Tuesday, March 31, 2015

Bài viết hay(1949)

Sáng nay cà phê Starbucks lại nhóm họp với đề tài cây xanh Hà nội, biểu tình Pou Yuen, trận đấu U23 VN đè bẹp U23 Macau đến 7-0 với đủ lời khen - chê! Công nhận người VN nhiều chuyện thiệt! Cái gì cũng nói được! Tui nghe thôi chứ nhất định không xía vô. Ngu sao nhào vô để ...văng miễng bậy bạ!
Quốc gia đội sổ và… báo cáo Thủ tướng
Một đất nước mà “không ít cán bộ” coi thường tri thức, nhưng lại có cán bộ “ăn của dân không từ một thứ gì” thì đất nước đó đứng chót Asean vẫn còn là may mắn
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có phát biểu khiến tất cả chúng ta cùng phải suy nghĩ: "Việt Nam không thể đứng chót trong ASEAN như thế này".
Từ xưa đến nay, câu nói “dân giàu nước mạnh” chưa bao giờ sai. Khi quốc gia đứng chót thì các yếu tố hợp thành như Khoa học Công nghệ , Tài nguyên-Môi trường, Công nghiệp, Nông nghiệp, Giáo dục, Y tế,… không thể đứng đầu.
Dù chạm đến lòng tự trọng dân tộc, dù đau lòng đến mấy cũng phải thấy rằng nhận định của Thủ tướng là hoàn toàn chính xác. Vấn đề là vì sao lại như vậy? Liệu đó chỉ là lỗi cơ chế hay còn do chính mỗi chúng ta?
Một đạo quân dù tướng chỉ huy tài năng nhưng binh lính yếu cả thể chất lẫn tinh thần không bao giờ là đạo quân mạnh. Một đạo quân với những người lính quả cảm nhưng chỉ huy bất tài sẽ chẳng mấy khi giành được thắng lợi. Đây không phải là lý thuyết phòng lạnh mà là thực tiễn cuộc sống.
Đang tồn tại một hiện tượng và có xu hướng trở thành phổ cập khi xử lý sự cố, ấy là cán bộ, cơ quan có trách nhiệm đổ lỗi cho cấp dưới, cũng có trường hợp quả bóng trách nhiệm lại bị đẩy lên tận Thủ tướng Chính phủ.
Khá nhiều trường hợp người ta sử dụng một công thức rất phản cảm là “Lỗi văn bản, lỗi do người đánh máy”. Hễ ban hành văn bản sai là “Lỗi văn bản, lỗi do người đánh máy” bị lôi ra, mặc dù chẳng nhân viên đánh máy nào dám tự ý soạn thảo văn bản mà không qua phê duyệt của người đứng đầu hoặc ít nhất là người được ủy nhiệm của người đứng đầu.
Nếu “người đánh máy” đánh sai văn bản mà cấp trên vẫn ký thì chẳng lẽ “cấp trên” không biết đọc hoặc thị lực có vấn đề đến mức không đọc được những dòng chữ màu đen trên văn bản? Liệu thực tế có tồn tại những người vừa “mù chữ” lại cũng “mù màu”?
Việc đổ lỗi cho người khác không chỉ khiến dư luận bức xúc mà còn bộc lộ tâm đức, năng lực của người lãnh đạo. Có những người học hàm, học vị rất cao nhưng chưa hẳn hiểu biết cũng cao tương xứng với hàm vị của họ.

Văn bản do ông Trần Văn Chứ, Hiệu trưởng trường Đại học Lâm nghiệp ký liên quan đến phát ngôn chặt cây của chuyên gia trường này bị cho là "lỗi đánh máy" gây bất bình dư luận. Và bức ảnh này của ông, đăng trên website của nhà trường cũng gây bức xúc bởi... không hợp chuẩn từ cách cắm cờ trở đi. Ảnh của trường đại học Lâm nghiệp.
Nhìn hai lá cờ cắm trên bàn làm việc của một vị cổ đeo thẻ viên chức (công chức?) thì mới thấy người ngồi phía sau còn thiếu cả những hiểu biết rất sơ đẳng về Đảng và Tổ quốc, cắm cờ để bản thân nhìn là một chuyện, cắm cờ chụp ảnh cho mọi người nhìn lại là chuyện khác.
Cũng có chuyện ngược đời là người ta không đổ lỗi mà là “đổ thành tích” cho người khác. Những ngày qua, chuyện "lấp" sông Đồng Nai đã bị dư luận và các nhà khoa học lên tiếng gay gắt nhưng dường như lãnh đạo tỉnh này có thừa trình độ để bác bỏ các luận cứ khoa học. Bằng chứng là “UBND tỉnh cho biết việc tạm dừng dự án là theo đề nghị của chủ đầu tư để làm sáng rõ các vấn đề đang được dư luận quan tâm, riêng địa phương vẫn bảo lưu quan điểm mọi thủ tục thực hiện dự án là đúng quy trình, quy định”. [1]
Hóa ra chủ đầu tư tự động đề nghị dừng dự án chứ không phải do UBND tỉnh đề xuất. “Thành tích” này không phải của chính quyền địa phương nên địa phương không dám nhận. Nếu chủ đầu tư không xin tạm dừng thì họ cứ thoải mái lấp sông vì “dự án là đúng quy trình, quy định”.
Chỉ trong một thời gian ngắn từ Thủ đô Hà Nội ở phía bắc, Hà Tĩnh, Thừa Thiên-Huế ở miền trung đến Đồng Nai ở phía nam, một số quyết định của chính quyền bị truyền thông và giới khoa học phê phán khá mạnh nhưng lãnh đạo đều lên tiếng bảo vệ quan điểm, rằng tỉnh/thành phố đã làm “đúng pháp luật”, “đúng quy trình, quy định”.
Chính vì cái sự “đúng” của các tỉnh thành phố này mà tất cả vụ việc được truyền thông đề cập đều buộc phải báo cáo lên Thủ tướng.
Một đất nước mà từ chuyện sập giàn giáo, chuyện thi tuyển công chức Bộ Công thương, chặt hạ cây xanh đô thị, ký kết hợp đồng với đối tác nước ngoài đến "san lấp" sông Đồng Nai… đều “báo cáo Thủ tướng”, đều “chờ ý kiến Thủ tướng” thì làm sao Thủ tướng còn thời gian lo cho quốc gia đại sự?
Cấp tỉnh như thế, cấp bộ có khá hơn? Thật là khó hiểu khi một lãnh đạo Bộ Tài nguyên-Môi trường (TN-MT), cơ quan của Chính phủ lại phát biểu “Chúng tôi mới biết thông tin qua kênh báo chí và thấy nhiều nhà khoa học đã khẳng định dự án này ảnh hưởng rất lớn đến tài nguyên nước ở lưu vực sông Đồng Nai”. [2]
Thực chất phát biểu của vị lãnh đạo Bộ TN-MT nêu trên không có gì khác ngoài ý nghĩa đổ trách nhiệm cho cấp dưới là Sở TN-MT Đồng Nai không báo cáo lên Bộ, vì Sở không báo cáo nên Bộ không biết!
Vậy đâu là chức năng quản lý Nhà nước của Sở TN-MT Đồng Nai, của Bộ TN-MT? Phải chăng nhiệm vụ của Bộ TN-MT là ngồi chờ cấp tỉnh báo cáo rồi báo cáo lại với Thủ tướng chứ không cần trực tiếp kiểm tra, giám sát? Nếu mà Bộ chỉ “mới biết” và “thấy nhiều nhà khoa học khẳng định” như lời vị lãnh đạo nọ thì chức năng quản lý Nhà nước của Bộ này là gì?
Đất nước chỉ có một Thủ tướng nhưng có 63 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, 22 cơ quan cấp bộ, liệu rồi đây còn bao nhiêu vụ việc sẽ lại đến tay Thủ tướng?
Ngoài Đà Nẵng, trong 62 tỉnh, thành phố còn lại liệu có bao nhiêu địa phương dám khẳng định “Ở đây Đảng nói dân tin, mặt trận đoàn thể vận động dân theo, chính quyền làm dân ủng hộ”?. [3]
Hãy xem một tỉnh vốn là đất học nhất nhì cả nước như Nghệ An đang làm gì. Tỉnh này vừa công nhận 270 sáng kiến cấp tỉnh mà báo Laodong.com.vn ngày 16/3/2015 gọi là “Những sáng kiến … trời ơi”. Bài báo không chỉ cho thấy phần nào mặt bằng “sáng kiến” của Nghệ An mà có thể còn của một số tỉnh, thành phố khác.

Khởi công xây ngôi nhà ba gian cấp bốn ở Nghệ An. (ảnh: XH)
Nếu biết rằng chín vị lãnh đạo các cấp của tỉnh này lặn lội lên tận Nậm Giải, Quế Phong xúc xẻng cát khởi công ngôi nhà bán trú ba gian cấp bốn cho học sinh tiểu học thì mới thấy việc chỉ công nhận 270 sáng kiến của Nghệ An là “quá khắt khe, quá khiêm tốn”. Có khá nhiều sáng tạo của công chức tỉnh này không được công nhận “sáng kiến cấp tỉnh” trong khi dư luận thì lại cho đáng tầm “quốc gia” như “sáng kiến kinh doanh bia”…
Dù Thủ tướng có tài giỏi, kiệt xuất đến mấy cũng không thể đưa đất nước thoát khỏi vị trí “đứng chót trong ASEAN” nếu tồn tại “một bộ phận không nhỏ” lãnh đạo cấp bộ, cấp tỉnh luôn chuẩn bị tư thế “báo cáo Thủ tướng”! Vấn đề không chỉ nằm ở bản thân những người “sẵn sàng báo cáo” mà còn ở chỗ vì sao họ lại được phép “ngồi nhầm ghế”?
Làm thủ lĩnh bất kỳ đơn vị to hay nhỏ không nhất thiết phải là người giỏi nhất về khoa học kỹ thuật, điều cần thiết là biết lắng nghe, biết đánh giá sự việc một cách tỉnh táo và có đội ngũ trợ thủ giỏi. Thủ lĩnh giỏi cần phải hội đủ hai yếu tố: quyền và uy, thiếu một trong hai yếu tố đó thì suốt nhiệm kỳ đơn vị đó không bao giờ khá.
Tại sao khi các nhà khoa học đã chỉ ra rõ ràng những bất cập với đầy đủ luận cứ khoa học (như dự án trên đèo Hải Vân, dự án "lấp" sông Đồng Nai…) nhưng chính quyền cấp tỉnh ở đó vẫn bảo thủ, vẫn khẳng định chủ trương là đúng? Phải chăng với hàng loạt lãnh đạo có học vị tiến sĩ, học hàm giáo sư, phó giáo sư, kiến thức khoa học của họ hơn hẳn các nhà khoa học chuyên nghiệp?
Thực ra không phải là họ không biết tác hại của một số quyết định, nhưng hại cho ai và lợi cho ai mới là điều phải cân nhắc. Mặt khác họ luôn có vũ khí phòng thân là “nghiêm khắc rút kinh nghiệm” hoặc “nghiêm khắc kiểm điểm”. Dù có “nghiêm khắc” đến mấy cũng chẳng chết người thế nên chẳng việc gì phải sợ!
Một đất nước mà “không ít cán bộ” coi thường tri thức, nhưng lại có cán bộ “ăn của dân không từ một thứ gì” thì đất nước đó đứng chót Asean vẫn còn là may mắn, nếu không sớm thay đổi thì đứng chót thế giới không phải là chuyện viễn tưởng.
Vấn đề đặt ra hôm nay có thể chưa có ngay câu trả lời, nhưng hậu thế chắc chắn sẽ không để vàng thau lẫn lộn. Có thể có ai đó cho rằng cuộc sống rất ngắn ngủi, dù có bị hậu thế chê cười thì họ cũng đã là người thiên cổ, có còn nghe thấy gì đâu mà sợ?
Nếu quả như thế thì Ai ngày hôm nay phải chịu trách nhiệm làm cho họ sợ?
Xuân Dương
 Nước vừa thoát nghèo, mơ xây tháp cao nhất thế giới

Tháp truyền hình Tokyo Skytree cao nhất thế giới hiện nay (634m). Dự án tháp truyền hình VN sẽ cao hơn 2m! - Ảnh: Tokyoskytree
Tuổi Trẻ nhận được thư của một bạn đọc tên Phương Nguyễn, nhận là người đang công tác trong lĩnh vực truyền hình, nêu ra một số vấn đề xoay quanh dự án VTV xây tháp truyền hình cao nhất thế giới.
Có một sự kiện được rất nhiều người công tác trong lĩnh vực truyền hình bàn tán cũng như không ít người quan tâm hỏi han, đó là dự án xây tháp truyền hình cao nhất thế giới của Đài truyền hình VN (VTV).
Ngày 10-3, tại khách sạn Hilton - Hà Nội đã diễn ra lễ ký thỏa thuận hợp tác thực hiện dự án đầu tư xây dựng tháp truyền hình VN, với sự tham gia của đại diện VTV, Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Công ty cổ phần Tập đoàn BRG.
Phát biểu tại sự kiện này, ông Trần Bình Minh cho biết độ cao của tháp truyền hình VN sẽ là 636m, cao nhất thế giới.
Ông Trần Bình Minh chia sẻ: “Đó là mơ ước của VTV, mơ ước của không biết bao nhiêu thế hệ những người làm việc tại VTV”.
Trong những ngày qua, tôi đã cất công tìm hiểu từ các nguồn tư liệu thì được biết tháp truyền hình cao nhất thế giới hiện nay là Tokyo Skytree (Nhật Bản) với chiều cao 634m, còn tháp truyền hình VN theo dự án có chiều cao 636m.
Mặc dù chủ đầu tư của tháp truyền hình Tokyo Skytree là Đài truyền hình NHK nổi tiếng hợp tác với năm đài khác, nhưng người ta khẳng định rằng công trình này là biểu tượng của Tokyo chứ không phải phục vụ cho truyền hình.
Nếu ngày xưa, khi truyền hình còn truyền tín hiệu analog thì chiều cao của tháp đóng vai trò quan trọng, chứ ngày nay truyền hình thế giới đã và đang chuyển sang cáp, tín hiệu vệ tinh thì chiều cao của tháp là vô nghĩa.
Như vậy, với lộ trình đến năm 2020 truyền hình VN sẽ chấm dứt hoàn toàn việc phát analog, thì tháp truyền hình VN cao nhất thế giới cũng sẽ như Tokyo Skytree (Nhật), tháp truyền hình Quảng Châu, Minh châu phương Đông - Thượng Hải (Trung Quốc) - các tháp truyền hình cao nhất thế giới hiện nay mang ý nghĩa biểu tượng là chính.
Và chúng ta hãy xem Nhật và Trung Quốc xây dựng biểu tượng khi nào? Tháp Tokyo Skytree khởi công năm 2008, hoàn thành năm 2012; tháp Minh châu phương Đông xây vào đầu thập niên 1990 (cao 468m); tháp truyền hình Quảng Châu (cao 600m) xây năm 2005, hoàn thành năm 2009.
Nghĩa là khi xây dựng những tháp truyền hình mang ý nghĩa biểu tượng này, Nhật và Trung Quốc đều là cường quốc hàng đầu thế giới. Chỉ riêng chúng ta là mơ mộng đến tháp truyền hình cao nhất thế giới khi mới vừa thoát nghèo!
Đi sau những tháp truyền hình vĩ đại này là câu chuyện làm thế nào để khai thác hiệu quả, chứ không phải để nó biến thành “cục nợ”. Chúng ta hãy xem nhiều tòa cao ốc hiện nay ở VN phải thuê mướn các nhà quản lý nước ngoài, và nhiều nơi méo mặt vì chưa hiệu quả.
Chúng ta được thiên nhiên ban tặng những kỳ quan như Hạ Long, hệ thống hang động Phong Nha hàng đầu thế giới, cao nguyên đá Đồng Văn kỳ vĩ... nhưng vẫn chưa khai thác tốt nhất cho du lịch. Với thực trạng như vậy mà mơ dùng tháp truyền hình cao nhất thế giới để kinh doanh, thu hút khách nước ngoài thì có quá viển vông chăng?
Rất nhiều người dân như chúng tôi thấy rằng VN chúng ta mắc cái bệnh ưa thích “nhất thế giới”. Có điều những cái “nhất thế giới” ấy chẳng giúp VN thành rồng.
Chúng tôi chỉ sợ rằng tô hủ tiếu lớn nhất thế giới, chiếc nón lá lớn nhất thế giới... chẳng gây thiệt hại gì đáng kể, chứ tháp truyền hình lớn nhất thế giới thì phải chi vào đấy cả tỉ USD (kinh phí xây dựng tháp Tokyo Skytree là 820 triệu USD), không cẩn thận lại thêm nợ.
Còn nếu muốn “nhất thế giới”, tôi mong VTV đặt ra các dự án sau: đài truyền hình có nhiều chương trình hay nhất và mang tính giáo dục cao nhất thế giới, sáng tạo nhất thế giới (chứ không phải bỏ tiền tỉ đi mua bản quyền game show của thế giới), phục vụ người dân tốt nhất thế giới...
Phương Nguyễn

