong câu chuyện này? Từng con người nên bắt đầu từ đâu để thay đổi nề nếp sống?
Một quốc gia, mỗi con người nên hoạch định chiến luợc cho đời sống cá nhân hay đời sống cộng đồng. Không phải vạch ra lộ trình rằng ta có thể xử lí môi trường toàn bộ vùng biển thế nào hay trồng lại hàng triệu ha rừng. Bắt đầu bằng việc rất nhỏ như thực hiện đúng giờ, sạch sẽ hay làm việc tự ý thức cao nhất, bảo vệ cây bên đường, ứng xử người tàn tật, tự nâng cao trí tuệ của mình chứ không phải dựa vào người khác.
Ta đang làm lẫn lộn nhiều giá trị. Những giá trị của bằng cấp, giá trị của thành tích, nhân cách. Nên hướng đến tư duy trở thành một công dân toàn cầu. Đối với người VN tiêu chuẩn để trở thành công dân toàn cầu là tiến đến một xã hội văn minh, yêu và trách nhiệm hết mình với mảnh đất anh đứng vừa hai bàn chân của mình.
Nếu ta không làm được điều đó thì sẽ không bao giờ làm được điều gì cho một người bên cạnh, hay cho cả đất nước và cho những quốc gia khác nữa. Khi không yêu mảnh đất dưới chân, không chăm bẵm nó thì sẽ không có khả năng làm việc gì tốt cả.


Người Việt Nam đã bắt đầu nhận thức lại những vấn đề, con đường của dân tộc. Ảnh: Lê Ạnh Dũng
Đâu đó vẫn còn những tư tưởng trọng nam khinh nữ hay phụ nữ vẫn phải gánh vác những trọng trách nặng nề… tức là những định kiến cũ kỹ vẫn đang níu kéo và ràng buộc. Đó có phải là những biểu hiện cần phải khắc phục nếu muốn giải phóng tư duy?
Quãng thời gian vừa qua có vẻ hơi lãng phí thời gian vào một điều gì đó chưa phải là điều hệ trọng nhất đối với sự tồn tại và phát triển của một đất nước, đáng lẽ chúng ta bắt đầu phải xây dựng trở lại từ lâu rồi.
Tại sao ngày xưa cũng là dân tộc Việt Nam, khi tất cả những ánh sáng của khoa học chưa vào nhiều nhưng họ đã sống trong một lề thói rất nghiêm cẩn. Mặc dù có những thứ bây giờ là lạc hậu rồi nhưng nó là nền tảng cho sự phát triển của văn minh tiên tiến sau này.
Vẫn còn những tư tưởng như thích trai hơn gái, nam nữ bất bình quyền… bởi chúng ta chưa bao giờ mang đến một cái nhìn đúng đắn về con người và cho con người. Cái nhìn đúng đắn về xã hội và ta chưa tạo dựng cho họ được một tình yêu thương cao cả. Chỉ khi ta làm được điều đó thì con người sẽ nhận thức khác.
Vừa rồi tôi có nói chuyện rằng có những phụ huynh trước kia hay hỏi các nhà văn nhà thơ hãy viết ra một cuốn cẩm nang về những cạm bẫy, thói xấu trong xã hội và cách phòng tránh nó để cho con cháu chúng tôi cầm cuốn đó để học bước ra cuộc đời. Tôi nói với họ rằng không một nhà văn, nhà triết học, hay nhà giáo dục nào làm được điều đó.
Bởi vì chúng ta viết ra một nghìn cái cạm bẫy trong cẩm nang thì bước ra cuộc đời sẽ nảy sinh cạm bẫy thứ một nghìn lẻ một.
Chỉ khi chúng ta xây dựng bên trong đứa trẻ đó một trí tuệ, một lương tâm thì chúng sẽ phân biệt đuợc đâu đúng đâu sai và có thể đi qua được tất cả các cạm bẫy đầy rẫy trong cuộc đời này.
Có quá nhiều bất cập, bất ổn… đã được đề cập khi tổng kết năm cũ. Vậy, nhìn con đường rộng mở cho một năm mới, ông cảm nhận gì về xu thế vận động, xu thế chuyển mình để những người bi quan nhất cũng có thể kỳ vọng vào sự thay đổi?
Đây là thời điểm nghiêm túc suy ngẫm con đường nào cho chúng ta đi lên.
Nhìn năm cũ, nếu so sánh về phát triển kinh tế ta lại rơi vào thất vọng, nhìn thấy những vấn đề đạo đức xã hội hay những khe hở lớn của luật pháp chưa hoàn thiện cũng sẽ rơi vào thất vọng hay những bất cập giáo dục cũng vậy. Vậy điều gì cần thiết cho xã hội Việt Nam hôm nay?
Qua nhìn nhận của tôi, người Việt Nam đã bắt đầu nhận thức lại những vấn đề, con đường của dân tộc. Trong năm qua đã hé lộ những nhận thức đó từ các vấn đề của một số lãnh đạo Bộ Giao thông vận tải, Công an, các ngành tư pháp, luật pháp… ngay cả giáo dục. Mặc dù giáo dục đang hết sức lúng túng nhưng những động thái một năm qua cho thấy họ đã bắt buộc phải ngồi xuống và cất lên tiếng nói xem lại thực trạng nền giáo dục của mình.
Do đó, việc nhận thức lại một dân tộc đang sống như thế nào, hành xử tư duy ra sao quan trọng vô cùng trong những thời điểm năm mới đến. Sự nỗ lực của tất cả các công dân Việt Nam trong lĩnh vực của mình, từ truyền thông, kinh tế, đến luật pháp, an ninh là quan trọng.


