Friday, January 31, 2014

Các loại vũ khí “made in Vietnam”

(Kienthuc.net.vn) - Trong những năm qua, ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công trong sản xuất các loại vũ khí phục vụ bảo vệ tổ quốc.

Một trong những lĩnh vực gặt hái những thành công vang dội nhất của công nghiệp quốc phòng Việt Nam là đóng tàu chiến cho hải quân và cảnh sát biển.

Trong ảnh là một trong số 2 tàu tên lửa Project 12418 Molniya do nhà máy đóng tàu của Việt Nam chế tạo với sự hỗ trợ kỹ thuật từ phía Nga. Đây là loại tàu hiện đại, hỏa lực mạnh trang bị 16 tên lửa chống tàu, có hệ thống pháo tự động.

Nhà máy đóng tàu Hồng Hà (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) đã tự thiết kế, đóng mới thành công tàu pháo TT400TP được trang bị hệ thống vũ khí tự động, hiện đại. Cho tới nay, nhà máy Hồng Hà đã bàn giao 2 tàu pháo TT400TP cho Hải quân Nhân dân Việt Nam.

Nhà máy Hồng Hà đang trong quá trình đóng tàu pháo thứ 3 TT400TP để tiếp tục trang bị cho các đơn vị hải quân làm nhiệm vụ bảo vệ biển, đảo đất nước.

Ngoài các tàu chiến, các doanh nghiệp quốc phòng cũng đóng các tàu tuần tra biển cho lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Năm ngoái, nhà máy Z189 (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) đã hạ thủy thành công tàu tuần tra cỡ lớn DN-2000 cỡ 2.100 tấn. Điều đặc biệt là chúng ta hoàn thành con tàu này chỉ trong vòng 12 tháng, thể hiện sự phát triển vượt bậc trong công nghiệp đóng tàu quân sự của Việt Nam. Nguồn: Thể thao Văn hóa

Ngoài tàu DN-2000, nhà máy Z189 cũng đã đóng thành công tàu vận tải cỡ lớn cho hải quân. Trong ảnh là tàu chở khách hiện đại HQ-571 Trường Sa được Z189 đóng và chuyển giao cho Hải quân Nhân dân Việt Nam đầu năm 2012. Nguồn: Giáo dục Việt Nam

Trong lĩnh vực công nghiệp hàng không, nhà máy A41 (Cục Kỹ thuật, Quân chủng Phòng không – Không quân) đã chế tạo thành công thủy phi cơ VNS-41 dựa theo máy bay Che-22 của Nga với tỉ lệ nội địa hóa là 70%. Loại máy bay này có thể đạt tầm bay tới 300km, trần bay 3km. Chiếc VNS-41 cất cánh thành công lần đầu tháng 9/2005.

Gần đây, cán bộ Học viện Phòng không – Không quân đã chế tạo thành công buồng lái mô phỏng tiêm kích Su-27 phục vụ cho công tác đào tạo kỹ sư hàng không.

Các cán bộ giảng viên Trường Sĩ quan Không quân cũng tự chế tạo buồng lái mô phỏng máy bay huấn luyện sơ cấp Yak-52 phục vụ đào tạo bay cho học viên.

Trong lĩnh vực phát triển vũ khí, trang bị cho lực lượng trên bộ, Viện Vũ khí (Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng) đã nghiên cứu chế tạo thành công súng bắn tỉa hạng nặng cỡ nòng 12,7mm cùng kính ngắm. Súng đạt tầm bắn hiệu quả tới 1.200m, có thể diệt mục tiêu thiết giáp hạng nhẹ.

Viện Vũ khí cùng đã chế tạo thành công hệ thống giá điều khiển vũ khí đa năng có thể lắp súng máy hạng nặng 12,7mm hoặc 14,5mm, có khả năng tự động bám ảnh mục tiêu.

Các nhà máy quốc phòng Việt Nam đã chế tạo súng phóng lựu tự động AGS-17 dựa trên mẫu nguyên bản của Nga. Súng này đạt tầm bắn hiệu quả 1,7km, tốc độ bắn 400 phát/phút.

Bên cạnh các nhà máy, các doanh nghiệp quốc phòng khác cũng đạt được nhiều thành tựu đáng nể mà điển hình là Tập đoàn Viễn thông Viettel. Trong ảnh là hình minh họa máy thu phát vô tuyến điện sóng ngắn cầm tay VRP612 dùng cho quân đội để sử dụng liên lạc trong dải tần số từ 2MHz đến 11,9999MHz. Vỏ máy được đúc bằng hợp kim nhôm bảo đảm độ kín khít chống ẩm, chống nước, mốc, chống ăn mòn kin loại và chịu được va đập. Nguồn: Tiền Phong

Máy thu phát vô tuyến điện sóng ngắn VRS641 được sử dụng để triển khai trong các trạm phát trong toàn quân. Khi làm việc ở công suất cao, máy có thể liên lạc được ở cự ly 2.000 km. Thiết bị này được tích hợp thêm các tính năng mới như khả năng nhớ tần số công tác, hiển thị và quét kênh nhớ; giao tiếp với PC để tự động nhận lệnh truyền các các tin đã biên dịch từ chữ cái dưới dạng Morse và phát khi được kích hoạt. Nguồn: Tiền Phong

Máy phát vô tuyến điện sóng ngắn VRS642 có khả năng phát liên tục 24/24h với hai chế độ công suất cao (150W) và công suất thấp (50W). Khi làm việc ở công suất cao, máy có thể liên lạc được ở cự ly 2.000 km. Máy được sử dụng kèm với bộ điều hưởng ăng ten (ATU) giúp phối hợp trở kháng tốt, thời gian điều hướng ngắn và độ chính xác cao. Nguồn: Tiền Phong

Máy thu phát vô tuyến điện sóng cực ngắn ứng dụng kỹ thuật nhảy tần VRU812 có chế độ liên lạc thoại tần số cố định, thoại mã hóa tần số cố định, nhảy tần và truyền dữ liệu một cách hiệu quả. Các máy VRP812 có khả năng thiết lập mạng, liên lạc chính xác trong điều kiện nhiễu trường mạnh. Ngoài ra, thiết bị còn có giao diện RS232 để kết nối máy tính và các thiết bị đầu cuối khác để thực hiện chế độ truyền dữ liệu. Khoảng cách liên lạc bình thường của máy là từ 6 đến 10km, trên xe là 20km. Nguồn: Tiền Phong

Máy thu phát vô tuyến điện sóng ngắn đơn biên quân dụng VRU611 được sử dụng để liên lạc không phải tìm kiếm và vi chỉnh trong dải tần số từ 30MHz đến 15,9999MHz. Dùng bộ dao động thạch anh bù nhiệt độ làm nguồn tấn số chuẩn, bộ tổ hợp tần số sử dụng mạch DDS nên thiết bị có tính ổn định tần số cao và thời gian thiết lập rất ngắn. Ngoài ra, máy có thể nhớ tần số công tác, chế độ công tác, hiển thị và quét kênh nhớ, tự động kiểm tra trạng thái thông mạch, tự động điều hướng ăng ten với thời gian điều hướng ngắn, độ chính xác cao. Nguồn: Tiền Phong

Cùng với lĩnh vực chế tạo thiết bị thông tin liên lạc, Tập đoàn Viettel đã sản xuất thành công máy bay không người lái VT-Patrol có tốc độ bay tới 150km/h, tầm bay 50km, trang bị camera hồng ngoại full HD có thể nhận dạng và phân biệt mục tiêu người lính trong khoảng cách 600m.

Liên quan tới lĩnh vực UAV, Trường Sĩ quan Thông tin đã chế tạo thành công robot do thám dưới nước YK-01 dùng để hỗ trợ đơn vị đặc công hải quân. 
1. Nỏ thần

Ảnh minh họa
Nỏ thần là gọi là theo huyền thoại dân gian. Các nhà khảo cổ, khoa học, sử học gọi vũ khí này là "nỏ liên châu". Một số học giả, nhà nghiên cứu còn gọi là "nỏ liễu" hoặc "nỏ liễn", họ cho rằng đó chính là cách gọi thời xưa của dân ta dựa trên một số tài liệu, tư liệu, thư tịch cổ.
Ví dụ như sách Việt Sử Lược thời Trần ghi rằng Cao Lỗ đã làm được "nỏ liễu", mỗi lần giương nỏ bắn ra được mười phát tên, và mỗi lần giương nỏ ra thì quân giặc sợ khiếp vía. Hay thế phả họ Cao ở Nghệ An ghi rằng thủy tổ của họ chính là Cao Lỗ, gốc Ngòi Sảo, Bắc Ninh, đã chế tạo ra "nỏ liễn".

Lẫy nỏ
Theo góc nhìn kỹ thuật quân sự thì nó chính là một loại nỏ cơ giới, nỏ máy sơ khai, có thể bắn được nhiều mũi tên cùng lúc. Để tạo ra được hiệu quả đó, Lạc hầu (không phải Lạc tướng) Cao Lỗ đã dùng kỹ thuật chế ra lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn. Để một lúc bật lẫy nỏ cho nhiều mũi tên cùng bay ra, các nhà nghiên cứu hiện đại đã suy ra Cao Lỗ đã làm rộng thân nỏ, xẻ chéo nhiều rãnh, đặt những mũi tên chụm lại để khi bật lẫy, mũi tên theo rãnh bay đi.
Nỏ máy này được Cao Lỗ chế tạo dưới thời Âu Lạc và triều đình Thục An Dương Vương, vua đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ. Trong thời kỳ khoa học công nghệ kỹ thuật còn chưa phát triển, Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ của người Việt cổ được nhiều chuyên gia đánh giá là "cỗ súng máy hiện đại". Các Lạc tướng Âu Lạc đã huấn luyện hàng vạn binh sĩ ngày đêm tập bắn nỏ. Vua An Dương thường xem tập bắn trên "Ngự xa đài", dấu vết này nay vẫn còn (góc đông bắc ngoài thành nội).
Một phần nỏ được khai quật
Bên cạnh phát hiện lẫy nỏ, hàng vạn mũi tên đồng cũng đã đào được ở Cầu Vực, sát chân thành ngoại Cổ Loa. Kho mũi tên đồng với hàng vạn chiếc, trọng lượng gần 110 kg. Đây là loại mũi tên ba cạnh, ba cánh đều nhau, có trụ thân, có chuôi, có họng tra cán và kích thước lớn, được chế tạo hoàn hảo, sắc nhọn. Mỗi mũi tên còn được cắm thêm chuôi bằng tre dài khoảng 1m, làm cân đối trọng lượng để tên bay xa và khả năng sát thương lớn. Tên ba cạnh là loại tên rất đặc thù Việt cổ, có tác dụng làm địch mau tóe ra máu, gây cho chúng bị hoảng loạn tinh thần dễ đi đến vỡ trận. Khác với các mũi tên Trung Hoa chỉ có hai cạnh.


Tên đồng
Có chiếc lẫy nỏ được phát hiện gồm nhiều bộ phận như hộp cò, lẫy cò, hai chốt và thước ngắm. Gần đây, nhóm nghiên cứu của Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á cùng với các nghệ nhân ở Hòa Bình đã phục dựng thành công mô hình chiếc nỏ Cao Lỗ sáng chế, tuy có lẽ chưa được hoàn chỉnh như nỏ thần bản gốc.
PGS Lê Đình Sỹ, nguyên Viện phó Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam đã cho biết: "Điều quan trọng nhất để tạo nên sức thần của nỏ liên châu là Cao Lỗ đã biết kỹ thuật chế ra những chiếc lẫy nỏ có chốt giữ liên hoàn để một lần bóp cò bắn ra nhiều mũi tên có sức xuyên tốt, vừa giết giặc vừa làm chúng khiếp sợ, đội ngũ rối loạn, tan rã. Đó là điều kỳ diệu bí mật của thứ binh khí thần diệu này."

Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam và Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á phục dựng mô hình nỏ thần năm 2009
Trong hội thảo khoa học "Danh tướng Cao Lỗ thời dựng nước", với tham luận "Danh tướng Cao Lỗ với việc chế tạo, sử dụng vũ khí cung nỏ thời An Dương Vương", do Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, UBND tỉnh Bắc Ninh và Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức, chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tóm lược: Cao Lỗ Vương là danh tướng đã giúp vua Thục Phán An Dương Vương dựng nên nhà nước Âu Lạc, hiến kế dời đô xuống đồng bằng và giúp vua xây dựng thành Cổ Loa, chế nỏ liên châu một lần bắn ra nhiều mũi tên. Đây được xem là nỏ thần, thứ vũ khí thần dũng, vô địch để giữ nước với lời nói được truyền tụng "giữ được nỏ thần sẽ giữ được thiên hạ, mất nỏ thần sẽ mất cả thiên hạ". Cao Lỗ có tầm nhìn xa, tỉnh táo và đầy cảnh giác, đầy bản lĩnh để can ngăn nhà vua không sa vào quỷ kế của kẻ thù, dù rằng vì điều đó mà bị vua xa lánh. Nhưng khi đất nước bị xâm lược, Tổ quốc lâm nguy, Người lại ra phò vua, cứu nước, tử tiết để lại danh thơm muôn thuở cho hậu thế.
Chủ tịch nước nói và khẳng định, danh tướng Cao Lỗ là một vị tướng, biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh Việt Nam trong thời đầu giữ nước, được nhân dân sùng kính, thờ phụng ở nhiều nơi trong suốt hàng nghìn năm lịch sử.
Số phận của loại vũ khí này:
Tác dụng của nỏ liên châu thực chất là để bù đắp cho quân đội sự thiếu hụt về số lượng chiến binh (xạ thủ) và vũ khí (cung nỏ). Nó còn có tác dụng gây hoang mang tinh thần cho những tên lính địch yếu bóng vía khi lần đầu tiên thấy loại vũ khí mới lạ này. Thời cổ đại ta dùng nó được. Nhưng đến thời trung đại trở đi thì loại nỏ này không cần thiết nữa và cũng không phát huy tác dụng nhiều nữa. Bởi vì đến thời trung đại dân số và quân số Đại Việt ngày càng đông hơn. Một nhóm xạ thủ vài chục người mỗi người dùng 1 chiếc nỏ thường vẫn bắn tốt, nếu không nói là tốt hơn, bắn chính xác hơn, và có tính linh hoạt cao hơn, tận dụng được năng lực quân sĩ tốt hơn là sử dụng nỏ liên châu. Lại đỡ tốn kém hơn, giá thành chế tạo một chiếc nỏ liên châu đắt hơn nhiều so với nỏ thường. Nó liên châu còn nặng hơn, khó sử dụng hơn, phải chuẩn bị tốn thời gian hơn và nạp tên lâu hơn nỏ thường. Người dùng nỏ thường dễ huấn luyện hơn người dùng nỏ liên châu.

Hỏa tiễn
Tương truyền thời nhà Lý người ta có thử phục dựng và dùng lại nỏ liên châu trong một số thời điểm khi đánh dẹp trong nước, có kết hợp với mũi tên có kèm theo thuốc nổ làm từ lưu quỳnh và các hóa chất khác, gọi là "hỏa tiễn" (tên lửa) hoặc "lôi tiễn" (mũi tên sấm sét). Đó là một loại mũi tên đặc biệt, được sử dụng khá sớm ở Đại Việt, được cho là có từ thời Lý. Đây là một mũi tên bằng sắt có kích thước lớn hơn mũi tên thông thường, có gắn ống đựng thuốc súng. Hỏa tiễn được đặt trong ống phóng, khi khai hỏa đốt đầu ngòi thì thuốc lửa cùng tên sắt sẽ phóng đi với tốc độ cao và tầm bắn lớn. Mức độ sát thương là rất mạnh.
Nhưng nỏ liên châu đến thời đó chỉ còn mang tính biểu diễn, dọa địch chứ không còn hiệu quả thực chiến cao. Không còn nhiều chỗ dùng cho nó và nó thất truyền dần. Nhất là khi dân trí cao hơn theo thời gian và rút kinh nghiệm, thì binh sĩ các phe không còn bị hù dọa bởi các loại vũ khí trông hoành tráng này nữa, mà vẫn bình tĩnh ứng chiến.
2. Cọc ngầm

Ảnh minh họa cọc Bạch Đằng
Với "công thức" cắm cọc lúc thủy triều xuống thấp, khiêu chiến địch lúc thủy triều dâng cao, và dụ địch đi vào trận địa mai phục khi thủy triều xuống thấp trở lại, khiến tàu chiến địch bị va đập vào cọc nhọn, vỡ trận, bị đánh tan, những chiếc cọc trên sông đã trở thành thứ vũ khí thủy chiến đặc thù Việt Nam mà không ai có.
Vũ khí này lịch sử đã chứng minh rằng nó chỉ phát huy tác dụng và đưa đến thắng cuộc nếu tính toán chuẩn xác và vận dụng thành công được thủy triều, tính toán đúng thật chính xác chu kỳ, thời gian, thời điểm lên xuống của mặt nước. Và chỉ có người dân địa phương, đặc biệt là ngư dân, mới tính toán chính xác được. Do đó yếu tố lòng dân là rất quan trọng khi sử dụng loại vũ khí này. Có thể nói vũ khí này chỉ dùng được trong một cuộc chiến tranh nhân dân.
Năm 938, lần đầu tiên những chiếc cọc vùi thây quân xâm lược là khi thủy quân Nam Hán tấn công nước ta qua ngả sông Bạch Đằng. Danh tướng Ngô Quyền đã huy động quân dân lấy gỗ đẽo thành cọc vát nhọn, bịt sắt cắm đầy lòng sông Bạch Đằng ở những chỗ hiểm yếu gần cửa biển tạo thành một trận địa ngầm, hai bên bờ đặt sẵn phục binh.
Khi nước triều lên ngập bãi cọc, Ngô Quyền dụ quân giặc từ vịnh Hạ Long vào sông Bạch Đằng rồi trá bại bỏ chạy. Đến khi nước triều rút, ông hạ lệnh cho toàn quân đánh quật mạnh khiến đoàn thuyền địch hốt hoảng tháo chạy. Đến gần cửa biển thì chúng sa vào bãi cọc nhọn, bị vỡ và bị đắm gần hết và nhận phải nhận lấy kết cục thảm bại, toàn quân tan rã.