Bến Gỗ

Bến Gỗ là địa danh của một vùng nhỏ thuộc tỉnh Biên Hoà. Xã nầy nằm trên tả ngạn sông Đồng Nai, khoảng giữa Tân Vạn, Cù Lao Phố, Biên Hoà và Phước Lư, Tam Phước, chảy dài ra Nhà Bè.
Chi nhánh nhỏ sông Đồng Nai là sông Bến Gỗ, chảy ngang địa phận này, qua vùng đất đai trù phú phì nhiêu, với hai bờ sông xanh tươi bát ngát, nối tiếp bởi những thửa ruộng lúa màu mỡ, nhờ đất phù sa của sông ngòi tô đắp. Chi nhánh sông nhỏ nầy bề ngang rộng hơn 50 thước tại vàm và thu hẹp lại chảy dài nối tiếp đến sông Buông, tại các xã Phước Tân, Tam Phước.
Bằng đường bộ, trên xa lộ từ hướng tỉnh lỵ Biên Hoà đến quận Long Thành, để ra Bà Rịa, Vũng Tàu, cách châu thành hơn 10 cây số, qua khỏi khu Long Bình, có đường làng xưa hương lộ được trải đá, rẽ vào vùng Bến Gỗ chừng 5 cây số đến chí bờ sông Bến Gỗ, dừng tại cầu sắt.
Do địa thế thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thôn quê, với khả năng cá nhân và gia đình, hành nghề canh nông, chài lưới, thủ công, nuôi gia súc, người dân địa phương do cha truyền con nối, đã duy trì đời sống an lành bình dị nơi miền thôn dã này. Trải qua hơn ba thế kỷ hình thành và phát triển theo nhịp độ khẩn hoang, khai thác và tăng trưởng kinh tế từ thuở ban sơ cho đến nay, địa danh Bến Gỗ vẫn trường tồn với thời gian và không gian, không đổi tên gọi, tại xứ Bưởi, miền Đông Nam Việt.

I. LỊCH SỬ ĐỊA LÝ
Miền Đông Nam Việt, vào cuối thế kỷ XVI, vẫn còn là một nơi hoang vắng thôn dã, dân số thưa thớt, kỹ thuật sản xuất thô sơ. Lúc đầu, ngoài các dân tộc bản địa sinh sống rải rác, với một số ít người Khmer ở trên các giồng đất cao, thuộc dân nhập cư từ Lục Chân Lạp sang.
Vào đầu Thế Kỷ XVII trở lên, tiến trình lưu dân Việt từ vùng đất Ngũ Quảng, vì mức độ chiến tranh Trịnh Nguyễn kéo dài 175 năm, ngày càng khốc liệt, đã di cư vào vùng đất nầy lập nghiệp. Từ lẻ tẻ đến qui mô, người Việt di dân qua trục giao thông đường bộ, từ Bình Thuận vào Nam, hoặc bằng đường biển có vịnh biển Ô Trạm, rất thuận lợi cho tàu thuyền cặp bến. Đây là một vùng rộng lớn từ Long Hương, Phước Lễ đến Đất Đỏ ngày nay.
Miền Đông Nam Việt khi xưa thuộc đất Thuỷ Chân Lạp vô chủ, mặc nhiên được xem như vùng trái độn giữa hai biên giới Việt Miên. Vùng đất nầy rộng lớn, màu mỡ, dân tộc nào có gan dạ, sức lực, đến chiếm cứ, khai phá tự do, không bị cản trở cấm đoán. Điểm dừng chân bằng đường biển của những người từ Trung Việt vào Nam là vùng Mô Xoài (còn gọi là Mỗi Xuy, tức Bà Rịa). Từ vùng này, các thế hệ di dân người Việt ngày càng đông, cho dến nửa sau thế kỷ XVII, kể cả sự di dân Thiên Chúa Giáo trốn chạy việc cấm đạo.
Với phương tiện chủ yếu là thuyền ghe, họ xuống theo thuỷ triều ngược dòng Đồng Nai, và từ lần đi bộ dọc theo sông tiến vào các điểm định cư sớm nhứt của họ là Nhơn Trạch, Long Thành, An Hoà Bến Gỗ, Cù Lao Phố, Cù Lao Tân Chánh, Cù Lao Ngô, Cù Lao Kinh, Cù Lao Tân Triều, Tân Uyên...
Tại Bến Gỗ, người Thiên Chúa Giáo tập trung và cất xây Nhà Thờ trệt thấp tại Xóm Đạo, gần bờ sông Đồng Nai nơi tả ngạn, phía dưới bến đò An Hão, mà hiện thời vẫn còn. Như vậy, tiến trình nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai đã diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ.

Năm 1679, hai vị võ quan Trương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên tức Trần Thắng Tài, vì không muốn thần phục Mãn Triều bên Trung Quốc, đã mang khoảng 3000 quân cùng gia quyến trên hơn 50 chiến thuyền xuôi Nam, đến nước ta vào cửa Từ Dung (miền kinh đô Thuận Hoá), triều kiến Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần để được thu nhận làm dân nước Đại Việt.
Chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần chấp thuận và cho họ vào Nam. Tướng Trương Ngạn Địch định cư tại vùng Định Tường, Mỹ Tho. Tổng Binh Trần Tượng Xuyên cùng thuộc hạ dừng lại Đông Phố, tức Biên Hoà ngày nay. Điều chắc chắn là có nhiều lưu dân Việt từ miền Trung, Bắc và người Trung Hoa tị nạn đến định cư tại Bến Gỗ, nơi đất lành chim đậu.

Đến năm 1698, Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh (Kính) theo lịnh của Chúa Nguyễn Phúc Chu vào kinh lược, lập hệ thống hành chánh, tổ chức việc khai thác đất đai, ổn định trật tự xã hội.
Với tư cách dân Nam Việt, sinh quán tại Bến Gỗ, hiện sống tha hương, với tinh thần trung thực, không thiên vị, vô tư, khách quan; không phê phán vô cớ, tôi xin thuật kể lại những điều nghe thấy hiểu biết từ thuở thiếu trung niên đến nay, và qua sự khảo cứu có chứng cớ tại địa phương cho đến trước 1975, các cơ cấu kiến trúc hiện hữu, sự kiện đáng ghi nhớ thời bấy giờ.

II. TỔ CHỨC HÀNH CHÁNH
1. Địa Danh
Từ năm 1698, Chưởng Cơ Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam, đặt tên miền Nam Việt là Phủ Gia Định, gồm hai Huyện: Tân Bình ở phía Tây sông Sài Gòn, và Phước Long ở phía Đông (gồm các tỉnh Biên Hoà, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa, Vũng Tàu, và một phần tỉnh Bình Thuận).

Giữa thế kỷ XVIII, đất Gia Định chia làm 3 Dinh: Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ (sau là Vĩnh Long).
Năm 1788, Chúa Nguyễn phân chia lại thành 4 Dinh (Trấn Biên, Phiên Trấn, Vĩnh Trấn và Trấn Định (từ Cần Thơ, Sóc Trăng đến Hà Tiên).
Năm 1808, nhà Nguyễn đổi Phủ Gia Định ra Gia Định Thành, các Dinh (nơi đóng quân) đổi ra Trấn. Dinh Trấn Biên gọi là Trấn Biên Hoà.
Năm 1832, Trấn Biên Hoà đổi thành tỉnh Biên Hoà (năm Minh Mạng XIII), gồm một Phủ Phước Long và bốn Huyện.
Năm 1834, tỉnh Biên Hoà được gọi tên là Biên Hùng; và năm 1835 lại mang lại tên tỉnh Biên Hoà (một trong ba tỉnh miền Đông, của Nam Kỳ Lục Tỉnh).
Năm 1889, Pháp chia tỉnh Biên Hoà thành ba tỉnh mới: Biên Hoà, Bà Rịa, Thủ Dầu Một. Sự phân chia địa hạt này được giữ, và tăng thêm thành sáu tỉnh cho đến 30 tháng tư 1975: Biên Hòa, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Long Khánh, Phước Tuy.

Sở dĩ được mô tả dài dòng phần diễn tiến tổ chức hành chánh nói trên mà chủ đề là vùng Bến Gỗ nhỏ bé, tôi có dụng ý là nhắc lại đồng hương Biên Hoà, đặc biệt sinh quán tại Bến Gỗ, cùng thế hệ mai sau lịch sử của làng cũ, tỉnh xưa của thời buổi đã qua.

2. Đơn Vị Hành Chánh
Giữa thế kỷ XX, tổ chức hành chánh địa phương rập theo kế hoạch đương thời, tức có quy củ, chặt chẻ hơn trước: sát nhập một số làng thành xã.
Thí dụ:
- Xã Hiệp Hoà gồm 3 làng: Nhứt Hoà, Nhị Hoà, Tam Hoà.
- Xã Bửu Hoà gồm 3 làng: Tân Bản, Bình Long, Mỹ Khánh.
- Xã Tam Hiệp gồm 3 làng: Tân Mai, Vĩnh Cữu, Bình An, (Bình Đa + An Hảo).
- Xã An Hoà Hưng gồm 2 làng: An-Hoà +Long Hưng.
- Các Quận được thành lập ở khắp tỉnh.
Như vậy, hệ thống hành chánh từ 1920 trở đi là: Tỉnh, Quận, Tổng, Xã, Làng.

Theo tài liệu của Toà Bố Biên Hoà ngày 15- 9-1923, do Ông Lê Văn Nhung cung cấp, thì tỉnh Biên Hoà có:
- Năm 1939: 5 quận, 17 Tổng, 156 làng.
- Năm 1972: 6 quận, 71 xã (bỏ cấp Tổng từ 1963).

Bảng liệt kê các địa danh có ghi chữ nho và chữ nôm trong sách “Biên Hòa Sử Lược”, 1960 do ông Lương Văn Lựu biên soạn, thì từ 1923, tỉnh Biên Hoà có 5 quận (Châu Thành, Long Thành, Xuân Lộc, Tân Uyên và núi Bà Rá), 16 Tổng, 119 xã (theo Thời Sự Cẩm Nang trong Tự Vị Tiếng Việt Miền Nam, Vương Hồng Sển 1992).

Theo các tài liệu chính xác nói trên thì từ năm 1920, Bến Gỗ thuộc:
Quận Long Thành, Tổng Long Vĩnh Thượng (9 làng). Làng An Hoà (Bến Gỗ) được duy trì tên đến giữa thế kỷ XX được cải danh lại là xã An Hoà Hưng (làng An Hoà + làng Long Hưng).
Trong khi ba làng kế cận: Long Bình, Bình Đa, Tân Hưng được sát nhập thành xã Long Bình Tân (dùng chữ đầu của mỗi làng ghép lại).
Làng An Hoà trước và sau khi đổi tên thành xã, gồm có 6 xóm, tính từ đầu ngả 3 hương lộ ngang Thánh Thất Cao Đài, tách rẽ xa lộ Biên Hoà vào chợ Bến Gỗ:
- Xóm Lò Rèn (Ông Bảy Huê) - Xóm Vườn (bên trái hương lộ) - Xóm Câu
- Xóm Chùa Lầu (bên phải hương lộ) - Xóm Chợ (Chợ Bến Gỗ) - Xóm Chài (dọc hai bờ sông Bến Gỗ).

Trong miền Nam, thường hay nói Làng, Xóm, Xã, Thôn, Ấp, khác hơn miền Bắc, về tổ chức và danh từ vì hai miền thuộc hai hệ thống hành chánh khác nhau.
Trong Nam, Xóm là chi phận nhỏ của Làng. Thôn là một Xóm Nhỏ, ít gia cư và dân số không đông đúc (thí dụ: Thôn Vườn Trầu, gần Xóm Lò Thổi (Thiết Tượng) làng Tân Hưng. Ấp là khu vực đặc biệt (Ấp Chiến Lược, Ấp Đời Mới). Mỗi xóm được đặt tên, và được gọi do đặc tính chung nơi đó. Thí dụ:
- Xóm Vườn: trồng bưởi, cam.... Nhờ đất tốt, bưởi đường Thanh Trà, ổi, ruột đỏ), và cam rất ngọt, mà nếu trồng tại tỉnh khác miền Nam, ngoài Biên Hoà thì hương vị chua, hoặc lạt hơn. Có nơi trồng cả cây me, vườn tre, dừa, cau, vú sữa, sa-bô-chê, dừa Xiêm, chuối Sứ, thơm Tây, tầm vông (loại cây nhỏ hơn tre, lớn hơn trúc. Tầm vông có ruột đặc rắn, dùng chống xuồng ghe hoặc làm đòn gánh vì dẻo dai. Trái lại tre và trúc có ruột rỗng, tre thường được cất nhà làm bè, trúc làm tiêu sáo). Sở dĩ, danh từ được phụ âm chữ Pháp, dụng ý là các cây trái này được mang hạt, giống về trồng, thường là từ nước ngoài mang về trồng.
- Xóm Câu: gần ruộng, dân xóm khi xưa câu cá, tôm, bắt cua, lươn tại hang bờ rạch, ruộng. Hằng năm, gieo mạ, cấy gặt lúa một hay hai mùa. Mùa Hè, khi cấy lúa từ sáng tinh sương, các thôn nữ, thanh niên chất phác, hát hò dân ca miền Nam nghe rất trữ tình, quên mệt nhọc trong công việc đồng áng, mùa cấy gặt lúa. Lắm khi, thương yêu nhau kết đôi chồng vợ sanh con đẻ cháu cả đàn!
- Xóm Chùa Lầu: Tên đặt do một cảnh chùa thờ Phật xưa được xây cất từ lâu lắm bằng gỗ, có bậc thang cây, để Phật tử lên lầu nơi Chánh Điện chiêm bái Đức Phật. Nơi lầu cơi một từng, cũng có trống chuông, và một vị Sư trụ trì nơi đây. Xóm này gần xóm Chợ, và giáp ranh chòm Dầu, có đình Thần Thành Hoàng bổn xứ, xóm rất đông người ở.
- Xóm Chài: Những gia đình sống nghề chài lưới, ở gần bờ sông Bến Gỗ, sáng ngồi ghe “tam bản” (đóng thành ghe nhờ 3 tấm ván, 1 bản đáy, 2 bản hông), sáng sớm tinh sương, ra dòng sông Đồng Nai lớn tìm nơi cá nhiều để vãi lưới. Chiều tối, về nhà đầy tôm cá trong ghe, rộng nước để luôn tươi sống và đem chợ bán hôm sau, hoặc bán liền cho người lối xóm.