Khi đã ngang bằng, tiếng nói của chúng ta sẽ có trọng lượng trong thế giới phẳng lớn lao này. Ảnh: Lê Anh Dũng
Bởi nó hé lộ rằng chúng ta đã nhận thấy phải đứng dậy để thoát khỏi những cái đang sa lầy. Năm qua đã nói nhiều đến việc đó, không chỉ trên phương tiện truyền thông, diễn đàn lớn của đất nước hay trong những hội nghị của Đảng và Nhà nước, QH mà trong cả những người dân từ trong quán cà phê, quán ăn, gia đình, công sở. Chúng ta đang tư duy lại chúng ta, đó là điều mà chúng ta đã làm trong năm qua.
Ngay cả nước Mỹ, khi Obama tranh cử tôi có nói chuyện thăm dò nhiều trí thức da trắng, GS một số trường ĐH lớn họ cho rằng bầu Obama vì ông đã nhận thấy sự thiếp ngủ trong sự tự hưởng thụ, ngạo mạn của người Mỹ. Nếu Mỹ không tỉnh dậy, không tư duy lại dân tộc mình, không tư duy lại chính họ thì một lúc nào đó giống như trong y học là anh lâm vào mê sảng đến mức không tỉnh lại được nữa. Obama đã biết cách đánh thức và khơi dậy.
Rõ ràng, một dân tộc không xác lập được con đường của mình sẽ rơi vào lúng túng và đi đến rối loạn. Thế giới cũng đang có nhiều lung lay khi các mối quan hệ bị phá vỡ liên tục và lại thiết lập các mối quan hệ mới bởi những vấn đề khác bằng vũ trang, kinh tế, lãnh thổ. Nếu chúng ta không xác lập con đường thì sẽ bị trộn lẫn nhạt nhòa. Ta không nên tư duy rằng dựa vào người này, hay dựa vào quốc gia khác, chỉ nói một cách cẩn trọng rằng chúng ta dựa vào chính chúng ta mà thôi.
Tạo nên một Việt Nam khác, một VN đảm bảo các tính công bằng ngang với thế giới. Ta có thể chưa ngang với nền kinh tế này, nhưng trở lại đầu tiên tôi đã nói, phải ngang bằng về một nền văn hóa, cách ửng xử của xã hội đối với con người, thiên nhiên, lãnh thổ và ngang bằng trong thế của ngoại giao và tư duy.
Không ai có thể coi thường một dân tộc khi dân tộc đó trong chiến tranh bao khổ đau nhiều mất mát thiệt thòi nhưng họ đã tư duy một cách sáng suốt nhất và đang hành xử với chính họ và với thế giới một cách ngang bằng. Và khi đã ngang bằng, tiếng nói của chúng ta sẽ có trọng lượng trong thế giới phẳng lớn lao này. Còn nếu ta dựa vào phía này hay dựa vào phía khác và sợ hãi chỗ này chỗ khác thì nó sẽ không dẫn chúng ta đi đâu cả.
Một câu hỏi cuối, theo ông vai trò của nhà văn, nhà thơ, giới văn hóa nghệ thuật đóng góp như thế nào trên con đường đưa dân tộc đi đến văn minh?
Các nhà văn, giới văn nghệ sĩ ngày càng đông hơn nhưng có một điều chưa ai nói mà tôi phát hiện ra là họ đang làm nghề chứ không phải đang thực thi một sứ mệnh.
Họ đang thỏa mãn trong sạch cá nhân mình chứ không phải dâng hiến cho người bên cạnh hay cho cộng đồng bởi những tác phẩm, tính lan tỏa, sự rung động và lòng thương yêu đã giảm đi rất nhiều.
Ngày nay giới nhà văn viết đôi khi bày tỏ sự thỏa mãn tính tùy tiện của mình trong tác phẩm. Để nói về cái đẹp như chúng ta từng ngồi xuống kể cho trẻ nhỏ hình như trở thành cũ kĩ với các nhà văn, dù trong cách nào, cách gì thì ở đó phải chứa đựng lòng nhân ái lan tỏa như thế nào. Có thể nói về bóng tối nhưng để cuối cùng dẫn con người đến một nơi ánh sáng là lòng nhân ái.

