Wednesday, April 30, 2014

Bà con chòm xóm

Một buổi chiều cuối năm, nằm tưởng nhớ lan man về làng quê, tôi mấy lần tự bắt gặp mình nghĩ tới chị Bốn Chìa Vôi. Hình ảnh chị xua đi lại trở về. “Ơ hay!” tôi ngạc nhiên về mình. “Vẫn chị Bốn! Thì chị Bốn. Xem chị có gì nào!”
Trong nhân cách chị có nhiều đặc điểm, nhưng đối với người làng điều thường được nêu lên như một tiêu biểu là chị không sợ thằn lằn rắn nước. Con người, đa số, vẫn đố kỵ loài bò sát; chị Bốn không đố kỵ. Chị biết khai thác đặc điểm của mình, khiến mọi người chú ý. Một nhóm bạn bè đang ngồi tán dóc, chị chạy tới mời ăn me. Đàn bà con gái nào lại không thích me? Mỗi người giành lấy một quả xong, chị Bốn rút từ trong bọc ra một gói nhỏ. Trời, sao mà chu đáo thế: lại có cả muối ớt nữa kìa. Vài bàn tay nóng nảy giật nhanh gói giấy, mở ra: con thằn lằn luống cuống nhảy hoảng vào lòng một chị nào đó. Cả bọn la như cắt cổ.
Chị Bốn Chìa Vôi có thể bắt nhốt vào túi áo một con rắn nước, lấy kim băng cài lại cẩn thận. Để rồi chỉ mở túi khi đã ngồi sát kề vài người bạn. Rắn vọt ra, kẻ nhanh nhất cũng không tránh kịp.
Người ta sợ những con vật hiền lành vô hại, sợ một cách vô lý. Chị Bốn không vô lý, thế là chị bị coi như nham nhở, lì lợm. Giá là “hôm nay”, chị được cho là rất chì. Chì thì không có gì tệ. Nhưng ở địa phương, hồi đó, người ta đánh giá thấp thái độ ấy. Có người bảo: Con đó ma vật không chết, thiên lôi đánh không chết v.v... Toàn thị là những nhận xét có tính cách thóa mạ. Trong chỗ địa phương, giàu có chẳng được mấy kẻ, hầu hết là dân nghèo với nhau. Từ lối xưng hô cho đến cách nhận xét nhau nghe có vẻ sỗ sàng mà thân mật. Xóm giềng với chị Bốn Chìa Vôi là anh Ba Càng Cua, chú Năm Cán Vá, anh hai Mỏ Gảy, cậu Ấm Sứt v.v... ai nấy đều thông cảm sự giễu cợt của bà con chòm xóm, không oán trách gì. Trường hợp đáng để ý là một người tên Hai Cư. Anh ta cũng lớn lên trong cảnh nhà nghèo khổ, không có tham vọng. Bỗng có người tuổi tác tốt bụng mách cho biết nội tổ của anh ta từng có quan tước, nếu chịu mất hai đồng bạc cho làng, anh có thể làm đơn xin tập ấm để được miễn sai. Anh nghe theo, anh được chỉ vẽ, giúp đỡ, cuối cùng được thành một ấm tôn. Anh mở tiệc khao làng và họ hàng thân thuộc. Ngay trong tiệc vui ấy anh đã nghe loáng thoáng cái tiếng “ấm sứt”. Anh lặng người đi một lát. Rồi anh bâng khuâng, trầm ngâm, như một người bắt đầu chịu trở nên chín chắn, từ bỏ những ngông nghênh rồ dại nhất thời để trở về với những cái thiết thực. Rốt cuộc, anh nhếch miệng cười nhẫn nại, chấp nhận. Tiếng “ấm sứt” phổ biến nhanh chóng. Dân làng mừng rỡ, không ganh tị tí nào đối với chút quyền lợi anh được hưởng, nhưng còn sự danh giá thì họ đã bảo toạc ngay cho anh biết là không có đâu.
Chị Bốn ngày nhỏ tên là Bình. Nhưng càng lớn chị càng toe toét, nói bậy nói bạ, bừa bãi lung tung; cho nên bị coi không xứng là miệng Bình, dù là bình vôi. Do đó, bèn đặt tên là Chìa Vôi.
Kể ra đặt như thế cũng bừa bãi, chẳng có ý nghĩa gì. Tôi thuật lại bấy nhiêu điều là để chứng tỏ ở đây người ta sống gần gũi, cởi mở. Cho đến cái tên của nhau ai nấy cũng tha hồ bôi bác lên đấy tùy thích, cái tên riêng của cá nhân không còn thuộc về cá nhân mà là kết quả những ý kiến tập thể. Sự can thiệp ngang nhiên, không e dè nể nang gì cả. Thoạt đầu, có người bất bình chút ít, rồi đâu lại vào đó.
Chị Bốn nham nhở đến nỗi mang tên là Bốn Chìa Vôi, lại còn bị rủa là thiên lôi đập ba búa không chết. Không sợ loài bò sát, đó chỉ là tính tiêu biểu, thật ra chị còn lắm điều ngổ ngáo khác. Chẳng hạn nói tục. Các nhà nghiên cứu chuyện tiếu lâm đồng ý rằng đề tài trào lộng chính của dân quê ngày xưa là cái tục. Có những vị còn đi xa hơn, cho rằng như thế không phải vì dân lao động nghèo khổ ham thích cái tục hơn hạng nho sĩ trí thức; họ nói tục chính vì óc tranh đấu bài phong tức là vì một lý tưởng cao đẹp. Hạng giàu có nho sĩ sống trong lễ giáo giả dối, tránh chuyện tục tĩu; kẻ vô sản đầy tinh thần cách mạng bèn xổ tục ra, có ý tỏ sự chống đối, khinh khi, khiêu khích, có ý muốn quăng những cái tục ấy vào mặt bọn giàu sang trí thức.
Tôi không có dịp trông thấy chị Bốn Chìa Vôi quăng cái tục vào từng lớp thống trị. Chỉ thấy chị thường nói trong lúc chuyện trò, làm lụng. Giữa đồng nước lênh láng tiết tháng mười, chị vừa cấy mạ vừa kể chuyện. Xung quanh chị, đàn bà con gái thỉnh thoảng nhao nhao, kêu oai oái, kêu lóe chóe, kêu ầm lên, như không chịu nổi. Thế nhưng họ chịu được tất. Hơn nữa, ai nấy đều hau háu đối với chuyện của chị Bốn Chìa Vôi. Họ tranh nhau nghe, họ kêu, rồi họ cười ngắc nghẻo, họ oằn người, gập người lại mà cười.
Nhìn cảnh tượng những người lao động nói cười ầm ĩ như thế giữa công việc, giữa trời nước bao la, dễ có cảm tưởng họ sung sướng vui vẻ, họ đang dự vào một sinh hoạt lành mạnh, làm sảng khoái tinh thần. Thú thực, chưa có lần nào trước cảnh ấy tôi có ý nghĩ chị Bốn Chìa Vôi đang đầu độc trí óc bạn bè. Có lẽ những câu chuyện tiếu lâm đã thành hình trong dân gian theo kiểu ấy. Có điều các khảo cứu không hay chú ý tới nỗi khổ tâm, hy sinh, của người sáng tác. Tôi được biết có lần chị Bốn Chìa Vôi bị chồng đánh một trận tơi bời, vì trong lúc cao hứng, hăng say, chị đã mang cả chuyện riêng trong buồng the ra làm trò cười.
Xưa, tôi cũng lây cái thành kiến của người làng mà coi nhẹ chị Bốn, mặc dù đối với tôi chị Bốn Chìa Vôi bao giờ cũng tốt. Ngày nay, tưởng nhớ đến chị trong niềm hối hận chân thành, tôi chỉ muốn đem tất cả sự hiểu biết lõm bõm của mình mà tìm ra một ý nghĩa cách mạng trong thái độ của chị. Bèn nghĩ rằng cái tục là cái cấm kỵ (tabou) trong cuộc sống xã hội loài người với nhau, bò sát là một cấm kỵ khác; thiên hạ tránh né những cấm kỵ ấy, chị Bốn ngang nhiên bất chấp, ấy không phải là chống đối, phản kháng, là hành vi “nổi loạn” sao? Những kẻ văn nhược nho nhã chúa sợ rắn, sợ thạch sùng, sợ các tiếng tục tĩu, những kẻ ấy đớn hèn đã đành. Còn trong hạng lao động khả kính, đầu làng cuối xóm thiếu chi người, tại sao ý thức nổi loạn lại cứ nhất định nhóm lên từ đầu óc một người nghèo rớt mùng tơi, nhà dột cột xiêu, từ một chị đàn bà lôi thôi lếch thếch, vú bõ lòng thòng? Đó chẳng phải là điểm vinh dự riêng cho chị Bốn sao?

Cái tốt đặc biệt của chị Bốn tôi không quên được là chị thường cho chim. Chị là người đàn bà độc nhất trong vùng có thể bắt được chim. Bởi vì chim chóc không phải như con cua, con ốc, con chí, con rận. Phải lanh lẹ, phải giỏi leo trèo mới bắt được chim. Đàn bà không sở trường về cái ấy.
Lần đầu tiên chị Bốn cho chim, chị cho tôi một lượt hai con se sẻ. Tôi quýnh lên. Tôi nằn nì hỏi chị làm thế nào bắt được. Chị cười tít mắt, bảo đang đi giữa đường, tự dưng thấy hai con sẻ đuổi nhau bay tới, sà xuống đất, vùi nhau cắn lộn, chị đưa tay ra chộp như chơi. Tôi ngẩn ngơ ganh tiếc: Một cơ hội như thế tại sao lại không xảy đến cho tôi? Nắm chim trong tay đã đành là thích thú, nhưng so với cái lúc chộp được một lúc hai con chim đang cắn lộn thì thú ấy chẳng thấm vào đâu. Vậy mà cái dịp may dị thường chẳng thuộc về tôi đang lồng lên ao ước, lại thuộc về chị Bốn là kẻ dửng dưng không biết gì khoái thích!
Lần khác, chị cho tôi bốn con sáo ngà vừa bể bộng xểnh. Tôi lại tra vặn làm sao bắt được. Chị cuời rũ rượi kể rằng đang làm cỏ chợt thấy con sáo mẹ tha mồi về một bộng cây mù u bên bờ ruộng và sáo con trong bộng thò đầu ra, chị chạy đến bắt trọn, thế thôi. Tôi dẫy nẩy lên, bắt chị phải cam đoan lần sau thì chị không được vội vàng như thế nữa: cứ để yên và chạy về mách tôi.
Nhưng lần sau và những lần sau nữa cũng không phải là cơ hội để tôi tự tay tóm được con chim tự do. Mỗi lần chị Bốn được chim vào một trường hợp khác nhau. Hoặc một con sáo ham ăn giun xán tới những luống cày vỡ, bị người ta dùng roi cày quất chết tức, chị Bốn xin con sáo chết, đem bỏ ở chỗ đất ướt một lát, nó sống lại. Hoặc một con cò bị kẹt giữa lùm tre dày sau một đêm mưa gió. Hoặc một con cò khác bị mắc vào bẩy giò mà chị Bốn tình cờ bắt gặp trước khi người đánh bẩy trông thấy.
Tôi kết luận rằng chị Bốn Chìa Vôi quả không có tài nghệ gì. Chị chỉ có sự may mắn. Giá tôi mà gặp con cò mắc kẹt trong bụi tre thì tôi cũng lôi ra được như chị, lại giá có người dùng roi quất lăn kềnh một con sáo bên chân thì nhất định tôi cũng nhặt lên được. Tôi quả quyết như thế. Và từ ganh, tôi ức với chị Bốn Chìa Vôi. Tại sao lần nào cũng vẫn lại chị có mặt ở những chỗ ấy mà không phải là tôi?
Tôi còn nhỏ, chưa biết phục thiện. Thực ra, không phải không có lý do mà chị Bốn Chìa Vôi gặp chim. Xem hình dáng chị thì biết. Áo của chị kết năm hột nút thì đã rụng mất ba; hở cả bụng cả ngực. Đầu chị rối bời, tóc thì hoe vàng, đuôi tóc xơ xác. Suốt ngày từ sáng tinh sương cho đến tối mịt, lúc nào chị cũng tất tả ngược xuôi, dầm mưa giãi nắng. Chị kiếm củi, mò cua, bắt ốc, lúc ở bờ ao mép suối, lúc ở ven rừng ven đồi... Tình hình trong vùng có gì đáng chú ý chị chú ý tới trước tiên, có gì đáng trông thấy chị trông thấy trước tiên. Năm Cán Vá hò hẹn với bà thím dâu ở suối chăng? Đám mì của ông Tư bị kẻ chăn bò đào trộm củ đem lên gò nướng chăng? Tre năm nay trỗ bông nhiều? Chuột đồng gặp gió tây vừa chết lác đác ở các cửa hang? Cây trâm sau đình làng trái sắp chín tới? Không có gì chị Bốn Chìa Vôi không biết. Như thế, không những chị thường gặp chim chóc, chị còn bắt gặp gà rừng đang ấp và hốt trọn cả ổ trứng, chị gặp rắn đực rắn cái quấn nhau để về xóm thuật lại cho mọi người nghe, chị gặp dơi ngủ trong đọt chuối, gặp chồn cắn nhau v.v...
Ngày xưa, tôi không rõ lý do khiến chị Bốn gặp chim, nhưng tôi yên trí là biết rõ lý do khiến chị cho chim. Vì sao chị chọn tôi, mà không chọn đứa trẻ nào khác? Thật minh bạch: vì tôi dễ thương nhất chứ còn gì nữa.
Sau này, dần dần tôi tưởng hiểu được chị Bốn Chìa Vôi hơn. Sự việc không giản dị đến thế.
Chị Bốn vẫn xưng với mọi người là bà con họ hàng với chúng tôi. Trong khi ấy gia đình chúng tôi không phi bác cũng không xác nhận. Sự thực chị Bốn cùng mang họ Đặng. Nhưng ngôi thứ của chị trong thân tộc như thế nào không rõ, gặp chị chúng tôi cứ tùy tuổi tác mà xưng hô: kẻ gọi chị, gọi cô, người kêu mày, kêu con v.v... Ngày giỗ, ngày Tết, chị đến nhà chúng tôi, lăng xăng giúp đỡ.
Bình nhật, mỗi lần chị tới nhà là gặp việc gì làm việc ấy luôn tay. Trông thấy bà tôi ngồi buồn, chị đề nghị xổ tóc bắt chí. Trong khi tìm chí, chị vui miệng hẹn hôm sau sẽ đem đến cho nắm bồ kết. Đưa tới một nắm bồ kết, một mớ rau đắng, chị mang về chén mắm, trái cà, trái dưa muối v.v...
Đối với các cô tôi, chị cũng không đáng ghét. Mỗi lúc nhìn trước ngó sau quanh quất không thấy bóng bà tôi, chị Bốn liền kể một chuyện tục. Các cô tôi phản đối, đấm thùm thụp lên lưng chị. Nhưng khi bà nghe tiếng, hiện đến hỏi, thì ai nấy đều toa rập chối đây đẩy, vừa bảo là không có gì vừa cười rúc rích với nhau.
Hễ cứ lâu ngày không thấy chị Bốn Chìa Vôi đến, tôi lên tiếng hỏi. Bà tôi kêu: “Cái thằng! Không thấy nhắc đến sách vở bao giờ. Lại đi nhắc con ấy.” Các cô tôi cười. Tuy nhiên, tôi thấy rõ không có sự phản kháng nào rõ rệt.
Một năm trời làm đói. Tháng mười mất mùa, tháng ba lại mất mùa nữa. Cả làng thiếu ăn, trẻ con ốm tong teo. Bấy giờ, ngày nào chị Bốn cũng lảng vảng đến nhà tôi một lần. Về sau, cùng đường xoay trở, chị đến ở hẳn với chúng tôi. Rồi chị đem theo thằng con nhỏ nhất. Sau rốt, mang luôn đến con chị kề của đứa bé. Chị bảo với mọi người: có bà có con nhất định phải nhờ bà nhờ con một phen. Ngầm ý nói dù có bị đuổi cũng không chịu đi.
Mùa tháng mười năm sau, bắt đầu gặt hái được là chị đem con về, tất tả kiếm ăn, không kéo dài cảnh nhờ vả thêm một ngày.

Ngày nay các cô tôi thường nhắc lại vụ đói năm ấy để oán trách chị Bốn Chìa Vôi. Phải, có nhiều người trong chúng tôi oán trách chị.