Ảnh minh họa
Năm 1077, quân dân nhà Lý dưới sự chỉ huy của danh tướng Lý Thường Kiệt, đã xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt, dựa vào địa lý hiểm trở quanh sông Như Nguyệt (còn gọi là sông Cầu). Dưới bãi sông được bố trí các cọc tre ngầm tạo thành một tuyến phòng ngự hết sức vững chắc.
Quân Lý đóng thành từng trại trên suốt chiến tuyến, quan trọng nhất là ba trại ở Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động. Mỗi trại binh có thể có thêm thủy binh phối hợp. Quân chủ lực do chính Lý Thường Kiệt chỉ huy đóng ở phủ Thiên Đức, một vị trí có thể cơ động chi viện nhiều hướng và khống chế mọi ngả đường tiến về Thăng Long, ngăn giặc tiến về kinh đô.
Kết quả là quân Nam đã chặn đứng được quân Tống, gây cho chúng những tổn hại nặng nề, chúng không thể tiến thêm một bước nào và buộc phải rút quân về nước, kết thúc cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 của quân dân Đại Việt.

Cọc gỗ Bạch Đằng năm 1288 của thủy quân Trần Hưng Đạo tại xã Yên Giang, Yên Hưng, Quảng Ninh (phát hiện năm 1959).
Năm 1288, thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo noi gương tiền nhân, áp dụng lại trận địa cọc ngầm của Ngô Vương và triều Lý. Lần này, những kẻ bị đánh tan là đạo quân tàn bạo và bách chiến bách thắng Mông Cổ với kết cục là hơn 3 vạn quân giặc và gần 400 chiến thuyền bị chôn xác dưới sông, số còn lại bị quân dân nhà Trần bắt sống chỉ trong vòng một ngày.
Cọc sắt của nhà Hồ
Năm 1406, để đối kháng với 21 vạn quân Minh xâm lược dưới sự chỉ huy của các danh tướng Trương Phụ, Mộc Thạnh, thái thượng hoàng của Đại Ngu (quốc hiệu nước ta lúc bấy giờ do nhà Hồ đặt) là Hồ Quý Ly và vua Hồ Hán Thương, noi gương các tiền nhân, đã cho cắm cọc sắt ở các khúc sông hiểm yếu, nhất là ở sông Cái, sông Thao, sông Đà thuộc sông Hồng.
Các tướng khuyên can rằng nên dùng cọc gỗ đầu bịt sắt cũng đủ hiệu nghiệm, dùng cọc kim loại khuân vác nặng nhọc khó khăn, làm khổ sức quân dân, mà không có thêm tác dụng gì cả. Nhưng cha con Hồ Quý Ly không nghe, quyết tâm muốn "chơi sang", còn đòi cọc sắt phải thật bén nhọn. Lòng người càng ly tán, vua không biết nghe lời phải, dân không theo, không hợp tác với triều đình để tính toán thủy triều nên nhiều nơi quân Hồ chỉ đóng cọc ở đó rồi bỏ mặc hên xui, không nắm vững được giờ giấc lên xuống của thủy triều.
Không hiểu do quân Minh may mắn hay dân oán ghét nhà Hồ không báo cáo chính xác chu kỳ thủy triều ở nhiều nơi, mà quân Minh tiến quân trên sông bình an vô sự, vượt qua các cửa sông then chốt, các khúc sông quan trọng, đánh bại thủy quân triều Hồ trong trận thủy chiến dữ dội trên sông Mộc Phàm (bãi Mộc Hoàn), rồi tiến thẳng đến phòng tuyến Đa Bang, vốn là một phòng tuyến hết sức kiên cố do hoàng thân Hồ Nguyên Trừng thiết kế và chỉ đạo xây dựng, ông cho xây thành Đa Bang để án ngữ vị trí chiến lược trọng yếu này và thiết lập đồn lũy và các hệ thống phòng ngự chung quanh, tạo thành thế ỷ giốc liên hoàn, hình thành phòng tuyến Đa Bang.
Phòng tuyến Đa Bang về mặt quân sự có lẽ cũng ngang ngửa với phòng tuyến Như Nguyệt mà quân dân Đại Việt thời Lý đã cầm chân thành công quân xâm lược Tống, không cho địch tiến sâu vào để tiến về kinh đô. Nhưng khác với triều Lý, triều Hồ không có lòng quân, lòng dân, nên phòng tuyến Đa Bang tuy vô cùng kiên cố chắc chắn về quân sự, xây dựng, kỹ thuật, nhưng vẫn bị vỡ. Quân Minh đã thành công chọc thủng phòng tuyến Đa Bang, chiếm thành Đa Bang. Sau đó tiến về kinh đô Đại Ngu truy bắt Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Nhà Hồ cuối cùng đã thất bại hoàn toàn. Nước ta bị giặc Minh thôn tính.
Bài học thời nhà Hồ càng minh định một nguyên tắc, một chân lý bất di bất dịch: Tất cả đều ở con người, mọi vũ khí là phụ thuộc vào con người. Con người không biết dùng thì dù là vũ khí lợi hại ra sao cũng đều vô dụng, vô ích. Tự thân cọc ngầm trên sông không có tác dụng gì cả nếu không có con người, không có sự liên hệ, quan hệ, hợp tác chặt chẽ giữa người và người, không có lòng dân vững chắc.
Trong cuộc chiến Minh - Việt lần thứ nhất, có thể thấy rõ là dân không ủng hộ triều Hồ nên đã thờ ơ không chỉ dẫn, hợp tác. Ngư dân địa phương không cộng tác với quân triều để tính ra được thủy triều, hoặc khi bị bắt ép thì chỉ bậy, chỉ qua loa. Và một vũ khí thần diệu đến tay nhà Hồ sử dụng đã không còn tác dụng.
Trong chiến tranh du kích, điều kiện tiên quyết là phải có được lòng dân, để dân kiên quyết giữ bí mật và không tiết lộ với giặc. Trong chiến tranh Minh - Việt lần thứ nhất, một số kẻ đi báo với giặc, hoặc khi bị giặc thúc ép thì khó giữ nổi khí tiết (vì bản thân cũng đã không ưa nhà Hồ) nên dễ cung khai, cả quân và dân đều không cố gắng giữ bí mật. Cho nên trong cuộc chiến đó quân Việt ẩn thân mai phục ở đâu thì quân Minh đều biết, lường trước và đề phòng cảnh giác. Đường đi nước bước, nơi nào hiểm yếu dễ ẩn náu, nơi nào dễ gặp mai phục, địch đều moi tin ra được từ cư dân tại đó, nên không hề bị trúng kế, không sa vào các vị trí có phục binh. Đất Việt có lợi thế địa lợi vốn dĩ rất thuận lợi cho du kích chiến, nhưng yếu tố địa lợi mà không gắn liền với yếu tố nhân hòa thì cũng vô dụng.
Có lẽ vì vậy mà thiên tài quân sự Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã từng nói đại ý: Chiến thuật chiến tranh du kích là một phần của chiến lược chiến tranh nhân dân. Như vậy, nếu không có dân, nếu cuộc chiến đó vốn đã không phải là một cuộc chiến tranh nhân dân, thì làm sao phát huy được chiến tranh du kích. Đó chính là lời giải cho câu hỏi vì sao nhà Hồ cũng khai thác tận dụng yếu tố địa lợi nhưng bất thành, tại sao cùng một lợi thế địa lợi đó, mà phe dùng được phe thì không.
Cọc tre thời đánh Mỹ
Năm 1968, quân Giải phóng ở Quảng Trị đã tạo nên một "thế trận Bạch Đằng trên sông Hiếu", áp dụng lại trận địa cọc ngầm của người xưa. Lần này những kẻ bị đánh tan là quân đội Hoa Kỳ trăm trận trăm thắng. Nhân lúc thủy triều xuống thấp, quân ta cắm cọc tre xuống sông kết hợp với thả bè tre lơ lửng trong nước theo hình dích dắc để co cụm tàu giặc lại, phục kích quanh bờ, rồi "nhắm thẳng quân thù mà bắn".
Thời điểm đó, con đường vận chuyển lương thực, hàng hóa, nhiên liệu, thiết bị quân sự từ cảng Cửa Việt lên thị trấn Đông Hà để nuôi cả phòng tuyến Quảng Trị - Khe Sanh là hết sức quan trọng đối với Mỹ-ngụy. Con sông Hiếu ở Quảng Trị (còn gọi là sông Cam Lộ) là một phụ lưu của sông Thạch Hãn. Hằng ngày trên sông Hiếu có từ 15 đến 20 tàu chiến của thủy quân lục chiến Mỹ làm nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, nhiên liệu, thiết bị, lương thực và vũ khí từ cảng Cửa Việt lên Đông Hà.
Để "chia lửa" với mặt trận Khe Sanh cũng như để cắt con đường vận chuyển tiếp tế hậu cần và phá hủy các thuyền chở lương thực, súng đạn của giặc, Bộ Chỉ huy Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị đã chỉ đạo các lực lượng hướng đông phải kiên quyết phong tỏa cảng Cửa Việt, chẹn "cuống họng" của địch, đồng thời cắt "thực quản" của chúng, phong tỏa đoạn sông từ Cửa Việt lên Đông Hà, bằng các cách đánh đặc công phối hợp với pháo binh, bố trí vật cản, phối hợp trận địa dưới sông, trên bờ, nhằm tiêu diệt tàu giặc, làm tê liệt tuyến cảng sông của chúng.
Từ nhiều diễn biến tiêu cực của Mỹ trước đó, cộng với các tin tức tình báo, ta dự đoán ý đồ của họ là muốn khai thông tuyến vận tải sống còn Cửa Việt - Đông Hà. Từ thực tiễn đó, Thường vụ liên huyện Gio – Cam quyết tâm tổ chức một đợt chiến đấu mới phong tỏa dài ngày trên sông Hiếu, ngăn chặn và tiêu diệt tàu địch, làm tắc nghẽn giao thông, đẩy địch vào tình trạng thiếu lương thực, đạn dược quân nhu.
Để tìm ra phương án đánh giặc hiệu quả nhất, một cuộc họp bàn đã được tổ chức. Cuộc họp đã nhất trí một quyết định táo bạo: Để ngăn tàu giặc, ta cần học theo cách đánh trên sông Bạch Đằng của tổ tiên, cụ thể là nơi nào nước cạn thì dùng các cọc tre cắm ngập chìm trong nước, nơi nào nước sâu thì kết tre thành chùm, một đầu buộc vật nặng thả xuống sông. Các chùm tre lại được kết với nhau thành bè nửa chìm nửa nổi tạo thành thế dích dắc và được neo giữ không để trôi tự do. Các cọc tre và bè tre kết hợp với bùng nhùng tự tạo, dây thép gai, mìn và ngư lôi khiến tàu địch muốn lách để tiến cũng không được. Hai bên bờ sông bố trí các loại hỏa lực để tiêu diệt tàu Mỹ.
Đây là một kế hoạch tối ưu nhưng rất phức tạp, nói dễ hơn làm. Cần những biện pháp thích hợp để huy động, thu gom, vận chuyển, tập kết vật liệu và cách thức xây dựng "thế trận Bạch Đằng" sao cho bí mật. Vừa phải vận động người dân giúp xây thế trận, vừa phải làm cho dân hiểu tầm quan trọng của trận này và không tiết lộ nửa câu ra ngoài cho bọn Việt gian chỉ điểm, đặc biệt là các cháu nhỏ.
Sau cuộc họp, bộ đội và du kích Gio Linh liền đi phổ biến chủ trương và phương thức đánh giặc độc đáo đó cho dân chúng quanh vùng và được bà con tán thưởng khen hay và nhiệt tình ủng hộ. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhân dân địa phương đã lao động cật lực và đóng góp hàng ngàn cây tre, hóp, phi lao, dương và hàng trăm cuộn dây thép gai.

Ảnh minh họa
Các du kích xã, du kích địa phương và các thanh niên trai tráng khỏe mạnh làm nghề sông nước được huy động cho việc cắm cọc, kết bè. Hàng chục chiếc đò của dân cũng được huy động để chở các chướng ngại vật, bộ đội, du kích sang sông. Trong những ngày đó, mỗi khi màn đêm buông xuống là bà con hai bên bờ sông Hiếu lại đào hầm, giao thông hào làm trận địa cho bộ đội, du kích. Hàng chục dân công cũng được huy động để phục vụ hậu cần, cứu thương, y tế. Riêng làng Thượng Nghĩa, chỉ trong một đêm dân làng đã hạ hơn 4000 cây tre để đóng góp cho việc chung.
Như vậy, vận dụng cách đánh truyền thống của cổ nhân, quân dân hai bên bờ sông Hiếu đã xây dựng nên một thế trận rất hiểm mà nhiều người gọi là "trận Bạch Đằng thời đánh Mỹ", hay còn gọi là "trận Bạch Đằng trên sông Hiếu", "thế trận Bạch Đằng trên sông Thạch Hãn" (sông Hiếu là phụ lưu của sông Thạch Hãn) bằng các cọc tre, bè tre kết hợp với bùng nhùng, dây thép gai, mìn và ngư lôi.
Một lần nữa, quân Mỹ lại bị động, quân Việt là phía chủ động quyết định đánh ở đâu. Vị trí được quân đội Việt Nam chọn làm trận địa là khu vực Đại Độ, đoạn từ ngã ba sông Gia Độ đến Hói Sòng, một đoạn của con sông Hiếu, nằm về phía nam làng Vinh Quang hạ (xã Gio Quang, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị), cách Tam giang khẩu (ngã ba Gia Độ) 300m về phía tây, cách thị xã Đông Hà gần 2km về phía đông. Khu vực này sông khá hẹp, hai bên bờ địa hình rất thuận lợi cho việc cất giấu, bố trí lực lượng và hỏa lực.
Có được sự ủng hộ hoàn toàn của người dân địa phương, quân Giải phóng và quân dân địa phương đã đồng tâm hiệp lực, cộng tác chặt chẽ tính nhẩm, ghi nhớ, ghi chép và nắm bắt được quy luật thủy triều ở sông Hiếu.
Đêm 28-2-1968, khi nước sông Hiếu cạn dần, lực lượng biệt động thị xã Đông Hà, du kích một số xã Gio Hà (nay là Gio Mai, Gio Quang), Gio Cam, bộ đội địa phương Cam Lộ, dân chúng thuộc các xã Cam Giang, Gio Mai, Gio Quang, Trung đoàn 270 (Đoàn 31), bộ đội đặc công Đoàn 126; du kích một số xã và một số quần chúng Ngã Ba cùng 20 chiếc thuyền chở tre, hóp, dây thép gai.... bí mật tiếp cận khu vực Đại Độ. Công việc cắm cọc bắt đầu được tiến hành dưới cơn mưa lạnh.
Mưa mỗi lúc một nặng hạt, gió đông bắc từ biển thổi vào như cắt vào da thịt, thỉnh thoảng pháo sáng giặc Mỹ lại bắn lên không trung chiếu sáng cả một vùng rộng lớn. Vậy mà lực lượng du kích và người dân vẫn lặng lẽ, bí mật bố trí, liên kết bãi cọc. Sau hơn một giờ ngâm mình trong dòng nước lạnh buốt, "bãi cọc Bạch Đằng" được bố trí xong với gần 2000 cọc tre, 60 cọc phi lao, 200 cuộn dây thép gai được cắm xuống dòng sông Hiếu. Xen giữa các bãi cọc là các bãi mìn, những quả thủy lôi.
Trận địa được bố trí thành hai bãi cọc dài, lặng lẽ rình chờ con mồi đi vào tử địa. Trên bờ, trận địa hỏa lực bắn tàu, bắn máy bay (vì Mỹ chu đáo, mỗi chuyến tàu trên sông đều có trực thăng bay theo hộ tống) của bộ đội, du kích được bố trí chu đáo sẵn sàng cho giờ khai hỏa.
Đêm 1-3-1968, các lực lượng vũ trang và bán vũ trang địa phương, thanh niên xung phong, dân công, quần chúng rút lui hết, chỉ để hai tổ ở lại phối hợp với bộ đội chủ lực. Các đơn vị hỏa lực thuộc trung đoàn 270 cùng bộ binh và du kích bí mật áp sát bên bờ sông từ Mai Xá, Vinh Quang hạ, Đại Độ sẵn sàng đánh giặc. Trời vừa sáng thì cạm bẫy "thế trận Bạch Đằng" đã được hoàn thành và giăng ra. Khi triều cường, nước sông đã che kín bãi cọc, lính Mỹ dùng ống dòm quan sát từ xa cũng không thấy gì khác lạ.