3. Sinh hoạt thôn quê
Sau mỗi ngày làm việc nhọc mệt nơi đồng áng, hoặc hành nghề thủ công, dân làng sống quanh quẩn bên gia đình. Ngoại trừ ngày lễ vía định kỳ hằng năm, là dịp vui để người làng mặc áo quần mới, đi xem lễ hội, cúng chùa, coi hát bội, một số ít bè bạn mời thân nhân bạn bè đến nhà ăn uống, nhậu nhẹt, ca hát …. , đêm về thật yên lặng.
Tối đến, trong những đêm trăng thanh, gió mát, người dân trong xóm, thường nghe tiếng giã gạo chày một, hoặc chày đôi, 1 hay 2 người, nghe đều tiếng nhịp “cắc”, và vồ chày rơi trên cối gạo “chụp”, thanh âm đặc biệt làng quê.

Hoặc nhà khá giả hơn, có cối chày đạp (1 hay 2 người đứng trên bàn đạp cuối cần sau). Nhờ sức nặng và trục ngang nâng cao cần chày trước lên cả thước. Khi buông các chân, đứng xuống bực đất, đầu cần chày rớt giữa cối chứa đầy gạo. Muốn được gạo sạch hết cám, phải giã liên tiếp 500 lần, vừa đạp vừa đếm, độ hơn nửa tiếng đồng hồ. Tiếng đầu chày đạp rơi chầm chậm, vang dội thật xa trong đêm vắng hơn vài trăm thước!
Có những nhà chuyên môn làm bánh tráng lạt hoặc ngọt (có pha đường), vớí thùng, chậu, chứa đựng bột gạo khuấy nước cho lỏng. Sau đó dùng cái vá múc bột nước trải mỏng trên màng vải dày, bịt kín nồi đất lớn, nấu nước thật sôi. Hơi nước bốc lên hấp chín bánh tráng trong 1 phút. Với cây dài hình trục như cây cán bột nhồi và thanh tre mỏng dẹp, người tráng bánh, khéo tay gở một mí vành, lăn dính bánh mỏng và trải liền trên “phên” để phơi khô. Kỷ thuật này rất công phu, và khéo léo.
Tại Pháp, có người định tráng bằng máy tại miền Nam, nhưng bất thành, thất bại. Điều cần trước là phải xay gạo pha với nước, bằng cối đá thành bột gạo lỏng để tráng. Khi xây phải chế nước luôn trên gạo cho khỏi khô và dể cán nát gạo xay, thành bột pha nước lỏng.
Loại cối đá xay bột gạo này, cũng như cối giả chày đạp đã có tại nhà Ông Trần Văn Yến, Ông Nội tôi. Ông là một nhà Nho uyên thâm chuyên coi tuổi gả vợ kết chồng, coi ngày xây nhà cất cửa, nổi tiếng khắp làng và các xã lân cận. Lý do là ông nổi tiếng người đức độ nên gia đình nào có con cái kết hôn cũng tìm đến để nhờ phước đức. Ông đã được một vị cựu quan Triều Đình Huế khi xưa định cư tại Bến Gỗ dạy chữ Nho và nghề chữa bịnh gia truyền, về thổ tả và lưởi đẹn thâm đen. Đến năm 2007, khi viếng tỉnh Quế Lâm, vùng dân Bách Việt xưa ở tại Trung Hoa, tôi cũng đã có dịp thấy lại cối đá xay bột này.
Có gia đình chuyên môn nấu rượu đế: trọn ngày hoặc đầu hôm, cất rượu bằng nếp trắng hoặc nếp than pha với men nấu rượu, rất cực nhọc công phu. Có những trưa Hè gió mát, người nấu rượu mời bạn bè đến thưởng thức những giọt rượu “hàn nàm” (nguyên chất) mới chảy, với đồ nhậu ngon, thật hết sẩy! Rượu Đế cất tại Bến Gỗ là rượu ngon thơm tiếng nhứt tỉnh Biên Hoà. Khách du lịch từ xa đến viếng bạn bè, thân nhân rất khó quên dịp thưởng thức tôm càng nướng, cuốn rau sống bánh tráng, hoặc tôm xắc mỏng ngâm nước dừa xiêm cho tái, ăn với “bún và rau”. Gà Xào Gừng Cay ăn với bún, rau, là món ăn đặc biệt miền quê Bến Gỗ … Khi gặp dịp bắt, mua được “Trạnh” (loại rùa có mai mềm, và chân có 4 móng, khác với rùa có mai cứng và 5 móng), gia đình mời bạn, khách gần xa đến ăn, nhậu rượu Tây, rượu Đế hỉ hạ.
Dân quê ở các Xóm Câu, Xóm Chài thường dùng sản phẩm không tốn tiền, hoặc mua rẻ vì quen thân, khi câu giăng nơi rạch sông bờ ruộng, như lươn, cua, tôm, hến … Hoặc câu bằng cần câu các cá rô, cá sặc tại ao, hồ (ao Ông Tặc chồi Gia Long) đem về rộng nước nhiều ngày để ăn, hoặc bán tại chợ Bến Gỗ nhóm họp mỗi sáng hôm sau. Tôm kho tàu, cá lóc nướng trui, gà ướp chao bao lá sả, rang muối hột nổ dòn, ăn với cơm gạo thơm, là niềm hạnh phúc gia đình, khi sum họp, mời bạn bè cuối tuần. Riêng ngày thường, sau ngày làm việc ruộng đồng, hoặc làm nghề thủ công tại nhà (đóng bàn ghế, đồ mộc …) hay buôn bán … với thức ăn thịt cá, tôm, tép.. kho tàu, kho tộ, chiên, xào rau ăn với cơm nóng canh chua, canh hến ... còn gì thích bằng!
http://www.giaoxugiaohovietnam.com/XuanLoc/01-Giao-Phan-XuanLoc-BenGo-00.jpg
III. NHỮNG DI TÍCH KIẾN TRÚC
Bến Gỗ là vùng tiêu biểu, tập trung những di-tích văn minh phong tục cổ truyền của nhiều xứ (Việt Nam, Chân Lạp, Cambodia, Ấn, Trung Hoa) do các người dân bản địa hoặc lưu dân đến định cư. Do đó, rất nhiều di tích xưa được khui đào tìm thấy, nhiều kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng được lưu tồn, thuộc Tam Giáo (Nho, Lão, Đạo).
A. ĐÌNH MIỂU CHÙA
1. ĐÌNH, MIỂU
Theo phong tục miền Nam Việt Nam, các công thần được triều đình phong sắc sau khi tạ thế được dân làng kính trọng như Thần Thành Hoàng bổn xứ. Nơi thờ tự, kiến trúc to lớn quy mô được gọi là Đình, những nơi thờ phượng nhỏ được gọi là Miểu hay Miếu. Tất cả các di tích tôn thờ này do viên chức sở tại quản trách, dân xóm làng theo tục lệ, một ngày trong năm theo lệ xưa để lại đến tế lễ cúng bái cầu an tại các đình, chùa.
Vùng Bến Gỗ có nhiều làng, những di tích tôn thờ tín ngưởng đạo giáo gồm có :
a) Làng An Hoà: Ngôi Đình Thần Thành Hoàng An Hoà (Bến Gỗ). Niên đại dựng Đình, theo bút tích ghi trên cây xà Nhà võ ca: Dựng Miếu năm 1792, và trên cây đòn tay ở chính điện lại ghi: Nhâm Tý, Chánh điện được xây bằng tường gạch, nền lót gạch tàu, có hai cửa hông 2 bên, giữa điện thờ và nhà tiền sảnh, nối liền với nhà võ ca. Bên trong chánh điện có một chữ Nho lớn: “Thần”.
Bài Vị luôn được giữ kín, bọc vải đỏ, có ghi:
Sắc tặng Thành Hoàng chi Thần, kính tặng:
Bảo an, chính trực, hữu thiện, đông ngưng.
Long Thành huyện, An Hoà thôn, y cựu phụng sự thần,
kỳ hương bảo ngã lê dân.
Khâm Tai
Dấu ấn có chữ: Sắc mạng chi bảo.
Trước bàn thờ chánh điện, hai bên có hai con hạc đứng trên lưng qui (tích 2 thú, cầm sống lâu nhứt, làm bạn thâm niên). Hai bên trước bàn thờ có 2 hàng “đồ lỡ bộ” bằng đồng (đao giáo thuở xưa và 2 hàng cờ biểu hiệu xưa nơi dinh quan tướng soái). Nhà tiền sảnh là nơi chánh tế và có nhiều học trò lễ mặc y phục lính hầu vua quan khi xưa, đội mão mặc áo thụng xanh bưng đèn, dâng rượu tế lễ khi cúng Lễ Cầu An mỗi năm ngày Rằm tháng Tám Âm Lịch.
Tại nhà võ ca, có hát bội đến diễn hai xuất trưa và tồi, trống chiên inh ỏi. Bên phải hông đình, có hàng quán bán thực phẩm, chè bánh, nước rượu. Bên trái là nhà hội họp ban hội tề, tế lễ, tiến đón quan khách đến bái viếng suốt ngày đêm cúng Thần. Trước đình, có xây một tấm bình phong nhỏ, khổ 2x1 thước rưởi bằng xi-măng dày lớp, hình chữ nhựt. Mặt bức tường có tạc con kỳ lân, hình thù dũng mãnh, hai bên có 2 lân con, quanh đình, là chòm dầu, loại cây cổ thụ cao, tạo khung cảnh đình thêm phần uy nghiêm, cổ kính. Đêm tối âm u, đi một mình, nếu yếu bóng vía, rất sợ ma.
Đình An Hoà mỗi năm vào ngày Trung Thu trời thường quang đảng, đêm trăng sáng tõ, làng tổ chức Lễ Cầu An. Dân làng làm ăn du học phương xa, đều xin nghỉ một vài ngày về làng dự lễ. Đêm Rằm này, cũng là dịp hẹn hò hội ngộ giới nam thanh nữ tú. Và người lớn tuổi hoặc dân làng đến xem hát bội, và mang ghế đẩu theo ngồi. Đình bị quân đội Pháp chiếm đóng từ 1953 đến 1954, vì vị trí này là trọng điểm bảo vệ chống du kích quân, tiến về đánh phá tỉnh lỵ Biên Hoà. Trung Đội Pháp do Trung Uý Fraysse chỉ huy. Lúc quân Pháp đến chiếm đóng, chức việc làng buộc phải thỉnh Sắc Thần về chùa Ông Quan Thánh tại chợ Bến Gỗ để gìn giữ bão tồn, tránh ô uế. Đình được trùng tu ba lần 1944, 1954, 1994 và được hầu như toàn thể dân chúng lúc xưa tỉnh Biên Hoà, thế kỷ XX nghe biết tiếng. Ngôi đình cổ kính An Hoà Bến Gỗ, lưu danh gần 200 năm.

b) Miếu Bà Ngũ Hành.
Bên trái hương lộ, khoảng giữa Chùa Cao Đài và Xóm Vườn (ngang Chồi Gia Long, có xây cất Miểu Bà Ngũ Hành, gồm 3 phần: Chánh Điện, Nhà Khách và Võ Ca. Nơi chánh điện có bệ thờ vuông, 2 thước mỗi cạnh, xây gạch. Bên trong có 4 chữ Ngũ Hành Nương Nương, và trên bệ đặt 5 bài vị từ phải sang trái ghi:Kim Đức Nương, Mộc Đức Nương, Thuỷ Đức Nương, Hoả Đức Nương, Thổ Đức Nương. Trước mặt bệ, có chữ Phước, mỗi năm vào ngày Rằm tháng Hai Âm Lịch, làng có tổ chức cúng Vía Bà, có mời hát bội từ xa đến trình diễn.

c) Miếu Bà Khoanh
Miếu trước Đình Thần, có đường làng mòn hướng dẫn xuống Xóm Chài. Bên vệ phải đường, có một ngôi miếu nhỏ, gọi là Miếu Bà Khoanh. Chỉ có dân ở Xóm Chài cúng thôi.

d) Làng Long Hưng:
Hương lộ Làng An Hoà dẫn đến cầu sắt bắt ngang sông Bến Gỗ là cuối đường làng này và là ranh giới với Làng Long Hưng. Một con đường mòn xuyên giữa đồng ruộng, xe du lịch có thể chạy được, dẫn đến một ngôi chùa nhỏ, kiến trúc đơn sơ, cách Cầu Sắt độ 2 cây số. Trước 1975, chùa này được gọi là chùa Tướng Sĩ Tượng, do Ban Hội Tề làng Long Hưng quản thủ.
Trong chùa, trên bệ chính giữa, có 3 tượng đá điêu khắc theo kiểu đạo Ấn Độ, Chân Lạp xưa hay Cambodia. Lý do là một bức tượng có đầu như đầu voi, tạc dưới bàn toạ một vật gì giống như đuôi voi.