Số là từ khi làng mất an ninh, dân làng kéo ra quận ra tỉnh lánh nạn một số lớn. Gia đình tôi về tỉnh lỵ; chị Bốn thì không thể tưởng tượng có thể sinh sống ở chỗ thành phố, nên chị ở lại làng. Trong khi ra đi lén lút vội vàng, chúng tôi không đem theo cả gia sản mà cũng không thể bán được cho ai. Những thứ gì còn lại, chị Bốn hứa sẽ trông nom giúp. Thế rồi, ít lâu có người bỏ làng ra tỉnh kể rằng hai con bò của chúng tôi bị “Giải phóng” tịch thu chia cho đồng bào, mà một con thuộc về phần chị Bốn. Sau đó, lại có người khác kể rằng ruộng đất của chúng tôi “Giải phóng” cũng chia cho đồng bào canh tác, riêng phần chị Bốn hưởng được hai đám. Dĩ nhiên chị Bốn là đồng bào, nhưng tại sao cái gì của chúng tôi chị cũng thụ hưởng được nhiều hơn mọi người. Có điều ám muội gì trong đó? Lần khác, có tin chị Bốn bán dừa của chúng tôi. Lại lần khác nữa, chị đem cỗ thọ đường bằng ván mít của bà tôi hiến cho bộ đội “Giải phóng”. Bà tôi kêu trời. Các cô tôi mỗi người góp một chi tiết, nhắc lại những sự giúp đỡ của chúng tôi đối với chị Bốn trước kia, và trách mắng thậm tệ “quân ăn cháo đái bát”.
Chúng tôi với chị Bốn thành ra người của hai thế giới. Không ai biện bạch với ai được lời nào. Không có đối thoại. Sự thực, chị Bốn Chìa Vôi đã nghĩ ngợi ra sao, đã hành động với dụng ý gì, chúng tôi không rõ. Chỉ nghe lời người khác thuật lại, nay một việc mai một việc, chắc chắn là vừa thuật vừa thêm mắm thêm muối cho đậm đà câu chuyện, thế rồi chúng tôi kết tội chị Bốn bội bạc, vong ân, chúng tôi lồng lên phẫn uất.
Trong tâm trạng ấy, chúng tôi kiểm điểm lại tính nết của chị, và toàn thấy những nét trí trá, tinh quái. Cái người con gái biết mua chuộc kẻ này bằng con chim, kẻ kia bằng câu chuyện tục kể lén v.v..., người ấy thực đã quỉ quyệt, thao túng chúng tôi không chừa một ai. Càng nghĩ các cô tôi càng tức giận, vì đã thua cái tinh khôn của một kẻ tuổi tác chỉ đáng đàn em, lại không có học hành gì.
Cứ thế cho đến hôm tôi trông thấy người ta khiêng chị Bốn Chìa Vôi vào bệnh viện, người rách bươm tơi tả.

Sau khi chúng tôi bỏ làng đi độ ba tháng thì làng cũng không thuộc về chính phủ nữa. Thôn trưởng bị bắt lên núi. Rồi quận cũng tìm ra người khác để đặt làm thôn trưởng, nhưng từ khi nhậm chức, chú Tư Huệ Héo — tức em ruột anh Ba Càng Cua — liền bỏ nhà xuống quận lưu vong. Ở làng, phe “Giải phóng” lập ban tự quản.
Như thế, cả hai phía cùng nhau cai trị dân làng. Một phía thuộc về chú Tư Huệ Héo, một phía thuộc về chú Ba Thiên, tức cháu gọi Hai Mỏ Gảy bằng cậu.
Ba Thiên tịch thu ruộng và bò của chú Tư. Một ngày tháng bảy, vào canh tư, trời còn tối, một trung đội nghĩa quân từ dưới quận kéo lên vây xóm. Bố trí chưa xong thì một phát súng nổ quá sớm làm cho bọn cộng sản nhào ra chạy. Có hai tên trúng đạn, một bị gãy chân, một bể ngực chết. Tuy vậy cả hai đều thuộc hạng không quan trọng, còn Ba Thiên đã kịp trốn thoát.
Mờ sáng, nghĩa quân vào làng, người ta thấy Tư Huệ Héo đi theo, tập trung dân chúng, điểm mặt từng người, phổ biến chính sách. Xong rồi, chú Tư tới nhà Ba Thiên lùa tất cả bò mình lẫn bò Ba Thiên về quận. Đến lượt chú Ba bị tịch thu trở lại: Lùa bò, gánh lúa, còn nhà thì đốt bỏ.
Sau vụ ấy, Ba Thiên bắn tin xuống quận cho Tư Huệ Héo hay là có ngày “Giải phóng” sẽ tới tận quận hỏi tội y. Còn Tư Huệ Héo thì lén lút phàn nàn với một vài người thân tín rằng hôm đó có một anh nghĩa quân non gan, ngại đụng độ lớn, nên giả vờ lỡ tay làm nổ phát súng để đuổi địch chạy thoát, nếu không Ba Thiên đã bị bắt rồi. “Nhưng giữa nó với tôi còn có ngày gặp nhau mà. Nó đừng nóng nảy vô lối: rồi trước sau tôi cũng chẻ ba thẻ tre đem manh chiếu rách rước nó xuống quận một lần cho bà con coi chơi”.
Tin nhắn đi nhắn lại qua trung gian những người đàn bà đi chợ quận. Cũng qua thứ trung gian ấy, chú Tư đòi bẻ cổ hết những ai cày ruộng của chú do bên kia cấp phát. Ba Thiên họp đồng bào, đánh tan hoang mang, bảo đảm rằng chính sách sẽ được thi hành tới cùng.
Chị Bốn Chìa Vôi có được chia ruộng của chú Tư. Mặc dù có sự bảo đảm, nhân một hôm đi chợ, chị vẫn lẻn gặp chú Tư để điều đình xin coi như chị cày thuê với một giá tương đối rẻ. Sự việc tiến hành trong vòng bí mật. Tiền thuê ruộng sẽ giao tới tay chú Tư làm ba lần. Tư Huệ Héo lấy làm hài lòng; trong lúc cao hứng còn khoe rằng hôm đưa nghĩa quân lên vây xóm chú đã nắm vững tình hình, biết rõ con đường hầm rút lui của từng tên trong bọn Ba Thiên. “Chậm năm phút nữa thì nó chạy đằng trời”. Chú Tư nhếch miệng cười. Chú có đặc điểm là dẫu cười, cái cười cũng khổ sở, méo xệu. Vì vậy mà tên Huệ được đổi ra Huệ Héo.
Hai hôm sau, con Sáu Ty bỗng dưng chận chị Bốn Chìa Vôi lại, hỏi ấm ớ:
— Mợ đi thương lượng với nó rồi hả?
Chị Bốn khựng người lại:
— Mầy nói cái gì vậy Sáu? Tao không hiểu.
Sáu Ty cười khẽ:
— Mợ khó hiểu thì có.
Rồi giọng nó đay nghiến:
— Của nhân dân chia cho, mợ không cày thì trả lại, người khác cày. Tại sao mợ lại đi phục hồi chủ quyền cho nó?
Chị Bốn vẫn chống chế, mà van lơn:
— Sáu! Mày nghi ngờ gì mợ đấy? Có gì mày cứ nói toạc ra, rồi khuyên bảo cậu mợ. Mày hiểu chính sách, chớ cậu mợ đâu có hiểu, Sáu!
— Mợ đã tìm thằng Tư Huệ Héo điều đình riêng.
Chị Bốn giãy nảy lên lên thề thốt:
— Ai nói với mày vậy? Nó vu cáo mợ, mày không cãi cho mợ mày được một câu sao Sáu. Tao thề có Trời có Phật...
Con Sáu Ty ngoay ngoảy bỏ đi:
— Nay mai rồi mợ sẽ cãi lấy.
Chị Bốn tuyệt vọng, gọi vói theo:
— Sáu. Ngày mốt giỗ bác Hai, mày nhớ đó chớ, đừng để cậu mợ mời lần nữa nhé.
Sáu Ty là cháu của chị Bốn Chìa Vôi. Mẹ nó chết sớm. Ngày nó còn bé, chị Bốn thỉnh thoảng tới nhà, lôi nó ra tắm rửa, kỳ cọ, giặt giũ quần áo cho nó. Bây giờ Sáu Ty làm cán bộ, trở lại khắt khe với chị. Ở cái tuổi của chị, lớn lên trong hoàn cảnh của chị, chị không tự cắt nghĩa nổi sự hằn học của con Sáu Ty. Chị không tranh giành quyền lợi của cải của nó, tại sao nó có thể ghét chị đến thế? Lý do chính trị là cái gì, chị không hiểu.
Những lần bị Sáu Ty chèn ép, làm khó làm dễ thái quá, chị đi phân trần với người này người kia: Mới ngày nào chị vừa kỳ ghét trong nách trong háng của nó vừa la mắng nó, cốc lên đầu nó, chị coi nó như con như cái. Một đứa con nít như thế! Chị than trời trách đất.
Chị gặp Sáu Ty hôm trước, thì hôm sau ban tự quản thôn gọi chị tới cho biết là phần ruộng tịch thu của Tư Huệ Héo chia cho chị bị rút lại cấp cho ông Tam Khoang.
Sự đen đủi này tiếp theo sự đen đủi khác. Thằng con trai của chị mới mười bảy tuổi tự dưng nhảy đại vô “lực lượng”. Ở địa phương chị, người ta vẫn gọi tắt như thế cái lực lượng võ trang của mặt trận Giải phóng. “Vô lực lượng thì có súng để mang. Vô lực lượng, ta đòi làm thịt đứa này, đòi hạ đứa nọ, nửa đêm bất thần về làng, thiên hạ cuống cả lên; không vô lực lượng thì cũng phải đi lính quốc gia, mà lính quốc gia ở ngoài sáng, lực lượng ở trong tối dễ bắn ra v.v...” Không biết ai đã dụ dỗ, rủ rê nó mà thằng nhỏ bỏ nhà theo lực lượng. Chị Bốn Chìa Vôi hết nghi người này lại ngờ kẻ khác; chị oán chị trách.
Ba Càng Cua có hai đứa con trai, một đứa vô nghĩa quân, đóng tại quận, một đứa học trung học, đi Quang Trung, gắn lon trung sĩ. Ba Càng Cua vẫn ở lại làng. Nhưng sau khi thằng con chị Bốn Chìa Vôi vô lực lượng ít lâu, bỗng một hôm, vào mùa gieo, trời chưa sáng, đường còn lờ mờ ánh trăng, Ba Càng Cua đánh bò gồng gánh ra đồng. Người ta yên chí là đi gieo. Cứ thế, qua khỏi các chỗ canh gác, gia đình Ba Càng Cua đi thẳng xuống quận lánh cư. Đến trưa, ập vào xét nhà Ba Càng Cua thấy thứ gì thứ nấy đã dọn sạch. Thì ra trong cái gánh mà người ta tưởng là gánh lúa giống để gieo ấy anh ta trói nhốt năm con gà, với mắm muối, thuốc, lư đồng v.v...
Xuống quận được dăm ba hôm, Ba Càng Cua bắt đầu phát biểu cảm tưởng lai rai. “Con Sáu Ty ngày nào nó cũng lọt vào nhà người ta vài bận. Nhà có bao lúa nào nó dòm lủng bao, có niêu cơm nó dòm lủng niêu. Con đó còn sống ngày nào, xóm làng còn điêu đứng ngày ấy. Con Bốn Chìa Vôi, con mẹ trời đánh sinh ra thằng con trai nghịch hết nói được. Nó mà nhảy núi chuyến này, nguy hiểm lắm. Tôi cho thằng đó nguy hiểm nhất.” Bấy giờ người ta mới nhớ ra trước kia giữa nó với thằng con trai của Ba Càng Cua có nhiều chuyện hiềm khích rắc rối.
Chẳng bao lâu sau đó, cậu nghĩa quân này bị phục kích, trúng đạn hỏng mất con mắt bên trái, gò má lủng lốm đốm.
Mấy lần chị Bốn Chìa Vôi đi chợ quận bị mụ vợ Ba Càng Cua đón đường, may mà đón hụt. Anh Ba Càng Cua lồng lên như gà mắc đẻ. Anh quả quyết đến lúc phải tảo thanh gấp cái làng ấy, nếu không cả quận này không yên. Anh chủ trương mở hành quân cấp tốc về làng. Ý kiến ấy, anh tìm Tư Huệ Héo để trình bày, rồi gặp người nào — nhất là lính — anh cũng nói. Anh hy vọng ý kiến tới tai ông quận. Nhưng anh nói mãi, ý kiến chẳng đi tới đâu. Bỗng một hôm, một chiếc máy bay lướt nhanh qua làng, có kẻ nào đó dùng súng trường “bia” một phát. Chiếc oanh tạc cơ quành lại, bắn, bỏ bom loạn xạ. Mười ngôi nhà cháy, hai người chết. Trong hai kẻ xấu số, một là chồng chị Bốn Chìa Vôi, bị cắt đúng nửa thân người. Đêm ấy chôn cất xong xuôi, mờ sáng hôm sau, cả làng đón một cuộc hành quân. Lần này Ba Thiên cũng lại suýt bị tóm, nhưng vẫn chưa bị tóm. Đạn đuổi sau lưng y. Cán bộ thôn hao hết thêm ba mạng. Ban tự quản gần tan rã. Thế nhưng Sáu Ty thì thoát, và Ba Thiên cũng chỉ suýt bị bắt.
Rồi Hai Mỏ Gảy lánh cư. Rồi Năm Cán Vá cũng bỏ làng ra đi. Nhưng chị Bốn Chìa Vôi thì ở lại, để thỉnh thoảng còn hy vọng gặp thằng con trong lực lượng. Chị cần dỗ dành để nó rời bỏ lực lượng, ít ra nó đừng có “bia” vu vơ vào một chiếc phi cơ bay lẻ, vào một anh địa phương quân lơ thơ về thăm vợ v.v..., đừng có gây rắc rối làm cho cả làng bị tai họa lây. Chị Bốn Chìa Vôi ở lại làng, chịu khổ chịu sở mà ở lại. Nhưng mãi không gặp được đứa con. Chị ở lại chỉ để có dịp chôn xác con Sáu Ty.
Sau đó, một đại đội quân quốc gia về đóng tại làng. Ba Thiên bỏ nhà nhảy núi. Cậu em vợ của chú Ba cũng nhảy theo. Trước khi đi, nó năn nỉ rủ đứa con gái đầu lòng của chị Bốn Chìa Vôi. Đứa con gái khóc tỉ tê. Chị Bốn biết được, chị quát mắng; cậu kia van nài, xin cho nó cưới. Cứ cho nó cưới, rồi thì vợ nó ở lại làng cũng được. Chị Bốn không cho.
Anh em Ba Thiên đi rồi, bốn tháng sau đứa con gái chị Bốn phải lòng một anh hạ sĩ quốc gia. Chờ mãn tang anh Bốn, chị cho cưới. Đám tiệc gần tàn, lúc ấy vào khoảng tám giờ rưỡi tối. Có người đứng ngoài rào nói vọng vào nhà: “Khách khứa hai họ còn cả trong ấy chứ? Xin có quà mừng nhá.” Tiếp theo, một trái lựu đạn rơi xuống, nổ ngay trên thềm nhà, bốc văng mái trước, phá nát hết cửa lớn cửa nhỏ. Đứa con gái thoát nạn, không bị thương tích gì. Nhưng anh hạ sĩ chết ngay tại chỗ, còn chị Bốn Chìa Vôi thì đứt đi nửa ống chân, khắp người lỗ chỗ đều có mảnh lựu đạn ghim.

Mở mắt, bắt gặp tôi tình cờ lảng vảng trong bệnh viện tỉnh lỵ, chị Bốn Chìa Vôi mừng rỡ, kêu lên: “May ơi là may! lại gặp bà con. Ông Trời có con mắt, không nỡ hại người hiền lương lòng ngay dạ thẳng.”
Chị nức nở. Chị cảm động. Chị đội ơn Trời Phật đã xui khiến người ta đưa chị đi bệnh viện kịp thời, xui khiến chị gặp lại tôi. “Thế nầy là tui không bơ vơ, tui có chỗ nương tựa rồi. Tui sống rồi. Nó hại tui, nhưng Trời Phật thương tui, bà con thương tui v.v...”