Quân VC ở Cửa Việt
Rạng sáng ngày 4-3, một đoàn tàu giặc gồm 12 chiếc được máy bay trinh sát, trực thăng vũ trang và xe lội nước hộ tống từ Cửa Việt tiến về Đông Hà, chiếc nọ cách chiếc kia 15 - 20m. Do trước đó quan sát bằng ống dòm từ xa thấy không có dấu hiệu nguy hiểm nên giặc vô tư đi tới, không hề biết đến cạm bẫy nguy hiểm đang được giăng ra chờ họ. Đến khi triều xuống thấp, chiếc tàu đi đầu vấp phải bãi cọc và chướng ngại vật, làm chúng bị kẹt và tắt nghẽn.
Đây là những tàu chiến hiện đại của Mỹ nên chúng cũng chưa bị hư hại gì, nhưng chúng bị vây kẹt cứng trong bãi cọc, không biết đi đâu, xoay trở ra sao, bị dính chặt dậm chân tại một chỗ, như bị "điểm huyệt" cứng đơ vậy. Những chiếc phía sau không bị lọt vào trong bãi cọc thì cũng bị kẹt đường tắt nghẽn, di chuyển chậm chạp ì ạch và muốn quay đầu lại cũng rất khó vì sông hẹp. Hoàn toàn bị "đóng băng" ở đó, trở thành mục tiêu lý tưởng và làm mồi cho hỏa lực của quân dân Quảng Trị.
Trong lúc giặc đang loay hoay tìm cách thoát ra thì ngay lập tức một tàu chiến của địch đã đụng vào thủy lôi và phát nổ. Thủy quân lục chiến Mỹ vốn là những chiến binh chuyên nghiệp chứ không dễ hoảng loạn như quân ngụy, nên thay vì vỡ trận tranh nhau tháo chạy hay nhảy xuống sông bơi lên bờ tìm cách chạy thì họ bình tĩnh định tìm cách gỡ ra và thoát thân trong trật tự. Như họ đã từng được huấn luyện, chuẩn bị chu đáo trong các quân trường, chiến trường giả bên Mỹ.
Ngay lập tức đạn pháo của quân Việt Nam từ trận địa trên bờ thi nhau bắn chặn, "nhắm thẳng quân thù mà bắn". Trong đoàn tàu Mỹ có một số chiếc chở nhiên liệu, xăng dầu bị trúng đạn khiến xăng, dầu chảy tràn lan bốc cháy dữ dội, chẳng mấy chốc sông Hiếu trở thành một dòng sông lửa. Đã bị vấp phải "bãi cọc Bạch Đằng" làm cho đoàn tàu bị dồn cứng ngắt chẳng biết xoay trở đường nào, lại còn bị bồi thêm bởi các loại súng ĐKZ, B41, 12,7mm, súng cối, súng bộ binh, đoàn tàu thủy quân lục chiến Mỹ bị dìm trong biển lửa, bốc cháy dữ dội rồi chìm xuống sông, có vài chiếc tàu bị chính đạn trên tàu nổ xé tan làm nhiều mảnh.
Sau hơn một tiếng đồng hồ chiến đấu, trong trận này, quân dân địa phương Cam Giang, Gio Hà và bộ đội Quảng Trị đã phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với sự yểm trợ của bộ đội chủ lực đã bắn cháy, đánh chìm 7 tàu Mỹ, gây tắt nghẽn cho tuyến đường tiếp viện Cửa Việt - Đông Hà của giặc.
Một số chiếc đi sau quay mũi định tháo chạy về Cửa Việt, nhưng bị hỏa lực quân ta từ bờ Bắc sông Bến Hải được các đài trinh sát tiền tiêu hướng dẫn nhả đạn chính xác, nên quân giặc cũng không thoát khỏi án tử hình. Xác tàu chiến, xác lính giặc trôi bập bềnh trên sông nước suốt mấy ngày mới thoát ra Biển Đông. Máu nhuộm đỏ cả một khúc sông. Mùi khói lửa khét nghẹt và máu tanh nồng nặc. Từ đó bọn giặc coi Cửa Việt - Đông Hà là nỗi kinh hoàng và sợ quân Giải phóng ở đây như sợ cọp.
Các chiến thắng lẫy lừng kể trên đã biến những chiếc cọc gỗ mộc mạc trở thành thứ vũ khí kinh điển, vũ khí huyền thoại trong lịch sử quân sự Việt Nam và thế giới.

Ảnh biếm họa với thông điệp rằng truyền thống Bạch Đằng sẽ chặn đứng cuồng vọng "đường lưỡi bò" của Trung Hoa
Số phận của loại vũ khí này:
Nhìn theo góc độ vật lý, thì loại vũ khí này cũng như nỏ liên châu, không còn hợp thời nữa, không còn chỗ dùng nữa, vì không còn phù hợp với chiến tranh hiện đại. Chiến tranh ngày nay chủ yếu diễn ra trên đất, trời và biển, ít còn diễn ra trên sông nước.
Nhưng xét theo góc độ tinh thần, thì đây còn là vũ khí lòng dân, nó là biểu tượng của chí khí chống ngoại xâm, sự khéo léo của dân tộc trong chiến tranh vệ quốc và lòng dân. Bản thân món vũ khí này không làm được gì cả nếu không có sức người, lòng người, bàn tay khéo léo của con người, của quân dân. Nếu nhìn theo góc độ này thì đây là vũ khí của lòng dân và nó trường tồn cùng dân tộc chứ không đi đâu hết.
Nó là bài thuốc để các nhà lãnh đạo nào đã quên bài học lòng dân nhìn vào mà sực nhớ lại. 2 bài học Bạch Đằng và 5 bài học cọc ngầm kể trên chính là minh chứng để chúng ta thấy rõ nguyên tắc, chân lý có dân là có tất cả. Như Bác Hồ đã từng nói: "Dễ vạn lần, không dân cũng chịu. Khó vạn lần, dân liệu cũng xong."
Quân đội Ngô Quyền, quân nhà Trần, và quân dân Quảng Trị có được sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân địa phương nên đã nắm được quy luật thủy triều, và vận dụng kiến thức đó chung với với việc đóng cọc, phục kích địch thì mới chiến thắng được. Đây là điều kiện quyết định, bởi vì cách tính chu kỳ thủy triều ở các địa phương đều không giống nhau, và chỉ có dân địa phương đó, nhất là những người làm nghề sông nước ở ngay tại đó, thì mới quen thuộc (họ đã sống ở đó từ nhỏ tới lớn, gia đình họ ở đó nhiều đời) và nắm được phần lớn quy luật sông nước ở đó. Họ sống bao đời gần sông nước và họ được bố mẹ, người lớn truyền dạy cho cách tính theo con nước, theo chu kỳ lên xuống của nó. Chính là nhờ vào hiện tượng thủy triều, nên con người sống ở đó mới biết cách canh để mà đánh bắt tốt hơn thủy sản. Do đó nếu ở xa thì không tài nào nắm được.
Nhà Hồ đã học bài học đau đớn đó và hối thì đã muộn. Với khoa học phát triển tiên tiến ngày nay các nhà khoa học tự nhiên, toán học vẫn không ai đưa ra được một công thức, phép tính chung nào để tính ra được thời điểm thấp cao của thủy triều (tide).
Nhà Hồ có quân số rất đông (phần nhiều bắt lính), huấn luyện rất kỹ, xây đắp thành cao hào sâu, và vũ khí rất tốt. Hồ Nguyên Trừng là nhà phát minh lớn trong thời đó, sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi, Hồ Nguyên Trừng sau đó không lâu đã sáng chế thành công Thần cơ sang pháo (súng thần cơ) và trước hiểm họa Bắc xâm từ nhà Minh, Hồ Nguyên Trừng cũng chế tạo ra Cổ lâu thuyền, một loại thuyền chiến lớn đóng đinh sắt, có hai tầng boong với hàng chục tay chéo và hai người điều khiển một mái chèo. Cổ lâu thuyền vừa được dùng để tải lương, vừa sẵn sàng chiến đấu khi được trang bị súng thần cơ đầy uy lực. Cổ lâu thuyền còn được giới bình dân bá tánh gọi là thuyền hai đáy, bụng thuyền được chia ra làm hai phần: Phần dưới để lính chèo thuyền, phần trên giấu lính chiến đấu.
Hồ Nguyên Trừng đã kế thừa kỹ thuật sản xuất thuốc súng, hỏa khí và cải tiến kỹ thuật đúc súng từ các triều đại trước và chế tạo ra súng Thần cơ sang pháo, kiểu đại bác đầu tiên ở nước ta. Loại súng này sử dụng đạn đúc bằng chì, gang hoặc đá, có sức xuyên và công phá tốt, hiệu quả sát thương và uy hiếp tinh thần quân địch rất cao.

Súng thần cơ là phát minh lỗi lạc của hoàng thân Hồ Nguyên Trừng trong thời Hồ. Đây là kiểu đại bác đầu tiên ở VN, sử dụng đạn đúc bằng chì, gang hoặc đá, có sức công phá cao.

Sau thời nhà Hồ, súng thần công (các phiên bản cải tiến của súng thần cơ) tiếp tục được người Việt phát triển và có sự học hỏi nước ngoài để cải tiến kỹ thuật. Đến thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, rất nhiều cỡ súng thần công từ loại nhỏ đến khổng lồ đã được đúc và đưa vào sử dụng.
Trong cuộc xâm lược Đại Việt, dù quân Minh chiến thắng chúng vẫn không tránh khỏi nỗi kinh sợ trước hỏa lực của Thần cơ sang pháo. Khi chiếm được những khẩu pháo này, chúng rất đỗi ngạc nhiên vì Thần cơ sang pháo có nhiều ưu thế hơn hẳn các loại hỏa pháo của quân Minh. Những cỗ Thần cơ sang pháo nhanh chóng được chở về Trung Quốc nghiên cứu. Đây có lẽ là một trong những biểu hiện xưa nhất của "truyền thống đánh cắp công nghệ quốc phòng" của người Trung Quốc.
Vũ khí của nhà Hồ lợi hại, hoành tráng, tốn kém và hiện đại tối tân (theo tiêu chuẩn thời đó) đến như vậy, nhưng không phát huy được sức mạnh của cọc ngầm, hay nói đúng hơn là không phát huy được sức mạnh của nhân dân, thì vẫn phải thua đau. Vũ khí lòng dân mới là vũ khí vô địch vậy. Vũ khí làm cho địch thua từ xưa đến nay luôn là những vũ khí mà địch không sợ, không ngờ, và vì không sợ, không ngờ nên chúng mới không đề phòng và chuốc lấy bại vong. Những vũ khí hiện đại tối tân của nhà Hồ làm cho địch gờm, chú ý và đề phòng cảnh giác nên trở thành không còn bao nhiêu tác dụng.
Tóm lại, quân Ngô Quyền, nhà Trần, quân Giải phóng có được dân chúng địa phương ủng hộ, đã có sự liên kết thống nhất chặt chẽ giữa trung ương và địa phương nên đã thắng lợi trong các trận đánh quyết định. Nhà Hồ không được như vậy nên đã thất bại và mất nước. Vũ khí cọc ngầm này là một biểu tượng và bài học lớn đó.
3. Voi lửa
Đất Việt là nơi có nhiều voi sinh sống, và người Việt đã sớm sử dụng loài voi như một loại vũ khí, một loại "binh chủng" đặc biệt trong các cuộc chiến. Khi hành quân, voi là phương tiện vận chuyển, chuyên chở quân nhu, vũ khí, lương thảo. Trong chiến đấu, voi trở thành chiến cụ đầy uy lực, có thể dùng vòi, ngà và chân tiêu diệt địch, húc vào các nhóm lính địch, húc đổ cổng thành, tả xung hữu đột, dày xéo, dẫm nát quân địch, phá rào lũy mở đường tiến cho bộ binh. Với ưu thế của mình, các đội quân voi chiến tiên phong đi đầu luôn trở thành nỗi kinh hoàng của quân xâm lược ngoại bang.
Những người lính trên mình voi có lợi thế về độ cao, tầm quan sát tốt, tác chiến thuận lợi với các mũi giáo dài và các loại vũ khí tầm xa như cung, nỏ, súng. Đặc biệt, voi còn là khắc tinh của kỵ binh bởi loài ngựa có nỗi sợ bản năng với loài voi.
Tài sử dụng voi trận của người Việt đã gắn liền với hình ảnh "cưỡi voi đánh giặc" của Bà Trưng, Bà Triệu. Từ thời Hai Bà Trưng cho đến thời Quang Trung, một cuộc cách mạng đã diễn ra trong nghệ thuật sử dụng voi trận của người Việt. Với thiên tài quân sự của mình, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã biến những chú voi trở thành một lực lượng hỏa lực cơ động, mang theo đại bác và hỏa pháo trên lưng, thực hiện nhiệm vụ đột kích với sức công phá đáng sợ. Đó là những thay đổi vượt bậc so với các đội tượng binh thời trước. Voi trận còn được sử dụng trong một số quân đội quốc gia khác, nhưng "voi lửa" thời Tây Sơn có thể nói là một loại vũ khí "không giống ai".
Trận đánh điển hình cho tài dùng voi của Nguyễn Huệ là trận Ngọc Hồi - Đống Đa năm 1789, khi 100 voi lửa của quân Tây Sơn đã làm những chú ngựa trong đội kỵ binh của quân Thanh khiếp đảm, dẫm đạp lên nhau chạy loạn, ngựa đạp chết lính, tháo chạy tán loạn. Kết quả là quân Thanh thua to, bao nhiêu tên xâm lược đã bị voi Việt và cả ngựa Tàu đạp tan thây.
Trong các thời kỳ trước, voi trận thường được sử dụng làm lực lượng đột kích mang tính chất lẻ tẻ, rời rạc trong mỗi mũi tiến công, mang bản chất một lực lượng phụ trợ chiến thuật. Phải đến thời Tây Sơn, thiên tài quân sự Quang Trung - Nguyễn Huệ đã khai thác, tận dụng ưu điểm của loài voi, rồi voi chiến mới được sử dụng tập trung số lượng lớn có trọng tâm trọng điểm cụ thể, biến voi chiến trở thành một lực lượng tấn công chiến lược.
Đặc biệt, Nguyễn Huệ đã biến voi thành những "cỗ xe tăng" có sức mạnh áp đảo, trang bị đại bác và hỏa pháo trên lưng. Trên lưng mỗi quân voi có ba, bốn người lính chít khăn đỏ, ngồi ném tung hỏa cầu lưu hoàng ra khắp nơi, đốt cháy quân địch.
Voi chiến không phải là một vũ khí hoàn hảo. Nó có khuyết điểm là sợ lửa và tiếng nổ lớn. Trong chiến tranh Minh - Việt lần thứ nhất, quân Minh đã khôn khéo lợi dụng pháo, lửa rồi đeo mặt nạ sư tử vào cho các ngựa chiến để hù dọa voi trận nhà Hồ, làm cho voi quân Hồ chạy ngược vào trong trận làm vỡ trận quân Hồ.
Cho thấy việc nghĩa quân Tây Sơn huấn luyện được những con voi chịu đựng được môi trường chiến đấu chung quanh đầy tiếng nổ và khói lửa như vậy càng thể hiện trình độ quân sự rất đáng nể của các quản tượng, các chuyên viên huấn luyện voi, và các tướng lĩnh Tây Sơn.
Với những trang bị như vậy, voi chiến của đội quân áo vải cờ đào Tây Sơn đã biến thành một lực lượng hỏa lực cơ động có sức mạnh đột kích kinh khiếp. Đội quân "voi lửa" của vua Quang Trung, người thiên tài quân sự cả đời cầm quân không hề biết thua trận là gì, đã hội đủ cả 3 yếu tố chiến thuật: Cơ động, đột kích và hỏa lực. Đây thật sự là một cuộc cách mạng voi chiến so với các thời kỳ trước đó.
Năm 1789, trong chiến dịch giải phóng Thăng Long, 100 voi trận Tây Sơn do nữ đô đốc Bùi Thị Xuân chỉ huy đã đánh tan đội kỵ binh đông đảo của Tôn Sĩ Nghị, góp phần làm nên chiến thắng Đống Đa lịch sử của quân đội Tây Sơn và dân tộc Việt Nam, giải phóng Bắc Hà, xóa bỏ ranh giới ở sông Gianh chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài, Bắc Hà - Nam Hà, thống nhất hai Đàng.
Bên cạnh việc trang bị hỏa lực cho voi, một yếu tố khác cũng làm tăng cường đáng kể sức mạnh và tốc độ hành quân của đội voi chiến Tây Sơn là sự ra đời của những chiến hạm khổng lồ Định Quốc được chế tạo theo mô hình phương Tây thời bấy giờ. Với khả năng chở được voi, những chiến hạm khổng lồ này khiến cuộc hành quân xuyên Việt của đội voi diễn ra thần tốc và dễ dàng hơn rất nhiều bằng đường biển. Góp phần thêu dệt thêm những huyền thoại vào các chiến dịch hành quân siêu tốc của quân Tây Sơn.
Số phận của loại vũ khí này:
Bước vào thời cận đại, với cuộc cách mạng hỏa khí từ phương Tây và sự phát triển vượt bậc về công nghệ quốc phòng, lực lượng voi chiến dần trở nên lạc hậu, lỗi thời trước sức mạnh vượt trội của hỏa lực châu Âu.
Mất tác dụng trên sa trường, chúng chỉ còn là những con vật mang tính biểu tượng, được sử dụng trong các nghi lễ hay mua vui cho vua chúa, quan lại phong kiến trong những cuộc chiến với hổ, báo, heo rừng và cả với nhau, tại các sân đấu. Binh chủng kỵ binh cũng chịu chung số phận.
Sau này trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân các dân tộc thiểu số có dùng voi để tải súng đạn, lương thực, đồ dùng lên chiến trường cho bộ đội. Tuy nhiên vai trò thực chiến của các đơn vị tượng binh, kỵ binh, và vũ khí "voi lửa" đến đây kết thúc.
4. Súng hỏa hổ
Ngoài "xe tăng voi lửa" kể trên, binh lính Tây Sơn còn được trang bị một loại vũ khí cá nhân là Hỏa hổ. Hỏa hổ là một loại vũ khí hình ống, một loại súng phun lửa có thể biến địch thành "cây đuốc sống". Khi lâm trận, trong ống Hỏa hổ bắn nhựa thông ra, trúng phải đâu là lập tức bốc cháy. Loại vũ khí đặc biệt này được trang bị cho cả quân chủng lục quân và thủy quân của nhà Tây Sơn.
Theo sách binh pháp "Binh thư yếu lược" tương truyền của Trần Hưng Đạo, cách chế là như sau: Dùng một chiếc ống (bằng sắt hoặc bằng tre, gỗ) dài khoảng 25cm, nạp thuốc thành nhiều nấc. Nấc đầu tiên là liều thuốc bắn, giã nén chặt dày khoảng 4cm, sau đó tiếp nấc thứ hai là liều thuốc phun, giã nén chặt, dày khoảng 12cm. Sau đó, nạp đạn ghém gồm các vật liệu sát thương, dày khoảng 4cm. Phần ống còn lại nạp dầy thuốc phun. Gặp địch, người dùng Hỏa hổ châm ngòi, cầm cán tre chỉa vào, thuốc phun và đạn sẽ phóng ra đốt cháy sát thương đối phương. Dùng xong lại có thể lấy ống đó nạp liều thuốc khác.
Sách binh pháp "Hổ trướng khu cơ" của quân sư Đào Duy Từ (mưu sĩ hàng đầu được các chúa Nguyễn trọng dụng nhất trong cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh) ghi: Hỏa hổ chính là hỏa tiễn, vì lửa cháy dữ dội, nên gọi là hỏa hổ. Sử sách trong Quốc sử quán nhà Nguyễn đời Minh Mạng còn gọi Hỏa hổ là hỏa phún đồng.
Sau khi quan sát, suy luận, phân tích, các nhà nghiên cứu cho rằng loại vũ khí này được cải tiến từ các hỏa thương và hỏa đồng (ống lửa) hạng nhỏ thời Lê sơ. Trong tay nghĩa quân Tây Sơn, nó được dùng một cách tập trung, ồ ạt, tạo thành hỏa lực giáp chiến hết sức lợi hại, một loại vũ khí chiến lược.
Điều ấn tượng là vua Quang Trung đã chế tạo ra súng Hỏa hổ bằng những ống tre, trở thành một vũ khí cá nhân có tính sát thương cao. Nếu đem so với những khẩu súng hỏa đồng của quân chúa Trịnh hay súng pháo lớn cần hàng chục người khiêng của nhà Minh, nhà Thanh thì sáng tạo này của Quang Trung đã bỏ xa những phe kia cả về trình độ công nghệ lẫn tác dụng thực chiến.
Hỏa thương là một loại súng cầm tay sơ khai của bộ binh. Đó là một ống nhỏ có bầu đựng thuốc súng và nòng súng, khai hỏa bằng cách châm ngòi dẫn.

