Thursday, March 31, 2016

Bài viết hay(3111)

Sáng nay nghĩ lễ Cesar Chavez nên cha con tui đi LA ZOO. Đông nhất là Mỹ trắng và Spanish, lác đác vài người Hàn và Hoa. So với các sở thú khác ở Mỹ, LA ZOO là tệ nhất về cả số lượng thú vật lẫn quy mô và chất lượng phục vụ.  Ngạc nhiên nhất là một biểu ngữ căng trên cầu đi bộ bắc ngang qua xa lộ 5 có dòng chữ "FUCK TRUMP". Who did that?
Nhân tai bắt nguồn từ sự coi thường sinh mạng con người
Những ngày này đọc báo trong nước toàn chuyện tai họa liên tiếp xảy ra, nào bom nổ ở khu đô thị Văn Phú (Hà Đông, Hà Nội) ngày 19.3, sập cầu Ghềnh (bắc qua sông Đồng Nai) ngày 20.3; cháy chợ Hóa An (Biên Hòa, Đồng Nai) ngày 20.3, cháy nhà máy gạch men Viglacera Thăng Long (thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc) ngày 20.3, cháy ở khu vực phía sau tòa nhà CT Plaza, đối diện cổng nội địa sân bay Tân Sơn Nhất ngày 22.3, cháy chợ Ngã Tư Sòng (xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị) ngày 22.3 …
Trừ vụ bom nổ ở khu đô thị Văn Phú tổng cộng có 5 người chết, 10 người bị thương, các vụ còn lại tuy may mắn không có thiệt hại về người nhưng mức độ thiệt hại về vật chất, tài sản là rất lớn. Vụ sâp cầu Ghềnh chẳng hạn, cần khoảng 300 tỷ VNĐ để khôi phục, vụ cháy chợ ở Quảng Trị thiệt hại hàng tỷ đồng, báo chí đưa tin nhiều tiểu thương thấy hàng hóa của mình bị cháy rụi đã ngất xỉu tại chỗ (“Cháy chợ ở Quảng Trị: Nhiều tiểu thương ngất xỉu”, Dân Việt), vụ bom nổ tổng cộng 94 căn nhà bị hư hỏng, hiện vẫn chưa có con số cụ thể về mức độ thiệt hại (“94 căn nhà bị hư hỏng sau vụ nổ tại Khu đô thị Văn Phú”, (Dân Trí) v.v…
Điều đáng nói là nhà cầm quyền đang phát động hưởng ứng Tuần lễ quốc gia về an toàn vệ sinh lao động-phòng chống cháy nổ lần thứ 18 (diễn ra từ ngày 21 đến ngày 25 tháng 3 năm 2016), nhưng các vụ cháy nổ nghiêm trọng vẫn xảy ra.
Mà nếu nhìn lại thì các vụ tai họa trên đều do con người chứ chẳng phải do ông Trời nào gây ra cả.
VÔ TƯ CƯA BOM, MUA BÁN, TÀNG TRỮ CHẤT NỔ TRONG NHÀ, GIỮA KHU DÂN CƯ
Như vụ bom nổ ở khu đô thị Văn Phú là do anh Phạm Văn Cường, cũng là nạn nhân của vụ nổ, dùng đèn khò phá quả bom với mục đích lấy sắt vụn bán, trong quá trình cắt phá nhiệt lượng đã kích nổ gây ra vụ nổ lớn. Theo báo chí, anh Phạm Văn Cường thuê một căn nhà ở khu đô thị này đề hành nghề thu mua phế liệu. Sau khi thu mua phế liệu các loại, anh mang về nơi ở trọ cất giữ và hàng ngày mang phế liệu ra vỉa hè trước cửa nhà đề dùng đèn khò cắt, phá bán sắt vụn.
Ở nước ta, thu mua phế liệu trong đó có cả những vật liệu gây cháy nổ là một công việc để mưu sinh của một số người, và đây không phải là lần đầu tiên xảy ra những vụ cưa bom, đạn để lấy sắt và thuốc nổ đem bán nhưng bom phát nổ làm bị thương hoặc chết người. Nhưng tại sao cái “nghề” nguy hiểm này lại vẫn tồn tại, dù đã có những cái chết, dù báo chí dư luận đã lên tiếng? (“Kinh hoàng những vụ…cưa bom lấy sắt vụn”, Tiền Phong, “Cưa bom là hành động chỉ có ở VN!”, Pháp Luật Số…)
Có nơi còn hình thành cả “chợ bom”, “làng cưa bom” như “chợ bom” xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An mà sau vụ nổ ở Văn Phú, người ta mới biết sợ (“Chợ bom” đã bớt cưa bom”, Tuổi Trẻ, “Làng cưa bom” ở Quảng Trị”, Zing.vn , “Lái buôn 'bom đạn' ở đất lửa Quảng Trị”, VNExpress, “Kinh hãi 'bom nổ chậm' phế liệu giữa Thủ đô”, VietnamNet…). Càng đọc càng thấy sợ. Ngay giữa những ngôi làng cho tới một số khu dân cư đông đúc giữa Thủ đô, vẫn có những khu buôn bán phế liệu chất đầy những vật dễ gây cháy nổ, nếu lỡ xảy ra cháy, nổ thì hậu quả sẽ như thế nào?
Người dân vì thiếu hiểu biết, vì túng quá nên cứ làm liều đã đành, chính quyền địa phương chắc chắn phải biết tới những chợ bom, làng cưa bom, khu mua phế liệu này, cũng như chính quyền địa phương, cư dân lối xóm chắc chắn phải biết đến công việc thu mua phế liệu của anh Phạm Văn Cường nhưng vẫn không ai có biện pháp ngăn chặn triệt để. Cho đến khi xảy ra chuyện chết người thì Giám đốc Công an Hà Nội mới “yêu cầu các đơn vị nghiệp vụ và công an cơ sở thực hiện rà soát, thu hồi cũng như vận động người dân giao nộp vũ khí, vật liệu nổ nhằm bảo vệ tính mạng, tài sản của bản thân và cộng đồng.” (“Vụ nổ ở Hà Đông: Yêu cầu không thu mua vật liệu có nguy cơ nổ”, 24 giờ).
Mặc dù vậy, chuyện mua bán, cưa cắt bom, đạn cũ lấy sắt vụn chắc chắn vẫn sẽ còn tiếp diễn, không chỗ này thì chỗ khác.
Tại sao vậy? Tại dân ta nghèo, thiếu hiểu biết, coi thường sinh mạng của mình và của người khác? Tại nhà cầm quyền không giám sát chặt chẽ, không có những biện pháp ngăn cấm triệt để cũng như xử lý thật nặng những hiện tượng vi phạm để làm gương?
Còn nhớ ngày 25.2.2013 một vụ nổ lớn kéo sập 3 căn nhà liền kề trong một con hẻm ở đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận Phú Nhuận, TP.HCM, 10 người thiệt mạng, trong đó có cả một gia đình gồm toàn bộ 6 người của ông Lê Minh Phương, chuyên viên khói lửa của ngành điện ảnh, chưa kể hàng xóm người dưng cũng bị thiệt mạng theo. Nguyên nhân là do ông Phương trong khi pha chế thuốc nổ bị phát nổ.
Từ đó, dư luận mới bàng hoàng khi báo chí nêu ra những chi tiết về sự “vô tư” của nạn nhân khi chứa cả kho thuốc nổ tại nhà, cho tới những người hàng xóm không rõ có biết là ông Phương làm nghề khói lửa và chứa thuốc nổ tại nhà không và nếu biết thì có trình báo với chính quyền địa phương và đấu tranh đến cùng không hay là cứ chấp nhận sống chung với mối nguy hiểm, và chính quyền địa phương có hay biết, có làm bất cứ hành động gì để khuyến cáo hay không v.v…Nạn nhân đã quá mạo hiểm khi “đánh cược” mạng sống của mình và của cả gia đình đã đành, nhưng việc quản lý của chính quyền địa phương đối với việc lưu trữ, sử dụng chất nổ là quá lỏng lẻo, họ cũng phải có trách nhiệm trong việc để xảy ra tai nạn thương tâm này.
Ở các quốc gia mà mạng sống con người là điều quý giá nhất, trước hết, những người làm nghề tạo khói lửa, cháy nổ cho phim ảnh phải có bằng cấp, chứng chỉ chứng tỏ có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực này chứ không phải như ở VN hầu hết là cứ làm rồi nghề dạy nghề, và sẽ không bao giờ lại có chuyện cho phép người làm nghề được cất giữ, pha chế thuốc nổ tại nhà trong một con hẻm chật chội, nhà này sát nhà kia như vậy. Chính quyền địa phương sẽ bắt buộc họ phải có một cơ sở chứa vật liệu, tàng trữ các chất cháy nổ ở một khu vực cách xa nhà dân.