Tôi thuật lại câu chuyện, cả nhà không biết nói sao. Chỉ có chút thắc mắc là chị Bốn nỡ đem cỗ thọ đường của bà tôi bán đi. Chỗ thắc mắc ấy, tới khi các vết thương gần lành, hàng ngày ra vào gặp nhau trò chuyện, rồi chị Bốn cũng dò hiểu tâm lý chúng tôi. Và chị chắp hai tay trước ngực van vái: “Xin Trời Phật chứng giám, tui có lòng nào, xin cho bom đạn phân thây tui ra.” Xong chị buông tay xuống trợn tròn mắt, kể đầu đuôi tự sự: Đêm nọ, vào quá một giờ sáng, cán bộ gọi cửa, đồng bào thức giấc trông thấy “giải phóng” kéo về thật đông. Nhà nào có thọ đường của ông già bà cả đều bị trưng thu trưng dụng. Quyết định xong, thi hành liền. Bao nhiêu cỗ thọ đường trong làng bị họ khênh ra hết. Khênh ra ngoài bóng tối, lao xao một lát, rồi biến đi đâu mất. Như thế tức là vừa có đụng độ gần đâu đây, bên lực lượng bị thiệt hại nặng về nhân mạng. Sáng ra ban tự quản cấp cho mỗi thọ đường có chủ thứ tốt năm trăm, thứ xấu ba trăm. Chị Bốn ChìaVôi nêu lên vấn đề cỗ thọ đường của bà tôi. Sáu Ty hỏi: “Ai là chủ đây?” Chị đáp: “Có tui. Tui nhận thay.” Sáu Ty: “Ủa, lại mợ.” Thế rồi nó bác bỏ, nhất định nó bác bỏ, không cho chị nhận xu nào. Chị Bốn lại chắp hai tay trước ngực: “Có Trời Phật chứng giám, con đòi chúng nó năm trăm đồng có phải để con tiêu đâu. Định tâm giữ đó rồi nộp lại bà. Bà đã gởi gắm thứ nọ thứ kia cho con, con không giữ nổi để chúng nó lấy cả đi mà không bồi thường đồng nào, con còn mặt mũi nào gặp lại bà.” Chị đau đớn, gần khóc. Ruộng của chúng tôi, bò của chúng tôi, chị đòi cày, ấy cũng là để giữ lấy nộp lại bà. Không thì mặt mũi nào.
Nhưng con sáu Ty, khiếp, nó nghiệt ngã không tưởng tượng được. Nó xoi mói, vạch kẽ từng ly từng tí. Mỗi lần chị đi nộp lúa đảm phụ, nó chê lúa lép, đem ra giê lại; lúc đưa vào cân, thiếu mấy trăm gam nó cũng đuổi về không nhận. “Con hết lời với nó: ‘Sáu, mày nghĩ lại, hồi nào mợ hốt cứt hốt đái cho mày, mợ rửa háng rửa khu cho mày. Mày nhận cho mợ đi, thiếu bao nhiêu rồi mợ sẽ đem thêm tới nộp đủ.’ Nhưng mặt nó cứ như sắt nguội. Thưa bà, lòng dạ nó không như lòng dạ mình đâu. Mình thì dễ xiêu, chứ nó...” Nó, con Sáu Ty, nó là thứ người kỳ lạ lắm kia. Chị Bốn Chìa Vôi chồm tới, níu vai cô tôi, kéo lại thì thầm một lát. Cô tôi xô chị ra: “Mụ nói cái quỉ gì đấy? Có thật không?” — “Trời Phật chứng giám, nó không còn ở đời nữa, tui đặt điều thêm thắt cho nó làm gì. Vừa với thằng Ba Thiên vừa với thằng Bướm. Ít nhất hai thằng...” Chị níu vai cô tôi, thì thầm vào tai. Một lát, cô tôi xô chị ra, đỏ mặt: “Mụ nói yêu nói quỉ”. Chị Bốn nhiệt liệt: “Có Trời Phật... Con mà nói dối! Rõ ràng khi con trông thấy thì đũng quần nó hãy còn ướt nhẹp...” Chị vội vàng đưa hai bàn tay bụm miệng lại. Nhưng chậm quá, mọi người vừa kêu la phản đối vừa sặc lên cười. Thấy thế, chị tự cho phép bỏ bàn tay che miệng ra, và tiếp tục kể. Hôm con Sáu Ty bị phục kích bắn ngã, đồng bào ai nấy đều bảo nhau như thế là phải, không tránh khỏi: nó mang nợ với đồng bào nhiều quá, nó phải trả. Nghĩa quân dưới quận nhắn về làng bảo: “Thân nhân con Sáu Ty, ai chôn cất thì hãy cột chân mà lôi, đừng nâng đầu.” Vừa lôi xác nó nhúc nhích một cái là quả lựu đạn cài sẵn dưới đầu phát nổ ngay. “Con nghe tin. Con vội vàng tay xách một ấm nước đầy tay mang theo chiếc chõng tre. Con chạy thẳng ra gò định khiêng nó lên chõng, rửa ráy sạch sẽ, mặc lại đồ đạc tử tế cho nó trước khi đặt nó vào áo quan. Thưa con đã kỳ cọ khắp người nó trước kia, bao giờ con cũng coi nó như còn nhỏ. Con thương nó. Nhưng trời ơi, lúc tới nơi lật manh chiếu ra trông thấy cái xác không đầu, con không còn hồn vía nào nữa. Con quăng cái ấm đổ nước tung tóe, nhảy ngược lại, con khiếp quá, không dám hé mắt nhìn nữa. Thưa có Trời Phật chứng giám... con thương nó lắm kia. Mình ăn ở lòng ngay dạ thẳng v.v...”
Vừa bắt đầu chống nạn đi lại được, chị Bốn Chìa Vôi đã hoạt động. Chị nấu giúp ấm nước cho người này, mua giùm lon sữa, trái chuối cho người khác v.v... Chị được các bệnh nhân khác cho tiền tiêu. Chúng tôi có cảm tưởng một mai lành bệnh hẳn, chị có thể xin một chân giúp việc nhẹ trong bệnh viện có lẽ cũng không khó. Như thế chị sống ở thành phố, xa lánh chỗ nguy hiểm. Bây giờ chị tàn tật rồi, không làm được việc nặng, về quê làm gì sinh sống nổi?
Trong lúc ấy, một vài người ở làng trốn ra bảo với chúng tôi: “Nghe nói đứa con trai của mụ Bốn ném lựu đạn vào nhà giết chị đấy. Chị nó lấy lính quốc gia là lấy kẻ định giết nó. Nó phá đám cưới. Còn con Sáu Ty? Thì chính là mụ Bốn dẫn đường chỉ lối cho nghĩa quân phục kích chứ còn ai vào đấy?”
Chị Bốn không phải không nghe phong thanh những lời như thế. Chị khinh thị: “Quân ấy chỉ được cái đểu giả. Thời buổi này nhà nào ở thôn quê không thế: con bên này cha bên kia, anh bên này em bên kia. Hễ cứ em bị bắn chết là tụi nó đồn anh hại, cha bị mìn là con hại. Nó chia rẽ. Nhưng nó qua mặt con này sao được? Rõ ràng tiếng nói ngoài rào tối hôm đó là tiếng thằng Bướm, con này lạ gì”. Chị cười gằn khó hiểu.
Thế rồi ít lâu, không gặp chị Bốn nữa. Hỏi lại thì ra chị đã rời tỉnh lỵ. Chị đã về làng.

Ở thành phố, nhà chúng tôi cũng được trang điểm một cách rất nhàm như hầu hết những nhà khác: Mặt tiền không còn được mấy tí đất, vài chậu hoa nép sát hè, dưới bóng một cây bông giấy đỏ. Thường, trong mười nhà trồng hoa phía trước, ở đô thị, đã có chín nhà trồng bông giấy. Giống cây mạnh lạ lùng, không cần chăm nom gì mà nhiều lá nhiều hoa. Càng khô nắng lại càng nhiều hoa.
Một buổi sáng, nhân theo dõi một nụ lan huệ tôi để ý đến một vệt trắng trên lá lan. Xem đi xem lại, tôi bỗng phập phồng phấn khởi: phân chim.
Tôi không còn bé nhỏ nữa, ồ không, tuổi nhỏ của tôi đã cách biệt xa tít, đã bị cuộc chiến tranh, nói đúng hơn là hai cuộc chiến tranh, che khuất từ lâu. Thật bất ngờ, tôi không tưởng tượng rằng hi vọng bắt được một con chim có thể gây nơi lòng mình một xúc động vui mừng như thế. Y như ngày nào còn bé thơ. Thế mới biết mối cảm tình giữa người và chim thực sâu xa vô hạn.
Ở thành phố, từ lâu chúng tôi không được gần gũi chim chóc. Tưởng đã quên chúng, nhưng kỳ thực đâu đó trong lòng vẫn tiềm tàng một khao khát nhớ nhung. Bỗng nhiên gặp một giọt phân chim, niềm vui bừng dậy. Thế ra đêm đêm vẫn có chim ngủ sát ngoài hiên nhà? Ở đâu? Trên một nhánh bông giấy nào đó chăng?
Buổi tối, tôi rình chờ, không thấy con chim nào về ngủ cả. Vài ba hôm sau, trên lá lan, lại có một hạt phân chim trăng trắng nữa. Tối đến, rón rén ra xem vẫn không thấy chim đâu. Thì ra mãi đến lớn, sống quá nửa đời người tôi vẫn không tìm được cơ hội tự mình bắt con chim tự do. Tôi chỉ có thể thưởng thức cái thú vuốt ve, ngắm nghía những con chim do chị Bốn Chìa Vôi cho. Tôi nghĩ đến chị Bốn.
Chị trở về làng làm gì? Chị đã mất một người chồng, một đứa con rể ở làng. Chị đã mất đi nửa ống chân và quá nửa ngôi nhà ở làng. Một đứa con gái dở dang và một đứa con trai thất lạc... Như vậy không đủ ê chề rồi sao? Chị còn trở về làng làm gì với thân hình thủng nhiều vết và với cặp nạng? Dĩ nhiên không phải vì mấy đám ruộng và mấy con bò của chúng tôi. Tôi lấy làm hổ thẹn và hối hận. Sao trước kia chúng tôi có thể bất bình với chị vì những thứ đó được nhỉ? Nó nhỏ mọn biết bao! Chúng tôi đã sợ hãi, đã bỏ chạy. Cái nơi mà chúng tôi lánh xa, chị Bốn nhất định lần về. Lần này, tôi tin thái độ của chị không do lòng tham lam. Để có thể thản nhiên trở về chỗ tử địa, chỗ sấm sét ấy, con người phải được hướng dẫn bởi một thứ tình cảm mãnh liệt. Không biết là thứ tình cảm gì, tốt hay xấu, nhưng nó phải thực mãnh liệt. Chỉ nghĩ đến mức độ mãnh liệt ấy đã cảm thấy mọi so đo tính toán đều nhỏ mọn, không xứng.
Chị Bốn Chìa Vôi về làng được ba tháng, có người nói chị bây giờ như con hổ thọt. Chị dữ tợn vô song. Thằng Bướm — em vợ của Ba Thiên — bị phục kích hai lần, đều do chị mách. Ba Thiên cho vợ về quận qui chánh. Thím Ba nhờ Hai Mỏ Gảy vận động với Tư Huệ Héo, tìm cách đưa chồng trở về. Nhưng chị Bốn Chìa Vôi thì cứ lồng lên: Nó mang nợ với đồng bào nhiều quá lắm. Nó phải trả. Hồi chánh thế nào được.
Chị Bốn đứng về phe nhất định đòi nợ. Họ rình rập, nghe ngóng, thề không để cho Ba Thiên lọt tới cơ quan hữu trách. Họ phải đón Ba Thiên giữa đường.
Lấy oán báo oán, oán oán chập chồng. Biết bao giờ gỡ xong. Nhưng họ say rồi, họ bị thu hút vào cơn lốc.
Một buổi sáng vô vị ở chỗ đô thị, nhìn giọt phân chim nhỏ trên lá tôi bồi hồi nghĩ đến chị Bốn Chìa Vôi. Cuộc đời của chị, ngày nay, bỗng nhuốm vẻ bi đát, khốc liệt, làm cho sự yêu ghét trách giận của những kẻ ở chỗ yên ổn như tôi đều không xứng đáng. Chị Bốn Chìa Vôi, người đàn bà thô tục, tuệch toạc ấy.

Cuối năm, chúng tôi càng chú ý nhiều hơn đến mấy chậu hoa trước hè. Do sự chăm sóc ấy, tôi có dịp làm gãy một nhánh lan.
Thứ lan huệ, hoa nó màu tím, cánh mỏng, trông rất mong manh. Nhất là hoa nở ở đầu chót một cọng tròn bằng que tăm mà dài ngót nửa thước tây, vì vậy càng có vẻ mong manh. Mỗi cơn gió thoảng làm chùm hoa gật gù gật gù, cánh hoa mấp máy rung rinh.
Tiếc nhánh hoa, tôi đem cắm nó vào một ly nước. Sáng hôm sau, vẫn còn tươi, tuy không nở thêm chiếc hoa nào. Đầu cành có hai hoa nở, một nụ lớn, hai nụ bé; và tình trạng vẫn nguyên như thế sau hăm bốn giờ.
Sáng ngày sau nữa, trông lên bàn, thấy nó vẫn còn đó, mong manh mà nguyên vẹn. Tôi ngạc nhiên. Nụ lớn bằng đầu ngón tay út, vẫn cứ no đầy, tuy không hé ra nổi. Suốt ngày hôm ấy, thỉnh thoảng tôi thăm chừng. Nó có vẻ cầm cự được đến chiều. Chiều, quả nhiên vẫn tươi.
Hôm sau, thức giấc, tôi ngước mắt tìm nó liền. Vẫn tươi. Sau bảy mươi hai giờ, chỉ được tiếp tế nước qua một nhánh nhỏ như que tăm, cả hoa cả nụ vẫn không hề hấn gì. Cánh hoa mỏng như tờ giấy, sức chịu đựng của nó bền bỉ lạ. Tôi càng tò mò.
Hôm sau nữa, cuống hoa bắt đầu nhăn rồi. Tuy vậy tất cả chưa sụm hẳn. Nó còn đương đầu nổi ít ra trọn ngày hôm ấy. Chín mươi sáu giờ? Mấy đóa hoa mong manh như thế, lìa khỏi thân cây, vẫn tiếp tục tươi tắn trong khoảng thời gian đủ cho quân đội Do Thái phát khởi và kết thúc một cuộc chiến tranh.
Chiến tranh có thể có những hình thức bạo liệt mà chớp nhoáng như vậy. Nghĩ đến cuộc chiến tranh ấy rồi nghĩ đến thứ chiến tranh trên đất nước mình! Nó phát khởi từ ngày chị Bốn Chìa Vôi chưa chồng cho tới ngày nay, đứa con trai của chị đến tuổi gia nhập “lực lượng”, vác súng “bia” lên trời đoành đoành. Nó phát khởi từ ngày chị Bốn Chìa Vôi rửa ráy kỳ cọ khắp người con Sáu Ty, cho đến ngày nay Sáu Ty trở thành cán bộ chấp hành chính sách một cách khắt khe, ngã gục, để không còn đầu cho chị Bốn rửa lần cuối.

Người ta vẫn trách nền văn hóa chúng ta thiếu những công trình đồ sộ: không có Vạn Lý Trường Thành, không có Đế Thiên Đế Thích, thậm chí cũng không có những kiến trúc bằng cỡ tháp Chàm. Hôm nay thì chúng ta có thể vênh mặt lên vặn hỏi: Thế cuộc chiến tranh phần tư thế kỷ của chúng tôi? Vĩ đại chớ?
Và chắc chắn không còn ai dám cãi. Đánh nhau vào hậu bán thế kỷ thứ hai mươi không phải là trò chơi. Hãy tính số bom rơi trên đất nước Việt rồi chia cho từng đầu người xem; hãy tính số phát đạn cỡ lớn cỡ nhỏ bắn ra trong một trận đánh tại Việt Nam xem; chúng ta có ngay những con số danh dự, khả dĩ so sánh với bất cứ thành tích của bất cứ cuộc chiến tranh quốc tế nào, từ Thái Bình dương qua Đại Tây dương.
Trong những trường hợp hùng biện long trọng, trên các diễn từ, tuyên ngôn v.v... ít khi các chính khách quên nhắc đến hơn hai mươi năm khói lửa, phần tư thế kỷ quằn quại v.v...; trong thơ phú văn chương, văn nhân nghệ sĩ cũng không ngớt nói đến phần tư thế kỷ quằn quại, hơn hai mươi năm khói lửa. Con số càng lớn, khả năng xúc động càng cao. “Phần tư thế kỷ... dân tộc đau thương...”, lắng kỹ mà nghe: trong câu văn, trong giọng nói của những kẻ đề cập đến cuộc chiến tranh vĩ đại in tuồng có ngầm phảng phất chút gì như sự kiêu hãnh! Không sao?