Hỏa đồng có cách hoạt động giống hỏa thương, nhưng có kích thước lớn hơn và được đặt trên bệ cố định. Nó sát thương bằng cách phun lửa chứ không dùng đạn.
Quân Thanh khi chuẩn bị kéo sang xâm lăng nước ta, trong 8 điều quân luật do Tôn Sĩ Nghị và các tướng biên soạn, có điều thứ 5 để chống lại súng Hỏa hổ như sau: "Quân Nam không có sở trường gì khác, toàn dùng ống phun lửa làm lợi khí, gọi là hỏa hổ. Khi hai quân giáp nhau, trước hết họ dùng thứ đó để đốt cháy quần áo người ta, buộc người ta phải rút lui. Nhưng tài nghệ của họ cũng chỉ có thế thôi, so với súng ống của ta thì họ kém rất ra. Hiện nay, ta chế sẵn vài trăm lá chắn da trâu sống. Nếu gặp Hỏa hổ của người Nam phun lửa, thì quân tay cầm lá chắn ấy đỡ lửa một tay cầm dao chém bừa chắc rằng chúng bỏ chạy tan tác".
Một số tài liệu cũng cho biết, trong bộ chiến, vua Quang Trung thường dùng voi lửa phá tan kỵ binh địch không còn manh giáp, và dùng súng Hỏa hổ gây rối loạn bộ binh địch, rồi xông lên giáp chiến xáp lá cà.
Còn trong thủy chiến, ngài rất hay dùng lối đánh giáp công áp sát để hạn chế sức sát thương của đại bác địch, rồi triển khai hỏa công để đốt tàu địch, dùng một biến thể của Hỏa hổ có tên là "Rồng cỏ", vốn là một loại bãi cháy dùng đánh hỏa công để vây đốt binh thuyền của địch, mà điển hình và ngoạn mục nhất là trận đánh hỏa công do Nguyễn Huệ chỉ huy, đã đốt cháy tàu chiến của Nguyễn Ánh, Bá Đa Lộc ở chiến trường Gia Định năm 1782.

Hỏa cầu được nhà quân sự Đào Duy Từ sáng chế dựa trên kỹ thuật hỏa khí phương Tây.
Ngoài súng Hỏa hổ, quân Tây Sơn còn dùng Hỏa cầu (Lưu hoàng) để phụ trợ cho Hỏa hổ. Hỏa cầu là loại trái nổ dùng để ném, có tác dụng và hiệu quả gần như lựu đạn. Tùy vào chất nạp mà trái nổ có thể tạo ra khói độc, nhựa cháy, hoặc mảnh vụn sát thương.
Hỏa hổ và hỏa cầu, hai loại vũ khí cá nhân rất "bá đạo" của quân Tây Sơn làm khiếp đảm các thế lực thù trong giặc ngoài, góp phần vào trận đại thắng quân Thanh xuân Kỷ Dậu 1789, giải phóng Bắc Hà, tạm thống nhất đất nước.
Số phận của loại vũ khí này:
Dưới thời vua Quang Trung, nhà Tây Sơn có được lòng dân, cộng với thiên tài quân sự của nhà vua nên các công dụng lợi hại của súng Hỏa hổ được phát huy lên cao nhất. Sau khi vua băng hà, các tướng lĩnh Tây Sơn bị sốc nặng, không ai phục ai, đấu đá nhau tranh giành quyền lực và quyền vị. Vua mới còn nhỏ không đủ sức trị vì. Bên trong quyền thần Bùi Đắc Tuyên độc đoán, chuyên quyền, khiến cho quần thần nhiều người bất phục, dị nghị. Nhà Tây Sơn mất dần lòng dân.
Không còn dân, không còn thiên tài quân sự Quang Trung - Nguyễn Huệ, súng Hỏa hổ cũng không còn phát huy tác dụng thích hợp. Hơn nữa người Pháp và Bá Đa Lộc không ngừng viện trợ các loại vũ khí hiện đại tối tân của Pháp cho quân Nguyễn. Súng Hỏa hổ dần trở nên lạc hậu, lỗi thời, thất thế trước các súng trường và đại bác phương Tây.

Hỏa hổ (giữa ảnh)
Sau khi chiến thắng, chiếm được ngai vàng và lên ngôi, vua Gia Long cho dẹp hết các loại vũ khí có thể gợi nhớ đến biểu tượng Tây Sơn, phổ biến và sử dụng các trang bị, vũ khí của châu Âu. Cuộc cách mạng về công nghệ, công nghiệp, hỏa khí ở châu Âu càng làm cho súng Hỏa hổ, Hỏa cầu, và cả mẫu súng thần công của Hồ Nguyên Trừng mà quân chúa Trịnh hay dùng đều trở thành "đồ cổ".
Tuy nhiên, súng Hỏa hổ vẫn còn ý nghĩa lịch sử, mỗi khi nghe tới nó khiến người ta không khỏi bồi hồi nhớ tới những chiến công xưa vô cùng hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, đội quân áo vải cờ đào Tây Sơn, và các tướng lĩnh Tây Sơn lừng danh một thuở.
5. Súng ngựa trời


Đây là loại vũ khí tự chế, thô sơ có hình con bọ ngựa, bắn các mảnh kim loại, đinh, miểng chai, đá vụn để sát thương địch. Cấu tạo gồm: Nòng súng bằng kim loại (ống nước, ống tôn), đáy nòng bịt kín (hàn hay đập dẹt) đặt trên hai chân chống, gần đáy nòng khoan một lỗ để lắp cơ cấu cò hay bộ phận phát hỏa đơn giản. Cơ cấu cò đơn giản kiểu bẫy chuột.
Trong nòng nhồi thuốc phóng (thường dùng thuốc đen), tấm đệm bằng gỗ và các mảnh gang, sắt, mảnh sành, miểng chai, đinh, đá, bi xe đạp.... (ngâm nọc rắn, nước tiểu). Cự ly phóng mảnh tới 150 mét, sát thương địch khoảng cách tới 100 mét. Súng ngựa trời xuất hiện lần đầu ở Bến Tre trong cao trào Đồng khởi năm 1960.


Dụng cụ chế tạo vũ khí của quân giới miền Tây Nam Bộ trong thời gian đầu chống Mỹ
Năm 1960, trước bối cảnh miền Bắc chưa có điều kiện và khả năng chi viện nhiều cho miền Nam, đưa tới tình trạng miền Tây Nam Bộ và Bến Tre thiếu thốn vũ khí nghiêm trọng, và trước tình hình Mỹ-ngụy tăng cường càn quét liên tục, gây nhiều tội ác, giết người, đốt nhà, gom dân, hãm hiếp, súng ngựa trời đã được chế tạo để phục vụ cho nhu cầu tự vệ của quân dân Bến Tre và còn để giải quyết phần nào sự thiếu hụt vũ khí trầm trọng của Bến Tre.
Từ động cơ đó, các công trường sản xuất vũ khí lần lượt được xây dựng. Công trường tỉnh đặt ở xã Bình Khánh do hai ông Ba Tam và Ba Thành phụ trách đã sản xuất và thử nghiệm thành công "súng ngựa trời". Trận chiến đầu tiên súng ngựa trời xuất hiện không phải là một trận chống càn, mà chính là một trận tấn công, đó là trận đại đội 264 chủ động chặn đánh Mỹ-ngụy ở An Thạnh, An Hóa (xã Bình Khánh) vào đầu năm 1960.
Từ đó, không chỉ dùng cho phòng thủ chống càn, súng ngựa trời trong nhiều trường hợp còn được dùng để chủ động công kích, như trận phục kích ở ấp 6 Phước Hiệp, Bến Tre, năm 1960. Đó là địa điểm mà quân dân Bến Tre đoán chắc nhất định giặc sẽ đi qua. Họ liền tập trung số lượng lớn súng ngựa trời, đào công sự sát bờ mía, lấy lá mía ngụy trang trận địa. Khi Mỹ-ngụy lọt vào trận địa, các kiểu súng ngựa trời nổ đồng loạt vào đội hình của giặc. Du kích địa phương từ các hầm nhảy lên dùng mã tấu đánh giáp lá cà. Bị bất ngờ, Mỹ-ngụy tên nào còn sống sót là ném hết súng tháo chạy tán loạn.
Loại súng này sau đó được phổ biến rộng rãi ở miền Nam Việt Nam và được dùng rộng rãi ở miền Nam, đặc biệt sử dụng để tác chiến chống càn trong chiến tranh du kích ở đồng bằng sông Cửu Long đầu những năm 60 của thế kỷ 20. Trong trận Phú Ngãi năm 1961, các đội nữ du kích huyện Ba Tri (Bến Tre) chỉ dùng súng ngựa trời mà chặn đứng, đánh lui một trận càn của quân đội Sài Gòn và các sĩ quan Mỹ.
Có hơn 40 kiểu súng ngựa trời, từ cực kỳ thô sơ (châm ngòi) đến hơi hiện đại (điểm hỏa điện), sau đây là một số kiểu thường thấy:


Bản gốc

Súng ngựa trời mà nhân dân huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre dùng để bắn chết 7 tên giặc năm 1960. Bản đã sơn sửa.

Súng ngựa trời quân đội Sài Gòn cướp được ở Kiến Tường năm 1961. Họ trưng bày chiến lợi phẩm ở Sài Gòn và chú thích là "hàng Trung Cộng". Lưu ý: Tất cả các vũ khí do quân giới Việt Nam chế tạo sau khi lọt vào tay ngụy và đem trưng bày, nếu vũ khí nào trông hiện đại thì họ chú thích là "hàng Nga Sô", còn vũ khí nào trông thô sơ thì họ chú thích là "hàng Trung Cộng".
Số phận của loại vũ khí này:
Về sau với sự viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc, Đông Âu (nhất là Đông Đức), Bắc Triều Tiên và các đồng minh XHCN cho Việt Nam và sự chi viện từ Bắc vào Nam được đẩy mạnh, thì miền Nam dần không còn phải dùng tầm vông vạt nhọt, mã tấu, súng ngựa trời và các loại súng tự chế thô sơ để chống giặc. Súng ngựa trời về sau chỉ còn tồn tại trong viện bảo tàng và là một biểu tượng tồn tại trong ký ức của nhân dân về tinh thần tự lực tự cường trong kháng chiến chống xâm lược.
Thiếu Long(tổng hợp)
Cao Thắng là người nổi tiếng vì đã nghiên cứu và chế tạo được những khẩu súng giống súng trường của Pháp, góp phần tạo nên sức mạnh của nghĩa quân Phan Đình Phùng trong những ngày đầu chống thực dân Pháp.Cao Thắng (1864 – 1893), người huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Thuở nhỏ ông thông minh, nhanh nhẹn, đặc biệt thích học võ nghệ và binh thư, ham tập võ và săn bắn. Năm 1885, cụ Phan Đình Phùng hưởng ứng chiếu Cần vương, nổi lên khởi nghĩa, Cao Thắng đem theo 60 thủ hạ, gia nhập nghĩa quân và được phong chức quản cơ. Lúc đầu nghĩa quân cụ Phan rất thiếu súng đạn, quân ta chỉ có súng kíp, nạp đạn ở đằng nòng, bắn xong một phát lại phải nạp đạn lại, rất nhiêu khê và mất thì giờ. Cao Thắng chỉ mong có một khẩu súng của thực dân Pháp để học kiểu. Thế rồi dịp may đã đến.

Cao Thắng chỉ huy tốp thợ rèn đúc được 350 khẩu súng, giống y như súng trường Pháp kiểu 1874.
Bấy giờ trên trục đường từ Vinh đi Hương Sơn có nhiều đoạn phải xuyên qua núi rừng hiểm trở, hai bên lau sậy bạt ngàn, ở giữa là một con đường độc đạo. Một buổi chiều, có một toán lính gồm hai viên quan Pháp và 15 lính nguỵ mang súng áp tải một hòm bạc để phát lương cho lính đóng ở đồn Phố Châu.
Tại vùng lau sậy rậm rạp, Cao Thắng đã bố trí mấy chục tráng sĩ, tay cầm đoản đao mai phục. Khi toán lính đi vào trận địa phục kích của ta, Cao Thắng nổi pháo hiệu, quân ta nhất tề xông ra.
Bị bất ngờ, hai tên sĩ quan và 15 lính nguỵ bị tiêu diệt gọn tại chỗ. Ta thu được 17 khẩu súng trường, hơn 600 viên đạn và mấy ngàn đồng bạc.
http://xmedia.nguoiduatin.vn/public/data/images/xuanhong/VANHOA/2012/nguoiduatin-t21321.jpgCao Thắng cho tập trung những thợ rèn giỏi ở trong vùng lại. Ông tự tay tháo một khẩu súng ra thành từng mảnh, xem xét kích thước, công dụng của từng bộ phận, rồi đốc thúc thợ rèn cứ theo đúng kích thước mà làm, nếu hỏng lại rèn lại… cho đến kỳ được mới thôi.
Trong mấy tháng ròng rã, Cao Thắng chỉ huy tốp thợ rèn đúc được 350 khẩu súng, giống y như súng trường Pháp kiểu 1874.
Súng của Cao Thắng giống của Pháp đến mức, sau này khi  cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng thất bại, một số khẩu súng của nghĩa quân được đưa về Pháp, hai loại súng đó để gần nhau không thể phân biệt được.
Đại uý Pháp Gosselin lúc bấy giờ viết: “Tôi có đem nhiều khẩu súng đó về bên Pháp, xem nó giống đủ mọi vẻ như súng của các xưởng binh khí nước ta (tức Pháp) chế tạo. Đến nỗi tôi đưa cho các quan binh pháo thủ của ta xem, họ cũng không phân biệt được, chỉ hiềm nó khác súng của ta có hai chỗ này thôi: ruột gà không đủ sức mạnh và trong lòng súng không có rãnh xoáy”.
Ta biết rằng, trong rừng sâu, thiếu thốn đủ thứ, lại bị phong tỏa bốn bề, nghĩa quân phải dùng gọng ô uốn lại mà làm ruột gà nên độ đàn hồi của lò xo không đủ mạnh. Sắt thì cho người bí mật đi các chợ quê mua gom sắt vụn, cày hư, cuốc hỏng về rèn lại.
Còn vỏ đạn thì góp nhặt những mâm đồng, nồi đồng, đập dẹp, dát mỏng mà cuốn lại. Thật là một sự sáng tạo tuyệt vời. Số súng này cộng thêm 150 khẩu súng kíp của nghĩa quân có từ trước thành 500 khẩu, quả là một hỏa lực mạnh trong buổi đầu của nghĩa quân lúc bấy giờ.
Cao Thắng mất năm 1893 trong một trận tấn công xuống huyện Thanh Chương. Năm ấy ông mới 29 tuổi. Sự hy sinh của ông là một tổn thất lớn của nghĩa quân Phan Đình Phùng.
Ngày 29-7, trong quá trình sưu tầm hiện vật văn hóa – lịch sử trên địa bàn huyện Đức Thọ, cán bộ Bảo tàng tỉnh Hà Tĩnh đã phát hiện tại gia đình của ông Phạm Quang Minh, ở xóm Hội Đông, xã Tùng Ảnh đang lưu giữ một khẩu súng kíp và chiếc tù và cổ rất độc đáo.
Khẩu súng kíp này nặng khoảng 4 – 6kg, chiều dài 1,3m, phần nòng, cò được làm bằng chất liệu thép, thân và báng súng đều bằng gỗ… Còn chiếc tù và được làm bằng sừng trâu màu đen rắn chắc, trọng lượng khoảng 2kg, dài 40cm, có 2 lỗ nhỏ ở đầu sừng và một lỗ ở giữa thân.