Đó là chưa nói đến thực tế ở nhiều nước, trong lĩnh vực phim ảnh, các chuyên gia đã tạo ra một loại thuốc nổ không gây sát thương, còn Việt Nam mình chưa có công nghệ này mà vẫn dùng chất nổ thật nên rất nguy hiểm.
Đối với cái “nghề” thu mua phế liệu đặc biệt phế liệu chiến tranh, các vựa phế liệu chiến tranh, chính quyền địa phương phải tuyệt đối cấm nếu ở ngay giữa làng giữa phố, phải có biện pháp di dời ra khỏi khu vực dân cư.
CHÁY NHÀ, CHÁY CHỢ, CHÁY CƠ QUAN DO BẤT CẨN
Ở VN khi xây nhà dường như chúng ta chưa chú ý đúng mức đến yếu tố an toàn nếu lỡ xảy ra sự cố gì. Nhất là nhà ở các thành phố lớn, đông dân cư như Sài Gòn, Hà Nội...thường chỉ có một cửa ra vào, các cửa sổ thì thường có song sắt. Nếu xảy ra hỏa hoạn ngay gần cửa ra vào là hết đường thoát. Đã từng có những vụ cháy rất thương tâm, nhà lầu, cháy ở tầng dưới, ngay gần cửa ra vào thế là cả nhà đành la hét chờ chết, hàng xóm nghe tiếng la nhưng cũng bất lực không thể làm gì vì cửa ra vào đã khóa bên trong.
Nên chăng nhà ở thành phố đông dân cư nên có cửa hậu, cửa hông, cửa thoát hiểm, cùng lắm phải có ít nhất vài cửa số có cửa kính để nếu cần là đập bể kính thoát ra, phải có cầu thang thoát hiểm, hoặc chứa sẵn dây thừng, khi cần ở trên lầu cũng có thể mở cửa sở, tuột xuống ra bên ngoài. Mọi căn nhà khi xây phải đảm bào yếu tố an toàn, đường thoát hiểm và chính quyền địa phương, các cơ quan ban ngành liên quan phải có trách nhiệm giám sát điều này.
Những thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội…thường có vô số những con hẻm, nhiều con hẻm cụt, chỉ có một lối ra duy nhất, hoặc quá chật hẹp, ngoằn ngoèo, khi xảy ra sự cố thường rất khó khăn để cứu người. Đã từng có những trường hợp nhà cháy trong hẻm mà xe cứu hỏa không vào được, hoặc kéo dây không tới…
Cháy nhà do bất cẩn đã đành, cháy chợ, cháy cơ quan cũng thế. Trong những vụ cháy chợ Hóa An (Biên Hòa, Đồng Nai), cháy nhà máy gạch men Viglacera Thăng Long (thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc), cháy chợ Ngã Tư Sòng (xã Cam Thanh, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị)…kể trên đều là do sự bất cẩn, cầu thả của một ai đó.
Như vụ cháy ở khu vực phía sau tòa nhà CT Plaza, đối diện cổng nội địa sân bay Tân Sơn Nhất ngày 22.3 may mà đám cháy được dập tắt kịp thời, nhưng “Theo P.V VietNamNet tại hiện trường, đây chỉ là vụ đốt rác dọn vệ sinh của công nhân xây dựng tòa nhà sát bên trung tâm thương mại. Vật liệu đốt có lốp xe cũ gây ra khói đen bốc cao, khiến nhiều người lầm tưởng là vụ cháy lớn.” (“Khói đen kịt gần sân bay Tân Sơn Nhất”, VietnamNet). Làm sao mà lại đốt rác, có cả lốp xe cũ ngay sát trung tâm thương mại, sân bay đông người như vậy, nếu lỡ cháy lớn thì sao?
Hình như năm nào ở VN cũng có những vụ cháy trường, cháy chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, quán bar, nhà hàng… với mức độ thiệt hại nhiều hay ít. Và khi xảy ra một vụ thật sự nghiêm trọng, báo chí lại vào cuộc, lại lôi ra bao nhiêu sự “hồn nhiên” sống giữa mối nguy hiểm của người Việt cũng như sự quản lý lỏng lẻo, vô trách nhiệm của giới có thầm quyền. Nhìn đâu cũng thấy có vấn đề về việc thực hiện và áp dụng các tiêu chuẩn an toàn trong xây dựng, phòng cháy chữa cháy.
Ở nhiều ngôi chợ hàng hóa được các tiểu thương bày bán tràn lan, che chắn hầu hết các lối đi, nếu chẳng may xảy ra sự cố cháy thì sẽ rất dễ dẫn đến cháy lan sang các dãy quầy hàng khác; đồng thời việc lấn chiếm các lối đi sẽ gây khó khăn trong việc dập lửa, cứu người bị nạn và tài sản khi có cháy xảy ra; hê thống điện, dây điên còn chằng chịt, chưa có biện pháp đảm bảo an toàn, cửa thoát hiểm đôi khi cũng bị bít kín bởi hàng hóa…
Tại một số quán bar, vũ trường còn nguy hiểm hơn, như một số bài báo đã chỉ ra: “Với thiết kế kín mít đặc trưng, các vũ trường, quán bar khi xảy ra cháy sẽ khiến nhiều người có thể bị chết ngạt, lực lượng chữa cháy rất khó tiếp cận dập lửa” (“6 vụ cháy vũ trường, quán bar kinh hoàng nhất Việt Nam”, báo Giao Thông); “Những lối vào nhỏ hẹp, những phòng hát được tận dụng tối đa diện tích khiến người vào phải có nhân viên dẫn lối nếu không muốn đi lạc, nơi nào cũng ngồn ngộn thiết bị âm thanh, ánh sáng, vật liệu dễ cháy… Đó là nguyên nhân khiến các quán bar, karaoke, vũ trường luôn trong tình trạng báo động về nguy cơ cháy.” ("Liên tiếp cháy ở quán bar, vũ trường gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, CAND). Mà nguyên nhân đều là do bất cẩn của con người, ví dụ như trong lúc hàn xì lửa bắn vào các vật liệu dễ cháy xung quanh chẳng hạn.
Còn những loại tai họa khác, cũng do con người gây ra như không bảo đảm điều kiện an toàn trong lao động, trong xây dựng gây chết người, từ sập công trình đang thi công do chất lượng công trình kém, có những trường hợp người đi đường bị sập những cái hố do thi công sửa chữa đường nhưng lại chỉ đậy điệm qua loa, không có rào chắn, bảng cảnh báo rõ ràng gây tai nạn, hoặc chất lượng đường sá xuống cấp, hư hỏng nặng nề gây ra tai nạn giao thông…
Trong vụ tàu kéo sà lan đâm sập cầu Ghềnh ngày 20.3 vừa qua, bài “Sập cầu Ghềnh: Những cảnh báo bị bỏ qua…” trên báo Tuổi Trẻ viết: “Và khi sự cố xảy ra, người ta mới giật mình khi thấy quá nhiều lỗ hổng từ công tác quản lý nhà nước đến ý thức của người lái tàu, lái sà lan.”
Những lỗ hổng đó là, lái tàu thì không có bằng lái, còn chiếc tàu kéo sà lan đâm sập cầu Ghềnh đã… hết hạn kiểm định gần 3 tháng!
Bài báo viết:
“Thêm nữa, lẽ ra đối với những cây cầu “trăm tuổi” như thế này thì cơ quan quản lý phải xây dựng các trụ chống va đập, vành đai bảo vệ cầu…
Lãnh đạo tỉnh Đồng Nai thì nói tỉnh đã lưu ý Bộ GTVT nhưng không hiểu vì sao chưa được giải quyết? Lãnh đạo Bộ GTVT thì bảo thời gian tới bộ sẽ cho khảo sát lại để tiến hành xây dựng các trụ chống va đập.
Đã có quá nhiều sự cố xảy ra với các cây cầu, nhất là những cây cầu có đường sắt đi qua. Riêng cầu Bình Lợi mấy năm qua đã xảy ra hàng chục vụ va đập làm gián đoạn tàu lửa, cũng may nó chưa sập như cầu Ghềnh.
Không cần nghĩ đâu xa, chỉ riêng hiện tượng và nguy cơ từ cầu Bình Lợi đã là những cảnh báo cấp thiết cho cầu Ghềnh và các cây cầu khác, nhưng đáng tiếc nó đã không được người ta để ý tới.”