Theo nhà khảo cổ gia Hamy thuật, thì cuối thế kỷ XIX, tại làng Phước Hội (Long Hưng) có đào được dưới đồng ruộng 4 bức tượng đá. Ba tượng được giữ lại tại Chùa Long Hưng và một tượng được đem về Chùa Phật, làng An Hoà. Ngoài những bức tượng tìm thấy, còn khám phá được rìu đồng, rìu đá, có giá trị lịch sử như các đồ đồng Đồng Sơn Bắc Việt (dao găm, giống người Sema-nagas, lối chơi cõng giống người Thượng thổi kèn, người được cõng). Trong miền Nam, lẽ tất nhiên, tín ngưởng đa thần khi xưa lưu truyền lại. Những miếu thờ thường là thờ Bà Ngũ Hành, theo phong tục Tàu, hoặc là ghi ơn công trạng một người làm phước đức cho dân trong xóm (như Chùa Thủ Huồng).
Theo lịch sử, cách nay gần 400 năm (từ đầu thế kỷ XVII), người Việt di cư từ miền hai miền Bắc và Trung vào đất Biên Hoà, kết nhập với số người Trung Hoa theo Tổng Binh Trần Thượng Xuyên, giữa thế kỷ XVII, định cư tại Cù Lao Phố, Biên Hoà, Bến Gỗ là đất dụng võ đầu tiên. Họ là những người khai sơn phá thạch, tài giỏi (như Tổ Tiên Ông Trần Văn Thông, Cựu Tổng Đốc Nam Định, phục vụ 17 năm, quê Tân Lại, Biên Hoà, Song Thân Ông Lý Quang Diệu, Cựu Thủ Tướng Tân Gia Ba, quê gốc làng Tân Thành, Biên Hoà … toàn là những người tài ba lổi lạc. Sau khi tổ tiên qua đời, mồ mã được xây khang trang là chuyện thường tình.

2. CHÙA
a. Chùa Bảo An Cổ Tự
Chùa nầy được xem như chùa cổ vì lý do xây cất lâu đời (như Đại Giác Cổ Tự nhưng lịch sử không sánh bằng mà vẫn được danh xưng), có lối kiến trúc trang nghiêm, được gọi là Chùa Làng An Hoà. Nơi chánh điện thờ Tam Bảo: giữa là Phật Thích Ca, bên trái là Phật Di Đà, và bên phải là Phật Dược Sư. Sau vách tường chánh điện, thờ Phật Bà Chuẩn Đề 4 tay mà dân làng thường gọi là Phật Bà Quan Âm hay cứu khổ chúng sanh. Có thể tượng Phật này là một trong 4 tượng đào được tại làng Long Hưng, tượng lớn đem về thờ tại Chuà Bảo An, ba tượng kia, thờ tại Chùa Tướng Sĩ Tượng.

Về Phật Bà Quan Thế Âm, hay Quan Âm, xuất xứ từ Ấn Độ, truyền sang Trung Hoa, Việt Nam … có 4 tay hay 8 tay là tượng trưng thiên biến vạn hoá thiên thủ (nhiều tay) phò hộ độ trì Phật Tử khi lâm nạn, nguy nan, thường hay cầu nguyện. Hai bên tả hữu chánh điện, có thờ tượng Phật Hộ Pháp và 18 vị Phật La Hán. Trước Chùa Bảo An, bên phải có tháp 6 từng ghi chữ Nho: Nam Mô A Di Đà Phật. Trong chùa bên trái là chiếc trống đại (lớn), bên phải là đại hồng chung. Đó là khung cảnh Chùa Bảo An Cổ Tự từ xưa đến trước 1975. Hiện nay, theo lời thuật lại, đã hoàn toàn thay đổi, thờ đủ vị (Phật, Ngọc Hoàng, Quan Đế Di Lạc, Thổ Địa, Thần Tài, Ảnh người thường, khi chết được suy tôn …). Năm 1991, chùa này được tân trang lại, đã bị mất cắp 13 tượng đồng, và năm 1993, bị mất tượng Hộ Pháp.
Vị Hoà Thượng khả kính trụ trì tại Chùa Bảo An khi xưa, là Hoà Thượng Khuê, gốc miền Trung vào Bến Gỗ. Ông huý Như-Mỹ, tự Trí Năng thuộc phái Tào Động. Trước 1950, trong một đêm mưa gió bảo bùng, Ông bị mất tích cùng lúc với đại hồng chung. Tôi vẫn nhớ mãi là khi năm 1945, sau khi đậu tiểu học ở Biên Hoà, vì Nhựt sang Việt Nam, tình trạng bất an phải nghỉ học. Ở nhà buồn, tuổi còn trẻ, tôi thường theo chú Hai Quới cùng ở Xóm Vườn, sau Chùa Bảo An, để đi câu cá rô, cá sặc tại đìa Ông Tặc, chồi Gia Long. Ông Hoà Thượng Khuê đến nhà thăm Ba tôi, thấy tôi không đi học và lêu lõng, đi câu tối ngày, bèn gọi tôi lại trước mặt Ba tôi, ông nói: “Phải cho nó đi học, thay vì ở không sẽ hư. Tôi có đứa con trai và đã hy sinh cho nó đi Tây học vì tương lai nó. Nếu cháu học giỏi, có dịp đi Tây, nhớ tìm hỏi thăm con tôi, vì tôi bặt tintức”.

Nay may mắn được sang Pháp, nhớ lời Hoà Thượng Khuê, tìm hỏi khắp nơi về con ông, mà chẳng được tin và gặp thấy. Sau năm 1953, khi trung đội lính Pháp rút khỏi Đình Thần An Hoà, và sau khi tập trung dân làng lập Ấp Chiến Lược tại Chợ Bến Gỗ, Chùa Bảo An được sung công, và một trung đội lính Bảo An Việt Nam đến chiếm đóng tại chùa để giữ an ninh cho Xã An Hoà Hưng. Hiện nay, được biết là sau khi mất tích (có thể bị bắt, vì chống cự nhân vụ mất chuông, giữ chùa, thi hài ông ở nơi nào chẳng rõ mà chỉ còn duy nhứt tấm mộ bia đề tên ông trước Chùa Thiết Tượng ở làng Tân Hưng tức là Chùa Thiền Lâm hiện nay.

b. Chùa Thiết Tượng
Chùa này thuộc làng Tân Hưng, gần Vườn Trầu, được gọi là Chùa Thiết Tượng (Chùa Trong). Danh xưng này xuất xứ nơi đây, vì thuở xưa nơi này chuyên về khai thác chế tạo thiết kẽm (Lò Thổi Thiết Tượng), khi xưa gọi là Chùa Xóm Chợ Lò, Chùa Truông Mây Xước (xỉ tưa mỏng của sắt cưa mài, được đọc trại ra Xước).
Sư cụ trụ trì đầu tiên là Ông Yết Ma Thuấn, sau lên cấp bực Hoà Thượng Pháp Danh Thị Chiếu. Tịch năm 1982, thọ 70 tuổi, tháp mộ được đặt tại nơi cảnh chùa. Khi chưa xuất gia, Ông tên Trần Văn Thuấn, thuộc đời 42 phái Tào Động. Con thứ tư Hoà Thượng Thị Chiếu là ông Trần Văn Phùng, vị sư trụ trì hiện nay là Thầy Thích Huệ Viên, phái Lâm Tế, tên chùa được đổi lại là Thiền Lâm Tự.

3. ĐỀN THỜ-KIẾN TRÚC THỜ PHƯỢNG KHÁC
Chùa Ông Quan Thánh mà dân địa phương Bến Gỗ thường gọi là Chùa Ông. Chùa Ông Quan Thánh, theo như bức hoành phi viết 4 chử: Văn, Võ, Thánh, Thần (Nhâm Thìn, 1892). Có lẽ là xây cất từ 1890, tính đến nay (2010), chùa được lập 120 năm rồi. Trước chùa, một gian nhà trống nối tiếp với Chợ Bến Gỗ, được xây gạch năm 1943, đuợc gọi là “Chợ Gạo” hay “Nhà Đải” chùa ông, khi cúng đàn chay mỗi năm vào ngày 15 tháng 10, Âm Lịch. Trên giữa mái nóc chùa, có những tượng “Lưỡng Long Tranh Châu”. Trước năm 1970, sét đánh ngay trái châu, bị hư bể, mà hai con rồng vẫn còn sau đó Ban Hội Hương sửa lại như trước.
Năm 1972, trước nhà Ông Hương Quản Trần Văn Dự, chức hàm gọi Tôn, cao hơn Đại Hương Cả và Hương Cả. Khi bị đuổi nhà từ Xóm Vườn, sau Chùa Làng Bảo An ra chợ, vì lập Ấp Chiến Lược, ông đã trồng một cây sứ trắng (sứ cùi) trước nhà cạnh sau gốc Chùa Ông bên phải. Đó là kỷ niệm duy nhứt rất hiếm sau khi bị mất cả vườn tược.
Cây sứ lớn lên, nhiều người Bắc di cư vào Nam sau 1954 ở Xóm Đạo gần tả ngạn sông Đồng Nai, đến xin vạt vỏ về nấu uống trị đau bụng, chổ vạt, thịt và võ thân cây lồi lên giống Phật Bà, một hiện tượng rất thường về thực vật học: tế bào cây bị chạm sâu, phạm võ, sẽ tạo chổ lồi lên như các cây sứ Nhà Thương Grall. Tiếng đồn từ các nhà kế cận, lan truyền đến các xóm và sau các buổi họp chợ, đến các quận kế cận và tỉnh Biên Hoà.
Chủ Nhiệm Nhựt Báo Trắng Đen là ông Việt Định Phương được tin mỗi ngày có hằng trăm người đến xem, viếng bái, vội vã cho phóng viên đến chụp ảnh đăng báo. Thế là thiên hạ các tỉnh xa dùng xe cộ đến Bến Gỗ để xem vì hiếu kỳ và vì tín ngưỡng. Và gia chủ trên 70, bị thăm hỏi, mệt mỏi suốt ngày.
Khách phương xa cúng tiền để nhan khói, thờ phượng. Chủ nhà một mực chối từ không nhận tiền, đồng thời toàn thể Hội Đồng Xã đến lập bàn thờ trước cây sứ phụ giữ trật tự an ninh, các viên chức ban Hội Hương áo dài khăn đống, tiếp khách đến lễ vái trước tượng Phật Bà, sau đó cúng dường cho Hội Đồng Xã tại Chùa Ông trong thùng phước sương.
Hằng ngày có đến cả ngàn người đến bái lạy cúng tiền, và kéo dài hơn cả tháng. Chủ nhà một mực từ chối nhận tiền, mặc dù nhà hư, vách hở. Ban Hội Hương góp tiền cúng gần cả triệu dồng, mang gởi Ngân Hàng Đông Phương Biên Hoà, lúc đó có ông Đổ Cao Thanh chứng kiến vì đang làm việc tại ngân hàng. Ban Hội Hương dùng tiền cúng để sửa sang lại Đình, Chùa, Đền Quan Thánh và đường sá.

Đặc biệt là lúc đó nhằm dịp đánh Hạ Lào, Phủ Thủ Tướng và Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị trung ương phái đặc viên đến điều tra gia chủ xem có mưu dồ phản chiến, hay phản tuyền truyền để chống chiến lược quốc gia chăng? Chừng thấy rõ sự thực, chủ nhà thanh bạch, điều tra viên khen phục đức độ gia chủ, và cho xem giấy sự vụ lịnh điều tra.

Nghĩa cữ cao cả của chủ nhà được ông Tỉnh Trưởng Biên Hoà khen ngợi sau khi báo cáo làng xã và đề nghị với Bộ Xã Hội ân thưởng, tặng Xã Hội Bội Tinh cho gia chủ cùng lúc có hơn mười vị có công với xã hội toàn quốc. Trước 1970, những Ông có tên tuổi như các Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, đã đến thăm chào Ông Trần Văn Dự.

Năm 1972, sau vụ Phật Bà hiện trên Cây Sứ, hơn cả trăm ngàn người đến thăm viếng, cúng vái trong suốt cả tháng, lại có cả ông Phó Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ, Tướng Nguyễn Ngọc Loan đau chưn chống gậy đến Bến Gỗ, vì hiếu kỳ, trước vái xá Phật Bà, sau thăm viếng gia chủ Cây Sứ, và kính trọng đức độ người. Chính gia đình Ông Trần Văn Dự đã xuất tiền nhà đặt một tấm bảng bằng thiếc, khắc hai hàng chữ:

Trên (bằng chữ Việt): Đền Thờ Quan Thánh
Dưới (bằng chữ nho): Quan Thánh Đế Quân
Bảng do Hương Quan Trần Văn Dự tặng và treo trước Chợ Bến Gỗ (thông đến Chánh Điện Chùa)

Sau 1975, Nhà Đải trước Chùa Ông (Chợ Gạo) bị ngăn bít biến cải thành Hợp Tác Xã Làng An Hoà. Thời gian sau, cơ quan này được dới trụ sở nơi khác, để trả lại cảnh chùa trang nghiêm cho xã. Đến năm 1994, lần đầu tiên tại Bến Gỗ đã cúng trai đàn tại Chùa Ông Quan Thánh, lớn nhứt từ xưa nay, quy tụ hầu hết các vị Hoà Thượng Cao Tăng của tỉnh Biên Hoà và các tỉnh khác miền Nam Việt Nam, thiết lễ ngày đêm trong nhiều ngày.

Cuộc lễ được tổ chức do các vị Hoà Thượng phái Đại Thừa, áo mảo chỉnh tề, tụng kinh, chạy kinh đàn, theo lễ nghi Phật Giáo Việt Nam, nhiều chi phái Đại, Tiểu thừa rất là ngoạn mục. Ngày cuối cùng, tổ chức cúng cô hồn và giựt giàn tại sân trống trước chợ và chùa Ông. Hơn cả chục cổ bánh hình thức trình bày đủ kiểu, do các làng lân cận mang đến dự lễ.

Thật là một điểm son cho vùng Bến Gỗ. Một đặc điểm khác, chức việc cao Ban Hội Hương được đề cử làm Ban Chánh Tế, lại là Võ Kim Long, tức cháu ngoại Ông Hương Quan Trần văn Dự, chủ Cây Sứ có hình Phật Bà Quan Âm. Ban Hội Hương Xã đã thay phiên lạy cúng cả ngày mỏi gối, chắc chắn không quên ngày vía độc nhứt vô nhị này, nếu còn sanh tiền. Một cuồn phim thâu băng còn được giữ, để chứng minh ngày lễ này.
Ở Bến Gỗ, ngoài ra còn có Ông Huyện Trường được nhiều người biết. Ông là thân sanh ông Trần Văn Mười (chú 10 Jean) có vườn cao su, cây trái, gần ngã ba Thánh Thất Cao Đài và cất nhà tô sang trọng tại bờ sông Bến Gỗ, bên kia cầu sắt làng Long Hưng. Ông là niên trưởng gia đình lớn họ Trần ở gần cầu sắt Bến Gỗ. Ông Trần Văn Mười (Cựu Đại úy) tạ thế tại Bến Gỗ khi được 57 tuổi tại tư gia vì bịnh, ông có rất nhiều bạn. Khi qua đời, Cựu Chuẩn Tướng Lam Sơn, bạn thân, đặt 4 câu thơ tiễn biệt, với tựa đề:
MƯỜI RĂN BẾN GỖ
Mười phương Phật độ tới non đoài
Răn dạy anh em nhẹ chữ tài
Bến nước từ nay thôi vắng khách
Gỗ đà đậy nắp, mới hay ai?
Một chuyện hi hữu khác là khi an táng, quan tài được chở trên thuyền rồng, có đào thài đứng hầu trước mủi thuyền và mỗi người đi đưa đám nhận một chung rượu Whisky đổ xuống huyệt tiển đưa.
Hiện bà quả phụ của ông Mười, cùng hai ái nữ sống tại Mỹ (Houston, Texas) mà cô gái Út là Trần Thị Kim Liên (một vị sư cô), đã có dịp qua Paris tu học Phật Pháp tại Chùa Linh Sơn, và cô chị là Trần Thị Kim Thảo, hiền phụ Cựu Đại Uý Sơn.
Trần Văn Trung
(Paris. France)

Sự đổ vỡ sắp đến của Trung Quốc

Ván bài cuối cùng của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu khi mà những biện pháp tàn nhẫn của Tập Cận Bình chỉ có thể đưa đất nước tiến gần tới tình huống nguy kịch.
Hôm thứ năm tuần này Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc thường niên vừa nhóm họp theo nghi thức đã trở nên quen thuộc. Ước chừng 3 000 đại biểu “ được bầu chọn” trên khắp mọi miền đất nước – từ những nhóm thiểu số trang phục sặc sỡ tới các tỷ phú lịch lãm sẽ gặp mặt trong thời gian một tuần để thảo luận về tình hình đất nước và dường như điều này tạo ra ấn tượng rằng họ đang tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia.