Bài viết hay(890)


Đảng Cộng Hòa thắp đuốc kiếm người
 Tổng thống Barack Obama nay dường như đang gặp vận hên, ăn Tết Tây và Tết ta đều vui vẻ. Trong tháng Chạp, hai viện của Quốc Hội từ ngày 18-12 đã thông qua được dự luật ngân sách cho phép một kế hoạch chi tiêu của chính phủ có thể kéo dài đến hai năm mà không đặt ra mối đe dọa nào chính phủ sẽ phải đóng cửa trong thời kỳ này. Sự hợp tác, hay thỏa hiệp lưỡng đảng đã thể hiện rõ nơi con số phiếu biểu quyết chấp thuận: tại Thượng Viện: 64-36; tại Hạ Viện: 332-94. Hãng tin CNN mừng đến chảy nước mắt khi thấy hai đảng hiếu hòa với nhau, nhà báo Ted Barrett và Tom Cohen viết: “Lần đầu tiên trong một thời gian dài như bao thế kỷ, Quốc Hội đã thông qua một kế hoạch chi tiêu của chính quyền mà không phải trải qua sự níu kéo trên bờ vực vào phút chót như những cuộc thương lượng vào nửa đêm để tránh việc chính phủ phải đóng cửa”. Thứ Sáu vừa qua, tức một tuần trước khi đưa ông táo về chầu Trời, Tổng thống Obama lại ký ban hành một dự luật chi tiêu của chính phủ ở mức 1.100 tỷ, giúp nhà nưóc có ngân khoản cho đến hết năm tài chánh 2014 – tức cuối tháng Chín năm nay! Một lần nữa, hai viện trước đó đã thông qua nhanh chóng dự luật này, và một lần nữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa hợp tác quá chặt chẽ đến mức người ta đang tự hỏi một chương mới đã được mở ra khi nào không hay trong lịch sử chính trị nước Mỹ!
Thượng Viện trước đó một ngày đã thông qua dự luật này với số phiếu 72-26, và người ta cũng mô tả đây đúng là “một sự giã từ đáng ghi nhận những cuộc chiến ngân sách thường xuyên do sự phân hóa đảng phái thúc đẩy trong những năm gần đây – như biến cố chính phủ đóng cửa vào tháng Mười năm ngoái”.  Trước một ngày Thượng Viện bỏ phiếu, Hạ Viện cũng đã thông qua dự luật công chi này với số phiếu còn mạnh mẽ hơn: 359-67. Và nhiều nhân vật của hai đảng đã nhanh chóng tán dương qua lại. “Những nỗ lực này cho thấy người Dân Chủ và Cộng Hòa có thể làm việc với nhau vì lợi ích của đất nước… Chúng ta có thể tránh những tình huống kịch tính… chênh vênh bên bờ vực tài chánh và đóng cửa chính quyền,” chính là kết luận của bà Barbara Mikulski, chủ tịch của Ủy ban Chuẩn chi Thượng Viện. Đáng ghi nhận là ngân sách này cho phép tăng lương lính và công chức đồng loạt 1%: Cộng Hòa muốn tăng lương quân nhân, Dân Chủ muốn tăng lương công chức. Hòa!

Chuyện gì đã xảy ra khiến cho quan hệ giữa hai đảng từ chỗ thâm thù nay trở thành thâm giao?
Từ giữa năm 2010, trong quần chúng chính trị đảng Cộng Hòa đã rộ lên phong trào Trà Hội để chống Obamacare - luật cải tổ hệ thống y tế - mà người xướng xuất là Tổng thống Barack Obama. Để lôi cuốn sự tham gia của đông đảo quần chúng và giới chính khách ở Capitol Hill, phong trào bảo thủ và giáo điều tài chánh này (fiscal conservative) đã mở rộng phạm vi tấn công qua những chuyện như thiếu hụt ngân sách, các chương trình phúc lợi xã hội làm cho chính phủ phình ra, và cả các mục tiêu chống đối của khuynh hướng bảo thủ xã hội (social conservative): hôn nhân đồng tính, phá thai, ngừa thai… Trong lịch sử cận đại chưa một tổng thống Dân Chủ nào bị phía Cộng Hòa trù dập đến mức đó, đến mức có người phải hỏi phải chăng tại vì ông Obama không cùng màu da với họ cho nên người ta chẳng có chút nương tay - mặc dù phong trào Ku-Klux-Klan đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật từ năm 1871?
Trong ba năm qua, chính quyền Obama đã phải điêu đứng vì nhóm dân biểu Trà Hội –khoảng 60-70 người - của đảng Cộng Hòa. Bao nhiêu điểm mấu chốt trong ngân sách của Obama đều bị bỏ qua một bên để cho được việc, trong khi những khoản cắt kinh phí cho các chương trình phúc lợi xã hội mà phía Cộng Hòa đề nghị đã không được động đến. Tuy nhiên, khi Tea Partiers đi quá trớn, những người này đã không hiểu họ đã “abuse” và “harrass” (giống như trường hợp lạm dụng hay quấy nhiễu tình dục – sexual abuse/harrassment) ngay chính đảng Cộng Hòa của họ và cử tri. Kết quả thăm dò dư luận cùng một vài cuộc bầu cử trong năm 2013 đã cho ta thấy phản ứng của dân chúng trước sự tê liệt của một Quốc Hội (a do-nothing Congress) không làm việc do chủ trương phá hoại của nhóm Trà Hội.
Giọt nước tràn ly - đối với người Cộng Hòa – sau vụ chính phủ đóng cửa trong cả hai tuần đầu tháng Mười năm ngoái, thế nhưng âm mưu hủy bỏ luật cải tổ y tế của nhóm Trà Hội vẫn thất bại thảm hại. Những người Cộng Hòa cảm thấy tự ái vì các phần tử Trà Hội coi họ như không có. Dường như đã đến lúc đa số Công hòa chính thống và chủ trương đi theo con đường thỏa hiệp có tính truyền thống đã thấy phải cắt chiếu với những người Trà Hội hung hãn và kiêu căng. Từ giữa tháng 11, những người lãnh đạo hai đảng đồng ý cùng đi theo khảo hướng mới, không xung đột đối đầu công khai nữa và lẳng lặng đóng cửa bàn bạc giải pháp thỏa hiệp.
Như luật ngân sách 1.100 tỷ Tổng thống Obama vừa ban hành cho thấy, hai bên đều nhượng bô qua lại. Phía Dân Chủ được kinh phí tiếp tục cho Obamacare và được tăng chi tiêu đáng kể cho chương trình Giáo dục Bước đầu (Head Start - cho trẻ em nhà nghèo) và chương trình tâm thần. Phía Cộng Hòa cũng thỏa mãn tự ái khi duy trì được khoản cắt ngân sách cho Cơ quan Bảo vệ Môi sinh và ngành thuế.
Đã có 26 trong tổng số 43 thượng nghị sĩ Cộng Hòa bỏ phiếu chống luật ngân sách này, tương đương với 60%. Trong khi đó, tại Hạ Viện, chỉ có 67 phiếu chống trên tổng số 426 người biểu quyết. Tất cả 67 người này đều là phần tử Trà Hội, tương đương với 15% số ghế trong Quốc Hội và 28.5% của phe Cộng Hòa nắm đa số tại Ha Viện. Tờ The New York Times ghi lại phản ứng của nhóm “Những Nhà Ái Quốc Trà Hội”, mà người phát biểu là Jenny Beth Martin, điều phối viên toàn quốc của tổ chức này. “Phải chăng Quốc Hội chẳng học hỏi được gì từ tai họa Obamacare? Chúng ta cần những thành viên tại Hạ Viện và Thượng Viện sẵn sàng giữ lời hứa khi ra tranh cử, đấu tranh cho ngưòi dân và bảo vệ người Mỹ trước não trạng của Washington, đánh thuế, vay mượn và chi tiêu, chi tiêu, và chi tiêu”. Nhưng liệu bà này nói ai nghe, khi người ta đã nghe chán luận điệu đó trong mấy năm qua và nay họ phải thực tế nhìn cuộc bầu cử Quốc Hội, Thượng Viện cuối năm nay, và cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2016. Dân biểu Cộng Hòa Mike Simpson thuộc tiểu bang Idaho đã trả lời lại: “Nếu tôi cứ bỏ phiếu theo cách họ muốn, thay vì bỏ phiếu theo lương tâm, thì họ đúng là bên thắng cuộc rồi”. Năm nay, đối thủ chính của Simpson không phải là một ứng cử viên Dân chủ mà chính là một người theo Trà Hội trong vòng sơ bộ của đảng. Ứng cử viên này được xem là rất dồi dào tiền bạc vận động, nhưng ở đơn vị Idaho này, cử tri Cộng Hòa đã chán ngấy Trà Hội.
Hậu quả của những “xáo trộn nội bộ” của đảng Cộng Hòa chỉ có thể được cảm nhận đầy đủ vào cuối năm nay, khi người ta đã đi bỏ phiếu vào tháng 11. Tuy nhiên, ngay trước mắt, khi nhìn đến cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2016, với đảng Dân Chủ dường như chẳng có mấy khó khăn khi đi tìm ứng cử viên, đảng Cộng Hòa có thể sẽ phải đốt đuốc đi tìm người hiền!
Chúng ta hãy điểm danh những người lâu nay vẫn được xem sẽ ra tranh cử tổng thống trong năm 2016 để thấy bao nhiêu ngôi sao đã lóe sáng và rồi lịm tắt.
Thượng nghị sĩ Marco Rubio của tiểu bang Florida nghĩ rằng mình trẻ, khỏe, đẹp trai, Hispanic, Trà Hội, có lẽ trong thâm tâm chỉ sợ ông Jeb Bush. Nhưng người Latino nào sẽ bỏ phiếu cho ông khi ông đã tự ngoảnh mặt với chính mình: nay ông không còn dám tha thiết với dự luật di dân mà ông từng chủ xướng và bảo trợ vì gặp sự chống đối của phe bảo thủ. Những người Cộng Hòa nào quên được ông là hội viên có thẻ của Tea party khi nghe ông phát biểu về vấn đề bất bình đẳng xã hội cho rằng xóa đói giảm nghèo là chuyện phù phiếm!.

Thượng nghị Rand Paul là thủ lĩnh của không chỉ Trà Hội mà còn của đảng Tự Do Libertarian, một đảng từng phát biểu chính thức: sự bất bình đẳng xã hội là do người da đen đã phá vỡ nền tảng và giá trị gia đình của xã hội Mỹ khiến cho phát sinh tâm lý ăn bám và có quá nhiều single moms không đủ khả năng tự nuôi sống, đừng nói đến chuyện lo lắng giáo dục cho con trẻ. (Bởi vậy mà có chương trình Head Start)!  Cha Rand là Ron vì những quan điểm bất hủ đó mà chưa hề lọt vào được vòng trong trong những lần ra tranh cử tổng thống trước đây!
Thượng nghị sĩ Ted Cruz thuộc tiểu bang Texas vẫn muốn làm con chim đầu đàn của Trà Hội, nhưng như nhận xét của Dân biểu Peter King, là một “thằng dởm” (a fraud), nói chẳng ai nghe. Lời ông vua nói từ tháng Chín năm ngoái, đến nay chẳng sai: ngày thứ Năm tuần qua, Ted Cruz, người từng nói liên tiếp 21 giờ không nghỉ tại diễn đàn Thượng Viện nhằm ngăn chận  kinh phí cho Obamacare, lại đưa ra một đề nghị phong tỏa kinh phí cho… obamacare.  
Một nhân vật cho đến gần đây được xem là sáng giá vì quan điểm thực tế có thể chinh phục được cử tri của cả hai đảng là Thống đốc Chris Christie của tiểu bang New Jersey. Nhưng nay thì người ta đang thấy sự nghiệp chính trị của ông có thể sớm chấm dứt vì bao nhiêu vụ tai tiếng dồn dập bắt đầu từ chuyện phong tỏa một cây cầu để “chơi” một ông thị trưởng theo đảng Dân Chủ. Sau đó là chuyện lạm dụng quỹ cứu trợ thiên tai Sandy của liên bang cho chuyện tự quảng cáo. Và đầu tuần này, dư luận sôi nổi cực kỳ trước tin một bà thị trưởng của thành phố Hoboken bị bà phó thống đốc bắt ủng hộ một dự án đầu tư của tiểu bang mới được nhận tiền cứu trợ này.
Dĩ nhiên, đảng Cộng Hòa vẫn còn người. Nhưng nổi bật ở mức độ quốc gia thì còn mấy ai? Jeb Bush? Thống đốc Scott Walker của Wisconsin? Thống đốc gốc Ấn Bobby Jindal của Louisiana? Thống đốc Suzane Martinez của New Mexico? Hay Rick Santorum vớ vẩn? Khi thấy ông Mike Huckabee, cựu thống đốc của Arkansas, nay muốn ra nữa, thì chúng ta có thể thấy một tình thế tuyệt vọng đến mức đang dẫn đến sự ló dạng của chủ nghĩa cơ hội mặc may!
Năm 2008 đảng Cộng Hòa đã thấy rằng họ chọn sai người khi đưa ông John McCain, thượng nghị sĩ “maverick” (không giống ai) của Arizona vào đường đua, lý do là vì ông đúng là “chẳng giống ai” khi chọn bà Sarah Palin đứng chung với ông. Bốn năm sau, một lần nữa đảng Cộng Hòa lại chọn sai người, nhưng lỗi lầm lần này dường như còn lớn hơn bởi vì, như người ta có thể kết luận sau khi xem phim “MITT” về cuộc vận động tranh cử của ông Mitt Romney trong hai năm 2011-12, ứng cử viên này quá khép kín và thoải mái với “vòng trong” của đời mình cho nên khó vươn ra đượọc bên ngoài đề hiểu chuyện đời cho thấu đáo.

Đảng Cộng Hòa nay đang bị ám ảnh bởi một thành ngữ quen thuộc của Pháp “Jamais deux sans trois”!HOÀNG NGỌC NGUYÊN
Việt Tribune
Người nghèo thì bao giờ mà chúng ta chẳng có!