Lan Anh Theo Vietnamnet 

Ảo tưởng dân chủ 
Trong bài “Những ngày cuối cùng của đảng Cộng sản?” (The last days of the Communist Party?) đăng trên tạp chí World Affairs ngày 23 tháng 12 năm 2014, Michael J. Totten mở đầu bằng một nhận định: “Việt Nam là một quốc gia độc đảng độc tài trông có vẻ như một xứ tự do”.
Rất nhiều người chỉ thấy mệnh đề sau “trông có vẻ như một xứ tự do” mà quên bẵng đi mệnh đề đầu “độc đảng độc tài” (authoritarian one-party state).
Cách đây hơn một tháng, tôi được mời giảng dạy một khoá ngắn về ngôn ngữ, văn hoá và chính trị Việt Nam cho một nhóm sinh viên Úc chuẩn bị sang Việt Nam nghiên cứu trong mấy tuần. Trong số ấy, có nhiều sinh viên đã từng du lịch sang Việt Nam. Họ có vẻ thích Việt Nam. Khi tôi hỏi cảm tưởng của họ về không khí chính trị tại Việt Nam, tất cả đều cho Việt Nam không có vấn đề gì về dân chủ và nhân quyền. Nó hoàn toàn khác với các quốc gia Hồi giáo hoặc Bắc Hàn hay ngay cả Trung Quốc mà họ từng biết. Ở Việt Nam, họ có thể đi khắp nơi, nói về mọi đề tài và làm bất cứ thứ gì họ muốn. Rất hiếm thấy công an hoặc nếu thấy, công an cũng không gợi lên bất cứ một ấn tượng đe doạ nào. Vào internet, họ cũng không gặp dấu hiệu nào của sự kiểm duyệt. Theo họ, Việt Nam khá dân chủ. Khi tôi kể kinh nghiệm của bản thân tôi, một nhà giáo và một người cầm bút tuyệt đối không tham gia chính trị, bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam hai lần mà không có lý do gì cả, họ rất ngạc nhiên. Và thú nhận: đó là điều họ không hề biết.
Thật ra, việc không biết như vậy cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Tất cả những người ngoại quốc cho Việt Nam dân chủ đều là những kẻ cưỡi ngựa xem hoa. Họ chỉ đến Việt Nam vài tuần hoặc nhiều hơn, vài ba tháng. Họ không thấy được bản chất của chế độ cũng là điều dễ hiểu. Đáng ngạc nhiên hơn là chính người Việt Nam, chắc không phải ít, cũng cho là Việt Nam dân chủ hoặc khá dân chủ. Tôi gặp khá nhiều người, hầu hết thuộc thành phần trí thức, từ Việt Nam sang Úc với tư cách du lịch hoặc thường trú nhân (do thân nhân bảo lãnh). Phần lớn đều cho Việt Nam không còn độc tài nữa. Họ nêu lên ba lý do chính: Một, so với trước đây, Việt Nam càng ngày càng đi xa trên tiến trình dân chủ hoá; hai, ở Việt Nam, ngay trong lãnh vực chính trị, chính phủ cũng hành xử một cách dân chủ: dân chúng có thể thoải mái phê phán chính quyền một cách công khai trong các tiệm cà phê hay quán nhậu, thậm chí, trên các blog hay facebook; và ba, giới hạn trong phạm vi chính trị, nếu chính phủ thiếu dân chủ thì, tính chất thiếu dân chủ ấy vừa rất ít vừa có thể “thông cảm” được vì Việt Nam hiện đang đối diện với nguy cơ xâm lấn từ Trung Quốc.
Tôi cho nhận định của những người Việt Nam kể trên cũng như những người ngoại quốc đến Việt Nam một thời gian ngắn ngủi đều xuất phát từ sự mê hoặc trước ảo tưởng dân chủ mà nhà cầm quyền Việt Nam cố tình tạo nên để đánh lừa mọi người.
Để thoát khỏi sự lừa dối ấy, cần, nói theo ngôn ngữ cộng sản vẫn thường dùng trước đây, phân biệt bản chất và hiện tượng. Hiện tượng: ở Việt Nam, hầu như người ta có thể phát biểu về đủ thứ chuyện. Bản chất: đàng sau hiện tượng ấy, có một khu cấm: chính trị. Trong chính trị, về hiện tượng, người ta có thể phê phán chính quyền một cách gay gắt, tuy nhiên, về bản chất, có hai điều đáng chú ý: Một, chỉ phê phán bằng miệng; hai, nếu viết, người ta phải biết dừng lại ở một điều cấm kỵ: phê phán giới lãnh đạo. Trước, có ba điều cấm kỵ: Hồ Chí Minh, đảng cộng sản và giới lãnh đạo đương tại chức. Sau này, những khu vực cấm kỵ ấy dường như được thu hẹp lại. Phê phán Hồ Chí Minh? Người ta có thể khó chịu nhưng ít khi có phản ứng quyết liệt. Phê phán đảng Cộng sản? Dường như có tâm lý: cha chung không ai khóc. Nhưng đừng phê phán cá nhân những người đang cầm quyền. Đụng đến họ, nếu không phải chính họ thì cũng có đàn em của họ xúm vào trả thù ngay tức khắc.
Để đánh giá một chế độ cần nhìn vào cơ chế. Cơ chế ấy, ở Việt Nam, vẫn độc đảng, không hề có cạnh tranh và đối lập, hai yếu tố quan trọng nhất của dân chủ. Còn một yếu tố thứ ba nữa: sự minh bạch, Việt Nam hoàn toàn không có. Mọi chính sách của nhà nước, từ lớn đến nhỏ, đều… bí mật. Ngay cả đối với một vấn đề ai cũng quan tâm: quan hệ với Trung Quốc, người dân vẫn không hề biết giới cầm quyền Việt Nam đã cam kết gì với Trung Quốc trong hội nghị Thành Đô năm 1990 cũng như những kế sách, nếu có, họ đang theo đuổi để bảo vệ biển đảo của Việt Nam trước các âm mưu lấn chiếm của Trung Quốc.
Không phải ngẫu nhiên mà, theo các bảng xếp hạng của các tổ chức quốc tế, Việt Nam bao giờ cũng nằm ở cuối hoặc gần cuối về mức độ dân chủ, đặc biệt dân chủ trong lãnh vực truyền thông. Căn cứ vào các vụ bắt bớ dân chúng cũng như các biện pháp trừng phạt những người dân dám lên tiếng phản đối chính phủ được tường thuật trên báo chí, người ta cũng dễ dàng nhận thấy Việt Nam hoàn toàn không có dân chủ.
Trong bài báo dẫn ở đầu bài viết này, Michael J. Totten cho rằng mặc dù nhà cầm quyền Việt Nam vẫn độc tài nhưng sự độc tài của họ không quá khắc nghiệt như Bắc Triều Tiên, Cuba hay Trung Quốc. Nó giống hơn với thời kỳ tiền-dân chủ (pre-democratic) ở Đài Loan hay Nam Triều Tiên trước đây. Với cái nhìn như thế, ông hy vọng những năm tháng chúng ta đang sống hiện nay là những ngày cuối cùng của chế độ cộng sản.
Trong lúc chúng ta mong sự lạc quan của Totten không phải là một ảo tưởng, chúng ta cũng nên biết một sự thật: Không có chế độ độc tài nào tự động chuyển sang dân chủ cả. Nói theo cách nói của Tây phương, tự do không bao giờ miễn phí (freedom ain't free). Tự do bao giờ cũng là kết quả của các cuộc đấu tranh. Điều đó cũng có nghĩa là tự do không đến từ chính phủ, từ trên xuống, như một kiểu phân phát hay ban bố. Tự do bao giờ cũng từ dưới lên, bắt đầu từ dân chúng, những người biết tự do là cái quyền căn bản của mình và sẵn sàng trả giá để có được cái quyền ấy.
Khi dân chúng không chấp nhận trả giá, cái gọi là những ngày cuối cùng (last days) có thể kéo dài, có khi, kéo dài mãi, cả mấy thập niên.
Nguyễn Hưng Quốc
 Ôn lại 25 sự kiện trong năm 2014
Chia sẻ bài viết này
Chỉ còn vài giờ nữa là kết thúc năm 2014. Nói ra thì chắc cũng thừa, nhưng vẫn phải nói rằng 12 tháng qua là thời gian đầy biến động trên thế giới và Việt Nam. Nhân dịp này, tôi muốn ôn lại những biến động đó để chúng ta cùng suy nghiệm.
Quốc tế
1. Nhà nước Hồi giáo.
Sự kiện mang tầm quốc tế trong năm 2014 được nhiều người nhắc đến là nhóm "Nhà nước Hồi Giáo" (IS) ra đời và gây nhiều kinh hoàng cho cả một vùng. Khi Mĩ rút khỏi Iraq vào năm 2011, họ nghĩ rằng họ đã làm xong "nhiệm vụ quốc tế", nhưng có ai ngờ 3 năm sau (2014) nhóm Hồi Giáo IS nổi dậy. Đây là một nhóm phiến quân có gốc là al-Qaeda ở Iraq. Cho đến nay, họ có hàng ngàn tay súng chiến đấu chống lại chính quyền Iraq, Syria, và vài nước trong vùng. Bằng những cách giết người một cách man rợ, bọn IS đã làm cho cả thế giới phải bận tâm và tốn nhiều công sức lẫn tiền bạc để khống chế chúng. Mĩ phải gửi sang đó 3000 quân để chống lại IS, nhưng dù tốn hàng tỉ USD, tình hình vẫn chưa được kiểm soát. Trong khi đó, hàng ngàn tay súng từ Âu châu, Mĩ, Úc, Canada, v.v. sẵn sàng tự nguyện đi Trung Đông để chiến đấu dưới lá cờ IS.