Đối với những người như chị Bốn Chìa Vôi, một phần tư thế kỷ trước, chỉ thấy ở chị mấy nét tinh ranh, tính chai lỳ, lối ăn nói tục tĩu. Đã hẳn không phải đó là những nết quí đáng mơ ước. Nhưng những gì nhận thấy ở chị một phần tư thế kỷ sau thực đáng ngại. Có phải đích là chị đã lập tâm hại con Sáu Ty? Tôi không dám tin hẳn lời đồn của nhiều người. Tuy vậy những khi chị Bốn Chìa Vôi thuật lại cái chết của Sáu Ty và kết thúc: “Con thương nó, con thương nó lắm kia”, trông nét mặt và nghe giọng nói của chị có cái gì rờn rợn. Chị có giết người hay không giết người, có “đòi nợ” hay không “đòi nợ”, những gì xảy ra ở chốn hỗn độn ấy đều vô bằng, khó minh xác; nhưng trong tâm hồn chị rành rành đã có một yếu tố mới. Nó làm cho lời ăn tiếng nói chị khác đi, hành vi phong thái của chị khác đi, khác trước một cách đáng sợ.
Mà chị biết làm sao được? Chị sống giữa hoàn cảnh như thế, trong hỏa ngục, trong giết chóc, xâu xé hàng ngày, chị phải tả xông hữu đột để tranh sống. Làm sao ngăn cản ảnh hưởng một hoàn cảnh ác liệt như thế khỏi thấm nhiễm vào tâm hồn chị? Ngày một ngày hai, chị biến cải. Cuộc chiến kéo dài lâu quá: Trong nguy biến chị phản ứng tàn nhẫn, rồi quen với những phản ứng ấy.
Mai sau, khói lửa với quằn quại chấm dứt, nhưng cái nét tàn nhẫn nọ rồi có sẽ lưu lại như một di tích trong tâm hồn chị và những người như chị, lưu lại như một thêm thắt vào cái vốn các đặc tính truyền thống của dân tộc chăng?
Chém giết, dù kịch liệt đến thế nào, trong một trăm, hai trăm giờ rồi ngừng, thì chuyện có thể trôi qua. Nhưng chém giết lọc lừa suốt phần tư thế kỷ, như thế liệu có thành một tập quán sinh hoạt gây tệ hại tâm lý lâu dài?
Tôi theo dõi con chim quí báu ở đô thị nép ngủ trước hiên nhà tôi. Buổi chiều, không hề trông thấy nó về. Tối, nửa đêm, tôi thình lình rón rén hé cửa bước ra, soi tìm. Vẫn không thấy. Một đêm mưa lạnh, tôi nghĩ nó phải tìm xuống đậu những cành thấp. Họa may dễ trông thấy hơn chăng. Tôi hé cửa, rón rén. Lại chẳng thấy gì.
Ngẫu nhiên, một buổi sáng, trên bàn viết tôi bắt gặp một vết phân trắng y hệt trên lá lan. Thế này thì là một chú thạch sùng rồi!
Trời, lẫn lộn chim chóc với bò sát. Sự ngộ nhận không thể tha thứ được. Cuối năm, tôi ghi nhận thêm một sự sai lầm nham nhở, bẽ bàng.Võ Phiến

Bài viết hay(1150)

Tôi có một giấc mơ: "Việt Nam quật khởi hòa bình"
Quan sát từ những sự kiện tiêu cực
Gần đây có xảy ra rất nhiều hiện tượng tiêu cực do một số thành phần xấu người Việt gây ra ở Nhật xin kể ra đây một số trường hợp điển hình
Cùng với những sự kiện này là một loạt các biển cảnh báo ăn cắp ăn trộm bằng tiếng Việt xuất hiện ở nhiều nước được mọi người chia sẻ qua mạng. Điều này làm cho rất nhiều người trong nước cũng như ngoài nước cảm thấy xấu hổ. Tôi được thấy trong những comment trên các trang báo mạng, cũng như trên group cộng đồng Việt Nhật do mình làm Admin có những câu than phiền thế này “Bách nhục”, “Nhục toàn tập”, “Không còn gì để nói”, “Giờ khi có người hỏi đến từ đâu không biết phải trả lời thế nào”. Đó mới chỉ là những điều dễ nghe nhất, còn nhiều từ ngữ khác nặng nề hơn và cả lời lẽ tục tữu xin không trích dẫn ra ở đây. Liền theo đó một loạt các bài share về “kinh nghiệm xấu hổ vì là người Việt Nam” về những điều đích thân các bạn đã chứng kiến người Việt đã làm trên đất Nhật. Bức tranh toàn cảnh nói chung là rất ảm đạm, mọi người cùng thấy bi quan, tuy nhiên tôi muốn các bạn thử nhìn vào một bức tranh khác,
Thái cực đồ Hình minh họa cho bài viết này được được gọi là thái cực đồ (hình đồ họa về thái cực), đã được cách điệu hóa đi với hình ảnh hai con cá trắng và đen quấn lấy nhau. Về thái cực đồ có lẽ cũng nhiều người biết nhưng tôi vẫn xin giải thích lại
Thái cực là nguyên lý vận động vừa thống nhất vừa đối lập tồn tại song song với nhau của hai yếu tố gọi là Âm và Dương, thái cực đồ là sự mô tả trực quan hóa sự vận động trong thống nhất và đối lập này, Âm Dương chính là cơ cấu của sự biến hóa không ngừng: Chúng nương tựa lẫn nhau mà hình thành phát triển, hai mặt Âm và Dương luôn luôn trong chu trình tuần hoàn ảnh hưởng tác động qua lại, vừa thúc đẩy vừa ức chế kiềm hãm lẫn nhau.
Thái cực đồ mô tả những nguyên lý căn bản nhất của vũ trụ nên mọi sự vật hiện tượng trong đời sống tự nhiên và xã hội đều chịu sự chi phối của nó, tuân theo những quy luật của nó. Và trong số những quy luật ấy có cả quy luật nhận thức của con người nữa. Đối với quy luật mà nói, khi nào ta nắm bắt được nó, dùng nó làm cộng cụ để quan sát và điều chỉnh hành vi của mình thì chúng ta có nhận thức đắn và hành động đúng dẫn tới thành công, ngược lại thì dẫn tới nhận thức sai lầm và dẫn tới những hành động không mang lại hiểu quả gì để thay đổi cải thiện cuộc sống mà thậm chí còn gây ra thất bại kéo lùi chất lượng cuộc sống của chúng ta xuống.
Sử dụng mô hình thái cực đồ làm cơ sở cho thế giới quan của mình chính là tiền đề cho sự nhận thức và đánh giá đúng đắn những gì đang diễn ra và có hành động phù hợp tương xứng với nó. Chúng ta cần lồng ghép bức tranh này vào các bức tranh khác mà chúng ta quan sát được, sẽ có thấy được nhiều điều sáng tỏ trong nhận thức và trong quan niệm của mình.
Hình ảnh trừu tương Âm cõng Dương, Dương cõng Âm đó được vẽ như hình hai con cá trắng đen quấn lấy nhau, cá trắng mắt đen và cá đen mắt trắng biểu thị là trong âm có dương và trong dương có âm.
Trong đời sống cá nhân và xã hội thì nguyên lý này biểu hiện ra qua những kinh nghiệm đã được đúc kết như “trong cái phúc luôn có cái họa, trong họa luôn tiềm ẩn cái phúc”. Trong cứ một hoàn cảnh tiêu cực nào, tình huống tiêu cực nào cũng có những yếu tố tích cực và ngược lại.
Và bản thân tôi sử dụng thái cực đồ làm nền tảng cho thế giới quan của mình nên khi nhìn sự việc bao giờ tôi cố gắng tìm cách ra yếu tố tích cực trong bối cảnh đầy rẫy tiêu cực đó để làm sao sử dụng tình huống và hoàn cảnh theo hướng có lợi nhất.
'Facts' và 'Issues' Qua tiếp xúc với những người phương Tây mà mình biết, quan sát họ một thời gian tôi nhận thấy rằng trong văn hóa phương Tây để lại dấu ấn trong tư duy và cách làm của họ một sự phân biệt rất rõ hai khái niệm 'Issue' (vấn đề, sự cố) và 'Fact' (Sự kiện thực tế). Cái gì là Fact thì người ta sẽ chấp nhận nó rồi tìm cách hành động sao cho có lợi nhất từ nó còn cái gì là Issue thì người ta sẽ tìm cách khắc phục để sửa nó.
Ví dụ nhà bạn có cái Tivi bị hỏng thì nó là một Issue, việc bạn cần làm là sửa cho nó trở lại trạng thái bình thường. Còn trong một trận chiến mà bị thiệt hại 2 tiểu đoàn thì việc đó gọi là Fact, những người đã chết không thể nào mà sống lại được, nó không thể sửa chữa được điều đó vì nó là quá khứ rồi nên nó là Fact, chúng ta chỉ có thể chấp nhận nó mà thôi, điều vị tư lệnh sư đoàn cần làm là đưa ra phương án hành động tiếp theo sao cho có lợi nhất cho quân đội.
Nói ví dụ thì dễ hiểu như vậy nhưng trong thực tế thì chúng ta lại không phân biệt được đâu là Fact và đâu là Issue. Nhất là người Việt Nam duy cảm lại hay bám giữ vào quá khứ, nhiều khi cứ cố gắng làm những cái mà không thể thay đổi được nữa rồi, thi trượt đại học rồi không chấp nhận sự thật khó nuốt đó là Fact, vẫn viện dẫn vào những lý do giá mà…để dằn vặt mình về việc đã xảy ra… Trong khi họ không biết rằng chính cái lối tư duy đó chứa đựng những Issue cực lớn mà họ cần phải thay đổi và có thể thay đổi để cải thiện cuộc sống và hoàn cảnh của mình.
Những người có suy nghĩ đó là vì tư duy của họ luôn đóng khung vào cái có sẵn và không hướng về phía trước,biểu hiện cao của nó là cái tính “dây dưa, lèm bèm” không dứt khoát và không có gì đổi mới cả.
Quay lại vấn đề “sự tiêu cực của người Việt” thì quan điểm của tôi là những việc xấu đó bản thân tôi không làm mà do người khác làm và việc như vậy cũng đã xảy ra rồi nên nó xếp vào loại Fact chúng ta cần chấp nhận chứ nó không phải là loại Issue, việc chúng ta nhận thức và có ý kiến đánh giá về nó là đúng, cần chia sẻ sự kiện đó để mọi người cùng biết cũng là đúng, nhưng nếu chỉ thở vắn than dài thì tức là vẫn còn có tâm lý quay về quá khứ “giá mà nó không xảy ra thì tốt biết bao”. Nhưng nó là Fact chứ không phải Issue nên đối với tôi thì điều tôi mà cần quan tâm bây giờ là xem cái sự kiện đó, cái Fact đó nó tác động ra sao đến cuộc sống của mình và của người Việt nói chung một cách tích cực. Tức là chúng ta phải tạo ra điều lợi từ một điều bất lợi mà hoàn cảnh mang lại cho mình. Phải đi tìm cái mắt trắng trong con cá đen và mắt đen trong con cá trắng. Và hiển nhiên là cái mắt mà tôi muốn tìm đó nó luôn luôn tồn tại, chắc chắn phải tồn tại vì đơn giản nó là quy luật tuyệt đối của vũ trụ rồi.
Ở phần trên tôi có nhắc đến cảm giác nhục nhã mà một số bạn đã chia sẻ. Đọc đến đoạn này các bạn có thử nghĩ xem là “Liệu có thể khai thác được điều gì đó có lợi từ sự nhục nhã không nhỉ?”. Đó chính là câu hỏi mà tôi đã đi tìm và có được cho mình câu câu trả lời trong những bài học lịch sử.
Hai bài học lịch sử Bài học đầu tiên tôi xin kể đó chính là một sự kiện xảy ra ở nước Nhật cách đây hơn 160 năm, vào thời mà nước Nhật còn hoàn toàn là một nước nông nghiệp lạc hậu nằm dưới chính sách tỏa quốc (Sakoku) của Mạc Phủ Tokugawa, nước Nhật lúc đó cũng không khác nhiều lắm so với Việt Nam về điều kiện hoàn cảnh xã hội. Năm 1853 Phó đề đốc Matthew Perry của Hải quân Hoa Kỳ cùng với 4 chiến hạm tiến vào vịnh Edo-(tên cũ của Tokyo) phô diễn sức mạnh của các pháo hạm bắn nát các pháo đài ven bờ biển của Nhật làm cho người Nhật cảm thấy vừa nhục nhã vừa khiếp sợ trước sức mạnh của hải quân Hoa Kỳ, nhưng chính sự nhục nhã và khiếp sợ đó lại châm ngòi cho một cuộc đổi thay có một không hai trong lịch sử của mình. Thay vì chịu thúc thủ, ngồi bó gối một xó tự huyễn hoặc về mình như triều đình Tự Đức ở Việt Nam thì người Nhật lúc đó đã vượt qua được nỗi sợ và sự nhục nhã của chính mình, khát vọng tự đổi mới, thay đổi số phận dân tộc đã làm cho họ học tập phương Tây để làm cuộc canh tân đất nước. Và sự nghiệp đó đã thành công rực rỡ dưới cái tên “Cách mạng duy tân Minh Trị”, nên có thể nói rằng một cách gián tiếp, chính sự hổ thẹn mang tính dân tộc, sự khiếp sợ đã làm đẻ ra nước Nhật hiện đại ở vị thế cường quốc như hiện nay.
Vậy thì sự nhục nhã không có gì đáng sợ, cái đáng sợ là cách chúng ta tiếp nhận nó một cách tiêu cực. Vấn đề nằm ở cách chúng ta suy nghĩ và tư duy thế nào. Tôi có thể khẳng định rằng trong bất cứ hoàn cảnh tiêu cực tăm tối nào đều có ánh sáng để dẫn chúng ta tới một tương lai huy hoàng hơn.
Ví dụ thứ 2 đó là bài học từ nước Mỹ. Vào năm 1777 quân đội 13 bang thuộc địa của Mỹ do Washington lãnh đạo bị quân đội Anh truy đuổi lòng vòng từ Boston tới New York, đội quân của ông chỉ teo lại còn vài trăm người. Thất bại to lớn đã cận kề, quốc hội của quân khởi nghĩa (Mỹ) phải bỏ chạy từ Philadenphia tới Baltimore. Trong tình huống như vậy thông thường các lãnh đạo sẽ tìm cách chờ đợi qua mùa đông thu thập thêm lực lượng hy vọng sự thay đổi nhưng Washington có cái nhìn khác hẳn, theo nhận thức của ông thì quân Anh sẽ xem quân đội của ông là yếu ớt không thể tạo ra guy cơ cho họ và người Anh đã không hề phòng bị Washington. Nhờ nhỏ gọn nên quân đội của Washington đã di chuyển gọn nhẹ bí mật mà kẻ thù không hề biết rồi tung ra cuộc tấn công bất ngờ vào doanh trại ở Trenton, sau đó là một cuộc tấn công khác vào đường tiếp vận của quân Anh ở Princeton. Những cuộc tấn công thu được tiếng vang lớn và khôi phục niềm tin của dân chúng Mỹ và niềm tin sâu sắc vào sự lãnh đạo của Washington, tạo ra cục diện lật ngược tình thế trên chiến trường, tiến tới thu được sự độc lập hoàn toàn cho nước Mỹ.
Nếu không có tư duy khác người của Washington chắc nước Mỹ siêu cường ngày nay đã có một tương lai khác đi rất nhiều. Và chính suy nghĩ khác người đó làm nên tầm vóc của Washington, làm nên lịch sử của một cường quốc.
Chúng ta đừng vì bất cứ điều gì mà hạ thấp đi tiềm năng của mình, suy nghĩ như thế nào là rất quan trọng, nó có thể ảnh hưởng đến vận mệnh của chính chúng ta và vận mệnh của chính dân tộc mình (nếu trong số các bạn đọc bài này có ai đó là Washington của Việt Nam thì điều này có thể lắm chứ). Thế nên điều cần nhất cho mỗi chúng ta bây giờ là chọn cách nghĩ thế nào khi chúng ta đối diện với những sự kiện như đã nói ở trên?
Tôi có thể có thể kể ra vài lợi điểm ở đây. Những sự kiện trên rõ ràng là thu hút được sự quan tâm của đa số mọi người. Bất cứ sự quan tâm rộng rãi nào đến một sự kiện nào đó cũng tạo ra một hoạt động chung, thái độ chung của cộng đồng, làm người ta có nhu cầu kết nối với nhau, và chúng ta đang cùng nhau chia sẻ cảm nhận của mình về sự kiện chung đó, vấn đề là phải biết lái sự kiện này sang hướng thức tỉnh tư duy, thức tỉnh nhận thức. Biểu hiện đầu tiên của sự thức tỉnh chính là thay đổi cách nhìn vấn đề như tôi đã đề cập ở trên. Vì thay đổi cách nhìn chúng ta sẽ thấy đây chính là cơ hội, chính là thời điểm và cơ hội để chúng ta đổi mới bản thân mình. Đổi mới này có thể tiếp cận từ hai phương diện là nhận thức và hành động.