Ngày thứ Tư tuần vừa qua, người ta kỷ niệm 50 năm cố Tổng thống Lyndon Baines Johnson phát động “cuộc chiến chống nghèo đói” - chỉ vài tuần sau khi ông kế nhiệm Tổng thống John F. Kennedy bị ám sát chết ở Dallas. Trong bức thông điệp “Tình hình Liên bang” (State of the Union) trước lưỡng viện Quốc Hội vào ngày 8-1-1964, ông thông báo “Chính quyền này ngày hôm nay, tại nơi này và vào lúc này, tuyên chiến không điều kiện đối với nạn nghèo đói ở nước Mỹ”. Đó là một thời nước Mỹ hậu chiến an bình và thịnh vượng. Vấn đề chủng tộc hầu như duy nhất là người da đen, và chuyện nghèo đói phần lớn cũng là chuyện của người da đen, mà Tổng thống Johnson nhằm vào ba mục tiêu: công ăn việc làm, nhà ở, và giáo dục cho trẻ em. Vào lúc đó, tỷ lệ người nghèo cũng cao, tỷ lệ người già gặp khó khăn cũng cao, và tỷ lệ trẻ em sống trong nghèo đói cũng cao!
 Đương nhiên, nay người ta có dịp nhìn lại quãng đường dài đăng đẳng nửa thế kỷ đó để xem cuộc chiến này đã đi đến đâu. Và có người cho rằng chẳng cần nhìn lại. Cứ nhìn vào thực tế để hiểu nước Mỹ đã đẩy lui được nghèo đói, hay bị nghèo đói lấn tới mức nào. Sự thể như thế là vì trong thời gian gần đây, những người lãnh đạo chính quyền đã không ngưng nói về tình trạng bất công xã hội và kinh tế đang trở nên gay gắt hơn trong thời gian qua, nạn nghèo đói đang đi lên ở con số người thất nghiệp, số người sống trong hoàn cảnh nghèo khó tuyệt đối… Hoàn cảnh hậu suy thoái quả là đặc biệt. Tỷ lệ thất nghiệp còn cao. Số người đi làm thì không hẳn ai cũng có “good jobs”. Thành phần gặp khó khăn đông đúc người trẻ, và giới thanh niên, trung niên mà lao đao thì trẻ con của họ chắc chắn cũng chẳng khá gì.
Những nhà dân cử thuộc đảng Dân Chủ tại Hạ Viện và Thượng Viện đã quyết xem đây là đề tài tranh cử trong năm bầu cử này. Họ đang đòi phải gia hạn trợ cấp thất nghiệp cho những người thất nghiệp lâu dài, cả năm không kiếm được việc làm. Họ cũng đấu tranh cho chuyện gia tăng mức công xá tối thiểu để tầng lớp trung lưu và lao động dễ sống hơn. Và người ta cũng nói đến việc phải nhanh chóng phục hồi chương trình tem phiếu thực phẩm cho những thành phần nghèo quá mức. Tổng thống Barack Obama tuần tới đây sẽ đọc thông điệp “Tình hình Liên bang” năm 2014 của ông. Chắc chắn đây sẽ là đề tài chính trong bài diễn văn này.          
Cuộc chiến chống đói nghèo là một đề tài hấp dẫn, lại gặp lúc các nhà dân cử trở lại sau kỳ nghỉ Giáng Sinh và Năm Mới phủ phê thỏa thuê, cho nên người ta phải rất mạnh miệng nói lên những lời nhân nghĩa. Bởi thế, cũng chẳng có gì lạ khi nhiều dân biểu và thượng nghị sĩ thuộc đảng Cộng Hòa nay cũng mạnh dạn lên tiếng “quyết liệt” về vấn đề này. Năm nay là năm bầu cử, và người Cộng Hòa vẫn bị mang tiếng chẳng những tránh né mà còn làm cho vấn đề này thêm trầm trọng. Nay không nói, còn lúc nào nói nữa. Còn làm thế nào lại là chuyện khác!
Đương nhiên, những người Cộng Hòa có cách nhìn khác, cách nói khác về vấn đề nghèo đói của nước Mỹ. Thượng nghị sĩ Marco Rubio của tiểu bang Florida, có khuynh hướng chính trị của Trà Hội, nói rằng giấc mơ nước Mỹ nay đã “ngoài tầm tay” của di dân vì cuộc chiến chống nghèo đói đã thất bại, với ngụ ý rằng cuộc chiến này là của người Dân Chủ, do đó phía đảng Cộng Hòa không có trách nhiệm gì trong sáng kiến này và thất bại của nó. Thượng nghị sĩ Mike Lee của tiểu bang Utah, thêm một phần tử Trà Đảng, thì cho rằng cải cách những chương trình phúc lợi của chính phủ phải là “ưu tiên hàng đầu” của đất nước. Đối với Dân biểu Paul Ryan, chủ tịch Ủy ban Ngân sách Hạ Viện, người từng đứng phó cho ông Mitt Romney ra tranh cử tổng thống năm 2012, mạng lưới an toàn xã hội của chính phủ đã “hỏng” một cách tơi tả. Những nhân vật Cộng Hòa cho rằng chính phủ Obama ưa nói về chuyện chống nghèo đói, nhưng đã thất bại trong việc giải quyết “tận gốc rễ”, “từ cấu trúc” của vấn đề. Chính sách lạc hậu và bất lực, không tạo ra cơ hội, không thúc đẩy sự thăng tiến xã hội…
Nói như thế, những Người Cộng Hòa muốn đưa ra những giải pháp của họ, nhưng hầu như giải pháp nào cũng vừa thiếu nội dung cụ thể, không xét đến hiện trạng kinh tế-xã hội của Mỹ, và cho người ta cảm tưởng những nhà chính trị này chỉ có một mục đích là làm tan vỡ những chương trình xã hội hiện có. Chẳng hạn như ông Lee, ông định đưa ra một dự luật nhằm cho tiểu bang nhiều quyền hạn hơn kiểm soát chương trình Medicaid, tức chương trình bảo hiểm y tế cho người nghèo, hạn chế những chương trình giáo dục cho trẻ em trước khi vào tiểu học (pre-schooling). Dự luật của ông cũng nhằm siết lại chương trình tem phiếu thực phẩm. Ông nói “Tôi nghĩ rằng một trong những ưu tiên hàng đầu của chúng ta phải là tìm cách kiểm soát những chương trình liên bang đang có".
Thượng nghị sĩ Rand Paul theo giáo phái chính trị Libertarian (Bảo Thủ Tự Do) thì vẫn điên điên khùng khùng như muôn thuở, ông đề nghị thành lập những “vùng kinh tế tự do” trong đó chẳng có thuế, chẳng có luật lệ, để cho ngưòi nghèo xả lán làm ăn và có cơ hội phất lên! Những người Cộng Hòa chỉ muốn xúc tiến những chương trình “tạo cơ hội” hơn là trợ cấp hay bảo hiểm, và những cơ hội này chỉ mở cho những người kiếm công việc!
Những người Dân Chủ đã chỉ trích sự thiếu chân thực trong những lời phát biểu “đầy thương cảm” của những người Cộng Hòa về cuộc chiến chống nghèo đói nhân dịp kỷ niệm 50 năm này. Trước hết, họ chỉ ra cùng với những lời nói đầy ái ngại đó, thì người Cộng Hòa vẫn làm khác đi: họ ngoảnh mặt với đề nghị mở rộng trợ cấp cho những người thất nghiệp dài hạn; ngưng chương trình tem phiếu thực phẩm ảnh hưởng đến cả gần 50 triệu người; họ chống lại chuyện tăng mức lương tối thiểu… Mặt khác, họ chẳng có đề nghị gì cụ thể trước mắt ngoài chuyên đòi “xóa bàn cờ làm lại”. Và hầu như họ muốn mượn cớ để tạo sức ép cho những chính sách của họ: cắt giảm hơn nữa cho những chương trình xã hội. Nhà bình luận Dana Milbank của tờ The Washington Post đã nói đó là câu chuyện muôn thuở: cuộc chiến của người Cộng Hòa nhằm chống cuộc chiến chống đói nghèo (The Republicans’ war on the war on poverty).
Trước hết, điều đáng được tranh luận chính là câu hỏi: Phải chăng cuộc chiến chống đói nghèo tiêu phí 15.000 tỷ trong 50 năm qua đã thất bại như người Cộng Hòa nói? Phải chăng tình hình nghèo đói ở Mỹ tệ hơn hay chăng – như ông Paul Ryan nói với sự đồng tình của Ủy ban Nghiên cứu Cộng Hòa, là một tổ chức bảo thủ có đến 174 trong tổng số 233 dân biểu Cộng Hòa tại Hạ Viện (75%) là thành viên? Bằng chứng sự thất bại mà họ đưa ra rất đơn giản: số người nghèo đói đã gia tăng 10 triệu trong thời gian 50 năm qua. Theo Michael Tanner, một thành viên của Cato Institute, một tổ chức chính trị theo khuynh hướng Tự Do như cha con Ron Paul, trong năm 2012, chính phủ liên bang chi $668 tỷ cho 126 chương trình chống nghèo đói. Chính phủ tiểu bang và địa phương đưa thêm vào $284 tỷ, tổng cộng lên đến gần ngàn tỷ - “tính ra $20.610 một năm cho một người nghèo ở Mỹ, hay cả $61.830 cho một gia đình nghèo có ba người”. Tuy nhiên, theo tác giả này, ngày nay vẫn còn 15% người Mỹ sống trong nghèo đói, chẳng khá hơn con số ghi nhận được trong năm 1965 (19%) là bao. Cũng theo ông, gần 22% trẻ em sống trong nghèo đói ngày nay. Cách đây gần nửa thế kỷ, con số này là 23%.
Tuy nhiên, theo thống kê chính thức của Văn phòng Ngân sách Quốc Hội, một tổ chức lưỡng đảng, nhờ chương trình chống đói nghèo này mà tỷ lệ dân nghèo ở Mỹ đã giảm đến 1/3: 25.8% vào năm 1967 và 16% ghi nhận vào năm 2012. Theo tính toán của những nhà nghiên cứu, nếu không có những nỗ lực này, tỷ lệ nghèo đói có thể lên đến 31% hiện nay. Tại sao số người nghèo tăng? Năm 1967, dân số nước Mỹ chỉ có 198 triệu – chưa bằng 2/3 dân số hiện nay là 314 triệu. Trong thời gian gần 50 năm, dân số tăng cả 110 triệu người, nhưng dân nghèo chỉ tăng khoảng 5 triệu người! Người ta cũng nói, nếu tính hiệu quả của việc giúp đỡ người nghèo của bao nhiêu chương trình tổng hợp lại, thì số người đủ “tiêu chuẩn nghèo” chỉ còn khoảng 8%. Người ta tính rằng từ năm 1968 đến năm 2012, trung bình mỗi năm có 28 triệu người được “cứu vớt” khỏi mức nghèo tuyệt đối. Cũng đáng ghi nhận, con số người già nghèo khó năm 1960 là vào khoảng 35%. Đến nay, nhờ sự áp dụng hai chương trình An sinh Xã hội và medicare, tỷ lệ này chỉ còn 9%.
Tình hình đã thế thì tại sao phải đặt vấn đề “cuộc chiến chống nghèo đói” vào lúc này?
Vấn đề đặt ra lúc này là vì con số trẻ em sống trong nghèo đói đang lên mức kỷ lục – khoảng 20%, hay 16.7 triệu trẻ em – là một tình hình nghiêm trọng cho đất nước. Số trẻ em bị nguy cơ đói khổ cao một phần do yếu tố xã hội (đến 41% trẻ sinh ra không có cha mẹ kết hôn) một phần là yếu tố kinh tế - nạn suy thoái và thất nghiệp khiến cho lợi tức của giới lao động suy giảm nặng. Trẻ con mà bị nghèo đói, bỏ bê… thì làm sao lớn được? và tương lai đất nước thế nào?
Bởi thế, đặt vấn đề cuộc chiến chống đói nghèo vào lúc này là đi tìm một phương sách mở ra tương lai cho trẻ em bất hạnh. Đồng thời tìm phương kế mở ra cơ hội công ăn việc làm đàng hoàng hơn cho người lớn. Và giải pháp nào được đề ra cũng không được quên đi một thực tế: phải giúp cho người nghèo đứng vững mới bắt họ đi được.
Jim Wallis, một tác giả nổi tiếng về thần học, cũng là một mục sư Tin Lành, trong một tác phẩm xuất bản năm 2005 có tựa “Gods’ Politics” (Chính trị của Thượng Đế), đã nói rằng ông rất tiếc nền chính trị đang bị tha hóa hiện nay là do hai đảng chẳng thực sự đến được với những lời rao giảng của Đức Chúa Trời. “Cánh hữu hiểu sai trong khi cánh tả không hiểu gì cả.” (The right gets it wrong and the left doesn’t get it). Ông lấy một ví dụ về chuyện người nghèo, theo ông lời phán của Đức Chúa Trời là: “Người nghèo thì chúng ta bao giờ chẳng có”, ngụ ý bởi thế những tín đồ ngoan đạo luôn luôn có cơ hội phục vụ Thượng Đế bằng cách đến với người nghèo. Tiếc thay, người thời nay lại hiểu rằng Chúa đã nói thế thì cần gì phải lo cho người nghèo cho thêm mệt, vì đời nào lại chẳng có người nghèo, con người làm gì được để thay đổi chuyện đó![HOÀNG NGỌC NGUYÊN
Việt Tribune

Bài viết hay(889)

Thế giới 2014: Rủi ro kinh tế cao?


Năm 2014 sẽ ra sao, có tươi tốt hơn 2013 hay không? Đây là chủ đề mà các báo, trong số đúp tất niên và tân niên đều tìm hiểu, và đánh giá. Tờ Le Monde trong số ghi ngày 01-02/01/2014 nhìn thấy một bối cảnh không mấy thuận lợi trong hàng tít lớn mở đầu bản tin: “2014, một năm đầy rủi ro tài chính”.
Le Monde lược qua những yếu tố khiến tờ báo không mấy lạc quan: 5 năm sau khủng hoảng tài chính lớn trên thế giới (2008), các rủi ro vẫn đè nặng lên kinh tế toàn cầu. Các nước phương Tây đang trên đường vực dậy, nhưng tất cả đều sẽ lệ thuộc vào sự lèo lái của Ngân hàng Trung ương Mỹ FED.
Còn các quốc gia đang trỗi dậy trong năm qua 2013, đã bị thất thoát vốn nghiêm trọng, và đang tìm một mô hình phát triển mới. Điều đáng ngại nữa đối với các quốc gia này là công nợ tăng lên một cách nguy hiểm: như tại Trung Quốc, nợ công ở địa phương lên đến mức 1/3 GDP.
Riêng vùng đồng euro, dù thoát ra khỏi suy thoái, nhưng tăng trưởng vẫn còn yếu và nợ thì vẫn tiếp tục tăng lên trong nhiều nước của khu vực.
Ở trang trong Le Monde phân tích chi tiết hơn trong bài tựa đề: “2014, một năm đầy rủi ro cho kinh tế thế giới”. Le Monde nhận thấy là kinh tế thế giới quả là đã được vực dậy trong giai đoạn từ 2013 chuyển sang 2014, nhưng không đồng đều.
Mỹ và Anh Quốc, thì có vực dậy thật sự, theo đánh giá giới chuyên gia, như phân tích của kinh tế gia Patrick Artus thuộc ngân hàng đầu tư Pháp Natixis: “Đầu tư cao, đơn đặt hàng đầy ắp, việc làm tăng, hoạt động công nghiệp vươn lên. Kinh tế thật sự vực dậy.”
Ngược lại tại vùng đồng euro, tăng trưởng có vẻ ì ạch cho dù tất cả các nước lớn trong khu vực này đều nối lại với tăng trưởng.
Riêng các nước đang trỗi dậy, trong quý 3/2013 vẫn đóng góp gần ¾ vào tăng trưởng của thế giới, hoạt động kinh tế Châu Á đã chống chọi tốt kể từ sự ‘vùng dậy’ của hoạt động kinh tế Trung Quốc vào mùa hè, nhưng tại những nơi khác thì có phần chậm lại. Tuy nhiên, Le Monde cũng cảnh báo nếu kinh tế Nhật Bản tụt hậu trở lại thì sẽ làm cho các nền kinh tế Châu Á yếu đi. Theo tờ báo, tình hình vực dậy khác biệt như trên sẽ còn kéo dài.
Le Monde cũng nêu lên lo ngại về nguy cơ khủng hoảng hối đoái đối với các nước đang trỗi dậy, như Indonesia, vì không có trữ lượng ngoại tệ tốt, hay Ấn Độ vì tăng trưởng yếu, lạm phát cao. Ngân hàng Trung ương Ấn năm tới đây sẽ phải rất chật vật để đối phó.
Trong lãnh vực tài chính, Le Monde cũng nhìn lại các món nợ địa phương Trung Quốc, mối quan ngại triền miền của chính quyền trung ương Bắc Kinh, và cũng nêu bật khó khăn của Trung Quốc trong việc từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư, vốn đặt nền tảng trên nợ công không kiểm soát được của các địa phương.
Bài báo nhắc lại thông báo của cơ quan kiểm toán Trung Quốc, theo đó nợ của các địa phương đã tăng 67% trong 3 năm qua. 50.000 nhân viên cơ quan đã đến kiểm tra kế toán của 62.000 đơn vị hành chính các vùng. Cộng thêm với nợ của chính quyền Trung ương, nợ công tại Trung Quốc như thế chiếm khoảng 56,2% GDP của nền kinh tế thứ nhì thế giới.
Tờ báo cho là kể từ cuộc khủng hoảng 2008, vấn đề nợ các địa phương là vấn đề nan giải của kinh tế Trung Quốc. Chính quyền địa phương vay nợ để đầu tư vào hạ tầng cơ sở, đường xá, nhà ga, cơ quan chính quyền, khu nhà ở sang trọng, cho phép Trung Quốc duy trì tăng trưởng, giữ được công việc làm.
Le Monde trích lời ông Chu Hải Bân (Zhu Haibin), một kinh tế gia ngân hàng JP Morgan ở Trung Quốc, cho là Trung Quốc không đứng trước một vấn đề khả năng chi trả, mức nợ vẫn có thể giải quyết được, nhưng vấn đề là một số địa phương sẽ không có khả năng thanh toán, trả nợ, và chính quyền Trung ương lại không có những cơ chế rõ ràng để giải quyết vấn đề.

Le Monde nhắc lại là Bắc Kinh chưa bao giờ để ai trong tình trạng không chi trả nợ, tránh cảnh phá sản như thành phố Detroit ở Mỹ. Các ngân hàng nhà nước Trung Quốc cứ cấp tín dụng thêm, không trừng phạt về rủi ro. 60% nợ nêu lên trong báo cáo kiểm toán đáo hạn từ đây đến năm 2015. Một tỷ lệ tương tự đã dược ghi nhận trong kế toán năm 2010 và phải giải quyết vào năm 2013. Chiếc thảm như thế cứ được trải dần ra.

Căng thẳng Nhật-Trung chi phối năm 2014

Báo Les Echos nhìn vào năm mới bắt đầu hôm nay, khi điểm trong hàng tựa về những “cuộc hẹn” trong năm tới đã lưu ý trước tiên đến 4 sự kiện đánh dấu năm 2014: Quan hệ căng thẳng Nhật-Trung, cuộc bầu cử nghị viện Châu Âu, cuộc trưng cầu dân ý ở Scotland và Cúp Bóng đá Thế giới.

Ở Châu Á, Les Echos trong nhận định ngắn gọn, chỉ thấy “leo thang tiếp diễn trong tranh chấp giữa Nhật và Trung Quốc”, với vùng nhận dạng phòng không mới trải dài đến không phận các đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.
Trung Quốc vẫn tỏ ra cứng rắn, nhưng phản ứng của các nước láng giềng như Hàn Quốc – đã mở rộng vùng phòng không - hay máy bay Mỹ vào vùng mà Trung Quốc mở rộng, nhắc nhở Bắc Kinh về thái độ không mấy tán đồng của quốc tế.
Về bầu cử nghị viện Châu Âu vào giữa năm tới, Les Echos cảnh báo rằng có một “bóng ma ám ảnh”: Những phe hoài nghi Châu Âu đang vươn lên mạnh mẽ. Theo các cuộc thăm dò và tiên liệu của giới phân tích, các đảng ‘dân túy’ hay chống đối Châu Âu, từ Pháp, Anh, Ý, Hy Lạp có thể tiến mạnh.
Tờ báo nêu câu hỏi: Thái độ bất bình hiện nay của người Châu Âu do thuế cao, hay vấn đề nhập cư, có thể dẫn đến một cuộc địa chấn chính trị hay không?
Les Echos còn chú ý đến các cuộc bầu cử khác trong năm 2014 tại ba “nước lớn đang trỗi dậy” : Brazil, Ấn Độ, Indonesia. Đối với Brazil, sẽ bầu lại tổng thống, tờ báo nhận định là ngoại trừ xẩy ra biến cố xã hội, bà Dilma Roussef chắc chắn giữ được chiếc ghế.
Còn đối với hai nước kia, Ấn Độ và Indonesia, các đảng cầm quyền có thể gặp khó khăn do tình kinh tế. Trước cuộc tổng tuyển cử Ấn Độ vào tháng 5, đảng Quốc Đại cầm quyền từ 10 năm nay đang bị yếu đi do tình hình kinh tế kém cỏi, lạm phát cao, vật giá leo thang, trong lúc đối thủ là đảng BJP, lại được uy tín. Tại Indonesia bầu quốc hội vào tháng 4 và tổng thống vào tháng 7, tình trạng cũng tương tự.
Một câu hỏi khác cũng tùy thuộc lá phiếu cử tri: đó là Anh Quốc liệu sẽ mất đi 1/3 lãnh thổ của minh? Cử tri Scotland vào tháng 9 tới đây sẽ phải trả lời cuộc trưng cầu dân ý: Có muốn Scotland độc lập hay không?. Theo Les Echos hiện số muốn độc lập không hơn 29%, nhưng cũng một tỷ lệ tương tự còn do dự.
Nhìn về Pháp có gì thay đổi trong cuộc sống hàng ngày: Les Echos nêu một thông tin tích cực: Mức lương tối thiểu Smic tăng 1,1% - tức là lên 9,53 euro/giờ. Thế nhưng giá năng lượng cũng lại tăng, dĩ nhiên là giá thuốc lá tiếp tục tăng đều đặn.
Một thay đổi khác cũng mang tính chất tích cực đó là thời hạn hiệu lực của thẻ căn cước được kéo dài lên 15 năm thay vì 10 năm như hiện nay.-MAI VÂN.Nguồn RFI 
Những câu hỏi cho năm 2014