TÂM LÝ COI THƯỜNG SINH MẠNG CON NGƯỜI
Đối với các loại thiên tai như lụt lội, mưa bão, hạn hán…vẫn thường xảy ra trên đất nước VN, chúng ta đành phải chịu, chỉ cố gắng hạn chế mức độ thiệt hại chừng nào hay chừng đó, nhưng với tất cả những tai họa do con người, lẽ ra sẽ không xảy ra hoặc mức độ sẽ không lặp đi lặp lại như chúng ta thấy lâu nay.
Trong tất cả những trường hợp tai họa mà bài viết này đã nêu ra cũng vậy, đều không chỉ xảy ra một lần. Báo chí truyền thông cũng đã lên tiếng rất nhiều. Lâu lâu có một vụ nghiêm trọng xảy ra báo chí lại xới lên, dư luận lại bức xúc, rồi đâu lại vào đó.
Vấn đề ở đây nằm trong ý thức từ người dân cho tới nhà cầm quyền. Với người dân, là ý thức rất kém về giữ gìn an toàn cho môi trường sống chung, về việc tôn trọng pháp luật, còn với chính quyền các cấp, các cơ quan ban ngành có liên quan, là lơi là trong ngăn chặn, giám sát và xử lý, trừng phạt những trường hợp vi phạm, cũng như có những biện pháp thay thế. Sâu xa bên trong, tất cả đều bắt nguồn từ một nguyên nhân mà cả người dân lẫn nhà cầm quyền đều không thực sự nhận ra: sự coi thường con người.
Trong một xã hội, một chế độ mà con người được coi trọng, và mạng sống con người là quý giá nhất, thiêng liêng nhất, mọi việc làm dù nhỏ nhất của từ người dân cho tới chính quyền, sẽ luôn luôn đặt yếu tố vì con người, bảo vệ con người lên trên hết và bất cứ hành vi, việc làm nào có khả năng gây hại, gây nguy hiểm cho con người phải được ngăn chặn, xử lý ngay lập tức. Đó mới thực sự là một nhà nước “vì dân, do dân và của dân”.
Bao giờ thì chúng ta sẽ bớt đi những tai họa phi lý, những cái chết oan uổng?Song Chi.
 Từ cái chết của những cây cầu
 Có những dòng sông đang chết, và những cây cầu cũng đang chết. Và có nhiều cái chết đang đi ngang trước mắt của đám đông, nhưng không phải lúc nào cũng có người ngả nón chào tiếc thương.
Câu chuyện cây cầu Ghềnh ở Đồng Nai bị sập, một cây cầu nối dài ký ức lịch sử về thời kỳ phát triển khởi đầu của miền Nam, nhắc cho rất nhiều người biết nghĩ rằng không chỉ có cầu Ghềnh, mà có rất nhiều thứ đang mất dần trên đất nước này. Danh sách rất dài. Chủ tịch Hiệp hội Vận tải thủy nội địa Việt Nam Phạm Minh Nghĩa cho biết là khắp nước đều có những cây cầu đang có nguy cơ sập vì không được gia cố, chăm sóc. Trong đó có những cây cầu quen thuộc ở miền Bắc như Cầu Quay (Hải Phòng), Cầu Đuống (Hà Nội)...
Báo Pháp luật dẫn lời ông Trần Văn Thọ - Phó Cục trưởng Đường thủy nội địa Việt Nam - cho biết rằng trên các tuyến sông quốc gia hiện có hơn 100 trong số 500 cây cầu mà nhà nước quản lý đang không còn ở trong tình trạng thông thuyền an toàn nữa.
Cũng cần nên nhớ rằng mọi thứ rồi sẽ già cỗi và hư hỏng, nhưng sẽ nhanh chóng và hiển nhiên, một khi chúng đã bị bỏ mặc theo thời gian, không được đoái hoài, hoặc cố ý làm ngơ.
Rất nhiều cây cầu đã sống cùng với những đời người Việt, trở thành chuyện kể, trở thành tên gọi của vùng đất... Nhưng mọi thứ thì đang hoang phế, tàn tạ dần. Nhiều năm qua, Việt Nam đã thành công rất nhiều trong việc bỏ ra những ngân sách lớn để xây các khu chung cư cao cấp rồi bỏ hoang, dạt biển để xây resort, lấn cả sân bay để tạo sân golf... Mọi thứ thật tốn kém, và cả hoang phí, nhưng không có kế sách nào lâu dài về tôn tạo, để giữ gìn những gì đang có.
Những người sống ở Sài Gòn vẫn còn thắc mắc về chuyện tượng đồng tướng Trần Nguyên Hãn, có tuổi đời hơn nửa thế kỷ, từng đứng ở giữa trung tâm chợ Bến Thành, bị bỏ phế cho đến khi rụng cả một chân. Mọi thứ cứ như vậy, cho đến khi có dự án xây metro thì tượng bị bứng đi, bỏ vất vưởng đâu đó. Trường THPT Châu Văn Liêm ở Cần Thơ, có từ năm 1917 (tiền thân là Collège de Can Tho với kiến trúc Pháp) nếu không có tiếng kêu của công luận, chắc giờ này đã thành gạch vụn. Viện lý do là kiến trúc xuống cấp, những nhà quản lý đưa ra dự án mới, xây mới và dựng lên nguồn chi ngân sách mới. Không phải chỉ những cây cầu bị bỏ quên, mà có vô vàn những thứ thân thuộc và lâu đời cũng bị cố tình bỏ quên để có một cơ hội đập phá, mở ra những dự án mới.
Cũng là một cây cầu, nhưng số phận của cầu Dran (Đơn Dương, Lâm Đồng) còn thảm khốc hơn. Cây cầu sắt có độ cao đến 1.600m, làm nên tuyến đường sắt huyền thoại của châu Á đột nhiên bị gỡ bỏ làm sắt vụn. Nhà báo, nhà nghiên cứu về Dran, Đơn Dương là Nguyễn Hàng Tình từng cho biết trên thế giới chỉ có ba con đường sắt răng cưa như thế, nhưng hai đã nằm ở Jung - fraujoch và Montevers (Thụy Sĩ) và một ở VN. Con đường sắt răng cưa Tháp Chàm - Đà Lạt được lập dự án vào năm 1900, đến 1908 bắt đầu thi công, riêng đoạn có cây cầu Dran được xây dựng năm 1919 rồi hoàn thành vào 1925, nghĩa là nó gắn liền với lịch sử ban sơ hình thành Đà Lạt. Nhưng năm 2014, cây cầu này bị bí mật tháo dỡ, và chỉ được biết rằng sau đó nó bị bán đi, cho ai, làm gì thì không được biết.
Liên quan đến câu chuyện này, người viết còn được biết năm 1988-1989, Liên hiệp Đường sắt VN lấy hai chiếc đầu máy hơi nước hiệu Fuka (do Thụy Sĩ sản xuất - vào đầu thế kỷ 19, xưa nhất, để bán đi như phế liệu. Hai chiếc đầu máy xe lửa hơi nước đó vẫn được coi là kỳ quan, khỏi đầu của nền văn minh công nghiệp loài người, mà Việt Nam là nơi hiếm hoi còn giữ được cho đến lúc đó.
Thật không khác gì những đứa trẻ lớn lên trên chính quê hương mình, hư hỏng và nông cạn, thật dễ dàng tìm thấy hôm nay, một lớp người thật năng động trong việc bỏ phế, đập bỏ... những kỷ niệm và di vật quý giá mà tổ tiên mình đã tạo dựng hàng tháng, hàng ngày. Thậm chí, người ta chứng kiến sự phá hoại đang diễn ra hối hả và quy mô, mà người dân như quá tuyệt vọng và bất lực nên chỉ còn biết thở dài.
Đi về miền Tây Việt Nam, chứng kiến những câu cầu mới, xây vội vã theo các dự án, nhưng giờ đây cũng vô dụng vì lòng sông đã cạn khô. Thật là một nghịch cảnh khi nghĩ đến những cây cầu khác đang quỵ xuống ở đâu đó, chìm dưới làn nước. Mà không chỉ là cầu, mà kỷ niệm và dấu vết văn minh của người Việt cũng đang chìm dần trong làn nước.
Nếu chúng ta không biết yêu quý những gì đã có. Chúng ta mải mê chạy theo những đại lộ xa xôi và sẵn sàng bỏ quên những thứ đã có, hoang phế và đạp đổ di sản của tổ tiên mình, thì không chỉ những cây cầu, dòng sông sẽ chết, mà cả niềm tin và hy vọng của chúng ta rồi cũng không còn.tuankhanh's picture