Về nhận thức các bạn có thể tìm kiếm các bài học lịch sử cũng như trong cuộc sống hàng ngày những ví dụ sống động nhất về việc không chịu khuất phục trước hoàn cảnh, mỗi lần như thế các bạn sẽ tìm ra được con đường cụ thể cho mình để đi tới một hoàn cảnh tốt đẹp hơn.
Về hành động thì thay vì xấu hổ là người Việt Nam, né tránh người Nhật thì hãy dũng cảm vượt qua sự mặc cảm và tự ti, mà hãy tự hào rằng mình là người Việt Nam,các bạn hãy mạnh dạn nghĩ rằng “Việt Nam không chỉ có người xấu mà có những người tốt như tôi đây (tôi ở đây chính là các bạn đang đọc những dòng này), tôi sẵn sàng chứng minh để khẳng định điều đó, khẳng định rằng người Việt Nam xứng đáng được tôn trọng như một công dân quốc tế”!
Để làm được điều đó thì các bạn phải biết phát huy những gì được gọi là điểm mạnh của người Việt Nam mình.
Đặc tính cơ bản của người Việt Trước đây tôi có một ông thày giáo dạy tiếng Anh người New Zealand, có lần ông ấy có hỏi tôi là “Mày có biết đặc điểm nổi trội nhất của người Việt Nam đó là gì không?”. Lúc đó tôi cũng có liệt kê ra cả mấy đức tính tích cực và tiêu cực, nhưng ông ấy nói “Sai hết, tao là người nước ngoài có khi tao còn nhìn rõ hơn chúng mày”. Ông ấy nói người Việt Nam đặc tính nổi trội nhất là Industrious. Từ này là từ phái sinh từ từ industry nghĩa là công nghiệp nhưng khi nó ở dạng tính từ nó lại mang nghĩa của một phẩm chất, tính cách của con người. Dịch ra thì khó tìm được từ thực sự chuẩn xác với nghĩa tương đương trong tiếng Việt, nhưng tôi sẽ kể lại cho các bạn ví dụ mà ông thày mình lấy ra để minh họa tại sao tính cách nổi bật nhất của người Việt Nam lại industrious. Ông kể cho tôi hai ví dụ:
Thứ nhất là ông kể về một lần đi du lịch bằng xe ô tô với gia đình người bạn Việt của ông ở New Zealand gặp một chợ bán đồ, vì ở New Zealand họ hay có những hội chợ, khu chợ ngoài trời bán đồ rẻ, khách đi qua có thể mua được nhiều món hời. Lần đó ông và bạn mua được bộ Salon rất to, thường người New Zealand mua đồ cồng kềnh như vậy mà chở về nhà xa thì họ sẽ mua thêm một cái xe rơ móoc đi kèm để chở đồ, nên ông đề xuất mua cái xe đó, nhưng anh bạn Viêt Nam kia cười lắc đầu xua tay bảo không cần, ông rất ngạc nhiên xem anh ta làm thế nào, về sau mới biết cách anh ấy làm là cho bộ Salon lên nóc xe rồi buộc lại. Với người Việt chúng ta thì điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì hàng ngày chúng ta nhìn thấy người ta chở đồ, chở hàng chẳng khác gì siêu nhân ở khắp mọi ngóc ngách nẻo đường Việt Nam, nhưng trong mắt người nước ngoài thì rất lạ lẫm.
Ví dụ thứ hai ông nói tiếp theo là “vì lần đó mà sau này tao mới hiểu là tại sao Việt Nam lại thắng ở Điện Biên Phủ”. Ông giải thích rằng “Theo cách người Pháp tư duy (đặc điểm chung của những người phương Tây như ông) thì họ sẽ không thể nào tính đến khả năng người Việt Nam lại tháo từng khẩu pháo ra rồi dùng xe thồ để chở lên núi rồi bất ngờ nã xuống đầu quân Pháp, chắc chắn các tư lệnh Pháp cũng ngạc nhiên khi thấy Việt Minh có pháo ở trên đầu họ như ông thấy bộ salon trên nóc xe vậy.”
Sau này tôi cũng có sự quan sát riêng của mình và cảm thấy mình đa phần đồng tình với ý kiến này của ông. Về đặc tính Industrious này mà nói thì nó có cả khía cạnh tiêu cực lẫn tích cực. Khái quát từ ví dụ đó có thể nói Industrious là khả năng “Giỏi xoay sở, không khuất phục trước hoàn cảnh, có cá tính quật khởi”. Ở đây việc giỏi xoay sở không khuất phục trước hoàn cảnh, có cá tính quật khởi không đồng nghĩa với một lời khen. Bản thân việc đó có thể là tốt hoặc xấu tùy theo mục đích mà đối tượng mà tính cách đó hướng đến là gì. Một tên cướp có thể quật cường để trốn thoát khỏi vòng vây của cảnh sát, nhưng đó là hiện tương tiêu cực, một hiệp sĩ quật cường dám ra tay đuổi đánh kẻ cướp hung hẵn như các hiệp sĩ ở Sài gòn đó là hiện tượng tích cực.
Cái này thì có thể nói là có sẵn trong máu của người Việt Nam rồi, có thể đã được mã hóa vào trong gene cũng nên. Bởi vì chúng ta là một dân tộc nhỏ bé nhưng lại sống ngay cạnh ông láng giềng to lớn nhiều lần tràn qua đất nước ta như những cơn gió mùa đông bắc nên từ cả ngàn năm trước cha ông ta đã nuôi dưỡng bản tính quật khởi, vì quật khởi nên mới giữ được bản sắc văn hóa sau nghìn năm bắc thuộc, rồi giành được độc lập. Sự quật cường lên đến cao trào khi người Việt đánh bại được hai cường quốc hàng đầu trên thế giới là Pháp và Mỹ, điều chưa từng có quốc gia nhỏ bé nào làm được trong lịch sử.
Ở khía cạnh tích cực thì quật khởi là một phẩm chất cực kỳ quý báu. Tuy nhiên đúng như quy luật phổ quát của vũ trụ, trong cái quý báu ấy lại chứa đựng những nhân tố vô cùng nguy hiểm. Điều đó dẫn đến một đặc điểm khác là tính cách của người Việt Nam nói chung là rất kiên cường bất khuất nhưng chúng ta thường chỉ kiên cường bất khuất trong những hoàn cảnh cụ thể. Khi dân tộc ta quật khởi đúng lúc, đúng thời điểm chúng ta đánh bại kẻ thù, giành lấy sự vẻ vang cho dân tộc. Nhưng ngoài hoàn cảnh ấy ra do cái hạt nhân nguy hiểm, cái mắt đen của con cá trắng lại làm cho cái phẩm tính đó đi theo chiều hướng tiêu cực, mang bản chất phá hoại.
Quật cường luôn đi kèm với tâm thế không chịu thua kém bất cứ ai, khi chúng ta không chịu thua kém kẻ thù chúng ta tìm ra cách đánh bại kẻ thù dù đó có thể là kẻ thù hùng mạnh hơn mình rất nhiều lần. Song cái giá phải trả cho sự tích lũy tố chất đó trong tính cách dân tộc đó là đồng thời chúng ta nuôi dưỡng trong mình bản tính thích tranh đấu, đề phòng người khác. Không chỉ tranh đấu với kẻ địch từ bên ngoài, chúng ta còn tranh đấu với chính những người đồng bào của mình, trong nội bộ dân tộc mình. Bởi thích tranh đấu với nhau nên khi chúng ta không chịu thua kém người khác về mặt thể diện, chúng ta đi tranh cãi, xúc phạm lẫn nhau, chúng ta không biết cách chung sống hòa bình và thân thiện, biết hợp tác để đổi mới và phát triển. Vì không chịu thua kém người khác trong việc nhanh chậm mà chúng ta sẵn sàng phi xe lên vỉa hè để đi nhanh hơn được vài giây, vì không chịu thua kém người khác trong vị trí đầu tiên mà chúng ta chen lấn xô đẩy không xếp hàng. Bao nhiêu hệ lụy nguy hiểm từ đó mà ra chỉ vì cái tính quật cường không được hướng dẫn để bộc lộ đúng chỗ.
Nền tảng văn minh Quật cường mà đoàn kết thì tốt nhưng quật cường chỉ để bảo vệ cái tôi, cái cá nhân của mình bất chấp người khác thì lại là điều nguy hại. Vậy thì làm thế nào để tính cách quật cường, quật khởi đó vốn là phẩm chất tốt đẹp mang bản sắc và giá trị Việt có thể phát huy đúng chỗ đúng lúc tạo nên sức mạnh cho dân tộc và cho từng cá nhân?
Đó là sự quật khởi ấy phải được dẫn đường bằng lý trí và tri thức. Hơn một trăm năm trước khi giặc Pháp vào xâm lược nước ta lý do chúng ta thất bại bởi nguyên nhân trực tiếp đó là lực lượng vũ trang của hai bên đẳng cấp khác nhau, đó một cuộc chiến không cân sức giữa một bên trong tay chủ yếu là vũ khí lạnh với gươm giáo, gậy gộc với một bên được trang các loại hỏa khí súng ống đại bác.
Nhưng nguyên nhân sâu xa hơn đó là hệ quả tất yếu của cuộc chiến giữa hai nền văn minh khác nhau, một bên là nền văn minh nông nghiệp, một bên là nền văn minh công nghiệp. Đó là sự khác biệt về nền tảng xã hội. Sự chênh lệch, khác biệt về đẳng cấp giữa hai nền tảng đó là nguyên nhân cho số phận bi thảm của dân tộc ta phải nằm dưới ách thuộc địa suốt hơn 80 năm. Sau này cuộc cách mạng tháng 8 dùng bạo lực cách mạng để chọi với kẻ địch bên ngoài giúp người Việt phát huy đươc cực đại phẩm chất quật khởi của dân tộc và giúp tên tuổi Việt Nam được biết đến trên trường quốc tế với vị thế là nước chiến thắng hai cường quốc hàng đầu trong cuộc chiến giành độc lập nhưng lại không giúp chúng ta chiến thắng được trên con đường tiến tới xã hội văn minh giàu mạng bởi vì đó là sự quật khởi gắn liền với bạo lực, không phải là sự quật khởi gắn liền với văn minh tri thức. Giành được độc lập nhưng xã hội vẫn còn thiếu một nền tảng có khả năng khai phóng tư tưởng con người theo tinh thần duy lý nên mục tiêu văn minh, cường thịnh vẫn còn rất xa vời.
Trong số những người đi tìm con đường giải phóng cho dân tộc đầu thế kỷ 20 có Phan Châu Trinh, ông nhận ra sự khác biệt chính yếu nhất của Việt Nam và kẻ thù thực dân Pháp của mình đó là xã hội của chúng ta được xây dựng trên nền tảng văn minh thấp hơn và khác hoàn toàn so với nền văn minh phương Tây. Người Nhật sở dĩ họ tự cường được vì họ xã hội của họ được xây dựng trên nền tảng giống như các nước phương Tây. Con đường của Phan Châu Chinh đi chính là tìm cách nâng tầm dân tộc, nâng nền tảng xã hội Việt Nam lên, hòa nhập với nền văn minh phương Tây thông qua việc “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Ông cũng là người đầu tiên đề ra hiện tượng “Dịch chủ tái nô” tức là tuy người chủ thay đổi nhưng dân vẫn làm nô lệ.
Phải chăng điều đó ngày nay vẫn còn đúng? Khi mà những ông chủ người thực sự nắm quyền điều hành của đất nước được này dù đã được thay thế từ người Pháp, người Mỹ bằng những ông chủ thuần Việt nhưng đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu. Một hiện thực ai ai cũng nhìn thấy đó là nông dân mất đất kêu oan khắp nơi, lương công nhân vài trăm năm không mua nổi ngôi nhà, tham nhũng ăn sâu và gặm nhấm vào mọi ngóc ngách trong bộ máy công quyền, xã hội vẫn đầy rẫy tệ nạn, đọc báo nào cũng thấy tin cướp hiếp giết là nhiều nhất, thậm chí giờ còn ra ngoài thế giới trộm cắp. Những điều đó được tổng kết qua những thành ngữ dân gian hiện đại như “Nhất hậu duệ, nhì quan hệ,ba tiền tệ, ba trí tuệ, còn lại thì mặc kệ”. Một xã hội như vậy không thể nào là một xã hội được xây dựng trên nền tảng văn minh dù những người đứng đầu xã hội ấy đang rao rảng những lý thuyết có vẻ nhân văn và rất cao cả.
Hãy trở thành một phần của giải pháp, đừng trở thành một phần của vấn đề Chủ trương của Phan Châu Trinh vẫn còn mang tính thời sự cho đến ngày nay. Cái chúng ta thiếu nhất chính là sự văn minh trong tâm thức của con người. Nhưng chúng ta có được sự văn minh bằng cách nào? Từ kinh nghiệm của cá nhân mình tôi xin chia sẻ cùng với các bạn rằng giải pháp mà tôi nghĩ đó là chúng ta phải tự tạo ra điều đó trong chính mỗi lời nói, mỗi việc làm và hành động của mình. Tôi nhiều lần nhắc đi nhắc lại một câu nói của Mahatma Gandhi với mọi người mà tôi gặp, tiếp xúc dù ở bên ngoài đời hay trong thế giới ảo Internet đó là đó là “Be the change what you want to see in the world”. Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn thấy trên thế giới này. Nếu bạn muốn sống trong một thế giới văn minh hay cư xử thật văn minh, nếu bạn muốn sống trong một xã hội lạc hậu hãy cư xử theo cách lạc hậu. Nếu muốn được người khác tôn trọng hay tôn trọng người khác trước, nếu muốn người khác đối xử thô lỗ với mình thì hay tỏ ra thô lỗ với họ. Nếu muốn nhận được điều hay, điều bổ ích từ cộng đồng hãy học cách chia sẻ. Có hai thái cực để bạn lựa chọn. Khi chúng ta đang sống trong một xã hội có nhiều vấn đề cần giải quyết như hiện nay và không có một cá nhân hay tổ chức nào có thể một mình giải quyết được nó, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều người như thế này thì điều chúng ta có thể đó là “Be a part of solution, not be a part of problem”. Hãy là một phần của giải pháp chứ đừng là một phần của vấn đề.
Quật khởi hòa bình Gandhi được biết đến với triết lý nổi là bất bạo động (Ahimsa) đó là sự đấu tranh nhưng loại trừ bạo lực, đó cũng là một hình thức của sự quật khởi nhưng là sự quật khởi hòa bình và văn minh vừa là mục đích lại vừa là phương tiện của sự quật khởi ấy. Để đi đến nền văn minh nào chúng ta cũng cần đến sự quật khởi nhưng phải là sự quật khởi một cách hòa bình. Người Việt Nam chúng ta đã có sẵn một phẩm chất quý báu là đức tính quật khởi rồi, bây giờ chỉ cần điều chỉnh nó một cách đúng đắn, hướng dẫn nó bằng tri thức thì đất nước chúng ta nhất định sẽ có một ngày trỗi dậy hòa bình, người ta biết đến sự vẻ vang của chúng ta không phải từ những cuộc chiến với bom đạn mà là từ những thắng lợi vượt lên trên hoàn cảnh đói nghèo và lạc hậu.
Cách đây hơn 40 năm khi mà xã hội Mỹ nạn phân biệt chủng tộc còn rất gay gắt, mục sư Martin Luther King thủ lĩnh của phong trào nhân quyền cho người Mỹ gốc Phi, đã phát biểu trong một bài diễn văn rất nổi tiếng “I have a dream” có những đoạn như sau:“Tôi có môt giấc mơ, rồi có một ngày trên những ngọn đồi đất đỏ của Georgia, con của nô lệ và con của chủ nô sẽ ngồi lại với nhau bên bàn ăn của tình huynh đệ.Tôi có một giấc mơ, rồi có một ngày vùng đất hoang mạc Mississipi, bức bối vì hơi nóng của áp bức và bất công, sẽ chuyển mình trở nên ốc đảo của tự do và công bằng.Tôi có một giấc mơ, rồi một ngày bốn con nhỏ của tôi sẽ sống trong một đất nước mà chúng không còn bị đánh giá bởi màu da, mà bởi vì tính cách của chúng”.
Có một sự thật tuyệt vời là ngày hôm nay giấc mơ của ông đã thành hiện thực khi một người Mỹ da đen đang làm tổng thống của nước Mỹ.