Chúng ta đã bước qua năm mới, và đương nhiên mọi người ai cũng có nhiều câu hỏi đặt ra cho năm 2014. Bỗng nhiên chúng ta thấy mình đang nhiễm lúc nào không hay nếp sống hiện sinh, chỉ tính từng năm một và không muốn nhìn xa hơn nữa. Thậm chí, người ta ít dùng chữ “sống” mà chỉ mong “sống sót”, tồn tại, trên từng giai đoạn.          
Sau khi qua được một năm 2013 mà nhìn lại chúng ta có thể đều cảm thấy chán ngấy, câu hỏi số một làm mọi người ai cũng phải nôn nao là liệu năm 2014 có khá hơn không, hay cũng chỉ như thế: nội chiến lưỡng đảng dai dẳng, chính phủ đóng cửa, Obamacare làm cho người dân đứng ngồi không yên, chẳng có chuyện gì thực sự nhúc nhích, và Quốc Hội có thể làm thêm một kỷ lục về thành tích vô dụng. Khi giải đáp cho câu hỏi đó, nhiều câu hỏi khác tự nhiên sẽ nẩy sinh. Bởi thế mà những ngày cuối năm đầu năm luôn luôn là dịp xuất hiện của những “chuyên gia kinh tế”, “chuyên gia chính trị” - thứ thiệt cũng như “home-made”, homeless – trong vai trò những người tiên đoán thời cuộc trên Diễn Đàn Chính Trị này.         
Liệu năm 2014 này có khá gì hơn năm vừa qua?          
Khá hơn hay không thì chưa nói được, nhưng hẳn phải rất khác. Năm 2013 là năm đầu tiên của nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống đương nhiệm. Đương nhiên, phía đối lập với tư tưởng phục hận phải tìm cách nắn gân người chủ của Tòa Bạch Ốc, làm cho ông ta bó tay bó chân và hết lừng. Năm 2014 là năm bầu cử giữa mùa, hai đảng đều phải nhìn đến cuộc bầu cử Hạ Viện và Thượng Viện vào đầu tháng 11 năm này, do đó họ phải nhìn đến cử tri sau một năm bỏ bê.         
Như thế, nội chiến sẽ vẫn tiếp diễn, chinh chiến liên miên như cũ?         
Có thể vẫn còn chinh chiến điêu linh. Cuộc nội chiến giữa hai đảng đã có từ trước cuộc Nội Chiến Nam Bắc cách đây cả 150 năm. Định mệnh đã thế. Sao dứt được. Nhưng nội chiến năm nay sẽ khác nhiều với năm cũ. Bởi vì mục tiêu năm ngoái khác với mục tiêu năm nay. Mà tình hình hai đảng năm nay cũng khác với năm ngoái.          
Tình hình năm ngoái thế nào, mục tiêu năm ngoái là thế nào?         
Năm trước đó, 2012, đảng Cộng Hòa thảm bại trong tất cả các cuộc bầu cử. Ông Mitt Romney thua nặng trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng. Cộng Hòa còn giữ được thế đa số ở Hạ Viện, nhưng khoảng cách bị thu ngắn. Cộng Hòa mất thêm ghế Thượng Viện, tan giấc mộng giành được đa số ở đây. Trong đảng, người ta bắt đầu nghiêm chỉnh đặt câu hỏi “What’s wrong?”, đảng Cổ Đại sai lầm ở đâu, từ đâu. Tuy nhiên, họ không có thời giờ đóng cửa dạy nhau như lời khuyên của ông Bob Dole, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa năm 1996. Do sức ép của phong trào Tiệc Trà, họ phải lao vào ngay cuộc chiến chống phá ông Obama để giảm uy thế của ông, ngăn ngừa đối phương lấn tới. Mục tiêu thích hợp nhất đương nhiên là Obamacare, bởi vì ngày 1-10 là thời điểm mở ra thị trường giao hoán bảo hiểm của liên bang và tiểu bang, và vũ khí lợi hại nhất đương nhiên là ngân sách liên bang, là những khoản cắt kinh phí (sequesters), là thương thảo về mức nợ tối đa mà chính phủ được phép vay. Về phia đảng Dân Chủ, tuy họ mạnh hơn phần nào ở Thượng Viện nhưng vẫn còn bất lực ở Hạ Viện. Và Obamacare làm cho nhiều nhà dân cử của Dân Chủ lúng túng - giống như trong vấn đề kiểm soát súng – khi họ nghĩ đến thực tế của cử tri của mình. Đảng Dân Chủ rơi vào thế chống đỡ hơn là tấn công hay phản công.          
Như thế, liệu tình hình năm nay có gì khác?          
Trước hết, mục tiêu năm nay đương nhiên phải khác với năm ngoái – cho cả hai đảng. Năm nay là năm bầu cử, và đảng Cộng Hòa sẽ cố sức giữ đa số tại Hạ Viện trong khi đảng Dân Chủ cố giành đa số ở viện này. Thượng Viện sẽ bầu lại 1/3 số ghế, và Cộng Hòa cũng cố giành quyền kiểm soát ở viện trên. Theo giới quan sát chính trị, cơ hội này khó đến cho đảng Cổ Đại trong năm nay. Nhưng quan trọng hơn cả là mỗi đảng sẽ rất khó khăn trong việc đi tìm ứng cử viên tổng thống cho cuộc bầu cử năm 2016 – một việc xem chừng thách đố hơn cho Cộng Hòa trong tình hình này. Bởi vì năm 2014 có thể là một năm đảng Cộng Hòa phải đối phó với “thù trong giặc ngoài” - một cuộc nội chiến trong đảng giữa khi chiến tranh với Dân Chủ có thể phải lan rộng hơn.        
Tại sao tình hình lại trở nên gay go như thế cho đảng Cộng Hòa?          
Đảng Cộng Hòa nay đứng trước thời điểm thử thách này vì vào thời điểm này năm ngoái, họ đã không chịu ngồì lại với nhau để chấn chỉnh đảng, từ đường lối đến chính sách và nhân sự. Cánh “chính thống”, cơ sở của đảng (establishment), có sự ủng hộ của những nhân vât trưởng thượng trong đảng, lâu nay tuy là đa số nhưng dường như lại bị giật dây, điều động bởi cánh Tiệc Trà cực đoan, giáo điều và “chống chính quyền” theo truyền thống từ ngan xưa, cho dù cánh này tối đa chỉ chiếm chừng 25% trong lực lượng Cộng Hòa tại Hạ Viện. Trận chiến “government shutdown” vào đầu tháng Mười trở thành giọt nước tràn ly đối với cánh chính thống.
Nhưng tại sao hai phe “chính thống” và “giáo điều” trong đảng phải xung đột?
Bởi vì năm nay là năm bầu cử và cử tri đã hết chịu nổi cảnh phá hoại trên chính trường, cho thấy những người mình đã cử ra rốt cuộc chỉ là những kẻ ngu xuẩn, tâm thần, điên rồ, vô trách nhiệm. Thăm dò cho thấy người dân nay xem những nhà chính trị chẳng ra gì cả, và chính những người trong đảng Cộng Hòa cũng thấy dư luận cử tri chán ngán, thất vọng và bực bội vì phía Cộng Hòa chỉ làm mỗi một việc là phong tỏa chính quyền. Quốc Hội hiện nay đúng là Quốc Hội vô dụng nhất - nếu ta nhìn đến số quyết định họ đã biểu quyết trong các năm qua. Những người Cộng Hòa chính thống đang muốn tỏ ra tích cực, đang muốn cho cử tri thấy có sự thay đổi bằng thái độ sẵn sàng thỏa hiệp với phía Dân Chủ để chính phủ đi tới, như chúng ta đã thấy trong thỏa thuận ngân sách đã đạt được chóng vánh trong 10 ngày đầu của tháng Chạp vừa qua. Những phần tử Tiệc Trà trong đảng đã phê phán thái độ thỏa hiệp đó là dễ dãi, vô nguyên tắc, “phản bội”, và chính họ hăm he sẽ cho những người Cộng Hòa “bỏ cuộc” này biết tay trong bầu cử năm nay. Cho nên, vòng sơ bộ năm nay trong đảng Cộng Hòa sẽ cực kỳ gay go: những ứng cử viên ôn hòa, đứng giữa (centrist) sẽ được sự ủng hộ của các thế lực Cộng Hòa chính thống để cho họ không bị những phần tử Tiệc Trà đánh phủ đầu, gián chỉ ngay từ đầu như trong các bầu cử trước đây nữa.
Như thế, năm nay đảng Dân Chủ sẽ xoa tay?
Chỉ có người điên mới xoa tay tự mãn trong đời này. Sự nguyền rủa của dân chúng đâu có loại trừ những người Dân Chủ. Cách phân chia khu vực bầu cử hiện nay vẫn là rất bất lợi cho đảng này. Khi một số thượng nghị sĩ Dân Chủ chạy theo những người Cộng Hòa chống luật kiểm soát súng, hẳn họ cũng cảm thấy được sự bấp bênh của mình. Hơn nữa, trong đảng, cũng vẫn có tình trạng chia năm xẻ bảy, khiến cho ông Obama cũng nghiêng nghiêng ngả ngả nhiều phen - từ trái qua giữa rồi lấn về phía phải! Năm nay, họ biết đảng Cộng Hòa sẽ vẫn phải tập trung vào Obamacare, vì đối phương có khi chẳng biết nhắm vào đâu cho trúng. Phía Dân Chủ đang muốn lợi dụng năm bầu cử để đưa ra những đề tài “populist” hơn: bất bình đẳng xã hội và kinh tế, tiền lương tối thiểu, trợ cấp thất nghiệp, tem phiếu thực phẩm… Sự lựa chọn đề tài này có thể dồn phía Cộng Hòa vào thế thủ, lúng túng.          
Trong tình hình này, liệu Quốc Hội Mỹ năm 2014 sẽ làm được gì chăng?          
Người ta nói rằng hai đảng sẽ cố đạt tới một “Đại thỏa hiệp” về một ngân sách dài hạn mà những người phân tích thời cuộc ở Washington vẫn bàn tán mãi trong mấy năm qua nhưng chúng ta đợi hoài, đợi mãi vẫn chưa thấy. Tuy nhiên, khi một “grand bargain” còn được xem là một thắng lợi cho phía Dân Chủ hay cho ông Obama, khó tin rằng đó là chuyện có thể thành tựu được trong năm nay. Quốc Hội có thể đi đến một thỏa thuận về tăng cường những biện pháp kiểm soát súng chăng, trong tình hình những chuyện bạo lực súng đạn xảy ra như cơm bữa trong xã hội? Đừng nằm mơ! Mấy nhà dân cử sợ Hiệp hội Súng Quốc gia (NRA) còn hơn sợ cọp! Rốt cuộc, một đề tài duy nhất cho hai đảng thể hiện tinh thần thương yêu hợp tác lưỡng đảng “vô hại” có lẽ là di dân. Không có nhúc nhích gì trong vấn đề này thì phía Cộng Hòa chịu tai hại lớn hơn đối phương.          
Như thế, năm nay ông Obama sẽ làm gì?         
Năm 2013 chẳng phải là một năm quá tệ cho ông Obama. Obamacare cũng qua đi, kinh tế cũng sống sót. Và đảng Cộng Hòa  bị “bể”. Nên tin rằng ông Obama còn đủ thời gian – ba năm không phải là ít - để thực hiện những mục tiêu xã hội tham vọng của ông. Như thế, ông sẽ chọn khảo hướng thế nào đây với Cộng Hòa: phản công đối đầu hay hòa dịu, thỏa hiệp? Tuy nhiên, 2014 cũng có thể là năm mà những vấn đề quốc tế giăng mắc khiến cho ông thấy bế tắc trong những giải pháp vá víu sẵn có đối với Nga, với Hoa, với Hồi giáo, với Iraq, Afghanistan, Pakistan…  Khi những chuyện đối nội và đối ngoại quyện vào nhau, ông Obama thực sự sẽ làm được gì?         
Cuối cùng, điều gì đáng tò mò nhất trong năm nay?       
Trong đảng Cộng Hòa, cả loạt chính khách theo Tiệc Trà có tham vọng trước cuộc tranh cử tổng thống năm 2016 như Rand Paul, Ted Cruz, Mike Lee, Marco Rubio… đang bị hố. Như vậy, cuộc tìm kiếm ứng cử viên tổng thống sẽ như thế nào. Ai đây sẽ nổi lên: Chris Christie, Mike Huckabee, Susana Martinez, Bobby Jindal...  Trong đảng Dân Chủ, tưởng như bà Hillary Clinton là sự lựa chọn duy nhất. Nhưng trong đảng, cũng không ít người thấy bà nên nhường chỗ cho một người mới hơn. Mặt khác, Phó Tổng thống Joe Biden không phải không có ủng hộ của những người trung hữu, và cánh cấp tiến của đảng đang nói nhiều đến bà Elizabeth Warren, thượng nghị sĩ của Massachusetts. Liệu đảng Dân Chủ có tránh được nội chiến trong đảng của mình chăng.

Những câu hỏi nhân đầu năm 2014 có thể đã tạm đủ - nếu những câu trả lời đáng tin cậy đến 70-80%.       
Nhưng làm sao biết được sự đáng tin của các chuyên gia đến mức nào nếu chúng ta không đủ kiên nhẫn chờ đến cuối năm để nhìn lại! HOÀNG NGỌC NGUYÊN
Việt Tribune 
Nỗi bối rối đầu năm

Ngày đầu năm thường là một ngày vô cùng quan trọng cho một tờ báo, nhất là một tờ báo lớn. Chẳng hạn như tờ The New York Times của Mỹ, hay tờ The Guardian của Anh. Tờ báo là một cơ quan ngôn luận với hai nhiệm vụ chính: thông tin và hướng dẫn dư luận. Số báo đầu năm phải là số báo cho độc giả một toàn cảnh về những vấn đề của năm mới. Và nêu bật quan điểm và khảo hướng của ban biên tập về những vấn đề đó. Cho nên, người ta mong đợi The New York Times nói chuyện gì trong ngày đầu năm? Obamacare để cho nền y tế đại chúng hữu hiệu hơn. Cải cách giáo dục để cho người Mỹ không thua sút. Chính sách nâng đỡ tầng lớp nghèo để giảm bớt bất bình đẳng xã hội và kinh tế. Đạo luật cải tổ chế độ di dân. Tăng cường chính sách và biện pháp kiểm soát súng đạn. Chính sách tạo công ăn việc làm để duy trì tăng trưởng kinh tế lành mạnh. Tiến hành cuộc thương thảo lưỡng đảng về ngân sách-tài chánh với tầm nhìn lâu dài. Đi tìm lối ra trong một thế giới mới chưa ổn định trât tự và mầm mống bạo loạn, khủng bố còn đầy dẫy: nước Mỹ phải hành động thế nào trước bao bế tắc ở Trung Đông và Bắc Phi … Còn tờ Guardian phải nói gì? Hiểm họa Scotland muốn tách rời thành nước riêng. Và nước Anh muốn rút khỏi khối Liên Âu. Làm sao đưa tỷ lệ thất nghiệp của Anh xuống 7% từ mức 7.4% hiện nay. Làm sao cho kinh tế của Anh hồi phục mạnh hơn năm tới, khi mức tăng trưởng quí tư không vượt qua được 1%. Làm sao cho gánh nặng di dân không làm cho xã hội trở nên phân hóa chủng tộc...
            Thế nhưng, không. Trăm lần không. Ngàn lần không. Hai tờ báo này, một tờ chân trời, một tờ góc bể, vào ngày đầu năm nay bỗng cùng nói chuyện tầm phào, trong mục quan điểm của báo lại cùng đưa ra lời chính thức kêu gọi chính quyền Obama hãy tha cho Edward Snowden, làm như trên đời này nay chẳng có chuyện gì quan trọng hơn - đối với độc giả. Snowden là tên “thổi còi” (whistle-blower) đang sống lưu vong tại Nga. Hai tờ báo này cho rằng phải xem “con người can đảm” Edward Snowden, nay đang trốn chui trốn nhủi ở nước Nga vì tội ăn cắp những bí mật an ninh quốc gia, như một kẻ có công “cáo giác” về chuyện cuộc sống riêng tư của người dân Mỹ bị dòm ngó, xâm phạm, và cơ quan an ninh quốc gia NSA là thủ phạm chuyện tày trời này, để có biện pháp châm chước, khoan hồng cho anh ta. Cách đây bảy tháng, nhân viên hợp đồng này của NSA đã trộm đến cả 1.7 triệu hồ sơ tối mật về các chương trình theo dõi của chính phủ Hoa Kỳ và chuyển tin tức này cho hai tờ Washington Post và Guardian. Những hồ sơ này tiết lộ chuyện cơ quan NSA đã buộc những công ty công nghệ Mỹ phải cho họ những thông tin của khách hàng, thông thường là không có án lệnh, và người ta cũng đã bí mật can thiệp vào những dữ kiện từ các hệ thống điện thoại toàn cầu và internet. Theo tờ Guardian, “Snowden đã cho những nhà báo những tin tức mật, dù rằng ông biết những hậu quả có thể xảy ra. Đó là một hành vi can đảm”. Thực ra, Snowden đã “can đảm” đến mức nào, hay thay vì dám ở lại Mỹ đối diện với công lý, đối chất với chân lý, anh ta chỉ hành động giống như tên vô lại Julian Assange nay đang “tỵ nạn” trong tòa đại sứ Ecuador ở Luân Đôn để tránh tội hiếp dâm? Snowden đã có âm mưu tẩu thoát khi quyết định công bố những bí mật này, và sau một thời gian ở Hong Kong, anh ta đào thoát qua Nga, vất vưởng một thời gian ngắn ở khu vực quốc tế của sân bay Moscow, gặp một ông tổng thống trùm lưu manh, ngưu tầm ngưu, mã tầm mã, cho nên được tỵ nạn một năm. Anh ta cũng đang tìm cách dụ bà Tống thống Brazil Dilma Rousseff cho anh ta được tỵ nạn lâu dài ở nước của bà thì anh ta sẽ sẵn sàng bán nước Mỹ (giúp Brazil điều tra về “tội ác” của Mỹ do thám nước Brazil).
            Chẳng những công luận ở Mỹ chấn động, nhiều nước đồng minh của Mỹ cũng giật mình - giống như hồi xảy ra vụ Wikileaks vào năm 2010 mà hai nhân vật chính là những bậc “anh hùng vĩ đại” Julian Assange và (anh/chị) Chelsea Manning (trước đây có tên là Bradley Manning khi chưa đổi giống). Và cả nửa năm nay, một cuộc tranh cãi rộng rãi đã diễn ra – trong nhiều giới của xã hội (chính trị, trí thức, luật học) và tại tòa án. Trong khi một số chính phủ nước ngoài bị “bất ngờ” vì bị cơ quan tình báo Mỹ dòm ngò kỹ đến thế, nhưng có điều người ta không nói ra là những chuyện tình báo quốc tế các nước rình rập nhau chẳng phải là “chuyện bây giờ mới kể”. Trong cuộc tranh cãi trong nước Mỹ, một bên la hoảng lên về những thủ đoạn theo dõi “tọc mạch, vô đạo đức và có thể bất hợp pháp” của chính quyền vào điện thoại, dữ kiện điện tử của cá nhân, một bên đặt ra vấn đề trong thời nay, giữa lúc an ninh quốc gia đang ở trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng và quyền riêng tư cá nhân đang bị lạm dụng nghiêm trọng, đâu là giới hạn an toàn cho cả hai? 
            Một điều rất rõ ràng là dư luận không muốn có sự lạm dụng cá nhân, lạm quyền của cơ quan hữu trách trong vấn đề này, cho nên người ta thấy cần phải tăng cường kiểm soát chặt chẽ hơn chương trình giám sát, theo dõi của chính phủ đối với cá nhân để bảo vệ những quan hệ thông đạt của cá nhân. Tuy nhiên, không có bao nhiêu người nghĩ rằng phải tuyên dương anh hùng cho Snowden hay tha thứ hay châm chước cho anh ta. Giới chính trị đều cho rằng nói gì thì nói, anh ta phải ra tòa cái đã, vì “luật là luật”, và không có chuyện mặc cả, hứa hẹn ân giảm trong vụ này. Tờ NYT phải thú nhận phản ứng của đa số độc giả đối với lời đề nghị đó là sự bất bình, phẫn nộ. Một thăm dò của tờ Washington Post/NBC News cũng cho thấy có đến 56% người được hỏi ý kiến cho rằng phải truy tố và đến 60% nói rằng anh ta làm nguy hại cho an ninh quốc gia. Đáng lưu ý là ý kiến cho rằng Snowden đã làm chuyện sai trái đã gia tăng từ 43% trong tháng Sáu đến 56% hiện nay. Và người ta cũng nói lần đầu tiên, những người Dân Chủ, Cộng Hòa và độc lập cùng thống nhất trong ý kiến về hành động và con người của Snowden.
Hai nhà bình luận của tờ The Washington Post, Jonathan Capehart và Ruth Marcus, đã phản ảnh quan điểm của một phần lớn dư luận khi họ phản ứng trước đề nghị của tờ NYT. Họ cho rằng Snowden sống trong ảo tưởng mình là người vĩ đại, cho nên anh ta nói “sứ mệnh của tôi đã hoàn thành” khi đã “mở ra cho xã hội một sự lựa chọn”, đó là xây dựng một xã hội tốt hơn cho cá nhân con người,  và anh ta quan tâm đến “giải phóng” thế giới cho con người sống được bảo vệ quyền riêng tư chứ không bận tâm với luật pháp nước Mỹ. Theo tác giả Capehart, Snowden nói rằng anh ta “không chịu đựng được nữa”, nhưng ông nêu ra hàng loạt tĩnh từ xứng đáng hơn cho Snowden: “smug (tự phụ), self-righteous (tự tin), egotistical (xem mình là cái rốn vũ trụ), disingenuous (giả tạo), megalomaniacal (hoang tưởng về sự vĩ đại của mình), overwrought (đứng ngồi không yên)”. Nói chung là anh ta xem cái tôi của mình quá lớn cho nên tìm cách len lỏi và tự vẽ bùa cho mình đeo và tìm cách tự bán mình - kể cả chuyện phải ăn cắp. Nếu anh ta có hiểu biết, chẳng cơ hội, anh ta sẽ chẳng đến tá túc ở nước Nga, “lá cờ đầu” về dân quyền và nhân quyền trên thế giới.
Snowden nói đến việc chỉnh đốn cuộc sống của thế giới này. Chẳng may thay, anh ta dường như chẳng biết thế giới này lắm.
Anh ta không biết và không hiểu ý nghĩa của những gì đang xảy ra ở Campuchia. Nhưng chúng ta trước hết là người Việt Nam, không phải là người Mỹ, chúng ta cần biết và đương nhiên phải biết rõ hơn. Người dân Campuchia, cũng như người dân ở nhiều nơi khác trên thế giới, có lẽ đến cả 4.5 tỷ hay hơn nữa trong tổng dân số thế giới 7.3 tỷ, cần phải sống sót như một dân tộc, một đất nước trước đã - trước khi mưu cầu cuộc sống cá nhân riêng tư. Trong những ngày đầu năm này, chúng ta hào hứng theo dõi cuộc xuống đường có đến mấy chục ngàn người ngày 30-12 có sự tham gia đầy đủ của các tầng lớp dân chúng đòi Thủ tướng trọn đời Hun Sen phải tổ chức bầu cử lại. Trong năm tháng qua, kề từ khi tự tái đắc cử, Hun Sen đã hứa hẹn đủ chuyện, nhưng người dân Campuchia đã phản ứng không ngờ: họ không tin nữa! Họ nhất quyết xuống đường để phản đối một chế độ bệ rạc, một xã hội tha hóa dưới chế độ đó. Tuy nhiên, sau khi đi Hà Nội lãnh chỉ thị về vào ngày 26-12, Hun Sen bỗng thay đổi thái độ: lính của ông ta bắn vào người biểu tình: bốn ngưòi chết, hàng chục người bị thương. Lực lượng an ninh của Hun Sen bắt đầu truy bắt các lãnh tụ đối lập và đàn áp người biểu tình. Người dân Campuchia đang bối rối. Nhưng họ nói: không bỏ cuộc! Và chúng ta chia sẻ sự bối rối này. Cùng niềm hy vọng đầu năm!
 