Người đẹp(3783)

Reon Kadena 

http://appstorehq-production.s3.amazonaws.com/akihoyoshizawa-iii--android-307666.320x480.1281953286.07645.jpgAkiho Yoshizawa aka Acky

http://m1080.com/upimg/yxzp1/238031.jpgHarumi Asanohttps://farm3.staticflickr.com/2181/2330982269_08cc7584f5_b.jpgChinatsu Izawa


Nao Yoshizaki

Haruka Sanada




Takami Hou aka Tohmi Ohkawa


Rio Kitajima (AKA Erina Kurosawa)

Tsubomi
http://i.imgur.com/jYeHose.jpgChihiro Hasegawa


Yuma Asami


Ren Aizawa

Megu Fujiura



Azumi Harusaki


Rina Aina

Yua SasakiKokomi Sakurahttp://i68.photobucket.com/albums/i39/Islandsk8r/Misc/Honoka18.jpgKoisaya aka Saya Koihttp://images.complex.com/complex/image/upload/t_article_image/xfnx92bmgzgbr5af7icj.jpgNana Natsumehttp://www.dickscondoms.com/ebayssc/storesocal/juicyhoney/nanasn.jpgRin Sakuragihttp://iv1.lisimg.com/image/1022984/630full-rin-sakuragi.jpgMiku Ohashihttp://img.ezmember.co.kr/cache/board/2013/03/26/ec660d7c4ad8d98efc930c08c50042c3.jpgMinori Hatsunehttps://c2.staticflickr.com/8/7384/16412599729_8261b41c4c_b.jpg Asami Ogawa

 http://ecx.images-amazon.com/images/I/511UrcHO5VL.jpgTsubasa Amami http://ilarge.lisimg.com/image/4628091/750full-tsubasa-amami.jpgSho Nishinohttp://men.mthai.com/uploads/manager/imadd/sho_10_4.jpgJunna Aokihttp://www.gloutir.com/wp-content/uploads/ellenandevon03.jpgRio Hamasakihttp://shareyourwallpapers.com/upload/wallpaper/celebrities-female/rio-hamasaki/rio-hamasaki_61f1cac2.jpgKaede Maohttps://ddramatards.files.wordpress.com/2012/03/inoue-mao-wallpaper-0.jpg

Sho Nishino โช นิชิโนะ คุณแก้ว จาก จันดารา รูปที่ 1

Sho Nishino โช นิชิโนะ คุณแก้ว จาก จันดารา รูปที่ 2

Sho Nishino โช นิชิโนะ คุณแก้ว จาก จันดารา รูปที่ 3

Sho Nishino โช นิชิโนะ คุณแก้ว จาก จันดารา รูปที่ 4

Sho Nishino โช นิชิโนะ คุณแก้ว จาก จันดารา รูปที่ 5

Sho Nishino โช นิชิโนะ คุณแก้ว จาก จันดารา รูปที่ 8

Bài viết hay(3110)

Sáng nay nghĩ lễ Cesar Chavez nên mấy ông ở Bolsa xúm lại coi hình nude của vợ Trump và Sarkozy, chấm điểm coi ai hơn ai.  Hổng dè "lão ngoan đồng" tuyên bố: Vợ Trump và Sarkozy thua xa bà Ngân! Ngay lập tức "lão ngoan đồng" móc túi quăng ra cho mấy ông ở Bolsa coi hình bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Chủ tịch Quốc Hội khóa 14 của VC đã bị photoshop thành ...nude!  Ai cũng khen đẹp và hấp dẫn quá! Hổng thua gì NCKD hay Maria Ozawa. Theo mấy ông ở Bolsa, bà Ngân đã đá phản lưới nhà anh 3X. Tui hổng tin. Thế là nghe chửi ngay: Đồ dại gái. Chết vì đàn bà là đáng đời! Mấy đứa Nam Kỳ trong BCT kỳ này chỉ là lũ ...cầm cu chó đái!  Tướng Công an lên làm Chủ tịch nước, Việt Nam sẽ trở thành nhà nước công an trị. Thua! Tui xách dép chạy ngay.