2. Biểu tình vì dân chủ ở Hồng Kông nổ ra nhân dịp tưởng niệm 25 năm ngày tàn sát ở Thiên An Môn. Ngày 26/9/2014, giới trẻ Hồng Kông xuống đường phản đối sự áp đặt của Bắc Kinh, dưới sự chủ xướng của một sinh viên 17 tuổi tên là Hoàng Chi Phong (Joshua Wong). Tuy cuộc biểu tình không hẳn là thành công, nhưng nó nói lên tinh thần dân chủ của tuổi trẻ Hồng Kông.Năm 15 tuổi, Hoàng Chi Phong và các bạn học đã khởi xướng phong trào Scholarism (Học Dân Tư Triều) và thành công ngăn chận việc Bắc Kinh muốn đưa vào chương trình giáo dục phải trung thành với Tàu cộng (có lẽ giống như yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa), mà thực chất là chính trị hoá giáo dục. Hoàng Chi Phong nói về chương trình mà Bắc Kinh muốn đưa vào giáo dục rằng "Đó là một môn học rất thiếu tính khách quan. Không thể nào tự hào khi những người như bị cầm tù như Liu Xiabo (giải Nobel) và Ai Weiwei (nghệ sĩ) và những xì căng đan về sữa." Cuối cùng thì chính quyền Bắc Kinh phải rút lui trước sự phản đối của học sinh và sinh viên có lúc lên đến hàng trăm ngàn người.
Trong cuộc biểu tình Hoàng Chi Phong nói một câu chí lí về tuổi trẻ "Tương lai của Hồng Kông tùy thuộc vào bạn, bạn và bạn". Câu này làm tôi nhớ đến huấn thị gần đây của ngài tổng bí thư đối với thanh niên VN: "thanh niên ngày nay luôn trung thành tuyệt đối và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng […] Có 'tâm' là có lòng yêu nước, yêu chế độ […] Tuyên truyền để thanh niên hiểu và đấu tranh chống lại các âm mưu, thủ đoạn 'diễn biến hoà bình' của các thế lực thù địch; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" (1).

3. Mĩ và Cuba bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Sau 18 tháng thương thảo, Mĩ đồng ý bỏ cấm vận đối với Cuba, một trong những nước theo đuổi chủ nghĩa cộng sản sau cùng trên thế giới. Quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận Cuba được xem là một quyết định mang tính lịch sử, vì Cuba đã bị Mĩ cấm vận gần nửa thế kỉ. Cuba là một "bạn" thân của Việt Nam, như có người ví von như là anh em. Do đó, sau khi Mĩ dỡ bỏ lệnh cấm vận, báo chí VN rất hào hứng nói xách mé Mĩ như "Toàn cầu hoá giúp Cuba vô hiệu lệnh cấm vận của Mĩ", "Sự lỗi thời của một lệnh cấm vận", "Đại hội đồng LHQ lên án Mỹ cấm vận Cuba", v.v.

4. Giá dầu giảm. Những ngày cuối năm chúng ta chứng kiến giá dầu giảm. Chỉ mới vào tháng 7/2014, giá dầu thô là khoảng 100 USD/thùng, nhưng ngày nay chỉ còn 60 USD/thùng. Một số chuyên gia còn dự đoán rằng giá này có thể giảm xuống chỉ còn $50/thùng. Tôi không rõ mấy tại sao giá dầu giảm nhanh như thế, chỉ biết là do công nghệ khai thác dầu mới của Mĩ làm cho giá thành giảm thấp, nguồn cung cấp dầu càng ngày càng nhiều, và nhu cầu dầu thì giảm.