Giữa lúc đó, dư luận ở Việt Nam và cả một phần ở nước ngoài xôn xao một cách ngây thơ và ấu trĩ trước những phát biểu hỏa mù đề cao dân chủ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chẳng hiểu được thủ đoạn nhà nghề quen thuộc từ bao đời thỉnh thoảng dựng lên những tín hiệu giả để cho người ta quên đi thực tế mà mơ tưởng chuyện tương lai.
Edward Snowden dường như cũng không thực biết nước Mỹ lắm!
Đáng cho người Mỹ đầu năm phải hoang mang và nôn nóng là chuyện những nhà chính trị ở Capitol Hill đang nói nhiều về sự bất bình đẳng xã hội và kinh tế đang sâu đậm thêm, chế độ tem phiếu thực phẩm càng có tính sống còn cho người nghèo đang chiếm đến 1/6 dân số nước Mỹ, tiền lương tối thiểu phải lên một mức cho người ta đủ sống, và hàng triệu người sẽ lâm vào tình cảnh ngặt nghèo nếu phúc lợi thất nghiệp không được gia hạn… Người ta nghe mãi những chuyện này đến thấy sốt ruột. Thế nhưng, các nhà dân cử đã trở lại Quốc Hội sau kỳ nghỉ năm mới, và họ chỉ hứa hẹn duy nhất một điều: sẽ tiếp tục trận chiến Obamacare cho đến khi kẻ mất người còn… Và trước mắt là trận chiến về mức nợ tối đa.
Người Mỹ dư biết “giấc mơ nước Mỹ” của họ là gì, những gì họ thực cần trong cuộc sống, và những gì họ đang có vẫn còn hơn xa những gì những nơi khác không có. Nhất là trong những vấn đề nhân quyền và dân quyền.
Nếu chúng ta hiểu sâu xa ý nghĩa tương đối của cuộc đời! HOÀNG NGỌC NGUYÊN
Việt Tribune
Ngồi ghế càng lâu càng chết sớm

Theo tính toán của các chuyên gia, trong thời đại ngày nay, con người mỗi ngày ngồi trung bình khoảng 9 tiếng đồng hồ, tính luôn cả thời gian làm việc ở văn phòng, ngồi ở nhà và ngồi trên xe, trong đó thời gian ngồi ở văn phòng trung bình là 5 tiếng rưỡi. Họ cảnh báo rằng ngồi ghế càng lâu thì càng có hại cho sức khỏe và càng làm giảm tuổi thọ. Thậm chí tư thế ngồi quá lâu có thể gây tử vong, tức là có tác hại giống như là thuốc lá hoặc rượu.
Sở dĩ chúng ta ngồi ghế ngày càng lâu là vì hiện nay ở nhà hầu như mọi chuyện đều tự động hóa, thậm chí máy hút bụi bây giờ cũng có dạng robot, tức là chỉ cần bấm nút là nó tự đi hút, chẳng cần ta phải đẩy đi. Không chỉ ở văn phòng, mà ở nhà, chúng ta sử dụng ngày càng nhiều máy vi tính, nhất là để truy cập Internet, trao đổi thư từ... Khi di chuyển thì ta cũng sử dụng ngày càng nhiều phương tiện chuyên chở công cộng : xe bus, metro, xe lửa..., hoặc đi xe hơi, xe gắn máy, hơn là đi bộ và đi xe đạp.

Ngồi nhiều có nghĩa là ít vận động hơn, như vậy cơ thể chúng ta dư thừa calori và như vậy càng làm tăng nguy cơ béo phì, một vấn đề y tế công cộng ngày càng nghiêm trọng ở nhiều nước trên thế giới. Chưa kể là bệnh tiểu đường vẫn rình rập những người ít vận động.
Để giảm bớt thời gian ngồi trên ghế, trước hết chúng ta phải thay đổi thói quen làm việc. Các chuyên gia khuyên rằng khi làm việc thì chúng ta không nên ngồi dính vào ghế liên tục trong suốt nhiều tiếng đồng hồ, cứ khoảng 30 phút nên đứng dậy làm chuyện gì khác: đi toilette, đi lấy nước uống, trao đổi hay tán dóc vài câu với đồng nghiệp... Hoặc khi nói chuyện điện thoại di động, ta nên đứng dậy đi tới đi lui chứ đừng ngồi ngay tại ghế để nói. Nếu có thể, thì thỉnh thoảng ta nên làm vài động tác thể dục để các cơ bắp thư giãn trở lại. Nếu sợ quên thì có lẽ nên dán lên màn ảnh máy vi tính một mảnh giấy nhắc nhở chúng ta là cứ mỗi tiếng đồng hồ nên đứng dậy đi vài bước.
Nếu tính luôn cả thời gian ngủ trung bình là 7 tiếng đồng hồ mỗi ngày, như vậy là cơ thể có rất ít thời gian vận động. Cho nên lại càng phải chú ý đến chuyện đi lại, vận động thường xuyên tại nơi làm việc, để giảm bớt thời gian ngồi. Cũng đừng nên ngồi trước màn ảnh tivi quá nhiều. Một nghiên cứu đã cho thấy là ngồi trước tivi 2 tiếng đồng hồ mỗi ngày sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.-THANH HÀ.Nguồn RFI
Thỉnh nguyện thư trục xuất Justin Bieber đạt 100,000 chữ ký 
WASHINGTON, D.C. – Một thỉnh nguyện thư đã được gởi cho chính phủ Hoa Kỳ với yêu cầu rất rõ ràng: “Hãy trục xuất Justin Bieber và thu hồi thẻ xanh của anh ta”. Được tạo ra cách đây 6 ngày, hiện nay, bản thỉnh nguyện thư tại trang mạng WhiteHouse.gov, đã vượt qua số lượng100,000 chữ ký cần phải có, và nay chính phủ Obama phải chính thức xem xét yêu cầu này. Tính đến 8 giờ sáng Thứ Tư, tổng số chữ ký đã lên tới 102,446.
http://rack.0.mshcdn.com/media/ZgkyMDEzLzA2LzIyLzk5L0p1c3RpbkJpZWJlLjJjNmNkLmpwZwpwCXRodW1iCTk1MHg1MzQjCmUJanBn/e3abd4fc/5b2/Justin-Bieber-Instagram-Video.jpgThỉnh nguyện thư viết: “Chúng tôi, dân chúng Hoa Kỳ, cảm thấy rằng chúng tôi đang bị đại diện một cách sai lầm bởi những người trong thế giới nhạc pop. Chúng tôi muốn thấy Justin Bieber – một người nguy hiểm, liều lĩnh, phá hoại và lạm dụng ma túy – bị trục xuất và bị thu hồi thẻ xanh. Anh ta không chỉ đe dọa sự an toàn của dân chúng, và còn là một mối ảnh hưởng khủng khiếp cho giới trẻ nước Mỹ. Người dân chúng tôi muốn loại bỏ Justin Bieber ra khỏi xã hội chúng tôi”.
Trong khi đó, một thỉnh nguyện thư khác yêu cầu chính phủ Obama đừng trục xuất ca sĩ nhạc pop người Canada nổi tiếng thế giới này, chỉ đạt được 1,458 chữ ký tính cho đến 8 giờ sáng Thứ Tư. Theo kết quả đếm chữ ký cho thấy, lá thư này vẫn còn cần 98,542 chữ ký từ đây cho đến ngày 24 tháng 2, thì mới đạt được mức yêu cầu là 100,000 chữ ký, để được Tòa Bạch Ốc hồi đáp. Phe chống trục xuất đã tìm cách viện dẫn đến lòng nhân đạo để bảo vệ cho Justin Bieber.
“Toàn bộ ý tưởng về chuyện trục xuất Justin Drew Bieber là hoàn toàn không công bằng. Anh ấy không đáng bị như vậy... Với sự giúp đỡ của bạn, chúng ta có thể ngăn chặn chuyện này. Anh ta là con người. Anh không hoàn hảo. Các phương tiện truyền thông chỉ nhìn thấy mặt xấu của anh. Xin làm ơn. Anh ấy đã cứu được rất nhiều cuộc sống. Bao gồm cả tôi. Một người đã giúp được nhiều người khác không đáng bị đối xử như vậy”.
Một số người dự đoán rằng, có thể phải mất một thời gian dài, phe ủng hộ trục xuất mới nhận được hồi đáp từ chính phủ - “nhiều tuần, nhiều tháng, hoặc thậm chí nhiều năm”.
Các rắc rối gần đây của Bieber bao gồm một cuộc điều tra về chuyện ca sỹ trẻ tuổi này ném trứng vào một nhà hàng xóm ở Calabasas, nơi mà có thể ca sĩ này đang cân nhắc việc bán một biệt thự của mình. Một vụ khác nghiêm trọng hơn liên quan tới Justin Bieber là tội say rượu lái xe, và buổi luận tội dự trù diễn ra vào ngày lễ Valentines. Nhưng nếu chính phủ Obama để cho anh ta chờ đợi, thì ngôi sao nhạc pop này sẽ có thêm thời gian để tìm cách lấy lại cảm tình của những người ủng hộ chuyện trục xuất.
 
Bất ngờ về tàu tên lửa Việt Nam chế tạo đầu tiên
(Kienthuc.net.vn) - Không phải tàu hộ tống Project 12418 mà BPS-500 mới là tàu tên lửa đầu tiên do Việt Nam tự đóng. Hiện nay, nhà máy Ba Son (TP HCM) với sự hỗ trợ từ phía Nga đang thực hiện việc đóng các tàu hộ tống tên lửa Project 12418 Molniya cho Hải quân Nhân dân Việt Nam. Đây thực sự là bước tiến đáng nể trong ngành công nghiệp đóng tàu quân sự Việt Nam khi chúng ta đã có khả năng đóng tàu tên lửa hiện đại.Tuy nhiên, ít ai biết rằng, thực tế thì ngay từ những năm 1990, Việt Nam đã thực hiện đóng tàu tên lửa đầu tiên, tất nhiên là vẫn với sự hỗ trợ từ Nga.Khi đề cập tới dự án tàu hộ tống KBO 2000, Nhà thiết kế chính của Cục thiết kế dự án phương Bắc Nga (SPKB) Vladimir Yukhnin nói với Jane’s rằng: “việc hợp tác dự án KBO 2000 đánh dấu một giai đoạn mới trong hợp tác đóng tàu quân sự giữa hai nước Nga - Việt, đã chứng minh được hiệu quả trong chương trình tàu tuần tra BPS-500”.
 Tàu hộ tống tên lửa cỡ nhỏ BPS-500 mang số hiệu HQ-381 tại quân cảng Cam Ranh.
Dự án KBO 2000 như chúng ta đã biết là thiết kế của SPKB theo yêu cầu của Việt Nam. Còn BPS-500 cũng là thiết kế khác của SPKB, nhưng được đóng tại nhà máy ở thành phố Hồ Chí Minh (có thể là xưởng Ba Son), tất nhiên là với sự hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp linh kiện từ Nga. Theo bài báo Jane’s đăng tháng 3/1999 thì khi đó BPS-500 đã hoàn thành, hạ thủy và đang trải qua thử nghiệm trên biển.
Tàu tên lửa cỡ nhỏ BPS-500 dài 62m, rộng 11m, lượng giãn nước toàn tải 520 tấn, thủy thủ đoàn 50 người. Tàu được trang bị động cơ diesel cho tốc độ 30 hải lý/h, dự trữ hành trình 30 ngày.
Hệ thống điện tử trên tàu có radar mảng pha 3 chiều trinh sát mục tiêu trên không và trên biển Pozitiv ME có tầm trinh sát hơn 100km, có thể phát hiện mục tiêu bay có diện tích phản xạ sóng radar (RCS) 1m2 bay ở độ 1.000m từ cách 11km, phát hiện tên lửa diệt hạm có RCS 0,03m2 ở độ cao 15m cách xa 15km. Radar cũng có thể theo dõi 15 mục tiêu cùng lúc, bám 3-5 mục tiêu.
 Tàu BPS-500 HQ-381 phóng tên lửa hành trình Uran-E.
Ngoài ra, tàu còn có các hệ thống radar điều khiển hỏa lực pháo và hỏa lực tên lửa cùng hệ thống thông tin liên lạc.
Về mặt hỏa lực, BPS-500 trang bị pháo hải quân AK-176, 8 tên lửa hành trình chống tàu Uran-E (tầm bắn 130km), 2 ụ pháo phòng không cao tốc AK-630, tổ hợp tên lửa phòng không tầm thấp Igla và 2 đại liên 12,7mm. Nhìn chung cấu hình vũ khí của BPS-500 giống hệt tàu hộ tống Project 12418 Molniya, duy chỉ có số lượng đạn tên lửa Uran-E là thấp hơn.
Tuy nhiên, nhiều khả năng có thể là tàu BPS-500 khi đó đã gặp phải lỗi kỹ thuật nào đó hoặc nó không đáp ứng yêu cầu từ phía Việt Nam, cho nên dự án dường như đã hủy bỏ. Chỉ duy nhất một chiếc tàu BPS-500 được đóng và hiện còn phục vụ trong thành phần Lữ đoàn 162 Hải quân, mang số hiệu HQ-381.