Một số người nhìn nhận cuộc tụ họp đầy ấn tượng này là một chỉ dấu cho sức mạnh của hệ thống chính trị Trung Quốc, tuy nhiên thực chất nó lại che dấu những điểm yếu nghiêm trọng. Các chiêu trò chính trị ở Trung Quốc xưa nay thường được ngụy trang dưới lớp vỏ đầy kịch tính với những sự kiện dàn dựng trên sân khấu cho thấy dường như Quốc hội trao quyền lực bền vững cho ĐCS Trung Quốc. Cán bộ nhà nước cũng như dân thường đều biết rằng họ phải tuân thủ những nghi thức đó, tức là phải vui vẻ tham gia và nhắc lại như vẹt các khẩu hiệu chính thức. Lối hành xử như vậy ở Trung Quốc có cái tên là "biểu thái" (biaotai – biểu lộ thái độ), thực ra nó có ý nghĩa chỉ hơn một chút hành động phục tùng mang tính tượng trưng. 
Nếu không để ý tới vẻ bên ngoài thì về thực chất ĐCS Trung Quốc đang rất suy yếu và không ai biết điều này hơn chính Đảng. Con người đầy quyền lực của Trung Hoa - Tập Cận Bình đang hy vọng rằng các biện pháp trừng trị thẳng tay bất đồng chính kiến và tham nhũng sẽ giúp chống đỡ một sự sụp đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.  Tập Cận Bình xác định rằng phải tránh trở thành một Gorbachov của Trung Hoa bởi lẽ Gorbachov đã điều hành sự tan rã của Đảng CS LX. Thế nhưng thay vì trở thành nhân vật tương phản với Gorbachov, Tập Cận Bình kết cục có thể lại tạo ra cùng một hậu quả. Sự chuyên quyền của họ Tập gây sang chấn nghiêm trọng toàn bộ hệ thống xã hội Trung Quốc và đang đưa đất nước tới gần tình huống nguy kịch.
Dự đoán sự ra đi của các chế độ chuyên chế luôn là việc đầy rủi ro, phi phỏng. Một số chuyên gia Phương Tây nhìn trước sự sụp đổ của Liên Xô trước khi nó xảy ra vào năm 1991; tuy nhiên CIA lại hoàn toàn bỏ qua việc này. Sự tan rã của các quốc gia cộng sản Đông Âu hai năm trước đó cũng đã từng bị chế nhạo như một suy nghĩ mơ mộng của những kẻ chống cộng cho tới khi việc này trở thành hiện thực. Các cuộc “cách mạng màu” trong thời kỳ hậu Liên Xô ở Gruzia, Ucrain và Kyrgyzstan từ năm 2003 tới 2005 cũng như cuộc nổi dậy mùa Xuân Ả Rập năm 2011 đều bùng nổ ngoài mọi dự đoán.
Các nhà quan sát tình hình Trung Quốc đang rất để ý tới những dấu hiệu có tính chất làm lộ chân tướng mục ruỗng và suy đồi của chế độ đang diễn ra kể từ khi xảy ra sự kiện trên quảng trường Thiên An Môn năm 1989, khi mà chế độ đã trên bờ suy vong. Từ thời điểm đó đến nay một số nhà Trung Hoa học đã đánh cược uy tín nghề nghiệp của mình khi khẳng định rằng sự sụp đổ của ĐCS Trung Quốc trong vai trò lãnh đạo là không thể tránh khỏi. Những người khác thì tỏ ra thận trọng hơn, trong đó có tôi. Thế nhưng thời thế ở Trung Quốc đã thay đổi và những phân tích của chúng ta cũng cần bám sát thời cuộc.
Ván bài cuối cùng với sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc đã bắt đầu, tôi tin là như vậy và điều này đã tiến triển xa hơn cái mức mà nhiều người suy nghĩ. Tất nhiên chúng ta không biết con đường đi từ nay cho tới khi nó kết thúc sẽ có hình dạng ra sao. Có thể nó sẽ rất không ổn định và lộn xộn nhưng cho tới khi hệ thống bắt đầu tháo gỡ các nút thắt một cách rõ ràng,rành mạch thì các yếu tố nội tại vẫn tiếp tục đóng vai trò và vì vậy chúng sẽ ảnh hưởng tới bộ mặt của sự ổn định.
Sự cầm quyền của ĐCS Trung Quốc khó có thể kết thúc một cách êm ả. Một sự kiện đơn lẻ khó có thể gây nên sự khép lại hòa bình của một chế độ. Điều dễ xảy ra hơn đó là sự ra đi của nó sẽ kéo dài, hỗn độn và bạo lực. Tôi không loại trừ khả năng Tập Cận Bình bị hạ bệ trong cuộc tranh giành quyền lực hoặc bởi một cú đảo chính cung đình (un coup d’état). Chiến dịch chống tham nhũng hăng hái của họ Tập đã trở thành tiêu điểm tuần này của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc cho thấy ông đang dùng quá đà sở đoản của mình và chọc tức một cách sâu sắc các cử tri là những nhân vật chủ chốt trong Đảng, Nhà nước, quân đội và giới kinh doanh.
Người Trung Hoa có câu ngạn ngữ, waiying, neiruan- ngoài cứng, trong mềm. Tập Cận Bình là một nhà lãnh đạo quả thực là mạnh mẽ, tràn đầy sức thuyết phục và tự tin. Thế nhưng nhân cách cứng rắn đó lại đi ngược với hệ thống Đảng và chính trị vốn hết sức mong manh trong nội bộ. Chúng ta hãy cùng xem xét 5 dấu hiệu có tính thuyết phục thể hiện tính dễ tổn thương của chế độ và yếu kém của hệ thống Đảng CS Trung Quốc. 
Thứ nhất, giới tinh hoa của nền kinh tế Trung Quốc đang đặt một chân bên ngoài cửa nhà và họ luôn sẵn sàng rời bỏ hàng loạt nếu như hệ thống thực sự bắt đầu sụp đổ. Năm 2014 Viện nghiên cứu Hurun ở Thượng hải chuyên theo dõi vấn đề người giàu Trung Quốc đã kết luận rằng 64% người có của Trung Quốc đã di cư hoặc đang lên kế hoạch di cư khỏi Trung Quốc. Người giàu Trung Quốc gửi con cái đi học ở nước ngoài với con số kỷ lục (bản thân sự việc này đã là một cáo trạng về chất lượng của hệ thống Đại học Trung Quốc).
Ngay trong tuần này báo chí đăng tin các đặc vụ Liên bang đã lục soát một số địa điểm ở Nam California nơi mà chính quyền Mỹ khẳng định rằng chúng có liên quan tới loại hình kinh doanh du lịch đạt giá trị nhiều triệu USD nhằm đưa hàng ngàn sản phụ Trung Quốc sang sinh con tại Mỹ để rồi sau đó quay trở lại Trung Quốc với đứa con là công dân Hoa Kỳ.
Người giàu Trung Quốc còn mua bất động sản ở nước ngoài ở quy mô và mức giá kỷ lục, họ chuyển tài sản ra nước ngoài, thường là những nơi được coi là dễ trốn thuế và mượn các công ty làm bình phong.
Trong khi đó, Bắc kinh đang nỗ lực đưa về nước số lượng lớn những kẻ chạy trốn mang tiền ra sống ở nước ngoài. Một khi mà giới tinh hoa của đất nước – trong đó có nhiều đảng viên CS rời bỏ tổ quốc với số lượng lớn thì chính nó đã cho thấy dấu hiệu xác đáng về sự mất lòng tin vào chế độ và tương lai của đất nước.
Thứ hai, khi lên cầm quyền năm 2012 Tập Cận Bình đã mạnh mẽ tăng cường làn sóng trấn áp chính trị vốn đã được khởi động từ năm 2009 trên khắp Trung Quốc. Mục tiêu hay đối tượng được ngắm tới là báo chí, truyền thông xã hội, phim ảnh, văn hóa - nghệ thuật, các nhóm tôn giáo, Internet, các nhà trí thức, người Tây Tạng và Uighur, những nhân vật bất đồng chính kiến, luật sư, các tổ chức phi chính phủ, sinh viên Đại học và lĩnh vực sách giáo khoa. Ban chấp hành Trung ương ĐCS đã ra một chỉ thị hà khắc được biết tới dưới cái tên Văn kiện số 9 phổ biến trong toàn hệ thống ĐCS từ trên xuống dưới năm 2013, yêu cầu mọi đơn vị phải truy tìm cho ra những biểu hiện tán đồng “ các giá trị phổ quát của phương Tây “ dù còn manh nha, đó là nền dân chủ pháp trị, xã hội dân sự, tự do báo chí và trào lưu kinh tế Tân-tự do (Neoliberal Economics).
Một nhà nước yên ổn và tự tin sẽ không phải tiến hành trấn áp, cấm đoán như vậy. Đó chính là triệu chứng của sự bất an và lo sợ của lãnh đạo ĐCS. 
Thứ ba, cho dù nhiều người trung thành với chế độ vẫn hành động xu thời nhưng khó bỏ qua những biểu hiện giả tạo mang tính diễn kịch đang lan khắp bộ máy chính trị trong mấy năm gần đây.
Mùa hè vừa qua, tôi là một trong số ít khách ngoại quốc (và cũng là người Mỹ duy nhất) tham dự cuộc hội thảo về “ Giấc mơ Trung Hoa” theo luận thuyết của Tập Cận Bình tại một cơ quan nghiên cứu của ĐCS Trung Quốc ở Bắc kinh. Chúng tôi ngồi suốt hai ngày, đầu óc bị tê liệt vì phải nghe liên tục hơn hai chục học giả của Đảng đọc tham luận, tuy nhiên bộ mặt của những người thuyết trình đều lạnh lùng vô cảm, ngôn ngữ cơ thể cho thấy một sự cứng nhắc và nỗi ngán ngẩm của họ rất dễ cảm nhận được từ bên ngoài. Họ làm ra vẻ phục tùng Đảng và những câu thần chú cuối cùng của lãnh đạo nhưng rõ ràng là công tác tuyên truyền đã mất hiệu lực cho nên Hoàng đế bây giờ chẳng còn y phục trên người.
Tháng 12, tôi trở lại Bắc kinh để dự cuộc hội thảo của trường Đảng trung ương, một định chế cao nhất của ĐCS trong việc đưa ra những chỉ đạo mang tính học thuyết. Và một lần nữa các quan chức cao cấp nhất của đất nước cùng các chuyên gia về chính sách đối ngoại lại đọc thuộc lòng kho khẩu hiệu, chính xác tới từng từ. Có lần trong bữa trưa, tôi ghé thăm gian hàng sách của trường, một địa chỉ dừng chân quan trọng để biết các cán bộ lãnh đạo Trung Quốc ngày nay được đào tạo điều gì. Những cuốn tuyển tập trên giá sách từ “các tác phẩm chọn lọc của Lê Nin” tới hồi ký của cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ Condoleezza Rice và trên bàn ngay cửa ra vào, những cuốn sách nhỏ của Tập Cận Bình quảng bá cho chiến dịch của ông ta về “ Công tác quần chúng” - hay mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân được xếp cao chất ngất. Tôi hỏi, “ sách này bán thế nào ?” Cô bán hàng trả lời “ Ô, không bán được nhiều, chúng tôi lại mang chúng đi ấy mà”“. Độ cao của chồng sách đã cho thấy khó có thể tin được cuốn sách đó thu hút độc giả.
Thứ tư, nạn tham nhũng làm thối nát bộ máy ĐCS, chính quyền và quân đội cũng đã thâm nhập vào toàn bộ xã hội Trung Quốc ngày nay. Chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình kéo dài được lâu và cũng khốc liệt hơn những đợt trước đây nhưng không một chiến dịch nào có khả năng loại trừ vấn nạn này vì nó đã bắt rễ một cách ngoan cố vào hệ thống độc Đảng, vào mạng lưới người bảo trợ - khách hàng (mang tính Mafia – ND) và một nền kinh tế hoàn toàn thiếu vắng sự minh bạch cùng một bộ máy truyền thông do Nhà nước quản lý không mang tính thượng tôn Pháp luật.
Hơn thế nữa, chiến dịch chống tham nhũng, hối lộ của Tập Cận Bình được đưa ra nhằm thanh lọc có lựa chọn, chủ yếu nhắm vào các đồng sự và chiến hữu của cựu Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân. Năm nay đã 88 tuổi họ Giang vẫn được đánh giá như Thái thượng Hoàng trong nền chính trị Trung Quốc. Truy quét mạng lưới đặt dưới sự bảo trợ của họ Giang trong khi ông ta còn sống là một sự mạo hiểm lớn đối với Tập Cận Bình, đặc biệt là khi ông có vẻ chưa tập hợp được phe phái gồm những chiến hữu trung thành tới mức đủ mạnh để củng cố quyền lực. Một vấn đề khác nữa là Tập Cận Bình là con trai của thế hệ đầu tiên các nhà cách mạng Trung Quốc, là một trong những “ Thái tử “ cho nên các mối liên hệ chính trị của ông ta chủ yếu được mở rộng đối với các “ Thái tử” khác. Thế hệ thứ 2 này đang bị xỉ vả công khai hiện nay ở Trung Quốc. 
Cuối cùng, nền kinh tế Trung Quốc dưới con mắt của phương Tây là một cỗ xe Gia Ga nát không thể dừng lại (thần thoại Ấn độ có chuyện chiếc xe chở vị Thánh tên Giaganat diễu trên phố và những người cuồng tín thường đổ xô vào xe để xe cán chết – ý bóng chỉ lực lượng khủng khiếp đi đến đâu gây chết chóc đến đó – ND). Nền kinh tế đó đang bị sa lầy trong một chuỗi những cái bẫy mang tính hệ thống mà không dễ thoát ra. Tháng 11/2013 Tập Cận Bình chủ tọa Hội nghị Trung ương 3 ĐCS Trung Quốc, Hội nghị đã công bố những chương trình cải cách kinh tế đồ sộ nhưng cho tới nay chúng vẫn còn nằm yên trên bệ phóng. Vâng, các khoản chi cho tiêu dùng có tăng, nạn thảm đỏ có giảm cùng với một số cải cách thuế được thực hiện nhưng nhìn chung các mục tiêu đầy tham vọng của Tập Cận Bình đã chết yểu. Chương trình cải cách đã thách thức các nhóm lợi ích hùng mạnh, cố thủ ở nơi thâm căn cố đế - đó là những doanh nghiệp nhà nước và đội ngũ quan chức Đảng ở địa phương và họ đã không úp mở ngăn cản việc thực thi cải cách.
Năm vết rạn nứt hiển hiện và ngày một gia tăng trong hệ thống quản lý Trung Quốc chỉ có thể khắc phục thông qua cải cách chính trị. Cho tới khi và chỉ khi Trung Quốc nới lỏng việc quản lý hà khắc hệ thống chính trị, quốc gia này mới có thể trở nên một xã hội sáng tạo và một nền “kinh tế tri thức” như mục tiêu cải cách mà Hội nghị trung ương 3 đã đặt ra. Chính hệ thống chính trị hiện nay mới là trở ngại chủ yếu đối với các cải cách chính trị và xã hội Trung Quốc. Nếu như Tập Cận Bình và các lãnh đạo ĐCS Trung Quốc không nới lỏng sự kìm kẹp thì họ chắc chắn sẽ phải đối mặt với số phận mà họ không mong muốn.
Trong mấy thập niên sau khi Liên Xô tan rã, giới lãnh đạo của Trung Quốc luôn bị ám ảnh bởi sự sụp đổ của người đồng chí cộng sản khổng lồ này. Hàng trăm bài phân tích của giới nghiên cứu Trung Quốc đã mổ xẻ các nguyên nhân dẫn tới sự tan rã đó.
“Giấc mơ Trung Hoa” của Tập Cận Bình trên thực tế đang cố gắng tránh cơn ác mộng Liên Xô. Vài tháng trước nhiệm kỳ lãnh đạo của mình, họ Tập đã có một bài phát biểu nội bộ về sự sụp đổ của Liên Xô, lên án sự phản bội của Gorbachov và cho rằng Moscow thiếu “ một người đàn ông đích thực” có khả năng chống lại người lãnh đạo cuối cùng mang tư tưởng cải tổ đó. Làn sóng đàn áp do Tập Cận Bình khởi xướng và chỉ đạo hiện nay cho thấy ông ta chống lại đường lối cải tổ và minh bạch kiểu Gorbachov. Thay vì cởi mở, Tập Cận Bình lại tăng cường kiểm soát tư tưởng, nền kinh tế và cả những đối thủ cạnh tranh trong nội bộ Đảng.Tuy vậy phản công và đàn áp chưa phải là lựa chọn duy nhất của họ Tập.
 Những người tiền nhiệm của ông ta như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào lại rút ra những bài học rất khác từ sự sụp đổ của Liên Xô. Từ năm 2000 tới 2008 họ đã thể chế hóa một số chủ trương nhằm nới lỏng và cởi mở hệ thống cùng với việc thực hiện cải cách chính trị một cách thận trọng và có giới hạn. Họ đã củng cố các cấp ủy ở địa phương và đưa vào thử nghiệm việc bầu vị trí bí thư Đảng với nhiều ứng viên. Hai ông cũng đã thâu nạp nhiều doanh nhân và trí thức vào Đảng, mở rộng hiệp thương giữa Đảng và các nhóm ngoài Đảng đồng thời làm cho các biên bản họp Bộ chính trị thêm minh bạch. Họ đã cải thiện cơ chế phản hồi trong Đảng, thực thi nhiều hơn các tiêu chí tuyển chọn nhân tài để đánh giá và đề bạt, thiết lập hệ thống đào tạo ủy nhiệm cán bộ trung cấp cho toàn bộ 45 triệu người được quy hoạch nguồn. Các ông cũng đã làm cho có hiệu lực những quy chế về hưu trí, luân chuyển công chức và sĩ quan quân đội 2 năm một lần.
Trên thực tế họ Giang và họ Hồ đã suy nghĩ để quản lý sự thay đổi thay vì chống lại nó. Tuy nhiên Tập Cận Bình không chấp nhận một điểm nào cả. Kể từ năm 2009 (khi mà nhà lãnh đạo có đầu óc cởi mở trước đây là Hồ Cẩm Đào đã thay đổi đường lối và bắt đầu chính sách khẩn cấp), chính quyền Trung Quốc ngày càng trở nên bất an nên đã cho ngừng thực thi các cải cách chính trị (trừ việc cải cách đào tạo cán bộ). Những cải cách này đã được một thủ túc chính trị của Giang Trạch Dân đạo diễn, đó là Phó Chủ tịch Trung Quốc Tằng Khánh Hồng (Zeng Qinghong). Ông này đã nghỉ hưu từ 2008 nhưng hiện đang bị nghi vấn tham nhũng trong chiến dịch “ đả hổ diệt ruồi “ của họ Tập. Điều này cho thấy Tập Cận Bình thù địch với các biện pháp cải cách nhằm giảm nhẹ con bệnh của một hệ thống đang đổ nát.
Một vài chuyên gia cho rằng chiến thuật tàn nhẫn của họ Tập sẽ báo trước một xu hướng cải cách cởi mở hơn trong những năm sau này trong nhiệm kỳ của ông. Riêng tôi thì không đồng tình bởi lẽ nhà lãnh đạo này và chế độ của ông ta luôn quan niệm chính trị là một cuộc chơi có tổng bằng 0 (tức là hoặc thắng hoặc thua chứ không có tình thế cả hai cùng thắng Win- Win – ND). Do vậy nới lỏng sự quản lý theo họ, chắc chắn sẽ là một bước tiến tới sự sụp đổ của cả hệ thống trong đó có họ.
Họ còn có quan điểm theo thuyết âm mưu cho rằng Hoa Kỳ đang nỗ lực hành động nhằm lật đổ sự lãnh đạo của ĐCS Trung Quốc. Do vậy không có chỉ dấu nào cho thấy những cải cách sẽ quay trở lại ở Trung Quốc.  
Chúng ta không thể đoán trước khi nào thì chủ nghĩa cộng sản ở Trung Quốc sẽ sụp đổ nhưng cũng không khó để kết luận rằng chúng ta đang làm chứng cho giai đoạn cuối cùng của nó. ĐCS Trung Quốc đứng thứ 2 trên thế giới về thời gian cầm quyền (chỉ sau có Bắc Triều Tiên) và không có đảng chính trị nào có thể cầm quyền mãi.
Nhìn về phía trước, những nhà quan sát Trung Quốc cần phải tập trung sự chú ý vào các công cụ của chế độ phục vụ việc cai trị và những người được giao phó sử dụng các công cụ đó. Một số lớn công dân và đảng viên CS Trung Quốc đã lựa chọn bằng đôi chân để rời bỏ tổ quốc hoặc thể hiện hành động giả dối của mình bằng cách làm ra vẻ tuân thủ các chỉ thị của Đảng.
Chúng ta cần quan sát cái ngày mà những nhân viên tuyên truyền của chế độ và bộ máy an ninh nội bộ sẽ trở nên không nghiêm chỉnh hoặc lỏng lẻo trong việc thực thi các lệnh của Đảng - thảng hoặc khi mà họ bắt đầu trở nên đồng cảm với những kẻ bất đồng chính kiến như nhân viên an ninh Đông Đức trong cuốn phim “ Những cuộc đời của người khác”  khi anh này thông cảm với chính đối tượng bị theo dõi của mình.
Một khi sự thấu cảm của con người đã manh nha chiến thắng bộ máy cầm quyền cứng nhắc, giáo điều thì ván bài cuối cùng của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc mới thực sự bắt đầu.
·      Dr. Shambaugh hiện là Giáo sư về Quan hệ Quốc tế đồng thời giữ chức vụ Giám đốc chương trình Chính sách Trung Quốc tại Đại học George Washington, ông cũng là cộng tác viên cao cấp của Viện Brookings. Những cuốn sách của ông về Trung Quốc gồm “ ĐCS Trung Quốc : sự hao mòn và sự thích ứng” và gần đây nhất là cuốn “ Trung Quốc toàn cầu hóa : một thế lực cục bộ”.
 Thăng long- Hà nội 8 tháng 3 /2015.
Phạm Gia Minh dịch từ The Coming Chinese Crackup
Wall Street Journal
(WSJ 6-3-14)