5. Nước Nga suy thoái? Một trong những nước bị ảnh hưởng thê thảm vì giảm giá dầu là Nga. Đồng rúp bị mất giá gần 50%. GDP của Nga từng có con số 2000 tỉ USD, nhưng sự suy giảm hối suất đồng rúp làm cho GDP chỉ còn 1000 USD! Các chuyên gia tiên đoán rằng kinh tế của Nga khó thoát khỏi suy thoái. Thật ra, tình hình ở Nga có vẻ rất bi đát. Chúng ta nhớ rằng vào tháng 3/2014, Nga quyết định sáp nhập vùng Crimea (của Ukraina?) vào nước Nga, và việc làm này của Putin làm cho cả thế giới nổi giận. Nga bị trừng phạt và cô lập. Putin đi đâu cũng bị chỉ trích và chẳng ai muốn nói chuyện.

6. Tai nạn máy bay. Ngày 7/3/2014 chiếc máy bay Boeing 777 của hãng hàng không Malaysia mang kí hiệu MH370 mất tích mang theo 227 hành khách và 12 phi hành đoàn. Mặc dù nỗ lực tìm kiếm của hơn 10 quốc gia, nhưng cho đến nay, chiếc máy bay vẫn biệt vô âm tính. MH370 trở thành một biến cố bí ẩn nhất trong lịch sử hàng không dân dụng.
Hãng hàng không Malaysia quả thật không may. Sau vụ MH370, chỉ 131 ngày sau, vào ngày 17/7/2014, lại thêm một chiếc máy bay, cũng Boeing 777, mang kí hiệu MH17 bị bắn rơi trên bầu trời Ukraina, gây thiệt mạng cho 298 người hành khácj và phi hành đoàn.
Đến cuối năm, ngày 28/12/2014, một chiếc máy bay Airbus 320 của hãng hàng không giá rẻ AirAsia (Indonesia) mang kí hiệu QZ8501 bị mất tích, đem theo 162 hành khách và phi hành đoàn. Tin mới nhất cho biết máy bay rơi ở vùng biển Java thuộc hải phận Nam Dương.
Tuy tai nạn máy bay xảy ra khá dồn dập năm nay, nhưng các chuyên gia cho biết hàng không vẫn là phương tiện an toàn nhất. So với 20 năm trước, hàng không ngày nay an toàn gấp 3 lần. Do đó, không vì vài vụ tai nạn "high profile" mà sợ không đi máy bay.

7. Dịch Ebola. Không thể bỏ qua trận dịch Ebola hoành hành cả thế giới Phi châu trong năm 2014. Ebola là bệnh "hung dữ" hơn cả AIDS. Khởi đầu từ vùng Tây Phi châu, dịch Ebola đã lan truyền sang nhiều nước, gây tử vong cho khoảng 8000 người, chủ yếu là ở Phi châu. Thống kê cho biết ở những người bị nhiễm tỉ lệ tử vong là 50% (trước đây, con số dao động trong 25-90%). Dịch Ebola nhắc cho chúng ta rằng thời đại này các bệnh truyền nhiễm vẫn còn là một mối đe doạ mang tính toàn cầu, và VN chắc chắn không phải là một ngoại lệ.

8. Giải Nobel y học trao cho công trình định vị. Tháng 10/2014, 3 nhà khoa học được trao giải Nobel y học năm 2014 là giáo sư John O'Keefe (người Anh) và hai vợ chồng giáo sư May-Britt Moser và Edvard Moser (người Na Uy). May-Britt là người phụ nữ thứ 11 được trao giải Nobel y sinh học trong lịch sử giải này. Sau những khám phá về cấu trúc di truyền, cơ chế vận hành của gen và sinh học phân tử, khoa học ngày càng tiến sâu vào một lĩnh vực thường được xem là bí ẩn nhất và huyền bí nhất trong cơ thể con người: bộ não và những nguyên lý vận hành của não. Một bộ môn khoa học mới ra đời và gần như độc lập với y sinh học có tên là thần kinh học (neuroscience). Năm nay, giải thưởng Nobel y sinh học được trao cho những công trình có giá trị thực tế và giúp chúng ta hiểu về chính chúng ta hơn, điều mà Ủy ban Nobel ví von là “định vị” (GPS).


Việt Nam

9. Giàn khoan HD-981. Đối với VN, có lẽ sự kiện tốn nhiều giấy mực và công sức của người dân là giàn khoan HD-981. Ngày 1/5/2014, Tàu cộng đưa giàn khoan khổng lồ mang mã số "Hải Dương 981" vào vùng biển Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Trong khi Chính phủ VN gần như im lặng trong thời gian đầu thì hàng trăm người dân xuống đường phản đối. Báo chí thế giới không mấy quan tâm đến vấn đề. Sau một thời gian hoạt động và va chạm giữa Tàu và VN trên biển, ngày 17/7/2014, Tàu cộng chính thức rút giàn khoan. Chúng đến cũng như chúng đi một cách bình thản. Nhưng sự hiện diện của HD-981 trong suốt hơn 3 tháng là một thách thức nghiêm trọng đến chủ quyền của VN, và để lại một vết thương lòng cho người Việt.
Vụ giàn khoan HD-981 làm cho công chúng VN phẫn nộ. Một số người xuống đường phản đối chính sách xâm lược của Tàu. Nhưng chẳng hiểu do một tình huống nào mà bạo động xảy ra ở Bình Dương và Vũng Án vào tháng 5/2014, với hành trăm doanh nghiệp Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật và VN bị phá hoại. Để chuẩn bị cho chuyến đi của đặc phái viên của ngài tổng bí thư đảng CSVN sang Tàu, viên phát ngôn ngoại giao VN với giọng văn thành khẩn cho biết: “Phía Việt Nam lấy làm tiếc về vụ việc xảy ra đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có doanh nghiệp và công nhân TQ trong tháng 5 vừa qua, đồng thời lấy làm buồn về việc một số công nhân TQ bị thiệt mạng, bị thương trong vụ việc này. […] Hội hữu nghị Việt – Trung sẽ cử đoàn sang TQ thăm hỏi một số gia đình đại diện cho những người bị nạn”. Ông Trần Kinh Nghị, một cựu quan chức ngoại giao, phải thốt lên: “Kẻ cướp bỗng chốc biến thành nạn nhân và nạn nhân phải sang nhà kẻ cướp để xin chia buồn và bồi thường thiệt hại!”
Càng đau hơn khi trong thời gian khủng hoảng, Dương Khiết Trì sang "thăm" VN, và khi về Tàu, hắn tuyên bố rằng VN là một đứa con hoang đàng. Tên Dương Khiết Trì còn kêu gọi VN nên quay về đất mẹ Tàu! Các giới chức và lãnh đạo VN im lặng trước lời nói trịch thượng này của tên Dương.