Sài Gòn-hồn xưa phai nhạt.
Những ngày này một số người dân yêu quý Sài Gòn đã xuống đường, cầm những biều ngữ phản đối việc Ban Quản lý đường sắt đô thị TP.HCM có kế hoạch đốn hạ, di dời 300 cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng để phục vụ cho dự án xây dựng cầu Thủ Thiêm 2 và n hà ga Ba Son. Những tờ biểu ngữ với những dòng chữ thống thiết “Vì một thành phố trong lành đừng chặt cây”, “Đừng giết tôi, tôi có ích”, “Tôi yêu cây, cây yêu tôi, chặt cây là tội ác” trên tay một nhóm người, dường như lạc lõng giữa dòng người thờ ơ vẫn phóng xe chạy qua trên đường. Một số khác thì gửi “Bản kiến nghị v/v tạm dừng vụ việc chặt cây trên đoạn đường Tôn Đức Thắng” lên trang change.org để kêu gọi mọi người ký tên ủng hộ.
Trước phản ứng của dư luận, dù chỉ là thiểu số so với hàng triệu con người đang sinh sống ở Sài Gòn và hơn 90 triệu người dân cả nước, các quan chức ban ngành có liên quan đã lên tiếng. Theo bài “Không đốn hạ cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng”, báo Pháp luật TP.HCM, “Giám đốc Sở GTVT TP.HCM Bùi Xuân Cường vừa cho biết như vậy tại cuộc họp với giới báo chí vào chiều nay (28-3)”. Nhưng nếu đọc kỹ thì sẽ thấy mọi chuyện còn rất mơ hồ:
“Cụ thể, để phục vụ việc thi công ga Ba Son, TP sẽ di dời, bứng dưỡng 16 cây sọ khỉ trên đường Tôn Đức Thắng (đoạn từ Nguyễn Hữu Cảnh đến Ngô Văn Năm)…
…Trước mắt, từ ngày 26-3 đến 7-5, bốn cây sẽ được di dời và 12 cây sẽ bị đốn hạ để xây dựng nhà ga Ba Son. Số cây còn lại thuộc dự án cầu Thủ Thiêm 2, dự kiến cuối tháng 4-2016, các đơn vị liên quan mới có phương án cụ thể để UBND TP quyết định.”
Người dân hoàn toàn có ý do để nghi ngờ rằng đây chỉ là một trò xoa dịu dư luận, trước mắt các ông sẽ chỉ di dời, đốn hạ 16 cây nhưng rồi dần dần, khi dư luận xao lãng, các ông lại lẳng lặng “thanh toán” cho bằng hết. Chỉ số lòng tin của phần lớn người dân đối với nhà cầm quyền từ lâu rồi đã xuống rất thấp!
Còn nhớ mới năm ngoái, việc chính quyền Hà Nội quyết định chặt, thay thế hơn 6.700 cây xanh trên 190 tuyến phố, với nguồn kinh phí thực hiện “khủng”, gây bức xúc, xôn xao dư luận trong và ngoài nước. Trước phản ứng dữ dội của người dân, cộng với việc lên tiếng của một loạt trang báo nước ngoài như Financial Times, Tân Hoa xã, Daily Mail, The Sun Daily, AFP và cả trang thông tấn Reuters… việc chặt cây đã phải dừng lại sau khi đã kịp tàn phá một số con đường, trong đó có đường Nguyễn Chí Thanh từng được bình chọn là đẹp nhất thủ đô. Một số cán bộ quan chức thuộc sở xây dựng đã bị đình chỉ công tác, một số người bị kiểm điểm v.v…
Điều đó chứng tỏ dù trong một chế độ độc tài nhưng nếu người dân thực sự quan tâm, có ý kiến đến những việc làm sai trái, làm ảnh hưởng đến đất nước xã hội, đến đời sống chung của nhiều người thì nhà cầm quyền sẽ buộc phải chùn tay.
Trở lại vụ di dời, đốn hạ 300 cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng tức đường Cường Để cũ, có thể có những người cho rằng chỉ là mấy cái cây thôi, có gì đâu mà phải làm ầm ỹ, rằng thành phố cần phải phát triển, cần xây dựng hệ thống metro, nhà ga thì phải hy sinh thôi. Người ta vẫn nhân danh “vì sự phát triển” như thế, mỗi khi cần phải đập bỏ một cái gì đó, cho dù đó là những hàng cây hay một tòa nhà, một cây cầu…
Vấn đề ở đây không chỉ là việc đập bỏ những cây cổ thụ, dù rõ ràng đó là những cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi trên một trong những con đường đẹp nhất, rợp bóng mát nhất của một thành phố vốn dĩ đã quá thiếu những con đường có cây, có bóng mát và quá thừa thãi nắng nóng. Mà việc trồng lại thì khó hơn nhiều.
Vấn đề ở đây sâu xa và rộng lớn hơn. Thứ nhất, đó là sự coi thường nhân dân. Thành phố này không phải của riêng của các quan chức đang lãnh đạo Sài Gòn, cũng không phải của riêng của đảng và nhà nước cộng sản VN. Thành phố này, và cả đất nước này, do bao thế hệ người VN đã xây dựng nên bằng máu, mồ hôi và nước mắt, nó là của chung hơn 90 triệu người dân VN. Những người lãnh đạo nếu có bất cứ một quyết định gì ảnh hưởng đến bộ mặt của thành phố, đến lợi ích của người dân thì phải hỏi ý dân. Chính người dân đã đóng thuế nuôi nhà nước và cũng chính người dân mới là chủ nhân của đất nước này, của thành phố này. Người dân phải được biết, được có ý kiến.
Thế nhưng từ trước đến nay nhà nước cộng sản VN vẫn quen thói hành xử theo kiểu cả đất nước này là của họ, nhân dân chả là cái đinh rỉ gì. Trong vụ chặt 6700 cây xanh ở Hà Nội cũng vậy, Phó Ban Tuyên giáo Thành ủy Phan Đăng Long trong một cuộc họp báo đã cho rằng “việc chặt cây để thay thế cây khác ở Hà Nội do cơ quan quản lý quyết định, không cần thiết phải hỏi ý kiến người dân.” (“Chặt cây xanh Hà Nội không phải hỏi dân”, VietnamNet).
Cái tư duy coi thường dân ăn sâu vào não bộ các quan chức, muốn làm gì thì làm, nếu nhân dân có thắc mắc thì “mọi chuyện đã có đảng và nhà nước lo”. Thế nhưng khổ nỗi thực tế hơn 70 năm qua đã cho thấy việc để cho “đảng và nhà nước lo” đã dẫn đất nước này, dân tộc này đi từ sai lầm đắt giá này đến sai lầm kinh khủng khác, với hậu quả ngày càng tụt hậu thê thảm so với các nước khác như thế nào rồi.
Thứ hai, người dân có thể chấp nhận thay đổi, chấp nhận hy sinh, mất mát một phần trên “khuôn mặt, thân thể” của Sài Gòn nếu như sự thay đổi đó thật sự là cần thiết, không còn cách nào khác, và tốt đẹp hơn cho quy hoạch kiến trúc của thành phố, có lợi hơn cho cuộc sống của mọi người hôm nay và mai sau. Nhưng trong phần lớn những sự thay đổi, đập phá, dỡ bỏ trên đất Sài Gòn những năm qua người dân không thấy được điều đó, mà trái lại.
Chẳng hạn, tại sao cứ phải xây hàng chục, hàng trăm tòa building văn phòng, cao ốc thương mại, chung cư cao cấp tại khu trung tâm thành phố, vốn đã quá ngột ngạt đến nghẹt thở, làm tăng thêm mức độ kẹt xe, ô nhiễm, biến những tòa nhà lâu đời chung quanh như Nhà hát Thành phố, Nhà thờ Đức Bà, UBND TP.HCM…trở thành “lùn tịt” đi, đồng thời phải di dời, đập bỏ những kiến trúc cổ ở khu vực này và khiến thành phố trở nên xấu xí vì những công trình kiến trúc cũ, mới không hòa hợp?
Như trường hợp thương xá Tax. Tòa nhà hơn 130 năm tuổi, được xây dựng từ năm 1880 với kiến trúc rất đẹp này là một trong những biểu tượng của thành phố Sài Gòn, nhưng người ta đã phá bỏ để xây một cao ốc 40 tầng; và trước sức ép của dư luận thì người ta tìm cách lắp ghép một số hạng mục, chi tiết trong kiến trúc của thương xá Tax với công trình mới, nhưng vẫn cương quyết đập cái cũ và xây cái mới cho bằng được!
Hay vì xây nhà ga điện ngầm nên phải phá bỏ cả vòng xoay đài phun nước cùng hàng liễu rủ bóng ở giao lộ Nguyễn Huệ-Lê Lợi, toàn bộ hàng cây cổ thụ ở công viên Lam Sơn phía trước Nhà hát thành phố có tuổi đời hàng chục năm và bây giờ là hàng cây trên con đường Tôn Đức Thắng…
Câu hỏi là có nhất thiết phải xây nhà ga ở khu trung tâm hay có thể xây ở khu vực khác? Cũng như khu đô thị mới Thủ Thiêm, tại sao không tìm cách đẩy nhanh tiến độ thực hiện để xây những công trình mới ở đó?
Cứ tưởng tượng nếu khu vực Thủ Thiêm, Nam Sài Gòn là những khu vực mới với kiến trúc hiện đại, tập trung các cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại hoặc khu nhà ở cao cấp, trong khi quận 1, quận 3 là khu phố cũ, là khu hành chính với những kiến trúc cổ thời Pháp thuộc, hay khu Chợ Lớn quận 5, quận 10 đậm đà bản sắc người Hoa v.v…thì thành phố sẽ phong phú hài hòa, hấp dẫn đối với du khách biết bao nhiêu. Mật độ dân cư sẽ được rải đều, không “dồn cục” vào khu trung tâm quận 1 như lâu nay. Chưa kể, một thành phố lớn có 8-9 triệu dân như Sài Gòn phải có vài trung tâm khác nhau chứ không chỉ có một.