Bài viết hay(1948)

Thành thật mà nói là tui rất vui khi thấy không những các nhà trí thức ở Hà Nội mà cả các bạn trẻ trong nước đã quan tâm nhiều hơn đến chất lượng cuộc sống, cụ thể hơn là môi trường và cây trồng. Có nhiều ý kiến bênh và chống nhưng tranh luận rất lịch sự, ôn hoà và biết tôn trọng lẫn nhau. Đây là dấu hiệu của một thay đổi quan trọng trong việc nâng cao trình độ dân trí, cải thiện đời sống người dân và nhất là tinh thần dân chủ. http://media.doisongphapluat.com/411/2015/3/19/vang-tam-2%20(1).jpg 
 Vàng Tâm diễn nghĩa
Chu Mộng Long Warning:Chuyện xưa, cấm suy diễn lung tung! Nhiều người đang cãi về Vàng Tâm hay Mỡ, Mỡ hay Vàng Tâm là do thiếu hiểu biết về lịch sử, về ngôn ngữ!
Ngôn ngữ không cố định mà có tính lịch sử. Ngôn ngữ chỉ là khế ước của cộng đồng, theo F. Saussure; không phải tự nhiên mà có hay biểu đạt sự thật mà chỉ là diễn ngôn được hợp thức hóa bởi quyền lực, theo M.Foucault.
Vàng Tâm hay Mỡ không thành vấn đề về mặt ngôn từ! Câu chuyện chỉ là diễn ngôn giả định với một góc nhìn lịch sử chứ không phải là sự thật.

cay-go-vang-tam-la-gi-dac-diem-sinh-hoc-cua-cay-go-vang-tam830.jpg
Năm 207 TCN, sau khi Tần Thủy Hoàng chết, thiên hạ đại loạn.
Hoạn quan Triệu Cao đưa Tần Hồ Hợi, tức Tần Nhị Thế lên ngôi nhưng nắm hết quyền bính trong tay, lập dự án trình thiên tử diệt sạch các mầm phản loạn. Vua Tần Nhị Thế phê chuẩn, nhưng yêu cầu làm đúng quy trình, không để đập chuột vỡ bình, chỉ chặt đầu những tên sâu mọt đã tạo mầm phản loạn.
Triệu Cao liệt kê vào danh sách hàng loạt những bậc trung lương nhưng vu cho là sâu mọt. Anh em tướng Mông Điềm, Mông Nghị bị chém trước chỉ vì trước đó có tư thù với Triệu Cao. Tiếp theo là 12 vị công tử, 10 công chúa cùng với cả trăm vị trọng thần của triều đình với lí do những người này có âm mưu làm phản.
Thừa tướng Lý Tư thấy bình bị vỡ từ tay tên hoạn quan lộng hành này chứ chẳng phải do thế lực thù địch nào, bèn chất vấn Cao:
– Sâu mọt đâu ta chẳng thấy, toàn thấy những bậc trung lương bị giết hại. Ngươi chặt chém bừa bãi như vậy, triều đình lấy đâu ra người tài để làm quan?
Triệu Cao vỗ bụng cười ha hả:
– Ông làm đến Thừa tướng mà ngu. Ông cũng biết thiên tử do ghiền uống nước Ruồi từ bé nên bị lú, để bọn ấy sống không sợ có ngày chúng cậy tài ức hiếp thiên tử sao?
Lý Tư tức giận ra về, ngày đêm thu thập chứng cứ tội ác của Triệu Cao và tìm cách dâng sớ lên nhà vua trị tội. Nhưng những tờ sớ ấy lại rơi hết vào tay Cao.
Một hôm Triệu Cao mời cơm Lý Tư. Cao tiếp Lý Tư thân mật, vờ như không có chuyện gì xảy ra. Lý Tư cũng vờ quên hẳn chuyện mình đã dâng sớ trị tội Triệu Cao nên cứ ăn uống no bụng rồi ra về.
Hôm sau Lý Tư cảm thấy choáng váng mặt mày. Thái y bắt mạch bảo Lý Tư bị ngộ độc nặng không thể chữa khỏi. Ít tháng sau Lý Tư chết. Sử quan nhà Tần ghi Lý Tư có mưu đồ làm phản nên được vua cho uống thuốc độc mà chết.
Lý Tư chết, Triệu Cao được phong Trung Thừa tướng, càng độc quyền lộng hành. Thiên hạ chỉ còn lại một đám ngốc dưới quyền cai trị của họ Triệu.
Trong cung có đám thái giám chơi với nhau. Một đứa hỏi người hầu của Triệu Cao:
– Triệu Thừa tướng chém người có phải hỏi vua không?
Người hầu của Triệu Cao nói:
– Vua là do Thừa tướng dựng lên, người là do Thừa tướng cai trị. Thừa tướng muốn chém ai là việc của Thừa tướng, sao lại phải hỏi vua!
Từ đó, ai cũng thấy oai của Triệu Cao cao như núi.
Một hôm Triệu Cao cho người dắt một con hươu vào triều. Trước mặt quần thần, Triệu Cao hỏi vua:
– Bệ hạ có biết đây là con gì không?
Tần Nhị Thế nói ngay:
– Con hươu!
Triệu Cao cười:
– Sao ta nuôi dạy bệ hạ từ nhỏ đến giờ mà lú vẫn hoàn lú? Nó là con ngựa đấy!
Tần Nhị Thế cãi:
– Ngươi tưởng ta không biết con hươu à?
Triệu Cao hất hàm hỏi các quan:
– Các ngươi bảo đây là con gì?
Các quan lấm la lấm lét nhìn nhau rồi đồng thanh:
– Con ngựa ạ!
Nhà vua dụi mắt mấy lần vẫn không thể nhìn ra con ngựa, chợt không chỉ nghĩ mình bị lú thật mà còn bị loạn óc nên bèn vào Vọng Di cung trai giới. Còn những người nói thật đều bị Triệu Cao mang ra Ngọ môn chém sạch.
Mùa xuân năm 215 TCN, Triệu Cao không biết việc gì làm, bèn đệ trình nhà vua dự án chặt cây trong Tử Cấm thành cho thoáng đãng để ngăn ngừa bọn hủ hóa lẫn bọn phản loạn tìm chổ ẩn nấp. Nhà vua chuẩn y, nhưng dặn dò làm đúng quy trình, chỉ chặt những cây sâu mọt, mục ruỗng.
Triệu Cao ra mật lệnh cho lâm tặc chặt hết những cây gỗ quý, to khỏe xẻ gỗ ra làm các kĩ viện để chăn gái lấy tiền.
Trong vòng vài ngày, bọn lâm tặc chặt hết cả mấy ngàn cây. Dân la ó om sòm vì mất công xưa nay thực hiện chỉ đạo nuôi con gì, trồng cây gì của tiên vương.
Đám thái giám lại có cơ hội đàm luận. Một đứa hỏi người hầu của Triệu Cao:
– Triệu Thừa tướng chặt cây có phải hỏi dân không?
Người hầu của Triệu Cao nói:
– Dân là con của vua, con dân của vua là do Thừa tướng cai trị huống hồ là những thứ sinh vật không biết khóc ấy. Thừa tướng muốn chặt cây gì, chém con gì là việc của Thừa tướng, sao lại phải hỏi dân?
Uy của Triệu Thừa tướng càng mênh mông như biển cả.
Nhà vua thấy sự không yên bèn triệu Cao vào chầu để hỏi cho ra nhẽ:
– Sao Thừa tướng không chặt những cây sâu mọt, mục ruỗng mà lại chặt hết những cây trung lương?
Triệu Cao cười đểu:
– Chặt cây sâu mọt, mục ruỗng có mà ăn… cứt sâu mọt. Để lại loại cây đó cho bọn nhà nho đêm đêm ra đó ôm gốc cây mà làm thơ. Chặt hết chúng nó ngứa mồm nói bậy, bệ hạ không thấy chúng từng gây phiền nhiễu như thời tiên vương còn sống sao?
Chặt hết cả ngàn cây xanh, Tử Cấm thành trơ khấc như bị lột trần truồng. Vua phàn nàn về không khí oi bức, khó thở khi Tử Cấm thành thiếu bóng cây. Triệu Cao an ủi:
– Thần sẽ cho trồng ngay cây mới, đồng bộ toàn Vàng Tâm, đẹp như mơ. Loại cây này gỗ quý, hương thơm ngào ngạt, ngồi dưới gốc của nó có thể trường sinh bất tử.
Nhà vua vốn tham sống sợ chết nên nghe trường sinh bất tử vội chuẩn y ngay.
Triệu Cao thay vua ra lệnh cho bọn cấm vệ quân trích lương nộp tiền để mua cây mới trồng lại. Đứa nào không nộp là không yêu nước, chém! Bọn cấm vệ quân nộp không sót một xu.
Cây được trồng xong, trong thiên hạ có những đứa tự xưng chuyên gia lâm nghiệp hiểu biết về cây, ma xui quỷ khiến thế nào chưa kịp xin chỉ đạo đã lẻo mép nói: Không phải Vàng tâm, chỉ là gỗ Mỡ. Cây này hay bị sâu mọt, giòn, dễ gãy, ngồi dưới gốc của nó chỉ cần cơn gió cấp 3 thổi qua đã có thể đổ. Xem chừng không trường sinh bất tử mà có khi chỉ cần đi ngang qua đã có thể chết bất đắc kì tử.
Nhà vua nghe chuyện bèn triệu Triệu Cao đến hỏi:
– Ngươi không cho trồng Vàng Tâm mà trồng gỗ Mỡ để nuôi sâu mọt là sao? Định muốn ta chết bất đắc kì tử phỏng?
Triệu Cao giả vờ nghiêm giọng thưa:
– Có chuyện đó à. Thần sẽ cho thanh tra nghiêm túc chuyện này. Không khéo có kẻ thù địch đang ngầm âm mưu giết vua, lợi dụng chuyện trồng cây để làm phản.
Triệu Cao bí mật cho người tìm những kẻ phao tin cây mới trồng là gỗ Mỡ, lấy giẻ rách bịt mồm chúng lại rồi mang ra chợ chém hết. Chỉ chừa lại một kẻ đứng đầu trong đám tự xưng là chuyên gia lâm nghiệp ấy để làm chứng.
Hôm sau, Triệu Cao vời vua ra xem cây. Triệu Cao hỏi quan Khâm sai:
– Ngươi được giao thanh tra vụ trồng cây. Có người dám to gan nói đây là gỗ Mỡ. Ngươi kết luận thế nào?
Khâm sai đại thần quả quyết:
– Đây chính là Vàng Tâm. Xưa tiên vương cũng đã từng lặn lội tìm loại cây này để làm thuốc trường sinh bất tử.
Triệu Cao hỏi chuyên gia lâm nghiệp, người hôm trước được cho sống sót để làm chứng:
– Vậy theo ngươi, những cây này là cây gì?
Chuyên gia run són một quần, cung kính thưa:
– Tâu Hoàng thượng, bẩm Thừa tướng, đó là cây Vàng Tâm ạ!
Triệu Cao hỏi cả đám quần thần:
– Còn các ngươi thấy sao?
Cả đám quần thần cũng đồng thanh:
– Đúng là cây Vàng Tâm ạ!
Nhà vua hài lòng khen Triệu Cao:
– Khanh giỏi lắm. Loại cây này đã được đưa vào Sách Đỏ, thuộc loại quý hiếm mà khanh vẫn trồng được cả ngàn ngàn cây. Giỏi, giỏi, number one ngươi…
Từ đó, toàn dân nước Tần đều gọi cây Mỡ là cây Vàng Tâm!Chu Mộng Long
Chuyên gia phản bác ý kiến của Hà Nội về cây vàng tâm