12. Lấy phiếu tín nhiệm.
Tháng 11/2014, Quốc Hội lấy phiếu tín nhiệm lãnh đạo Chính phủ lần thứ 2. Kết quả năm nay và so sánh với năm ngoái thì thấy một xu hướng rất thú vị: 16 (35%) người có điểm giảm, 2 người không thay đổi, và 28 người (61%) có điểm gia tăng. Phóng viên Reuter mỉa mai gọi cách lấy phiếu như thế này là phường tuồng. Người có điểm tăng "ấn tượng" nhất là ông Thống đốc Ngân hàng Nguyễn Văn Bình! Năm 2013 ông này đứng cuối bảng, nhưng chẳng hiểu sao năm 2014, ông này có điểm tăng vọt. Người kế tiếp có điểm tăng cao là ông Đinh La Thăng, Nguyễn Tấn Dũng, Trịnh Đình Dũng, Bùi Quang Vinh, và Nguyễn Xuân Phúc. Người có điểm giảm mạnh nhất là ông Nguyễn Thái Bình. Một người trước đây từng có điểm rất thấp là bà Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến năm nay càng giảm hơn. Bà Kim Tiến có đến 192 phiếu (tức 40%) "tín nhiệm thấp". Tóm lại, điểm tín nhiệm năm nay (2014) tuy có khá hơn so với năm trước, nhưng mức độ cải tiến còn quá khiêm tốn.


13. Tham nhũng. VN bị Tổ chức Minh bạch Quốc tế xếp hạng tham nhũng hàng 116 trên 177 nước trên thế giới. Nói cho công bằng, chính quyền cũng muốn chống tham nhũng. Trên "mặt trận" chống tham nhũng năm 2014 ghi nhận vài sự kiện đáng chú ý. Ông Nguyễn Bá Thanh, trưởng ban Nội chính trung ương, sau một thời gian ngắn nhậm chức, ông bị bệnh và phải đi điều trị ở Mĩ. Tin đồn rằng ông bị đầu độc, bị ung thư máu, thậm chí đã qua đời! Nhưng các quan chức đã chính thức bác bỏ tin đồn ông chết.
Ông cựu tổng thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền nổi tiếng là người có nhiều tài sản khủng. Báo chí tốn rất nhiều mực giấy cho trường hợp ông Truyền, nhưng không ai dám nói ông là quan tham nhũng. Thật ra, hai chữ "tham nhũng" không bao giờ được báo chí lề phải dùng cho ông! Qua vụ ông Truyền, công chúng mới phát hiện hàng chục vụ quan chức cao cấp cũng lợi dụng nhà công, hoặc có nhiều tài sản khủng. Tuy nhiên, ông Truyền chỉ bị "kỉ luật bằng hình thức cảnh cáo". Một trong những người đình đám và giàu có là ông Lê Thanh Cung (chủ tịch tỉnh Bình Dương) có vài mâu thuẫn với ông Huỳnh Uy Dũng. Tin mới nhất cho biết ông Cung đã bị bãi nhiệm. Nhưng những lùm xùm xảy ra giữa ông Cung và ông Dũng cho thấy môi trường kinh doanh ở VN còn rất nhiều bất trắc vì những "ông vua" địa phương.

14. [Bất] an dân. Nguyễn Trãi, trong "Bình Ngô Đại Cáo" từng viết rằng "Việc nhân nghĩa cốt ở an dân" để nói rằng sự an dân quan trọng như thế nào cho sự tồn tại của một thể chế, quốc gia. Nhưng trong năm qua, có thể nói là lòng dân có vẻ bất an. Rất nhiều "dân oan" trên khắp nước. Họ tập trung về Hà Nội, Sài Gòn, nhưng chẳng ai giải quyết. Cần nói thêm rằng VN là nước duy nhất có "dân oan".
Ngoài "dân oan" ra, còn có rất nhiều vụ án oan. Tử tù Hồ Duy Hải tạm thoát chết vì những khuất tất trong vụ án. Tuy nhiên, qua vụ [có thể] án oan của Hồ Duy Hải, công chúng còn được biết một số vụ khác cũng có thể oan khiên, mà nổi tiêng là vụ án Nguyễn Văn Chưởng. Tất cả các vụ này nói lên hệ thống tư pháp của VN còn quá nhiều vấn đề và tạo ra rất nhiều án oan cho người dân trong quá khứ cũng như hiện nay.
Trong cuộc sống hàng ngày, người dân cũng cảm thấy bất an. Thực phẩm độc hại tràn ngập từ Tàu với sự tiếp tay của gian thương Việt Nam. Chuyện cướp của, giết người xảy ra gần như hàng ngày. Một iPhone dỏm cũng có thể làm cho chủ nhân mất mạng. Bệnh viện tưởng là nơi an toàn nhưng cũng xảy ra bạo động. Những cái chết nhức nhối liên quan đến tiêm vaccine vẫn xảy ra hết năm này sang năm khác. Hàng nhái, hàng dỏm từ Tàu làm cho kĩ nghệ trong nước chết dở sống dở.


Kinh tế

15. Nợ nần. Bức tranh kinh tế VN trong năm 2014 chẳng có gì sáng sủa. Nợ công vẫn là một mối đe doạ lớn. Có vẻ chẳng ai biết nợ công chính thức của VN là bao nhiêu, vì các chuyên gia bất đồng về định nghĩa và con số. Chính phủ thì báo cáo rằng nợ công của VN chiếm khoảng 54% GDP, tức là còn ở ngưỡng an toàn. Nhưng các chuyên gia độc lập thì nói con số cao hơn nhiều và ở mức báo động đỏ (tức là sắp vỡ nợ?) (2). Mỗi một đứa trẻ mới ra đời ở VN hiện nay phải gánh một món nợ công 1000 USD.