Thực tế là lâu nay mọi sự thay đổi của thành phố, người dân chỉ nhìn thấy đó là vì sức ép của đồng tiền, vì lợi ích của một số cá nhân quan chức chứ không phải vì lợi ích của thành phố này và của người dân. Cứ khu vực nào đắt tiền là người ta lăm le đập bỏ, xây mới, bán cho bằng hết. Mỗi miếng đất ở những khu đất vàng như vậy, so giữa giá đền bủ và giá xây xong bán lại, mức độ lời của nhà đầu tư thật kinh khủng. Và để có được những hợp đồng thương vụ mua bán, xây dựng đó, nhà đầu tư phải chi “hoa hồng” bao nhiêu cho các quan chức thành phố lẫn cấp trên nữa, để có được những chữ ký thông qua của họ?
Tôi không dám so sánh tầm nhìn, cách ứng xử đối với những di tích, di sản, công trình kiến trúc, văn hóa lịch sử của các quan chức lẫn người dân ở các nước châu Âu mà tôi đã có dịp đi qua. Nhưng cứ ngắm nhìn vẻ đẹp cổ kính xen lẫn hiện đại của các thành phố Paris, Rome, Prague, Bonn, Brussels, Amsterdam…, nhìn cách người ta nâng niu trân trọng từng mảng tường thành đổ nát có tuổi đời hàng ngàn năm hay từng góc phố xưa mà buồn tủi cho các thành phố của VN. So với họ, các thành phố của ta vốn đã không có nhiều công trình kiến trúc cổ, di tích có giá trị, thế mà ta lại còn không biết quý, không biết giữ, chỉ biết có cái lợi trước mắt, chỉ biết có tiền.
Đừng nghĩ rằng phải là những công trình kiến trúc cỡ nào mới đáng được gìn giữ, bảo tồn. Một thành phố như Sài Gòn, chỉ mới hơn 300 năm tuổi, những công trình kiến trúc lâu đời hoặc tầm cỡ không có, nhưng chính vì gia tài của chúng ta ít ỏi mà chúng ta càng cần phải giữ. Cùng với chợ Bến Thành, Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện thành phố, Thảo Cầm Viên Sài Gòn (hiện cũng đang lăm le bị di dời!)…, những địa chỉ như quán café Givral, Brodard, La Pagode, khu thương mại Eden, thương xá Tax, những cây cầu cổ, những con đường đầy cây cổ thụ như Lê Đại Hành… đã trở thành quen thuộc, gắn liền trong ký ức của người dân Sài Gòn bao nhiêu năm…Khi bị xóa sổ, là một phần trong cái gia tài ít ỏi ấy, là cái hồn của thành phố đã mất đi.
Giá trị của một thành phố không chỉ ở những công trình kiến trúc mới. Bởi vì một thành phố không chỉ được xây dựng nên trong một sớm một chiều. Mỗi thành phố có lịch sử, có đời sống, có linh hồn riêng của nó. Linh hồn của một thành phố nhiều khi nằm trong từng viên gạch cũ, từng hàng cây cổ thụ, một quán café xưa…Ở đó những dấu ấn lịch sử, những dấu vết thời gian đi qua còn in lại. Và người ta gắn bó với một thành phố lắm khi chỉ từ những thứ nhỏ nhặt như thế.
Phải biết trân trọng gia tài khiêm nhường của cha ông để lại nếu không muốn các thế hệ sinh sau đẻ muộn trở nên thờ ơ với lịch sử, với quá khứ, tuy giàu có tiền bạc nhưng nghèo nàn về tâm hồn, trống rỗng về ký ức.Song Chi.
Những dự án ngàn tỉ: người dân cần sự minh bạch
Dự án ngàn tỉ đồng lát đá granite cho những vỉa hè Sài Gòn đã vấp phải những lời phản ứng dữ dội từ dân chúng. Ngày 29.3, UBND Quận 1 đã phải tổ chức họp báo để cải chính. Bà Nguyễn Thị Thu Hường, Phó Chủ tịch UBND nói rằng thông tin trước đó không chính xác.
Tiếc thay, ngay cả những thông tin “nói lại cho rõ” của đại diện UBND Quận 1 cũng có điều gì đó chưa minh bạch, lại càng dấy lên sự xao động trong suy nghĩ của dân chúng, rằng vào thời điểm đầy khó khăn của nền kinh tế, của doanh nghiệp… tại sao chính quyền vẽ ra dự án xa xỉ và không hợp lý này để làm gì.
Theo bà Hường, thì tin tức lát vỉa hè ngàn tỉ ở các vỉa hè là việc còn đang bàn tính, vẫn còn đợi ý kiến của UBND thành phố và các chuyên gia. Thế nhưng tuyên bố của ông Chủ tịch UBND quận 1 Trần Thế Thuận cho dự án tiêu tốn ngàn tỉ này lại khá rõ ràng, là các vỉa hè sẽ được lát đá granite từ đây đến năm 2019 là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thái Học, Phùng Khắc Khoan, Đồng Khởi và Công xã Paris. Thậm chí loại đá hoa cương cũng đã được tính cụ thể, dù ngay lúc này, các chuyên gia xây dựng đều bộc lộ sự lo ngại.
Thật là trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Bất kỳ ai theo dõi thông tin này đều cảm giác rằng mọi thứ như chỉ là cách “đối phó” quấy quá của chính quyền địa phương trước cơn bão dư luận.
Sài Gòn năm qua đã có những cơn mưa gây ngập lụt ngay con đường trung tâm. Việc bê-tông hoá các con đường và vỉa hè là một vấn nạn được báo trước về việc khó khăn thoát nước, cũng như dễ gây tai nạn do trơn trợt. Ý kiến hầu hết các chuyên gia về công trình và phát triển đô thị đều có chung một điểm thắc mắc: ai đã tư vấn dự án cho UBND Quận 1 mà lại thiếu kiến thức và không lường được lợi hại như vậy. Nếu không có đợt phản ứng gay gắt của báo chí và công chúng, không khéo việc lát đá hoa cương ngàn tỉ này đã âm thầm khởi sự, nhân dân chỉ còn nhìn theo như chuyện đã rồi.
Tương tự như trường hợp về tin tức Chính quyền TP.HCM sẽ chặt 300 cây xanh có tuổi bằng thế kỷ, làm cho nhiều bạn trẻ xuống đường giăng biểu ngữ, ôm cây và đưa thỉnh nguyện thư, tình hình chỉ được làm dịu đi bằng một cuộc họp báo cho biết rằng “thật ra chỉ chặt, bứng đi có 16 cây” mà thôi.
Vì sao nhân dân luôn là người được biết cuối cùng, và phải cùng nhau vội vã tỏ thái độ mạnh mẽ vào giờ cuối để mong xoay chuyển vấn đề sai lầm, tự quyết của một cá nhân hay một nhóm người nào đó? Và trong những câu chuyện dân sự đơn giản ấy, chính quyền lại hay thể hiện thái độ đối phó kém cỏi bằng việc đưa công an, dân phòng ra đe nẹt người bảo vệ môi trường, bao vây người khác ý kiến. Mối quan hệ giữa dân và quan ngày càng lạnh lẽo và nát ngầu từ đó.
Trong những lời cải chính từ bà Hường, đại diện cho UBND quận 1, cũng có ngầm bộc lộ sự kiêu hãnh rằng quận không xin tiền ngân sách hay của ai, mà chỉ vận động doanh nghiệp trong quận cho… mượn góp vốn rồi trả dần. Quả là cách nói của quận giàu có nhất Sài Gòn với nguồn thu đến 8.500 tỉ đồng một năm.
Nhưng ngay trong việc “trả dần” trong vài năm, số tiền 1.000 tỉ lát đá đó cũng cần minh bạch về quy trình, cách trả… vì đó cũng là tiền thuế của người dân đóng góp chứ không hề là tiền riêng của quận 1. Số tiền “trả dần” ấy, bớt đi bao nhiêu từ quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ nhân đạo… của quận 1? Sự minh bạch ắt là cần thiết.
Thường thì các cá nhân, doanh nghiệp khi đóng góp vào sự tôn tạo, phát triển của thành phố vẫn được ghi danh với lòng biết ơn. Đó là cách mà cả thế giới này đang hành xử. Vì sao các doanh nghiệp hảo tâm và tử tế ấy có thể góp đến 1.000 tỉ cho người dân thành phố lại chỉ được nói đến… nặc danh và qua loa? Hay đây cũng chỉ là một cách nói để đối phó của chính quyền, như một thói quen để vượt thoát trước các cơn khủng hoảng?
https://images-blogger-opensocial.googleusercontent.com/gadgets/proxy?url=http%3A%2F%2Frfavietnam.com%2Ffiles%2Fpictures%2Fpicture-4361.jpg&container=blogger&gadget=a&rewriteMime=image%2F*tuankhanh
Về tỷ lệ phiếu bầu trúng cử đại biểu quốc hội ở Việt Nam
     Trong những lần bầu cử quốc hội Việt Nam trước đây, chúng ta thường được nghe, xem trên các phương tiện truyền thông Việt Nam tuyên truyền rằng, các đại biểu quốc hội được nhân dân lựa chọn, bầu vào quốc hội với đa số phiếu bầu 95-97%, có người 98-99%. Báo chí còn nói rằng, tỷ lệ người dân đi bầu trong độ tuổi bầu cử là từ 90-95%. Đại khái, các số liệu đều gần như tuyệt đối, nếu người nào trúng cử dưới 90% là rất không bình thường. Người dân ai cũng hiểu, tỷ lệ đó hầu như không có ý nghĩa trong cơ chế đảng cử dân bầu, đảng quyết định tất cả. Việc bầu cử chỉ là màn trình diễn bất đắc dĩ của người dân. Tuy nhiên, dù biết rằng các con số về tỷ lệ đó là không đúng, nhưng cũng chưa có ai thử phân tích về các số liệu, và xác định thực sự các số liệu là bao nhiêu. Đồng thời, so sánh với việc bầu cử của các quốc gia dân chủ trên thế giới, để hiểu rõ hơn việc bầu cử của Việt Nam dân chủ đến mức độ nào?