Quan sát cây sau hai lần thay thế ở đường Nguyễn Chí Thanh (Hà Nội), các chuyên gia thực vật cho rằng, đó là cây gỗ mỡ, không phải vàng tâm quý hiếm trong Sách Đỏ như lời khẳng định của Hà Nội.

"Vàng tâm là cách gọi rất chung chung. Trong dân gian từ xưa đã có nhiều cách gọi khác nhau, một số nơi họ gọi loài gỗ có lõi màu vàng cũng là vàng tâm, thậm chí có người gọi cây mỡ là vàng tâm... nhưng theo tài liệu chính thức trong Sách Đỏ thì cây trồng mới ở đường Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ", Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hiệp, Giám đốc Trung tâm bảo tồn thực vật Việt Nam khẳng định sau khi thu mẫu và quan sát các cây.
Theo Sách Đỏ Việt Nam 2007, vàng tâm có tên khoa học Manglietia Dandyi là loại cây gỗ quý có mùi thơm không bị mối mọt, dùng trong xây dựng nhà cửa, đóng đồ gia dụng, làm đồ mỹ nghệ. Đây là loài bị đe dọa tuyệt chủng do số lượng ngày càng ít. 
11092670-801678189886503-18040-8715-9155
Lá và quả của cây vàng tâm. Ảnh do Tiến sĩ Hiệp cung cấp.
"Chúng chủ yếu chỉ phân bố trong rừng và hiếm khi bắt gặp, nên rất quý hiếm", ông Hiệp nói và cho biết, cây mỡ được trồng phổ biến ở các vùng như Phú Thọ, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang... Gỗ của chúng thường cung cấp nguyên liệu làm giấy, không có giá trị như vàng tâm.
Đồng tình quan điểm trên, giáo sư Lê Đình Khả, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Giống và công nghệ sinh học lâm nghiệp cũng khẳng định: "ngay cả 4 cây mới trồng ở đường Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ chứ không phải vàng tâm như mô tả trong Sách Đỏ".
Chuyên gia có kinh nghiệm 10 năm nghiên cứu về cây mỡ cho biết tên khoa học của loại này là Manglietia conifera, tên tiếng Việt có người gọi là mỡ hoặc mỡ vàng tâm. Chúng có lá đơn và không có lông. Hoa của chúng có màu trắng, khi chưa nở bao hoa dài 3-4 cm, đường kính 0,8-1cm. Quả của loài có hình giống quả thông, nhiều tâm bì, vỏ lụa của hạt khi chín màu đỏ.
caymo-7332-1427257968.jpg
Lá của cây mỡ được các nhà khoa học thu được trên đường Nguyễn Chí Thanh. Ảnh do tiến sĩ Hiệp cung cấp.
Một cán bộ của Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật nhận định, cây vàng tâm và mỡ cùng một họ và cùng chi thực vật nên có điểm tương tự nhau. Nhưng vàng tâm là loài gỗ cực tốt và quý hiếm, trong khi mỡ được trồng rất nhiều và chủ yếu được dùng để phủ xanh đồi núi trọc, lấy nguyên liệu làm giấy, lõi nhỏ và ít, giá trị không có gì đặc biệt, tương đương như cây keo và bạch đàn.
Trước đó, ngày 24/3, trong văn bản trả lời báo chí về những cây mới được trồng trên đường Nguyễn Chí Thanh thuộc đề án thay thế 6.700 cây xanh ở thủ đô, Sở Xây dựng  Hà Nội một lần nữa khẳng định đó là cây vàng tâm.
Bình luận về việc này, Tiến sĩ Hiệp cho rằng Hà Nội đang nói theo kiểu "miền Nam gọi là chén, miền Trung gọi là cái đọi, còn miền Bắc gọi là cái bát". Cây vàng tâm cũng vậy, ở một số vùng người ta vẫn gọi cây gỗ có lõi vàng là vàng tâm, nhưng mỗi cây, mỗi loài đều có tên khoa học, mà theo Sách Đỏ thì vàng tâm có tên khoa học là Manglietia Dandyi. "Nói như Hà Nội là không có cơ sở khoa học. Hà Nội hãy trả lời cây vàng tâm có tên khoa học là gì thì mới thuyết phục, nếu không hãy mời các nhà khoa học vào cuộc", ông Hiệp đề nghị.
Hội thảo mới đây được tổ chức ở Hà Nội, các chuyên gia về cây đều cho rằng: "Dù là mỡ hay vàng tâm thì đều không thích hợp trồng ở đô thị". Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, Chủ tịch hội các ngành sinh học lý giải, vàng tâm hay cây mỡ đều sống ở độ cao 300-400 mét so với mực nước biển, trong khi độ cao ở Hà Nội là 6 mét. Mặt khác điều kiện nhiệt độ hay thổ nhưỡng ở Hà Nội cũng không thích hợp với loài cây này. 

Cây mỡ thường phân bố ở Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình. Trên thế giới chúng phân bố ở Nam Trung Quốc và Lào. Thực tế nhiều người gọi vàng tâm vì quan niệm lõi gỗ thơm vàng đấy là đặc điểm chung cây gỗ lớn trong họ Ngọc Lan Magnoliaceae. 

Vàng tâm trong Sách Đỏ Việt Nam là loại gỗ thơm và vàng. Loài này gặp mọc tự nhiên ở Hà Giang (Quản Bạ, Vị Xuyên), Sơn La (Vân Hồ), Điện Biên ( Tủa Chùa),Yên Bái, Thanh Hóa ( hường Xuân), Nghệ An ( Con Cuông) Quảng Bình ( Tuyên Hóa, Minh Hóa). Trên thế giới thường gặp ở Trung Quốc và Lào.
Hương Thu
Kissinger: Mỹ nên noi gương kiên nhẫn của TQ về vấn đề Biển Đông

Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger.
Hãng tin Bloomberg số ra ngày hôm nay trích lời cựu Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger nói rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc nên tháo ngòi nổ và giảm thiểu tính cách cấp bách của cuộc tranh luận về vấn đề Biển Đông, để mở đối thoại về vấn đề này.
Theo ông Kissinger, Hoa Kỳ nên noi theo gương kiên nhẫn của Trung Quốc, thể hiện rõ nhất qua hành động của cố lãnh tụ Trung Quốc Đặng Tiểu Bình, trong cố gắng xoa dịu các cuộc tranh chấp chủ quyền chồng chéo trên Biển Đông.
Lên tiếng tại Singapore nơi ông đến dự tang lễ của cố Thủ Tướng Lý Quang Diệu, Henry Kissinger giải thích rằng ông Đặng Tiểu Bình trước đây đã giải quyết một số vấn đề mà ông phải đối mặt bằng cách chấp nhận rằng không phải vấn đề nào cũng phải được giải quyết trong thế hệ hiện tại, mà có lẽ “nên chờ thêm một thê hệ nữa, thay vì làm cho tình hình càng xấu hơn”.
Hoa Kỳ mới đây đã trấn an các nước đồng minh rằng Mỹ sẽ hậu thuẫn họ chống lại những tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh, đòi chủ quyền hơn 4/5 diện tích Biển Đông. Phản ứng lại, Trung Quốc tăng sức ép đối với một số quốc gia thuộc Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN, đẩy mạnh các dự án bồi đắp xây đảo trên các bãi cạn trong vùng biển mà các nước khác trong vùng, kể cả Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền.

Ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang xây nhiều bãi đá cách xa bờ biển nước này hàng trăm kilomet. Trên một bãi đá, Trung Quốc đã mang đến nhiều đất đến nỗi tạo được một đảo mới.
Các cuộc đối thoại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể khởi sự vào tháng 9 năm nay, khi Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ hội kiến theo kế hoạch đã định trước. Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đang tìm cách đẩy mạnh hợp tác và xoa dịu những căng thẳng, kể cả những căng thẳng liên quan tới các cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và các nước láng giềng của Trung Quốc trong khu vực.
Hồi tuần trước, ông Kissinger đã gặp ông Tập Cận Bình tại Bắc Kinh. Hãng tin Bloomberg tường thuật rằng dịp này ông Tập nói với ông Kissinger rằng: “Trung Quốc coi các quan hệ với Hoa Kỳ là vô cùng quan trọng, và muốn thấy hai bên tăng cường hợp tác để có thể giải quyết tốt hơn những bất đồng”.
Ông Kissinger đến Singapore dự đám tang của Thủ Tướng đầu tiên của Singapore Lý Quang Diệu. Nhà cựu ngoại giao Mỹ đã cùng hàng trăm ngàn người Singapore đến nghiêng mình trước linh cữu cựu Thủ Tướng Lý Quang Diệu tại Quốc hội Singapore.
Ông Kissinger nói “thế giới đã trở thành tốt đẹp hơn nhờ ông Lý Quang Diệu. Ông Lý đã dạy cho chúng ta về cách người Á Châu suy nghĩ về những vấn đề và giải thích cho chúng ta ý nghĩa thực tế của thế nào là phát triển”.
Ông Kissinger, năm nay 91 tuổi, là Ngoại Trưởng Hoa Kỳ dưới thời Tổng Thống Nixon. Ông được cho là kiến trúc sư trong chuyến đi lịch sử của Tổng Thống Nixon sang thăm Trung Quốc năm 1972, đã đưa hai nước xích lại gần nhau, và mở rộng quan hệ bang giao với nhau, qua đó làm thay đổi cán cân lực lượng trên thế giới, và cuối cùng thay đổi cả cục diện chiến tranh Việt Nam.