16. Doanh nghiệp giải thể
. Theo thống kê mới nhất, trong năm 2014 có gần 68,000 doanh nghiệp đóng cửa. Con số này tăng gần 15% so với năm 2013. Thế nhưng báo cáo Chính phủ cho biết nền kinh tế tăng 5.9% so với năm ngoái!


17. Bộ máy hành chính "ngốn" ngân sách. Chủ tịch Trương Tấn Sang cho biết “Hiện thu ngân sách không đủ chi thường xuyên và trả nợ đến hạn, do đó phải tiếp tục vay trong bối cảnh bội chi đã chạm ngưỡng an toàn rồi”. Tại sao? Ông cho biết ngân sách phải nuôi một đội quân công viên chức khổng lồ, gồm 6.2 triệu người (tính cả 1.2 triệu cán bộ nhân viên cấp xã, nửa triệu cán bộ nhân viên cấp huyện, 2.5 triệu cán bộ 'sự nghiệp', 2 triệu 'diện chính sách'). Số tiền trả mấy người hành chính này chiếm 70% ngân sách (3). Ngân sách của năm 2014 là khoảng 28 tỉ USD.

18. Tai nạn giao thông. Một trong những vấn đề nhức nhối của VN vẫn là tai nạn giao thông. Chỉ 9 tháng đầu năm 2014 mà đã có 18,697 tai nạn giao thông, làm chết 6758 người, và gây thương tích cho 17835 người (6). Tình hình vẫn chưa có dấu hiệu gì cải tiến.

19. Tình hình khoa học cũng chẳng có điểm sáng đáng chú ý. Số ấn phẩm công bố trên các tập san trong danh mục ISI trong năm 2014 của Việt Nam là khoảng 2822 (số ước tính) (4). Con số này vẫn thấp hơn so với Thái Lan (7020 bài), Mã Lai (10437), và càng khiêm tốn khi so với các cường quốc khoa học trong vùng như Singapore (12351), Đài Loan (28352), Hàn Quốc (54722). Điều đáng mừng và Việt Nam đã vượt qua và đang bỏ xa Nam Dương (1747) và Phi Luật Tân (1202). Về chất lượng thì công bố khoa học của VN vẫn còn rất thấp so với các nước trong vùng (5).
Bao giờ VN sẽ bằng Thái Lan? Với đà tăng trưởng hiện nay, tôi tiên đoán rằng đến năm 2018 VN sẽ bằng Thái Lan năm 2010 (tức đạt con số ~5500 bài). Đến năm 2021, Việt Nam và Thái Lan có thể có số ấn phẩm ngang nhau (~9500 bài). Nhưng để đuổi kịp Mã Lai thì hơi … khó. Với tốc độ hiện nay, phải đến 2029 thì VN mới bằng Mã Lai!

20. Tự do học thuật: dẫm chân tại chỗ. Việc Trường đại học Sư Phạm Hà Nội rút lại văn bằng thạc sĩ của Nhã Thuyên là một sự kiện đáng quan tâm. Cần nhắc lại rằng 3 năm trước, luận văn của Nhã Thuyên đã được duyệt xét bởi một hội đồng chuyên môn và được cho điểm tuyệt đối 10/10. Thế nhưng đùng một cái người ta rút lại bằng cấp! Theo Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo thì giữa năm 2013 hai nhà phê bình văn học Chu Giang và Phong Lê tố cáo rằng luận án của Nhã Thuyên là “phản động chống đảng, muốn lật đổ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản, rằng Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một ổ phản động”. Do đó, việc rút lại bằng cấp của Nhã Thuyên là một việc làm bất bình thường trong thế giới đại học.
Trong thế giới đại học, bằng cấp chỉ bị rút lại khi luận văn đó có dữ liệu được nguỵ tạo hay tác phẩm không phải của ứng viên (như đạo văn). Nhưng ở đây, lí do rút bằng cấp chẳng liên quan gì đến đạo văn hay nguỵ tạo dữ liệu, mà liên quan đến ý thức hệ và một nhóm văn học có thể nói là “bên lề” sinh hoạt văn học “chính thống”. Toàn bộ sự việc một lần nữa nói lên rằng tự do học thuật, đặc biệt trong khoa học xã hội và nhân văn, ở VN vẫn còn là cái gì đó thuộc vào loại xa xỉ.

21. Sách mới đáng đọc. Một sự kiện văn học đáng được ghi nhận trong năm 2014 là hai cuốn sách "Đèn Cù" (của Trần Đĩnh) và " Những lời trăng trối" (của Trần Đức Thảo) (7). Cuốn Đèn Cù tiết lộ những chuyện thâm cung bí sử liên quan đến các nhân vật lãnh đạo ở miền Bắc trước 1975. Còn cuốn "Những lời trăng trối" là những kiến giải theo tôi là sâu sắc về chế độ và những phân tích tâm lí rất đáng học hỏi. Những kiến giải đó chỉ để tác giả kết luận rằng "Chính ông Marx đã sai", và "không một ai muốn phấn đấu để trở thành con người vô sản" (8). Cả hai cuốn sách đều nói về chế độ cộng sản cùng những con người trong chế độ đó, và qua đó chúng ta có thể giải thích tại sao VN bị lệ thuộc vào Tàu suốt mấy mươi năm qua và tại sao VN vẫn còn ở dưới đáy của bậc thang phát triển như hiện nay và có thể cả tương lai.

22. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn vừa qua đời vào 18/12/2014, thọ 80 tuổi. Ông là tác giả cuốn sách nổi tiếng "Chuyện kể năm 2000", kể lại thời gian bị tù đày của chính ông. Theo đánh giá của Nhà phê bình văn học Đặng Tiến, "'Chuyện kể năm 2000' là một biến cố văn học, không phải vì nò bị nhà nước tịch thu, nhưng nhờ giá trị tự tại của nó, trong một đất nước chưa có xã hội văn học chân chính theo đúng nghĩa của một xã hội văn học. Giá trị của một cáo trạng dũng cảm, tố giác một xã hội toàn trị đặt trên cơ sở guồng máy công an." (9)


23. Thả và bắt.
Không thể không nhắc đến sự kiện đáng chú ý vào những ngày cuối năm liên quan đến các blogger. Người tù lương tâm nổi tiếng và cũng là một blogger là Điếu Cày Nguyễn Văn Hải bị chính quyền trục xuất sang Mĩ. Thả ông Hải thì chính quyền bắt một số blogger khác. Một blogger nổi tiếng khác là "Anh Ba Sàm" Nguyễn Hữu Vinh và người cộng sự Nguyễn Thị Minh Thuý bị bắt giam vì Điều luật 258. Tiếp theo Anh Ba Sàm, blogger "Người Lót Gạch" Hồng Lê Thọ và Nhà văn Nguyễn Quang Lập cũng bị bắt vì Điều 258 hay 88. Đến cuối năm, một blogger khác tên là Nguyễn Ngọc Già cũng bị bắt. Tất nhiên, chưa kể đến Trương Duy Nhất vẫn còn bị giam cầm. Tất cả những blogger này có thái độ chống sự xâm lăng của Tàu.

Đầu năm nay (ngày 11/2/2014) Bà Bùi Thị Minh Hằng và hai người khác là ông Nguyễn Văn Minh và bà Nguyễn Thị Thúy Quỳnh bị bắt ở Cao Lãnh theo điều 245 Bộ Luật hình sự. Mãi đến ngày 26/8/2014 người ta mới đưa 3 người ra toà, và trong một phiên toà chớp nhoáng, toà án Đồng Tháp tuyên án 3 năm tù giam vì tội danh “gây cản trở giao thông”. Bà Minh Hằng lãnh mức án tối đa (vì theo luật người bị tội này có mức án từ 3 tháng đến 3 năm). Ngày 12/12/2014, ba người kháng án, và nhưng toà vẫn y án đối với họ. Bà Minh Hằng là một trong những người tích cực xuống đường chống chính quyền Tàu.

24. Một sự kiện blog đáng chú ý trong năm là sự xuất hiện của blog "Chân dung quyền lực". Blog này cũng như "Quan làm báo" trước đây đã tung ra nhiều tài liệu và thông tin về các lãnh đạo hiện hành, tuy nhiên rất khó biết thông tin của họ chính xác cỡ nào. Giới lãnh đạo lần này đã thẳng thừng bác bỏ các thông tin mà họ cho là gây cho rẽ lãnh đạo. Nhưng trớ trêu thay, khi lãnh đạo lên tiếng về một trang blog thì trang đó lại càng … nổi tiếng!


25. Viện Khổng Tử.
Một sự kiện chú ý là Tàu đã khai trương Viện Khổng Tử tại Hà Nội. Ngày 27/12/2014 Du Chính Thanh nhân dịp sang thăm VN trước đại hội đảng đã khánh thành Viện Khổng Tử tại Đại học Hà Nội. Các học giả trong nước tỏ vẻ quan tâm và nghi ngờ đến hoạt động của Viện Khổng Tử ở VN.


****
Có lẽ tôi chưa điểm hết (vì không nhớ hết) những sự kiện trong năm qua, nhưng hi vọng những thông tin trên cũng phần nào nói lên tình hình chung. Có lẽ một số bạn sẽ nói tôi nhìn toàn thấy những "vết đen" mà không thấy điểm sáng. Rất có thể như thế, nhưng tôi nghĩ ngay cả những điểm đen mà tôi nhận ra hình như vẫn còn quá ít.
Nói chung, năm 2014 có quá nhiều biến động làm cho người bi quan thấy thế giới càng ngày càng bất an hơn. Sự tàn bạo và man rợ của nhóm IS càng làm cho nhiều người thấy những dự báo về sự xung độ giữa Hồi giáo và phương Tây của học giả Samuel Huntington có thể trở thành hiện thực. Một kết cục có thể nói là "tích cực" là sự huỷ bỏ cấm vận đối với Cuba. Đây là một quyết định mang tính lịch sử của Tổng thống Obama, được nhiều người khen ngợi. Duy chỉ có Việt Nam thì vẫn quen thói nói xách mé, có lẽ vì cảm tình dành cho Cuba nặng hơn dành cho Mĩ.
Riêng tình hình VN thì năm 2014 không có gì đáng để nêu là thành tựu nổi bật. Những vấn đề liên quan đến thể chế vẫn còn y nguyên, không có cải tiến. Tình hình tham nhũng không suy giảm mà có chiều hương gia tăng. Kinh tế - xã hội vẫn còn nhiều "khó khăn", với nợ công càng ngày càng chồng chất. Giáo dục, khoa học và y tế vẫn chưa có những nét sáng để bàn đến. Trong khi đó tình hình đạo đức xã hội càng ngày càng suy thoái (hay suy đồi?) theo thời gian. Việt Nam thường nhìn Hàn Quốc như là một mục tiêu phấn đấu, nhưng với tình trạng trì trệ như hiện nay, thì ngay cả mục tiêu phấn đấu bằng Thái Lan đã là một mục tiêu xa vời, khó đạt được. Cuối cùng thì VN vẫn là một nước nghèo, và đang sa vào cái bẫy thu nhập trung bình. Nói một cách ví von là VN là một nước chưa giàu mà đã già nua.
Nhân dịp Năm Mới, tôi mến chúc các bạn xa gần một năm 2015 nhiều may mắn và hanh thông.
Nguyễn Văn Tuấn