Tôi cũng có một giấc mơ. Hiện tại tôi có một nhóc tì hơn 2 tuổi một chút, tên bé là Khởi Minh, ý nghĩa của cái tên này chính là chủ đề của bài viết này “Sự quật khởi hòa bình bằng ánh sáng tri thức văn minh”. Con cái vốn là niềm hy vọng về tương lai của cha mẹ. Cũng như Martin Luther Kinh đã mơ về một tương lai tươi sáng cho các con mình, tôi cũng gửi gắm niềm tin đó vào tên con cũng là gửi gắm giấc mơ của mình vào thế hệ tương lai của đất nước. Hy vọng rằng hơn vài chục năm nữa khi con tôi lớn lên nó sẽ được sống trong hiện thực của giấc mơ mà tôi đã mơ ngày hôm nay như những người Mỹ gốc Phi đang được sống trong hiện thực của giấc mơ Martin Luther King đã mơ hơn 40 năm trước. Đó là một giấc mơ có thể hiện thực hóa được bằng một cuộc đấu tranh hòa bình . Không biết trong số các bạn đọc bài này có ai cùng chia sẻ giấc mơ này với tôi hay không?
Thành NguyễnTheo FB WeGreen
Việt Nam Cộng Sản Năm Thứ 39
1: Chuyện Những Năm ấy, Chuyện Từ Ngày ấy
1. 30 tháng Tư  2013,  ngày cuối năm, Việt Nam Cộng sản thứ 38,  dỡ chồng báo cũ 
30 tháng Tư 1975, dư luận thế giới dân chúng Huê kỳ đã đành, cộng đồng Tây phương cũng thế, đều thở phào, vui mừng, nhẹ nhàng nghĩ rằng từ nay, mình hết trách nhiệm, làm như chiến tranh Việt Nam là một gánh nặng cho lương tâm họ, vì kể  từ ngày ấy chiến tranh Việt Nam ngưng hẳn tiếng súng, thiên hạ trên thế giới vui mừng reo hò cho rằng hòa bình sẽ nở rộ trên đất nước Việt Nam. Dân chúng phương Tây, từ Âu qua đến Mỹ, từ những nhà chánh trị lỗi lạc đến thường dân đếu  một dạ thở phào nhẹ nhỏm tự kháu nhau : thôi từ nay,  sẽ  hết rồi, sẽ không còn nữa, sẽ không thấy nữa, những hình ảnh chiến sự Việt Nam trên những màn hình TV làm bận trí mỗi bửa cơm trưa, mỗi bửa cơm tối của gia đình. Thôi hết rồi, từ nay sẽ không còn thấy những hình ảnh loại cô bé Kim Cúc trần truồng, vừa khóc vừa chạy trên con lộ chiến tranh, hay hình ảnh Thiếu tướng Loan xử bắn tên Việt Cộng … Đây, chúng tôi hạn chế,  chỉ nói đến hai tấm hình được giải thưởng báo chí thôi ! Chúng tôi sẽ không dám và  chưa kể những hình ảnh của những cảnh dội bom napalm, những hình ảnh rất mỹ thuật chụp  bóng đen những đoàn  trực thăng UH1 bay trên nền trời rực đỏ của hoàng hôn hay bình mình – cách trình bày đoàn trực thăng bay đen trên nền trời đỏ ví như một bầy quạ đen – rất mỹ thuật ấy đã tạo những  ấn tượng rất « chống chiến tranh » của ngành truyền thông báo chí âu mỹ. Sau nầy,  cả ngành điện ảnh Huê kỳ cũng lạm dụng những  hình ảnh như vậy để « đả phá chiến tranh Việt Nam nhìn từ phía Huê kỳ và Tây phương » : Bộ phim Apocalypse  Now – với những hình ảnh đầy biểu tượng tiêu cực  « chống chiến tranh » như đoàn trực thăng, với tiếng cánh quạt xé gió và bản nhạc Walkyries của Richard Wagner, hay bộ phim Full Metal Jacket với  những cảnh ngô nghê, kịch cợm, mạ lỵ quân đội trong quân trường Thủy quân Lục chiến Huê kỳ, hay đoạn đánh nhau ở Huế – tả cảnh chỉ một cô du kích trẻ Việt Cộng mà cầm châm cả một toán Thủy quân Lục chiến Mỹ.
Thật đúng vậy, chính giới truyền thông báo chí Mỹ và phương Tây đã đánh bại quân đội đồng minh và quân lực Việt Nam Cộng Hòa !
Nhưng tất cả thế giới đều bị lầm, tất cả thế giới đều bị gạt. Chỉ trong vòng vài nay sau, cả thế giới ngã ngữa ra mới biết rằng bị thằng bé con Việt Cộng với bộ máy tuyên truyền Komintern –  Cộng sản quốc tế lường gạt. Nhưng cũng có một điều rất lạ là người Tây phương tuy bị gạt họ vẫn tiếp tục có một cái nhìn rất bất công đối với chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Ấy cũng do tàng tích của bộ máy  tuyên truyền « thân Cộng Tây phương » dựng lên  một huyền thoại bất công xuất phát bởi giới truyền thông phái tả âu châu.
2. Một huyền thoại bất công : Phái hữu tư bản, thủ cựu vs Phái tả xã hội cấp tiến 
Ôi sức mạnh của báo chí, ôi sức mạnh của tuyên truyền của thông tin. Từ sau Thế chiến 2, bổng nhiên có một phong trào, như một con bệnh, một con rắn độc, một con virus, một nọc độc, một bệnh truyền nhiểm, đưa những giòng suy nghĩ, tạo một giòng tư tưởng, một não trạng mới,  « gọi là phái tả – theo một định nghĩa dùng ở xứ Pháp »  đầu độc  gìới truyền thông trí thức âu châu. Sau Thế chiến 2 những danh từ như Dân tộc, như Quốc gia biến thành những danh từ, những thành kiến… ghê tởm, nghe rợn tóc gáy. Chỉ vì ác quỷ Hitler ra lý thuyết Quốc gia – Xã hội ( National – Socialisme, gọi tắt là Nazisme) nên những phong trào, những tư tưởng thiên  Quốc gia Dân tộc đều bị đánh giá là tiêu cực, là thủ cựu. Mà cũng lạ,  National Dân tộc là thiên hữu là tiêu cực, nhưng socialisme lại là thiên tả là tích cực !  Nhưng tại sao một thái độ chánh trị hay kinh tế bảo tổn văn hóa dân tộc, bảo tồn những giá trị lịch sử, những giá trị  thủ cựu là  một thái độ tiêu cực ?  Và  bổng nhiên thiên hạ, dư luận toàn thế giới  không hẹn mà đều đi đến kết luận, đánh giá  là  làn sóng chánh trị phái hữu  với tinh thần bảo tồn, bảo vệ tinh thần dân tộc là tiêu cực và thủ cựu, Và phe  Công sản  chủ nghĩa, phe xã hội chủ nghĩa, phe phái tả, tự nhiên được hưởng, được đánh giá một cách chắc chấn là  « cấp tiến », là văn mình, là thông thoáng, cởi mở. Một cách tự nhiên,  phe xã hội, phe cấp tiến là phe yêu chuông quốc tế,  và vì là một phong trào  quốc tế – internationalisme !
Và vì cả thiên hạ thế giới hiểu lầm như vậy nên khi những người dân Việt Nam chúng ta lựa chọn một đất nước lấy tên Quốc gia Việt Nam, với một nền chánh trị và một hướng chánh trị  đứng phía bảo vệ  một nền văn hóa cổ truyền, một nền luân lý có nguồn có gốc, có lịch sử do tổ tiên và cha ông ta truyền lại, vá với một nền  đạo đức tử tể , chúng ta bổng nhiên  ở phía wrong side, sai quấy ! Khi Quốc gia Việt Nam ra đời, chúng ta mặc dù được một số quốc gia tiên tiến trên thế giới nhìn nhận, chế độ chúng ta vẫn bị một nhóm trí thức tự cho mình là cấp tiến và một nhóm truyền thông báo chí cấp tiến « không tán thành ủng hộ ». Quốc gia Việt Nam ra đời sau một văn kiện ngoại giao quốc tế, với những ký kết bang giao quốc tế vẫn bị đã phá ! Trái lại nhóm cướp chánh quyền, tự xưng, tự biên, tự diễn, không kèn không trống, dùng khủng bố để trị dân, dùng đấu tố để cầm quyền, chận sông cấm chợ lại được nhóm tuyên truyền quốc tế Komintern ủng hộ.   
Sau khi đất nước bị chia đội, khi quân đội đồng minh do Huê kỳ lãnh đạo đến với Việt Nam Cộng Hòa,  để giúp chúng ta xây  dựng một nền dân chủ tiên tiến kiểu tây phương, một nền kinh tế thị trường kiểu tư bản, giúp chúng ta xây dựng và bảo tồn một nền văn hóa dân tộc cổ truyền đạo Việt, biết trọng Đạo Trời biết Ơn Đất Nước, biết cầu biết nguyện chư tôn chư giáo, biết nhường trên nhịn dưới tôn ti trật tự, biết Ơn Cha quý Nghĩa Mẹ, biết thờ Ông bà cúng Tổ Tiến. Họ giúp chúng ta  có quân đội, có vũ khí để giữ nhà giữ cửa giữ vững giang san bờ cỏi miền Nam, và giúp chúng ta Chống Cộng, trang bị huấn luyện quân đội chúng ta … đồng  bị  ( cả thế giới đồng loạt) nhóm tuyên truyền, thông tin thế giới tố cáo như  những đoàn  quân đi xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam, và chúng ta, dân chúng miền Nam Việt Nam là một nạn nhơn ! Trái lại, Quân đội Cộng sản, khi đánh giặc thì dùng chiến thuật biển người, thí chốt, thí quân ;  khi thắng trận, thì dùng khủng bố, đấu tố khát máu để trừng trị dân vùng bị chiếm đóng(không người Việt miền Nam nào không quên 5 000 nạn nhơn vô tội bị thàm sát vào Tết Mậu Thân ở Huế)  nhưng khi phải chiếm đóng thì dùng cướp bóc, dùng tịch thu, dùng quốc hữu tài sản, kiểm kê tài sản, dùng cải cách ruộng đất bằng đấu bằng tố để san bằng thanh toán những kẻ những người có tý tư hữu…quân đội nhơn dân Cộng sản đi đến đâu cũng sống với dân, ăn bám vào dân, và buộc dân phải nuôi quân mình….
Quý vị thử so sánh : trong các quân đội Cộng sản, từ quân đội Hồng quân Liên Sô, qua đến quân đội Nhân dân Trung Cộng, và quân đội Việt Cộng có tuyền thống đem theo một Bệnh viện dã chiến để chửa bệnh cho dân, và cứu trợ nạn nhơn chiến tranh, như truyền thống quân đội Huê kỳ hay quân đội các đồng minh Huê Kỳ ở Việt Nam thời ấy, ( từ Đại Hàn, đến Úc Châu, Tân Tây Lan, Phi, hay Thái) không ? Khi đi hành quân, khi  đến chiếm đóng, kiểm soát một  vùng lạ,  có một chương trình nhơn đạo, loại cứu trợ hay chửa bệnh , chích ngừa cho dân trong vùng không ? Quân Cộng sản, vì là quân đội nhân dân, ăn với dân , ngủ với dân,  đi đến đâu buộc người dân ở đấy phải nuôi quân, quân đội ở nhà dân, quân đội ngủ nhà dân, nào là mẹ nuôi, nào là em nuôi, chị nuôi, và nếu cần cả hộ lý nữa, nghĩa là  quân đội có  quyền « sung công, quốc hữu cả VỢ dân, Vợ người, bất kể ĐỊCH hay BẠN.
Thế mà phe chúng ta vẫn bị  mang tiếng là quân xâm chiếm.
Thật là Bất công ! Tuyên truyền đã bất công mà quảng bà cũng bất công.
3. Quảng bá bất công : Hình ảnh Chiến tranh vs Hình ảnh tỵ nạn
Càng bất công hơn nữa là trong cách thức quảng bá các hình ảnh, các phóng sự: không một hình ảnh nào tả những cuộc tỵ nạn, lánh nạn Cộng sản, được nhận giải thưởng. Những hình ảnh tơi tả của những đoàn người dân miền Nam Việt Nam, chúng ta vì  quân đội ta thiếu tiếp tế, thiếu đạn, không giữ được căn cứ,  phải bắt buộc một cuộc  chạy nạn chiến tranh và nạn Cộng sản trong máu lữa vì pháo vi đạn của Cộng quân rồn rập bắn theo .( đại lộ kinh hoàng Quảng Trị-Huế năm 1972, Cuộc Đông Du gian khổ trên quốc lộ 19 từ Pleiku về Qui nhơn, vượt Sông Ba tháng 3/năm 1975).
Thật đúng là  « Một cuộc bỏ phiếu bằng chân không tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam ! » – không nhớ tên nhà báo nào đã đật tên cho những cuiộc chạy  nạn Công sản vào những tháng 2, 3 và Tư năm 1975, có lẽ   ? của nữ ký giả và nữ văn hào người Ý,  Oriana Fallaci (1929-2006) – người ký giả duy nhứt của thế giới truyền thông phương Tây thời bây giờ, dám đặt rõ trách nhiệm chiến tranh cho cả Mỹ và quân đội đồng minh (như tất cả các nhà báo tây phương khác) và cho cả Việt Cộng. Chúng tôi rất ngưởng mộ tài nghệ cố ký giả nầy, bà đã dám vạch mặt Islam cho bọn trí thức Tây phương hèn yếu.
Xin các độc giả cố nhớ dùm xem có  hình ảnh nào, có bài phóng sự nào, của những cuộc di tản của những tháng ấy, của dân chúng  miền Nam chúng ta, nhận được một giải thưởng báo chí quốc tế nào không ? Mà các hình ảnh, các phóng sự tỵ nạn có kém chi các hình ảnh chiến tranh trước đó vài năm ?  Cũng hãi hùng có kém chi chiến tranh, cũng chết cũng chóc, cũng máu, cũng lữa, có khác chi chiến tranh ?  Nếu với chiến tranh  có lữa cháy, có bom rơi, có đạn réo, có người chết,  có phá hoại, có tàn phá ;  thì hình ảnh những cảnh tỵ nạn,  tuy không ồn ào bằng,  tuy  chỉ trong im lặng, không có tiếng  la không có tiếng  rên không có tiếng  khóc, vì đoàn người tuyệt vọng đã khóc hết nước mắt, đã gào hết cả hơi. sức đã tàn,  thân đã kiệt …  Hoặc giả có những hình ảnh về sau nầy, sau rất lâu, lâu lắm, sau cả những ngày, sau cả những năm, sau cả những tháng của ngày 30 thánh tư, những cảnh của những đoàn người lén lút ra đi, vượt biên, vượt biển, thì cũng chẳng có bức hình chụp nào, và cũng chẳnh một giải thưởng nào !!.
 4. 30 tháng Tư 1975, thật đúng là Ngày Quốc Hận ! Vì đấy là dấu mốc đổi đời 
Thật tình mà nói, thân phân người dân trong khói lữa chiến tranh, hay trong hỗn độn chạy nạn thì cũng như nhau, cũng  trơ  cũng trụi, cũng mình trần, chân đất, cũng mất cũng mát.  Nhưng trước ngày 30 tháng tư,  trong khói lữa chiến tranh, chạy nạn chiến tranh  người dân còn nhiều hy vọng,  có thể mong đi đến trạm cứu trợ, gặp quân nhà, thương binh còn mong gặp đồng đội, còn có xe quân nhà, còn có Hồng Thập Tự, có ý tá, có bệnh viện, trực thăng, xe cấp cứu ….Nhưng trái lại đến lúc sau ngày ấy, sau ngày 30 tháng tư 1975, khi vượt biển  tỵ nạn, có  khi bị hảm, có khi bị hiếp, có khi bị cướp, có khi bị bỏ lại …hoặc khi  bị chìm xuồng, bị đắm tàu… Cũng có vài hình ảnh thuyền nhơn  – boat people  cũng đã để lại vài dấu ấn, gây một tý ấn tượng, tạo một biểu tượng, một cảm xúc… như  hình ảnh một chiếc ghe đầy nhóc người trước khi được cứu ! Nhưng chiếc hình ảnh đầy ấn tượng kia, gây một hình ảnh thương xót ấy trái lại là một bức hình đầy sự vui mừng, tràn trề hy vọng !  Vì  chiếc ghe, chiếc thuyền nào  được chụp hình là chiếc ghe, chiếc thuyền ấy đã đến bến an toàn, sắp được cứu thoát,  và những thuyền nhơn sẽ được cứu vớt, được tỵ nạn, và  ngày nay, các  đàn con các đàn cháu thế hệ 2, thế hệ 3 đã nên người, thành công.  Nhưng còn những chiếc ghe, những chiếc thuyền không được chụp hình ? không ai thấy không ai vớt ? …
Anh đàn anh Giao Chỉ ở San José, tuần qua,  đã cho đang lại bài viết năm xưa với tựa đề : 30 tháng Tư năm 1975 Bác ở đâu ? Vì có một  cháu đã nói rằng 30 tháng tư năm ấy,  cháu tuy chỉ mới 19 tuổi,  đã có mặt tại Nghĩa Trang Quân đội để chôn người yêu,người  hôn phu  của cháu vừa chết trận vài ngày trước, và cháu ấy hỏi lại « Ngày ấy các Bác ở đâu ? » Và ông anh Giao chỉ cũng buồn rầu, hối hận tự hỏi mình và bạn bè thế hệ mình « Vậy thì các Bác ở đâu ngày ấy ? ».   