     Ở các quốc gia dân chủ, ví dụ như Hoa Kỳ, chúng ta thường nghe, tỷ lệ cử tri đi bầu quốc hội (hạ viện), trong các năm không có bầu cử tổng thống không cao, chỉ từ 30-40% số cử tri tham gia bầu cử. Trong các năm có bầu cử tổng thống, số lượng cao hơn cũng chỉ xoay quanh con số 50%. Người dân Mỹ, khi đã tham gia bầu cử, bỏ phiếu là tự tay họ cầm lá phiếu để bầu cho ứng cử viên mà họ chọn lựa (không có, hoặc có nhưng vô cùng hãn hữu việc người này bầu hộ cho người khác). Người dân đi bầu cử biết chắc chắn thông tin liên quan tới ứng cử viên như họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chức vụ, nơi công tác và chương trình hành động của ứng cử viên. Những người trúng cử, cũng chỉ có tỷ lệ phiếu bầu trung bình từ 55-65% so với tổng số cử tri tham gia bầu cử. Tóm lại, có thể khẳng định, đó là một tỷ lệ không cao, nhưng hoàn toàn thực chất, người dân biết mình lựa chọn ai, và kết quả phản ánh đúng nguyện vọng của người dân.
     Đối với người Việt Nam chúng ta, dù biết tỷ lệ cử tri đi bầu, tỷ lệ trúng cử là con số hoàn toàn ảo, vô nghĩa nhưng ít ai đi sâu vào phân tích về mặt kỹ thuật, tính chất các con số và cũng ít ai đặt câu hỏi, vậy thực chất tỷ lệ người đi bầu ở Việt Nam là bao nhiêu? tỷ lệ phiếu bầu thực sự (theo đúng nguyên tắc, tính chất bầu cử) cho các ứng viên đại biểu quốc hội là bao nhiêu? bài viết này sẽ làm sáng tỏ vấn đề đó.
     Trước hết, hầu như tuyệt đại đa số người dân Việt Nam, bao gồm các đảng viên đảng cộng sản, ủy ban bầu cử, các ứng cử viên và người dân đều có chung một suy nghĩ. Đó là việc bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp là việc đưa một số người vào các cơ quan gọi là dân cử, để thực hiện thể chế hóa các nghị quyết của đảng, nói nôm na là hợp thức hóa các nhiệm vụ của đảng. Việc lựa chọn người  do đảng cộng sản chuẩn bị và chỉ đạo thực hiện từ đầu tới cuối. Hoạt động của ủy ban bầu cử và người dân đi bầu chỉ là diễn trò cho vui, không ai có thể tác động vào kết quả và có giá trị gì vào việc bầu cử này ngoài đảng cộng sản Việt Nam. Nói tóm lại, đó là một việc làm hoàn toàn vô nghĩa mà người dân bắt buộc phải thực hiện. Chính vì vậy, những năm trước đây, người dân miền Bắc thường có câu nói mỉa mai, việc đi vệ sinh (đi ỉa) là việc đi bỏ phiếu. Một lối nói hình ảnh so sánh việc bầu cử với việc loại bỏ một sự khó chịu trong con người.
     Trên cơ sở nhận thức sự vô nghĩa như vậy, cả từ phía ủy ban bầu cử và người dân, tất cả những gì không cần thiết đều được loại bỏ. Nhưng người ta vẫn làm ví dụ để quay phim chụp ảnh những cảnh bầu cử ở những nơi, những hoàn cảnh đặc biệt. Ví dụ: bến tàu bến xe ngày bầu cử, trại tạm giam, hải đảo xa xôi, các đơn vị quân đội, các trường đại học và trường nghề...đó là những ví dụ đưa ra để tuyên truyền, để nói rằng, các cử tri đều tham gia đầy đủ. Thực chất, số thẻ cử tri chỉ được phát cho những người có địa chỉ thường trú và hiện đang sinh sống tại đúng địa chỉ thường trú đó. Như vậy, những người có địa chỉ thường trú, nhưng không sống đúng địa chỉ thường trú, đi học tập, làm ăn, sinh sống nơi khác là không bao giờ có thẻ cử tri. Số lượng những người không sống đúng địa chỉ thường trú ở Việt Nam là rất lớn, ước tính 30-40%. Chính vì vậy, 30-40%  số người dân không có thẻ cử tri và hoàn toàn không tham gia gì vào việc bầu cử (hầu như không có ai thắc mắc gì chuyện này, vì họ thoát khỏi một việc làm mất thời gian và vô nghĩa). Nhưng chưa hết, trong một gia đình, thường có hai vợ chồng và con cái, ví dụ có 2-3 người trong độ tuổi bầu cử, có thẻ cử tri, chúng ta khẳng định chắc chắn, gia đình đó chỉ có một người đi bầu cử, và bầu hộ cho 1-2 người, thậm chí 3 người còn lại trong nhà. Cứ tạm tính, mỗi gia đình có hai người là cử tri, chỉ có một người đi bầu. Như vậy, số lượng 60-70% người dân có thẻ cử tri trong độ tuổi bầu cử lại phải chia đôi, gọi cho 70% chia đôi, còn lại 35%.
     Chúng ta thực hiện thêm một thao tác nữa, giả sử có người đứng ở phía ngoài địa điểm bầu cử (bỏ phiếu), sẽ hỏi tất cả những người vừa bầu cử xong, những câu hỏi sau đây: xin hỏi ông bà, cô chú bác, anh chị, các vị vừa bầu cử xong có thể cho biết: họ tên, tuổi, nghề nghiệp, đơn vị công tác của tất cả các ứng cử viên trong đơn vị bầu cử này được không? (chưa cần hỏi chương trình hành động, cương lĩnh tranh cử của các ứng cử viên). Tất cả chúng ta đều khẳng định, 80-90% số người vừa bầu, bỏ phiếu xong sẽ không trả lời được câu hỏi đó. Bởi vì tại sao người ta phải đọc, phải lưu vào đầu những thông tin vô nghĩa đó khi mà biết chắc chắn lá phiếu của mình không hề có tý giá trị nào?!? Như vậy, tỷ lệ 35% đó, chỉ còn lại 5-7% số cử tri đi bầu biết được họ tên, tuổi, nghề nghiệp, đơn vị công tác của các ứng cử viên. Chúng ta đã giải quyết được một vấn đề, tỷ lệ cử tri đi bầu (đúng nghĩa) thực sự ở Việt Nam là 5-7% (trên tổng số người trong độ tuổi bầu cử) so với tỷ lệ mà đảng cộng sản Việt Nam vẫn tuyên truyền 90-95%  số người trong độ tuổi tham gia bầu cử.
     Vẫn còn một câu hỏi được đặt ra, vậy chính xác, tỷ lệ phiếu trúng cử, được bầu đúng nghĩa của các đại biểu quốc hội là bao nhiêu phần trăm trong tổng số cử tri cả nước? chúng ta có thể tính được (tương đối) số phiếu bầu này không? câu trả lời là, có thể tính được.
     Đầu tiên, đó là bản thân các ứng cử viên, ít nhất các ứng cử viên cũng biết về các ứng cử viên khác, với đầy đủ thông tin phục vụ cho bầu cử. Số đại biểu quốc hội được bầu trên 500 người, như vậy số ứng cử viên, tính cả khi chưa hiệp thương là khoảng 1500-2000 người. Chúng ta giả sử, gia đình các ứng cử viên có 4 người trong độ tuổi bầu cử, đều quan tâm và biết về các ứng cử viên khác, vậy sẽ có 6000-8000 cử tri có hiểu biết đầy đủ. Sau đó, là số người thuộc ủy ban bầu cử các cấp, tính theo đơn vị bầu cử khoảng 200 đơn vị bầu cử (khóa XIV, có thông tin là 184 đơn vị bầu cử), bao gồm các bộ phận đảng, và chính quyền. Những người này cũng phải biết rõ về các ứng cử viên. Một đơn vị bầu cử có nhiều bộ phận, nhưng cứ đặt giả thiết, mỗi đơn vị có 30 người liên quan trực tiếp đến hồ sơ ứng cử viên, nên hiểu rõ mọi thông tin về các ứng cử viên. Như vậy, với 200 đơn vị bầu cử, số người có hiểu biết về các ứng cử viên sẽ là 6000 người. Tổng kết lại, bản thân các ứng cử viên và gia đình, cộng với ủy ban bầu cử là 8000 người + 6000 người = 14.000 người. Tiếp tục, ta đặt giả thiết, có những người về hưu, quan tâm đến vấn đề bầu cử, quan tâm đến các ứng cử viên, và số người ở các bộ phận công tác liên quan bầu cử mà chúng ta bỏ sót, tính thật rộng rãi, thêm 16.000 người nữa. Chúng ta có tổng cộng 30.000 người, có đầy đủ thông tin, chương trình hành động của các ứng cử viên sẽ tham gia bỏ phiếu trong kỳ bầu cử quốc hội. Đặt giả thiết, các ứng cử viên trúng cử (hơn 500 đại biểu quốc hội) được tất cả 30.000 người này bầu chọn, thì tỷ lệ cử tri thực sự (đúng nghĩa) sẽ là 30.000 người trên tổng số người trong độ tuổi bầu cử, tức là trên 60 triệu người.  
     Tựu trung lại, chúng ta có một quốc hội được bầu, với một số lượng cử tri đúng nghĩa, khoảng 30.000 người, trên tổng số hơn 60 triệu người trong độ tuổi bầu cử. Đó chính là thực chất của cái gọi là “dân chủ gấp vạn lần hơn” của chế độ cộng sản Việt Nam./.— nguyenvubinh
Hà Nội, ngày 30/3/2016
Ông nào nói chia tay cũng vậy thôi!
Dường như hầu hết các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam khi về hưu hay sắp mất chức cũng có những hành động phá bĩnh, cũng nói quá một chút những việc mà lúc đương chức dù có biết, có đủ khả năng làm họ cũng không bao giờ nhắc đến. Cái sự nói quá kiểu như Nguyễn Sinh Hùng thì chép miệng nói rằng “với hàng trăm khoản thuế như vậy thì dân làm sao sống nổi!” hoặc “cơ quan hành chính của chúng ta làm việc quá rườm rà, thủ tục quá phức tạp”. Hay ông Nguyễn Tấn Dũng nói về vấn đề sống tử tế, nói về đặt để cấp quản lý chưa phù hợp.