Bản đồ đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông.
Trong khi đó, một bản tin của trang mạng quốc phòng Defensenews.com hôm 28/3 nói vấn đề Biển Đông có tầm quan trọng sống còn đối với Việt Nam, bởi vì an ninh quốc gia và phát triển kinh tế của Việt Nam gắn liền với cuộc tranh chấp về chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc.
Trang mạng tin tức quốc phòng trích lời ông Hoàng Anh Tuấn, Giám đốc Viện Nghiên cứu các vấn đề Đối ngoại và Chiến lược của Việt Nam, phát biểu tại một buổi hội thảo ở Paris mang chủ đề “Những thách thức an ninh của Việt Nam trong năm 2015” nhận định rằng nếu xảy ra xung đột ở Biển Đông thì điều này sẽ gây phương hại cho lưu thông hàng hải đối với Pháp và EU.
Hội thảo này do Viện Nghiên cứu Chiến lược của Học viện Quốc phòng Pháp tổ chức, có sự tham dự của Đại sứ Pháp Christian Lechervy, nguyên cố vấn về các vấn đề Châu Á của Pháp. Ông Lechervy được dẫn lời nói rằng Pháp có quyền lợi gắn chặt với khu vực này. Ông nói:
"Sự qua lại của các lực lượng Pháp ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương cực kỳ quan trọng cho chiến lược răn đe hạt nhân của nước Pháp. Những căng thẳng phát sinh từ tranh chấp hàng hải và lãnh thổ là mối quan ngại sâu sắc của Paris và các đồng minh trong khu vực.”
Đại sứ Lechervy nói đó là lý do Pháp đang làm việc với các nước đồng minh, nhất là Mỹ và Australia.
Trong khi đó, Phó Chủ tịch phụ trách quan hệ quốc tế của Viện Quốc gia về Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông (INLOC) Marie-Sybille de Vienne, cho rằng Trung Quốc hiện không phải đối mặt với thách thức quân sự đáng kể nào trong khu vực. Bà Vienne nói Đài Loan không được công nhận là một nước, Việt Nam thì ngân sách quốc phòng thấp hơn nhiều so với nhu cầu cần có, chi tiêu quân sự của các thành viên ASEAN không đáng kể so với Trung Quốc. Và Singapore tuy có công nghệ cao, nhưng cũng không phải là một thách thức đối với Trung Quốc.
Bà Vienne nói Việt Nam còn lệ thuộc quá nặng nề vào thương mại với Trung Quốc, hàng hoá Trung Quốc chiếm tới 28% trong tổng số hàng nhập khẩu, và dự kiến sẽ chiếm hơn 50% vào năm 2020.
Trước cuộc hội thảo tại Paris, ông Hoàng Anh Tuấn đã có mặt tại Diễn đàn Bruxelles, lần đầu tiên trong 10 năm hội nghị này đã mời Việt Nam tham dự, phản ánh mối quan tâm sâu xa của các nước Châu Âu về vấn đề Biển Đông.
Nguồn: Bloomberg, Defensenews.
https://i0.wp.com/ichef.bbci.co.uk/news/ws/625/amz/worldservice/live/assets/images/2015/03/14/150314083811_1_640x360_facebook.jpgHãy cứ là DLVHôm bữa vào vozforums lục lạo hàng, thấy chủ đề "Điều kiện để làm DLV". Tò mò nhòm, mắc cười quá xá. Có người nói vầy: Em sẽ không làm một dân chơi nữa. Từ giờ em sẽ giác ngộ con đường cách mạng chân chính liêm khiết. Nhưng em nghe nói để được làm DLV phải có điều kiện: đến giờ để mẹ gọi xuống ăn cơm, ăn xong mẹ lau mồm. Ỉa đái xong để mẹ rửa trym rửa bướm rửa đít. Phải không các bác? Có ngay một avatar hình cờ đỏ búa liềm nhảy vào chửi: một thằng bệnh hoạn. Không hề kém, người khác nhảy vào chọc: DLV phản ứng gay gắt khi có thằng muốn tranh cướp nồi cơm của hắn. Rồi người đặt ra câu hỏi ở trên đi vào nói nhỏ nhẹ: thì em thấy Hoàng Nhật Lệ để mẹ gọi xuống ăn cơm à! Rồi một loạt ý kiến bổ sung cho câu trên thì là mà: mặt dầy là làm được à. Trước tiên phải mua áo, in chữ DLV vào mặt sau cả biểu tượng dao buá nữa. Chịu nhục thì làm được. Chỉ một điều kiện thôi nhá, NGU....
Có người nói các em như robot, sai đâu đánh đó. Nói các em như vẹt, chỉ biết hô khẩu hiệu. Dưới chế độ độc tài cộng sản, đất nước dân tộc lâm vào cảnh xuống hố cả nút cho đến thời điểm hiện tại. Cũng bởi chúng nó đi nhặt nhạnh và gom lại đủ tất cả mọi mánh khóe, hiểm độc từ chế độ độc tài ở khắp mọi nơi quy tụ thành một bài giảng duy nhất "yêu đảng là yêu nước". Những cánh tay nối dài của đảng, càng không cần chịu trách nhiệm với những gì nghe được, biết được, hiểu được qua bài giảng "tài tình" đó. Trên dưới không biết trách nhiệm là gì, cái bất biến về bản chất của chúng nó là vậy. Các em cũng nhân danh lòng yêu nước. Yêu nước qua lá cờ búa liềm. Qua khẩu hiệu Mac-Le muôn năm, Hồ Chí Minh muôn năm, đảng cộng sản Việt Nam vô địch muôn năm. Các em đề cao cảnh giác, chống phá thế lực thù địch, phản động nguy hiểm qua hình ảnh những người dân tay không tấc sắt thấp cổ bé miệng. Liệt sĩ cũng thanh trừng vì tội phản động đã lôi kéo người người phản động tới tưởng niệm. Ra nghĩa trang liệt sĩ mà tưởng niệm. Chỉ được quyền khiêu vũ, đánh mông vào mặt Thái tổ. Ngoài ra đều là âm mưu thù địch.
Giữ gìn ANTT là canh chừng thời điểm đúng lúc ra tay, đánh đổ hết thảy, mặc kệ cho liệt sĩ chết tức tưởi lần nữa. Chọc vô ổ kiến lửa nhân dân đi các em, chọc nhiều vào. Anh Gõ lượm tin từ vỉa hè, nghe kể là hồi đó mấy anh bộ đội đi đánh giặc Tầu khổ lắm, thường xuyên bị đói vì khẩu phần ăn được phát quá ít. Đêm đói ngủ không được phải mò vào vườn nhà dân bẻ trộm măng. Dân bị trộm nhiều quá nên bôi sơn lên gốc măng. Anh nào bẻ trộm, hai bàn tay dính đầy sơn, dân bắt quả tang không thể chối. Nghe vậy thôi chứ anh không kiểm chứng được. Nhưng nghe mà não lòng anh lắm. Các anh hy sinh vì có những thằng đẩy các anh vào chỗ chết cho mưu đồ chính trị bẩn thỉu của chúng nó. Rồi cũng chính chúng nó quay sang ôm hôn chính thằng giặc Tầu đã giết chết các anh. Quân đội luôn nằm trong tầm kiểm soát của đảng thì mới đúng nghĩa là quân đội của nhân dân (hô hô). Một cái phẩy tay của chúng nó, mẹ liệt sĩ còn ra đường nằm kể gì đến liệt sĩ dưới ba tấc đất. Miễn sao chúng nó được làm vua, ở nhà vàng ngồi ghế rồng. Một cái bình chứa đầy những con chuột vua, chuột nịnh thần, chuột hang chuột hóc cả bầy mới kinh.
Vụ thằng Trung vừa rồi, các em bất mãn phản ứng lại là đúng. Thằng đó coi các em như chó, lúc cần thì bắt chó sủa đi. Nhưng khi nhân dân nắm đầu con chó tới mắng vốn thì thằng chủ lắc đầu quầy quậy không nhận là chó của nó. Chó làm đéo gì có khái niệm yêu nước qua hành động chống phá luận điệu xuyên tạc. Các em có danh xưng rõ ràng. Thằng Trung phủ nhận bị các em đánh bật trở lại, giỏi lắm. Thằng Long thì càng tởm, lắc đầu quầy quậy khẳng định hoàn toàn không có chuyện đó. Hắn còn phỏng đoán biết đâu có một tổ chức xấu làm như thế, rồi bảo đó là người của ban tuyên giáo đi làm việc ngăn cản chuyện yêu nước của người dân. Phủ nhận là như nào? Đảng có trăm mắt nghìn tay vô địch nhất. Hắn có mưu đồ cướp công cán của các em đấy. Những việc làm của các em đều nhận được giấy khen vì lập được nhiều thành tích trong công tác phòng chống tội phạm phản động góp phần giữ vững ANTT trên địa bàn thủ đô. Thằng Lợi tuyên giáo khoe đội ngũ 900 DLV nhằm phát huy sức mạnh của đội ngũ tuyên truyền miệng. Cộng thêm hành động chống phá, thiệt tiệt dời. Thằng này hồi nào tới giờ nói ra câu nào cũng đéo có ai thèm nghe, nhân dân khinh bỉ hết thảy những thằng bán nước.
Những thằng bán nước chỉ giỏi bè phái, tranh ăn, ưa chuộng đấu tố, thích tra tấn, chỉ biết phá hoại, thích cướp đoạt tài sản dân, bức tử dân. Chúng nó trên răng dưới dái, cướp sạch từ cái lai quần của dân, cướp cạn tiền thuế của dân. Chỉ cần trích ra số nhỏ trả lương cho thành phần còn đảng còn mình, thành phần chống phá luận điệu xuyên tạc để chúng nó được yên thân trên con đường vinh thân phì gia. Với hiến pháp cuội, luật rừng đưa kinh tế cả nước xuống hố, tham nhũng bất trị, NỢ ngập mặt. Tính đời nay kéo sang đến đời sau, đời cháu chắt sơ sãi trả hoài cũng không hết. Tài nguyên cạn kiệt, bị tàn phá tanh banh. Bạo lực hoành hành, xã hội phồn vinh giả tạo. Sưu cao thuế nặng, đạo đức tha hoá suy đồi... Đất nước này còn cứu chữa được không? ĐMCS.
Các em cứ việc yêu nước theo cách của các em, cứ đà đó tiếp diễn. Các em sẽ góp phần giựt sụp chế độ này càng nhanh. Cảnh giác cao độ tới những ngày kỷ niệm sự kiện lịch sử trọng đại hay dịp tổ chức đại hội đảng các cấp. Thường xuyên rình rập theo dõi cho kỹ thành phần nào được côn an gán mác phản động và những người được gọi là dân oan. Đối lập, phản kháng trái với quan điểm đường lối của đảng là gây mất "ổn định an ninh tư tưởng" đồng nghĩa là đánh phá tổn hại tới lợi ích quốc gia dân tộc. Anh cũng thuộc bài quá hỉ? Các em giúp đại hội đảng thành công rực rỡ, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Làm sao cho dân oán than càng nhiều, tiếng nói giận dữ bay càng xa. Các em nâng cao thành tích dài hơn sớ táo quân càng tốt, là cơ hội cho các em có quyền lộng - hành. Quyền thêm quyền, tất sinh ra đủ lợi. Phát hiện, chống phá. Ngày đêm báo cáo, cung cấp thông tin hình ảnh, xuống đường với búa liềm. Tích cực hăng say sẽ được khen thưởng. Cho chật nhà tù, tự tử chết trong tù cho nhiều. Đẩy dân ra nằm đường cho nhiều... nhiều nhiều... nhiều nữa. Cứ chống phá điên cuồng, gây hỗn loạn tàn khốc, làm sao đạt đến mức cao nhất. Đây gọi là chiêu cần lấy số má mới tỏ được oai phong. Biểu thằng trùm lợn Quang lùn mặt đần thúi cúi xuống liếm dép các em, bố bảo nó cũng không dám cãi. Xã hội đen gặp các em gọi là ông nội bà nội. Bọn dân phòng thấy các em từ xa là nằm dài sẵn dưới đất lấy thân làm thảm chờ bước chân các em bước qua. Hãy yên tâm công tác, chuột lớn chuột bé tới bọn tay sai tay chân cũng không dám đụng tới các em đâu. Phản bội các em chính là phản bội lại Mac-Le muôn năm, Hồ Chí Minh muôn năm, đảng cộng sản Việt Nam vô địch muôn năm.
Hãy xuống đường chống phá khắp nơi. Người sống bắt lầm hơn bỏ sót, người chết rồi cũng không tha. Ở đâu có xuyên tạc là ở đó có mặt các em chống phá. Mỗi lần ra quân thật khí thế, các em giỏi hơn bọn tuyên giáo rách việc chỉ biết vẹt mồm. Các em thể hiện bằng hành động rất tốt, làm nỗi bật, rõ ràng mọi chính sách, chủ trương định hướng đường lối của đảng độc tài cộng sản quang vinh. Nối vòng tay lớn, tay tiếp tay cùng bọn lãnh đạo thúi, với côn an, với quần chúng tự phát xã hội đen. Ác thêm ác, ác nữa. Ra sức đánh cho bật gốc "niềm tin" mà người dân nào vẫn còn say sưa bám víu vào chế độ độc tài cộng sản này. Đầu dân đang nóng, tiếp thêm hơi cho phực ra lửa. Cho dòng máu nóng trong tim "Việt Nam quê hương tôi" sôi lên sùng sục, tay động chân đi. Từ đóm lửa le lói, có thêm nhiều đốm lửa, chụm lại ra ngọn núi lửa. Bây giờ các em hứng đủ mọi kiểu búa riều, bị gọi là "những kẻ vong ân bội nghĩa". Nhưng mai này, khi đất nước dân tộc hết còn bóng dáng độc tài cộng sản. Các em cũng là một phần nhân tố sẽ được nhắc đến như một huyền thoại. Một huyền thoại mang tên DLV trong khoảng thời gian lịch sử đen tối nhất của đất nước. Tin anh đi, được ngồi chung tốp huyền thoại rất bảnh tỏn. Anh cám ơn các em, mỗi một sự chống phá nào qua việc làm của các em hiệu quả gấp nhiều lần trước mọi luận điệu xuyên tạc từ thế lực thù địch, phản động. Hoan hô các em. Trong thời gian thi đua với côn an, các em nhớ bảo tồn lực lượng. Đi đâu cũng cần đi bầy đàn, không được xé lẻ nhất là về nhà đêm hôm. Tránh tình trạng bị chụp bao bố, nhẹ thì thương tích đầy mình, nặng thì nằm một chỗ. Thằng Quang lùn mặt đần thúi có ngày thành sảy chân té xuống sông chết đuối, chả có ma nào điều tra đâu.
Các em như những bầu vú đầy sữa sẽ được vắt cho đến cạn kiệt. Hình ảnh các em dưới ngọn cờ búa liềm đỏ chói, ngày nào còn cho ra sữa là còn được thần thánh hóa trong nhiều khẩu hiệu kêu rất to. Không lâu nữa, ngày nhân dân tất thắng. Chắc chắn không có chỗ cho chuột ẩn thân cắn phá, lợn cũng không được cấp thông hành.
Em nào chưa định hình được hướng đi thì bắt đầu lại từ con số không tròn trĩnh nguyên sơ. Trở thành đợt sóng mới như một sự chuyển mình, chung tay xây dựng cho nước mạnh dân giàu. Còn em nào muốn vượt thoát vì không thích sống cùng với mô hình dân chủ, không thích sống cùng với bọn "rận trủ" mà các em rất ghét. Anh xin hứa bằng hết khả năng của anh. Sẽ tìm đường, giới thiệu cho các em đến được với phiến quân Hồi giáo.
Trước thời điểm đó, hãy cứ là DLV. Govapha