Cháu ơi, 30 tháng tư 1975 và những ngày tháng tiếp theo, và những năm tháng tiếp theo, có rất nhiều, có cả bao nhiêu cháu, có cả bao nhiêu Bác, …  cũng phải chôn người yêu, chôn người thân, nhưng người yêu họ, người thân họ, không còn anh hùng chết trận, không còn tử sĩ, không chết trận !  Cháu à, chết trận là một vinh quang, mặc dù là một may rủi của trai thời loạn, nhưng so sánh trong những cái chết của người Việt Nam chúng ta lớn trong thời chiến, công tâm mà nói, làm trai chết trận, được mang xác về, được phủ lá cờ vàng, và được
« lên lon giữa hai hàng nến rơi .. » là một cái may mắn ! (hơn những người chết sau nầy)  Vì khi ta chết trận, ít ra, chúng ta còn được cái quyền tự vệ, đánh nhau với địch, ta chậm tay, ta yếu thế, ta hết đạn, ta hết sức, ta thua, ta chết, chả có chi tiếc cả, chả có chi buồn cả – buồn chăng là vợ con gia đình người thân !
Những ngày sau 30 tháng Tư, vào giờ thứ 25, hết đánh nhau rồi ;  những ngày mà thế giới, thiên hạ bảo là hòa bình rồi, gia đình thiên hạ lối xóm cũng bảo là hòa bình rồi, mọi người trong nước cũng bảo là hòa bình rồi, cả cái  thằng thắng trận, nay nó là  nhà nước, nay nó là nhà cầm quyền, nó quản trị mình nó  cũng bảo là hòa bình rồi không còn tiếng súng nữa, và không còn chuyện chết chóc nữa. Và hết rồi không còn cái chuyện :  
« Tôi có người yêu, chết trận Plei Me, … vừa chết đêm qua …hay Đồng Xoài, Bình Giả ..
“Chết nghẹt ngào dọc theo biên giớicủa một Trịnh Công Sơn phản chiến, trốn lính đau khổ sốt ruột, vì thấy bạn bè mình có « người yêu chết trận ».
Tại sao Trịnh Công Sơn hay một du ca phản chiến nào, không khóc cho những ai có những người yêu
“ Chết ở Biển Đông … chết ở Đảo hoang Pulau nào đó… hay bị hảm bị hiếp, trên những nẻo đường củng dọc theo biên giới.”
Ôi bất công !  Còn chưa kể những người yêu
“ Chết ở trại tù đày dọc theo biên giới,  chết  ở những Long Giao, Suối Máu, Cổng trời, Hàm tân… Chết tại những T20, những Z30… và chôn nằm cạnh nhau trên  đồi Fanta ! ”
Không ai làm bài thơ không ai làm bài hát cho những người yêu đã chết  nầy cả .  
Tôi vẫn không quên và cám ơn  những nhạc sĩ đã khóc Hà Nội ngày xưa, khóc Sài gòn ngày xưa. Hà nôi đẹp trong giấc mơ 36 phố phường, Hồ Gươm, Tháp Rùa. Sài gòn nắng ấm, đường Tự Do Eden, La Pagode, Givral,…  (Lạ nhỉ sau nhớ Hà nội, nhớ cảnh nhớ phố nhớ phường, nhớ Sài gòn lại nhớ quán ăn, quán nhậu, với bạn, với em. – và cái đặc biệt là những kỷ niệm ăn nhậu ở Givral, La Pagode không bao giờ có ông Cụ bà Cụ, buổi cơm gia đình nào cả ! Lạ thật có lẽ thế hệ ta quá bất hiếu không dám mời ông Cụ bà cụ đấng sanh thành đi ăn kem Givral, hay uống trà la Pagode ? – Xin lỗi ba mẹ con quá bất hiếu !)
Nhưng tôi không bao giờ quên những hình ảnh dân chúng chen lấn hỗn loạn tranh nhau tìm phương tiện hay những ngõ ngách để  thoát hiểm : từ leo rào vào Sứ quán Mỹ, đến chen chúc trú ngụ tại Bệnh Viện Grall, hy vọng được núp bóng cái dù Pháp, qua đến những hình ảnh những đoàn người tỵ nạn, trên đường số 9 từ Pleiku về Biển Đông, từ Huế xuôi Nam, hay những chiếc đầu ngụp lặn lội ra biển để mong được các thuyền ghe cứu vớt…
Thay lời kết : 38 năm rồi vẫn chưa định nghĩa được ngày ấy
Cơn sóng gió tranh cải vẫn chưa nguôi. 38 năm đã qua rồi từ ngày 30 tháng tư năm 1975. Suốt tuần qua từ những polémics [luận chiến] nầy đến những polémics [bút chiến] khác.
2: 
Trật Tự Thế Giới Mới ? Hay Những Lịch Sử Các Dân Tộc Đang Được Viết Lại
Năm nay năm tuổi người viết, nên, từ đầu năm, thân thể tôi bất ổn. « Je souffre, donc je suis-thân thể tôi đau là tôi hiện hữu ». Từ lâu nay, không bị đau ốm, không bị rêm mình nhức mỏi,  nên tôi quên hẳn rằng ngoài cái đầu, cái óc con tim, suy nghĩ, đọc sách, ngoài cặp giò, cặp cẳng đi chơi, du lịch, thăm bà con bạn bè, … ngoài con tim yêu thương tình cảm rung động trước các vẽ đẹp thiên nhiên hay tình nghĩa con người… con người ta ai cũng có thêm một thân thể, biết rêm mình, biết đau, biết nhức biết mỏi… Chúa cho mình có hai cái tay, tuy mình vẫn cho mình thuận tay phải, nhưng khi đau tay trái mới biết rằng một tay « làm chẳng nên non »  dù có thuận  tay phải đi nữa, với một tay, mình cũng « cùi ». Viết tay phải, nhưng cũng phải nhờ tay trái giữ tờ giấy, gạch hàng tay phải nhưng cũng nhờ tay trái giữ cây thước…Đây là một bài học cho những ai cứ tự phụ cho mình độc lập «chỉ ta thôi », trung lập, không nhờ vả ai cả. Sau một thời gian dài (từ đầu năm tây nay) hết đi khám bệnh, hết tests, hết thử, chiếu điện, hết quang tuyến, đến échographie qua scanner, IRM… Với thời gian, sau những ngày chờ giấy gọi, sau những ngày chờ kết quả, rồi khám, rồi tái khám, rồi tái tái khám, rồi khám để nghe bác sĩ … bàn, nghe bác sĩ … khuyên… cuối cùng tuy không có thuốc chửa, nhưng dần dần … tôi cũng bớt đau – hay tôi « quen » đau và lần lần tôi  « quên » đau đi. Và cũng nhờ bớt đau nên  tôi ngủ .. « nằm »… vào đêm được, và nay tôi đã bớt và  không còn ngủ gục … ngồi tại bàn giấy hay salon nữa !  Tôi nhứt định không dùng thuốc trị đau (pain killer) và thuốc ngủ, chỉ dùng « thiền » … theo phái « mackênodo », nghĩa là …theo chủ nghĩa « kệ chó nó, khinh nó » …  và dùng thế võ «  ngủ gục » lúc nào hay lúc đó, bất kể giờ ngày hay đêm, bạ đâu ngủ đó. Ang lái xe buồn ngủ là ghé vào lề đậu xe làm một giấc, để trị đau và trị mất ngủ. Nhờ ngủ được, thằng tôi từ từ  lấy lại tý đầu óc, tý suy nghĩ.
Từ đầu năm Con Ngựa, suốt mấy tháng qua, ngoài xem TV thể thao mủa Đông ở Sotchi, xem giải Rugby 6 quốc gia, tôi chỉ liếc mắt sơ qua tình hình thế giới, tình hình nước Pháp và tình hình quê hương. Thế giới thì bị chấn động bởi tình hình ở Ukraine. Nước Pháp thì sôi nỗi về bầu cử Hội đồng Xã và các Thành phố. Sanh hoạt chánh trị địa phương nầy – và đây mới chính là một sanh hoạt chánh trị thật sự của một công dân của một xứ tiên tiến – cũng chiếm khá nhiều thì giờ của gia đình thằng tui, vì thằng tui tuy không có mặt trong hội đồng xã địa phương nhưng lại tham dự những hội đoàn dân sự xã hôi, tôn giáo và y tế (của địa phương). Theo dõi tình hình Ukraine, chúng tôi lo cho Ukraine, lo cho dân chúng Ukraine, và lo tai vạ ấy sẽ đến với quê hương ta. Càng thấy Nga Hoàng thời đại mới Poutine du côn, càng thấy cái hèn của Tây Âu, của NATO, củả Huê kỳ, tôi càng đau cho cái đạo đức con người trong xã hôi mới từ nay bị bỏ quên ; thương cho nhơn loại, thương cho thân phận công dân các nước nhược tiểu ; các nước chậm tiến vẫn trong tình trạng thiếu dân chủ ; đau cho tiếng nói dân chủ càng ngày càng bị bẻ cong, càng ngày càng bị đè bẹp, đàn áp, và càng ngày càng bị lợi dụng. Và tôi bi quan cho vận mệnh đất nước Việt Nam chúng ta ! Rất bi quan !
1. Việt Nam: Sau cuộc Nam Bắc phân tranh, Cộng sản viết lại lịch sử 
Năm nay là năm thứ 39, Nam Việt Nam chúng ta mất vào tay Cộng sản Quốc tế.  Thật sự mà nói, cả nước Việt Nam chúng ta, cả Quốc gia Việt Nam chúng ta đã lọt vào tay Cộng sản Quốc tế từ lâu rồi ! Đã mất từ mãi cái thời hòa bình vừa mới vãn hồi sau bao năm máu lữa của Đệ nhị Thế chiến. Đã mất từ mãi cái thời tranh tối tranh sáng, cái thời Nhựt bổn vừa mới thua trận, phải tạm giữ trật tự tại Việt Nam, để chờ  các lực lượng đồng minh nhảy dù vào bán đảo Đông dương tước khí giới. Đất nước chúng ta đã lọt vào tay Cộng sản từ ngay lúc ấy.  Công sản Quốc tế qua các tay sai người bản xứ đã lợi dụng lỗ hổng của các cường quốc Pháp Nhựt vừa mất quyền lực !  Hồ Chí Minh theo đúng bài bản Cộng sản Quốc tế cướp ngay chánh quyền của một chánh phủ Trần Trọng Kim đang lúng túng, bất lực thiếu tự tin, chỉ vì thiếu hậu thuẩn một cường quốc. Một chánh thể Quân chủ Việt Nam còn phôi thai, yếu ớt, chưa trưởng thành, một  Quốc Trưởng thiếu tự tin, không dám tự mình tạo Chánh Thống, không dám vổ ngực tự nhận Nhiệm Vụ và bảo toàn Quyền Lực Quốc Dân,  vì chỉ  vừa được  Nhựt trao lại độc lập từ ngày 10 tháng 3 năm 1945, (nghĩa là chưa đầy 6 tháng, tính đến ngày 2 tháng 9 là ngày bị cướp chánh quyền). Và cũng từ đấy chúng ta tiếp tục đi vào ngỏ hẹp của những chuổi ngày đen tối của một đất nước mắc nạn Cộng sản ! Và thế hệ chúng ta và nhứt là thế hệ đàn cha đàn chú chúng ta bắt đầu sống những ngày, những tháng không quên được, của những cuộc tản cư, của những cuộc chạy nạn, ngay sau khi đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt ! Thế chiến đã chấm dứt, hòa bình trên thế giới đã vãn hồi, dân chúng trên toàn thế giới hồi cư, xây dựng, làm lại cuộc đời, xếp đặt cuộc sống mới, xóa bỏ đổ vỡ, hàn gắn đau thương, nhưng dân chúng Việt Nam ta lại vẫn tiếp tục tản cư, chạy giặc, về quê, lang thang làng nầy sang làng khác, quê mẹ, quê cha, quê ông, quê bà tránh giặc Tây …sau đó dinh tê, về thành… tránh giặc Ta.  Và cứ thế, loạn lạc tiếp diễn trên khắp các nẻo đường trên mãnh đất Việt Nam thân yêu suốt mấy năm trời. Rồi Hòa Bình (với hai chữ H và B hoa) trở lại, đúng hơn ngưng bắn, với Hiệp định Genève. Và một lần nữa dân Việt ta lại tản cư, và lần nầy di cư !  Đông lắm, cả nửả nước ! Gần một triệu người miền Bắc Việt di cư vào Nam Việt. Việt Nam chia đôi, đau thương, nước mắt, Hà nôi xa rồi ! Nhiều người vẫn hỏi sao chúng ta sao không nói ngày Đại Quốc hận phải là ngày 20/7/ năm 1954 ? Quốc gia Việt Nam chúng ta bị chia làm hai, miền Bắc về tay Cộng sản !
Và một lần nữa sau thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Bắc và Nam Việt Nam lại chia làm hai mảnh đất nước, Quốc gia và  Cộng sản đánh nhau. Thời Trịnh Nguyễn có khác thời Quốc Cộng sau nầy là, lúc ấy phe phía Nam có đem quân ra phạt Bắc  và  có chiêm giữ đất trong vòng 5 năm (từ  năm 1655, chiếm 7 huyện phía bờ nam Sông Lam giữ đến năm 1660). Trịnh Nguyễn sau 7 lần giao tranh, chia hẳn thành hai xứ rõ ràng Đàng Trong, Đàng Ngoài, tuyệt giao, ai ở đâu ở đó với dòng sông Gianh làm giới tuyến trong vòng trên 100 năm từ 1672 đến 1774, phe xứ nào xây dựng mở mang xứ sở đất nước xứ ấy. Và cũng nhờ vậy mà các Chúa Nguyễn đã xây dựng được xứ Đàng Trong thành một vùng miền Nam trù phú, tạo một dân tộc hiền hòa, tử tế biết ăn, biết ở, phải đạo làm người. Cũng nhờ những đức tánh nầy mà 200 năm sau, 1954 đã biết chia xẻ, nhịn ăn, nhịn mặc đón nhận, cưu mang giúp đở những người anh em miền Bắc di cư vào Nam chạy giặc Cộng sản.
Nhưng trong lần Nam Bắc phân tranh nầy phía Bắc Việt Cộng sản với khí giới, quân trang, quân cụ và người của khối Cộng sản quốc tế đổ vào viện trợ, xua quân xâm lược quyết nhuộm đỏ miền Nam nước Việt ta. Mặc dù được khối đồng minh phe thế giới tự do giúp đở, nhưng phe Nam Việt ta chỉ làm một cuộc chiến tự vệ. Cả đồng minh quốc tế giúp đở Nam Việt ta, đứng đầu là Mỹ cũng chỉ biết giúp ta tự vệ, be bờ chống Cộng thôi ! Công dã tràng, muối bỏ bể, be bờ, chắn đê bằng bùn, cũng như quân Anh Pháp của Thế chiến thứ Nhứt chống Đức chỉ biết be bờ bằng hào lủy Maginot thôi ! Đàng Trong thời các Chúa Nguyễn cũng vậy chỉ biết be bờ với Lủy Thầy thôi, nhưng thời ấy quân Bắc Việt của Chúa Trịnh không có vũ khí Liên Sô và khối Varsovie, không có quân đội Trung Cộng cuổng tín dám thí quân với chiến thuật biển người. Đối lại với quyết tâm ấy, quân đồng minh với phe Nam Việt lại thuộc văn hóa Tin Lành Thiên Chúa Giáo Mỹ Anh Úc Tân Tây Lan coi mạng người trên tất cả, chỉ cần vài nhơn mạng thiệt hại, vài hình ảnh tù nhơn gầy gò ốm yếu,  đủ làm yếu lòng hậu phương. Và nước Mỹ đã  bại trận, chỉ vì vài hình tù nhơn, vài ảnh chiến sĩ bị thương, vài thương binh trở về trên cây nạng gỗ, vài chiếc hòm cài hoa, vài cô nhi, vài quả phụ…Còn phía dân Nam Việt Nam ?  tự vệ mãi thì chỉ làm kiệt sức, chỉ làm gia đình xào xáo, vi hao tài tốn của mà chẳng thấy yên…rồi dịch phản chiến, rồi phản biện, rồi tôn giáo bất đồng, rồi dân chủ hổn loạn, được có tự do lắm đâm nhiều chuyện, được voi đòi tiên, cho tranh luận lại thích xuống đường, …Cuộc  chiến quá dài khi có tự do, khi có tương lai, khi có học thức, vì Nam Việt trong suốt thời chiến gần 20 năm ấy vẫn tiếp tục xây dựng, một chế độ dân chủ, một hệ thống văn hóa nhơn bản hài hòa khoa học… Cuối cùng Nam Việt bị đồng minh bỏ rơi, vì Bắc Việt và Cộng sản quyết tâm nhuộm đỏ Đông Nam Á ! Phe ta, đánh nhau trên đất mình, trên ruộng vườn mình, đánh địch như  xịt thuốc trừ sâu bọ, diệt rầy mãi không hết. Địch cũng vậy,  giết mãi, địch vẫn còn, đuổi mãi nó vẫn bám, cuối cùng dân Mỹ nãn chí, dân ta cũng nãn lóng vì chẳng đi vào đâu cả. Chiến tranh gì mà lạ lùng vậy ?  Chiến tranh gì mà không muồn thắng, không có ý chí thắng, không có ý chí hạ, giết địch thủ ? Không được Bắc tiến, chỉ chờ hắn Nam tiến để đánh ! Tránh không đánh bom vào những đê điều miền Bắc khi mùa nước lớn ?  Sợ trôi và giết thường dân ư ? hay để nuôi dưởng thường dân miền Bắc để họ vào Nam giết ta, vì cả miền Bắc với chủ thuyết Cộng sản không có « thường dân », tất cả là « dân quân ». Mỹ đánh bom tránh những khu « không quân sự ». Khổ một nổi là cả Bắc Việt đều là khu quân sự. Tất cả dân chúng Bắc Việt là dân quân không có quân phục. Vậy ta phải chờ « dân » thay quần áo nhà binh bắn ta trước rồi ta hãy đánh để tự vệ ? Miền Bắc sử dụng trẻ con đánh giặc – tuyển quân 16 tuổi – mình hãy chờ thằng bé mọc râu rồi hãy giết !  Tránh không được dùng bom to, CBU chẳng hạn, tránh không đổ quân xâm nhập miền Bắc. Thua trận là phải !