Tất cả những vấn đề trên, khi đương chức các vị này không bao giờ nhắc đến. Bởi vì chính các vị là những người sai phạm nặng nhất. Ví dụ như đặt để người quản lý, đương nhiên không ai chấp nhận một anh y tá miệt vườn lên làm Thống đốc ngân hàng để rồi vừa làm vừa học cử nhân luật, sau đó lên làm Phó Thủ tướng, rồi Thủ tướng chính phủ. Nhưng cái qui trình lãnh đạo của ông Dũng là vậy. Nên chi lúc đương chức, nếu ông lên tiếng về vấn đề chuyên môn và quản lý thì ông sẽ là người mắc mướu đầu tiên.
Đó là chưa muốn nói đến vấn đề khác, trong đó có quản lý kinh tế. Người từng hô hào sẽ dùng quả đấm thép Vinashin và Vinaline để kéo đầu tàu kinh tế Việt Nam tăng tốc, sánh vai cùng các nước giàu trong khu vực chính là ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Và kết thúc câu chuyện Vinashin, Vinaline của ông Dũng là một đống nợ to như quả núi án ngay trước cái tên Việt Nam.
Tiếp đến, vấn đề xuất khẩu dầu, khai thác bauxite Tây Nguyên, rồi giải thể Viện nghiên cứu và phát triển IDS. Dường như mọi thứ ông làm đều có chung một kết quả là tạo cơ hội cho người Trung Quốc sang làm việc tại Việt Nam và đẩy kinh tế Việt Nam đi từ nợ nần này sang nợ nần khác.
Đương nhiên, lúc đó nền kinh tế Việt Nam hoàn toàn phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc và câu chuyện Hoàng Sa, Trường Sa đang ngày càng nóng lên nhưng ông Dũng vẫn không nhắc gì đến chuyện này. Thế rồi khi biết mình không trụ nổi trong bộ máy trung ương đảng, nói nôm na là rớt đài. Ông Dũng tuyên bố “phải đưa vụ việc Hoàng Sa, Trường Sa ra Tòa án quốc tế”. Nhưng đó chỉ là lời nói, chứ ông đâu còn làm Thủ tướng hay đâu còn quyền lực gì để mà thực hiện.
Nhìn chung, dường như ông lãnh đạo nào trước khi về vườn cũng có những câu nói hết sức ruột gan đối với dân tộc, quốc gia. Mà giá như lúc còn tại vị, ông chỉ cần nói đến một phần ba vấn đề thôi thì mọi chuyện đã tốt hơn nhiều. Cũng giống như ông Hùng hay ông Sang khi sắp về vườn thì lại nói về dân chủ, nói về quyền lợi của người dân, nói về nỗi lo của dân nghèo… Tất cả những kiểu nói chuyện này đều cho thấy các ông rất sợ hãi khi về hưu. Có hai lý do để các ông rất sợ hãi, đó là: Các ông quá giàu có nhưng lại không có đất dung thân và; Các ông đã làm tổn thương nhân dân nặng nề nên các ông luôn lo sợ bị trả thù.
Ở vấn đề thứ nhất, các ông không có đất dung thân. Chuyện này không riêng gì ông Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Đỗ Mười, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Sinh Hùng mà ngay cả cấp lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo huyện khi về hưu cũng chả ra thể thống gì. Các ông có thể giàu có, ngồi ghế dát vàng, nạm bạc, có thể có biệt thự này biệt thự nọ nhưng chẳng mấy người dân nào thèm chơi với các ông, thậm chí người ta nhắc đến các ông bằng thái độ dè bĩu, coi thường. Còn giới quan chức thì chắc chắn chẳng có ma nào ghé đến thăm các ông khi quyền lực đã thuộc về người khác, họ mãi bận xun xoe người mới lên nắm quyền lực.
Hơn nữa, nếu một người làm ăn chân chính, chỉ cần 20% tài sản của một trong số các ông thì họ có thể sang nước ngoài sống một cách thoải mái vô tư. Nhưng các ông thì khác, sang các nước tư bản thì các ông càng mau chết nếu như một ngày nào đó các ông bị phanh phui về tội lỗi, bị điều tra về tài sản và xã hội Việt Nam thay đổi. Chỉ có một số nước để các ông trú mà không bị coi khinh, đó là Trung Quốc, Bắc Triều Tiên hoặc các nước châu Phi. Nhưng chắc chắn đó không phải là những nước các ông muốn đến.
Trong khi đó, các phong trào dân quyền và mô hình xã hội dân sự đang ngày càng mạnh lên tại Việt Nam. Điều này dự báo một cơn bão trong tương lai. Và đến một lúc nào đó Việt Nam có một cuộc cách mạng dân chủ, cái giá mà các ông trả sẽ khó mà lường trước nếu các ông vẫn giữ nguyên thái độ hống hách, coi thường người dân. Chính vì vậy mà trước lức về hưu, hầu hết các quan chức Cộng sản đều tỏ ra luôn quan tâm, luôn trăn trở về vấn đề dân sinh, luôn nghĩ đến nhân dân.
Và người dân, dù hiểu theo cách nào thì cũng có một bộ phận không nhỏ hầu như chẳng biết tin ai và cũng chẳng biết phân tích thông tin nên rất dễ bị ma mị. Người ta dễ dàng nghe và tin vào những chủ trương, đường lối hoặc những lời “bộc bạch” đầy tâm huyết của các ông. Nhưng trên thực tế, các ông không dừng trò tiểu xảo của mình mà lại tiếp tục công kích đối thủ và lấy lòng dân bằng cách chọn đứng bên lề có nhân dân. Nhưng nhân dân giờ đã khôn hơn nhiều, ít nhất là họ thừa biết rằng suốt bốn mươi năm nói hươu nói vượn, lời nói của cán bộ Cộng sản không những không đáng tin cậy mà còn là sự bịp bợm.
Lần này, ông Dũng, ông Sang, ông Hùng nói lời chia tay với nhà nước, lời nói chia tay trước thời hạn của các ông được xem như là một vụ án chính trị vi hiến của những kẻ đang nắm quyền lực đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, đích nhắm bị chiếu nhiều nhất có lẽ là Nguyễn Phú Trọng, người mệnh danh lú mà gian trong các đời Tổng bí thư. Không những thế, gần đây ông Trọng còn có một biệt danh khác là “đít mọc rễ” để nói lên bản chất tham quyền cố vị của ông.
Và với không ít người, lời nói chia tay của Nguyễn Tấn Dũng như một sự mất mát một nhà lãnh đạo tài ba, một con người luôn hướng đến dân chủ. Đó là với số đông người không hiểu biết người ta thấy vậy. Chứ với người có hiểu biết, chẳng ai nghĩ vậy cả. Vì họ thừa hiểu ông từng làm gì và ông được hưởng lợi gì từ những việc làm mờ ám của ông cũng như các đồng đảng của ông.
Chính vì thấy được bản chất của sự việc nên hầu hết người ta lắc đầu, chẳng có gì tiếc nuối đối với cái điều gọi là “sự về vườn” của ông Dũng. Bởi trong một thể chết độc tài, man trá như Cộng sản xã hội chủ nghĩa, ông nào về vườn cũng vậy thôi, chẳng có gì là đáng tiếc. Người ta chỉ tiếc là tại sao các ông không về vườn hết luôn đi, hay tại sao chế độ độc tài tại Việt Nam này không về vườn, không cáo chung đi để dân tộc này còn có cơ hội mà ngóc đầu lên.
Và điều mà nhân dân mong mỏi không phải là ông Dũng, ông Trọng, ông Hùng về hưu, cũng như điều mà nhân dân thấy tiếc nuối cũng không phải là ông Dũng về hưu, ông Trọng ở lại, ông Hùng về hưu để rồi một bà chủ tịch quốc hội mới lại lên thay thế để điều khiển cái quốc hội bù nhìn hay ông Sang về hưu để một ông tướng công an lên làm chủ tịch nước, một kẻ có thành tích đao phủ đối với tương lai dân chủ Việt Nam. Mà vấn đề nhân dân mong mỏi nhất vẫn là cả chế độ độc tài được về hưu, được chết đúng qui trình của nó.
Một qui trình vốn đã được xếp đặt trong lịch sử phát triển thế giới. Sự chết đi của chế độ độc tài cộng sản Việt Nam ngay bây giờ cũng là đúng qui trình rồi. Bởi lẽ, tiền đề của qui trình cáo chung này chính là những cái chết của các tập đoàn nhà nước; Cái chết của tài nguyên môi trường, khoáng sản; Cái chết của tiền vốn vay ODA; Cái chết của ngân sách nhà nước mà tiền thân của nó là đồng thuế do nhân dân đóng góp mà có; Cái chết của đạo đức xã hội; Cái chết của giáo dục khiến nhiều thế hệ phải chết lâm sàn trong mất nhân tính, máu lạnh và hung ác, tham lam; Cái chết của lương tâm dân tộc biểu hiện qua nhiều mặt, trong đó gồm thái độ cúi luồn trước kẻ xâm lược và sự băng hoại, thiếu tính người, tình người trong ngành thầy thuốc… Và đặt biệt là cái chết về niềm tin còn sót lại trong nhân dân về đảng Cộng sản.
Cái chết hay sự cáo chung hay nói sang hơn một chút là sự về hưu của đảng Cộng sản mới là niềm mong mỏi của nhân dân. Lời nói chia tay của một thực thể đảng Cộng sản mới gây cảm động. Chứ ông Dũng hay ông Hùng, ông Sang có nói một ngàn lời chia tay chăng nữa thì đó cũng là câu chuyện (có gian lận, có đấu đá, có hạ sát nhau) giữa các ông với nhau. Điều này chẳng gây cảm động gì đối với nhân dân. Bởi, khi nhân dân đã ngán ngẩm, đã mệt mỏi thì ông nào nói lời chia tay cũng vậy mà thôi! — VietTuSaiGon