Với cuộc chiến Triều Tiên, liên quân Mỹ Liên Hiệp Quốc còn dám đổ quân sau lưng quân Trung Công và Bắc Hàn. Nhưng kể cả Triều Tiên, Tổng thống Mỹ Truman cũng vì đạo đức (giả) đã cách chức Tướng Mac Arthur-vì Mac Arthuir đòi đổ bộ vào Trung Công- Truman chấp nhận ngưng chiến hòa đàm với Trung Cộng và Bắc Hàn – Bàn Môn Điếm, tiếp tục nuôi dưởng chế độ Trung Cộng, và tái dựng chế độ cha con họ Kim, tạo ra thảm trạng Bắc Hàn hiện nay. Tất cả chỉ vì Mỹ sợ bị tội tổ tông, mang mặc cảm đã đánh bon nguyên tử vào Nhựt bổn, từ nay tránh tai tiếng là mình ác độc ! Thật là đạo đức giả !  Mỹ đã dám bỏ hai quả bom nguyên tử – đặc biệt  là quả bom « dư thừa » thứ hai tại Nagasaki – đã dám cho đánh bom phá nát thành phố Dresden, sẳn sàng giết trên 100 ngàn thường dân Đức, khi quân Đức đã kiệt quệ và đang trên đường thương thuyết đầu hàng. Tất cả chỉ để hù dọa và chận đứng sức tiến công của Hồng quân Nga. Nhưng trong khi ấy, Truman ra lệnh Eisenhower buộc quân Kỵ binh của Tướng Patton phải dừng lại để chờ Hồng quân vào chiếm Berlin, giữ đúng lời hứa chia đôi sơn hà giữa Mỹ và Nga. Thật là mâu thuẩn ! Thật là ngĩa khí ngu xuẩn của Hiệp sĩ đạo thời Trung cổ !  Roosevelt với tinh thần Tin lành Mục sư con nhà lành, bị ám ảnh bởi quá khứ nôi chiến Bắc Nam Huê kỳ giài phóng nô lệ nên sẳn sàng « thí » hai « anh cựu thuộc địa bóc lột dân da mầu Anh Pháp » nên nâng đở anh « moujik nông dân ngu đần thất học Staline giải phóng nông dân » : kết quả gần phân nửa thế giới âu châu bị nhuộm đỏ. Thế giới ngày nay với Trung Hoa, với nửa bán đảo Triều tiên, và trên nửa thế kỷ (1945-1989) toàn cỏi Đông dương, phân nửa Phi Châu, Nam Mỹ bị nạn Cộng sản, và con virus Cộng sản hoành hành. Nhưng, Mỹ vẫn cứ thế, và ngày nay cũng vậy, vẫn cứ sợ mất tai tiếng, « em chả » thẹn thùng, làm bộ, đạo đức giả. Những kết quả chánh trị, kinh tế, những sự mất thăng bằng ngày nay của thế giới đều do kết quả của những quyết định « nửa chứng xuân, nửa vời, dở dở ương ương » của Mỹ, dỉ nhiên « miễn sao không làm thiệt hại Huê kỳ » thôi, của nền chánh trị quốc tế Huê Kỳ. Từ Franlin D. Roosevelt, Truman của ngày xưa qua đến Kennedy, Nixon, Ford hay ngay cả Bush cha – dừng tiến công Irak khi cần đánh dẹp bỏ Saddam Hussein – hay ngay cả Bush con hay ngay cả Obama ngày nay ! Nato mạnh như vậy, tiêu xài tốn kém như vây, chỉ biết ngồi nhìn Poutine chiếm Georgie năm xưa, đã chiếm Crimée và sẽ chiếm Ukraine năm nay.  
Với biến cố năm 1954 và từ sau 1954, vận mệnh một Quốc Gia Việt Nam mới bắt đầu, với đất đai miền Nam, với lòng dân miền Nam, toàn thể người dân sống ở miền Nam Việt Nam đã lập lại truyền thống Đàng Trong với các Chúa Tiên xây dựng một quê hương hiền hòa, mở mang một xứ sở đầy tình thương, tình con người. Từ năm 1954, toàn thể người dân của toàn giải đất của đất nước Việt Nam đã thật sự hòa nhập với nhau, trong một không gian chỉ bằng nửa nước, miền Nam Việt Nam đã tạo một khung trời Việt Nam mới. Cô động lại trong không gian ấy, những điển hình đẹp nhứt của hai nền văn hóa Nam và Bắc, của hai tập tục, nhơn sanh quan,và một con người Việt Nam mới thành hình. Miền Nam chẳng những trân quý những sản phẩm nghệ thuật, văn hóa của miền Nam đã đành, lại trân trọng gìn giữ những thành tích văn hóa phát xuất tại miền Bắc, những sản phẩm, sáng tác của các nhơn vật, nhơn tài Việt Nam từ văn học, mỹ thuật, các nghệ sĩ miền Bắc trước năm 1954 được miền Nam cất giữ trân quý ca tụng phổ biến. Còn tại miền Bắc, bị Đảng Cộng sản tuy là người Việt Nam cầm quyền, văn hóa Việt Nam lần lần bị lai căn, nhạc bị âm hưởng Tàu, âm hưởng Nga, Sol Mì Sôn Là Sol Lá Mì, vũ điệu Hoà Bình, ca tụng dân Liên Sô, dân Tầu Cộng, nào Xìtakinôvích, nào anh hùng lao động, nào con Sông Đông êm đếm, khi thì ca tụng CácMác LêNin, khi thì khóc XìTaLin hơn khóc Cha khóc Mẹ. Những thiên tài văn học nghệ sĩ trước thời chiến tranh, khi ở lại phục vụ miền Bắc hoàn toàn khô kiệt không còn phát huy thi thố tài năng gì nữa. Việc ấy chứng tỏ đại họa Cộng sản nó đã tàn phá thân thể nền văn minh văn hóa của con người Việt Nam thế nào ! và Lịch sử và Văn hóa Việt Nam đã được Cộng sản Việt Nam viết lại, và ngày nay…
Hôm nay sau 38 năm thống nhứt, thử kiểm điểm, nước Việt Nam tuy đã lấy lại toàn thể giài đất từ Bắc với Ải Nam quan, đến tận Nam với Mủi Cà Mau, nhưng người Việt Nam trái lại không đồng nhứt. Một quốc gia, nhưng hai loại quốc dân… .với những cái cấm, với những cái quyền, với những cái hành, nào lề phải, nào lề trái, với những từ ngữ của thời nội chiến như  ngụy, ta, địch, với những tâm trạng đấu tranh  như hận, như thù, với những sợ hãi như diễn biến hòa bình, với những hoài nghi, lo âu như  điều 4 Hiến Pháp giữ Đảng, chỉ tin vào Đoàn Viên, Đảng viên, gia đình lý lịch…  Người miền Bắc, người miền Nam sanh hoạt …với hai loại văn hóa… hai loại tập tục khác nhau (Đó là nhận xét của người ngoại quốc đến du lịch Việt Nam chứ chẳng phải do người viết vốn gốc ngụy như thằng tui).
2. Lịch sử thế giới đang được viết lại
Ukraine đang bị Nga viết lại lịch sử. Cũng như lịch sử bán đảo Crimée và Ukraine ngày nay, khu tự trị, oblast (enclave) Kalininegrad-Thành phố Kalinine đã bị Nga hóa từ lâu rồi. Một thành phố thuộc nước Đức, Köenigberg, sau Đệ nhị Thế chiến bị quân Liên Sô chiếm đóng. Staline buộc toàn bộ dân Đức phải ra đi thay thế bởi dân Slaves thuộc Nga và nói ngôn ngữ Nga. Do những người dân di cư ấy, tạo ra Oblast Kalininegrad, Khu Tự Trị Kaliningrad - mặc dù ngày nay không có biên giới với Nga  hoàn toàn nằm kẹt giữa Ba lan và Lithuanie – nhưng lại thuộc Nga. Dân chúng Đức ngữ hoàn toàn đã được di tản, Kalininegrad ngày nay là một nước Nga nằm ngoài biên giới Nga. Ngày mai cũng vậy, những Crimée, những vùng Tây Ukraine  sẽ bị Nga hoá. Cũng như những vùng tự trị ảnh hưởng Nga thuộc Georgie trong cuộc tranh chấp nay xưa với Nga, sẽ còn nhiều vùng tự trị  ảnh hưởng Nga sẽ được lập ra chung quang đất nước Nga để làm trái độn bảo vệ Nga tránh đụng chạm với Tây Âu.
Trung Cộng cũng vậy. Trung Cộng cũng đang viết lại lịch sử dân tộc Hán. Nước Tàu ngày nay phát triển kinh tế mạnh nhờ Thế giới Tư bản giúp đở cho làm công xưởng của thế giới. Nhu cầu đại chúng hóa hàng hóa và tiêu thụ đại chúng hòa cầu cần nhơn công rẽ đã giúp Tàu và dân tàu có một nguồn kinh tế dồi dào và nhờ vậy từ nay sẽ là một thị trường tiêu thụ vì dân tàu đã một mãi lực .., Nhờ tài chịu khó, nhờ sức tháo vát, nhờ mẹo vặt và tài nghệ lượm bạc cắt, ngày nay đất nước Tàu giàu có. Nước Tàu đỏ đả thành Đệ nhứt cường quốc kinh tế thế giới, nhưng thực sự người Tàu chưa giàu.  Thật sự mà nói, vì thiếu đất và thiếu nguyên nhiên liệu, vì vậy dân Tàu, tuy công dân một nước giàu nhưng phải di cư, phải ra đi kiếm sống xa quê hương, xa nhà. Lịch sử Hán tộc là một lịch sử di dân. Sức bành trướng Tàu là do di dân, người Tàu có mặt cùng khắp thế giới. Các chinatowns mọc đầy như nấm. Tại những quốc gia tiến tiến những Chinatowns là những cửa hàng làm ăn hiệu buôn, quán ăn, chưng bày mặt hàng trung hoa. Nhưng ở những nước chậm tiến đó là những đầu tàu khác thác tài nguyên, tận dụng đất đai để trồng trọt nuôi dân Hán. Còn đối với những quốc gia lân bang, láng giềng Tàu sẽ Hán hóa để làm nhửng vùng tự trị hoặc những vủng đất Hán thuộc để làm trái độn: Tân Cương, Tây tạng, Mãn Châu phía Bắc và phíaTây nay đã xong rồi. Nay chỉ còn phía Nam thôi !  Trên hai ngàn năm nay, đất Nam Việt là một cục xương khó nuốt. Từ thời Tam quốc đất Giang Đông của Tôn Quyền  đã là đất khó nuốt với dân du mục cởi ngựa của miền Bắc Tào Ngụy rồi. Sau nầy suốt bảy lần đánh Nam Việt Tàu bảy lần đều thất bại, vì thủy thổ, vì cái lỳ lợm, cứng đầu và dân tộc tánh của dân Nam Việt. Mãi sau nầy, sau khi nhà Minh mất vào tay Mãn Châu, người Hoa thật sự mới được các Chúa Nguyễn cưu mang cho di dân đến miền Nam Nam Việt. Nhưng những dân cư tỵ nạn nầy  phần đông đều là dân gốc Hoa Nam, thường Quảng Đông, Tiều Châu hay Hakka, xa lắm là Phúc Kiến quen chịu được khí hậu  miền Nam Việt Nam và đồng bằng Sông Cửu.
Nói như vậy để chúng ta biết rằng ngày nay vì vấn đề sanh tồn và không gian sanh tồn, Trung Hoa Cộng sản PHẢI bành trướng, bành trướng để mà Sống Còn. Và chúng ta phải cảnh giác !
Một cuộc xung đột Hoa Việt, môt cuộc chiến tranh Việt Trung chắc chắn sẽ xảy ra trong những năm tháng tương lai. Hoàng Sa, Trường Sa là những tranh chấp đất đai rõ rệt, chúng ta đã thấy rõ, phòng thủ, lo lắng, la ó đấu tranh, kiện tụng, quốc tế hóa …nhưng những phong trào di dân người Tàu ? xâm nhập qua ngã các  công trường, các cơ sở, những vật chất thương mại, những đầu tư..cửa hàng buôn bán, tiệm ăn, những cơ sở vệ tinh của những công trường dùng công nhơn  người Tàu. Dân Tàu có mặt mọi nơi, lập gia đình với người Việt, – nhứt là bên Tàu hiện nay trai thừa – thiếu gái do chế độ hạn chế sanh sản từ thời Mao –  làm ăn sanh hoạt, ăn dằm nằm dề…lẫn lộn Việt-Hoa, Hoa-Việt…Rồi sẽ có những Khu Tự Trị, rồi sẽ có những Trưng cầu Dân Ý sát nhập vào đất Tàu, hay do Hành Chánh Tàu quản trị, kiểu Tam Sa, vì dân khu vực nói tiếng Hoa đòi hỏi. Một kiểu làm như Crimée Ukraine, như Kalininegrad với Nga Vậy !.  Nga mở đường cho Tàu đó ! Nga Tàu một Thầy, Nga vì dân tộc Slaves, Tàu dân tộc Hán. Nga với mẫu tự cyrillique, Đạo Thiên Chúa Chánh Thống. Tàu xài Khổng tử, xài Hoa ngữ. Việt Nam vì quan hệ lịch sử, vì một ngàn năm đô hộ, vì có họ có hàng với Hoa Nam dễ lẫn lộn dễ bị đồng hóa. Một số lớn sản phẩm văn hóa lịch sử, một số lớn các mộ cổ, thành xưa, chùa chiền, đền miếu đều dùng chử Nho, nghĩa là chữ Hoa. người Việt một lần nữa bị chia đôi : một bên dân biết tiếng Nho, đọc chữ Hoa, chữ Tàu, và một bên dân không biết chữ Tàu. Tàu đến một số lớn người dân sẽ biến thành Uất Trì Cung, không biết chữ Tàu, mù chữ Hoa. Biết chữ Hoa trở thành quyền lực. Hiểu biết, quyền thê trong tay dân nói và đọc chữ Nho. Lại sẽ đổi đời làn nữa ! Sau 30 tháng tư năm 1975, chúng ta một lần đổi đời với ngôn ngữ Cộng sản Bắc Việt : nào Tốt, nào Khẩn trương, nào Đăng ký, Ùn tắc Thuyết minh, Chất lưông, Xưởng đẻ… Ngày mai sẽ đổi đời với những  Wà, Nì,  Í , Ẻ, Xán Xứ … Hảo má,  Mao Xù Xì,  Hồ  Xù Xì !
Và Xin Kết Luận:
Lần nầy không phải Bắc thuộc nữa mà là Nô lệ!
Hồi Nhơn Sơn, 06/05/201
TS Phan Văn Song