Saturday, April 30, 2016

Bài viết hay(3262)


Sáng nay mấy ông "tám" ở Bolsa nói về vụ Trump đến OC Fair quá lặng lẽ; thậm chí ít ai biêt. Trước đó, máu dã đổ giữa phe bênh vs chống ngay trước city hall ở Anaheim. Dân da trắng kỳ thị ra mặt khi đối đầu với Spanish.

Nhìn từ chuyện Formosa: Nhu cầu minh bạch và ứng xử văn minh
Để bảo vệ lợi ích quốc gia, không có cách nào khác là phải tranh đấu dựa trên “hợp đồng”, trên luật pháp và chứng cứ!...
clip_image002
Trên công trường dự án Formosa, Hà Tĩnh

Sự kiện cá chết hàng loạt ở Hà Tĩnh và nhiều tỉnh miền Trung đang thu hút sự quan tâm của người dân cả nước, đặc biệt là về nguyên nhân dẫn đến thảm hoạ cũng như câu chuyện minh bạch trong đầu tư tại Việt Nam. Để rộng đường dư luận, VnEconomy xin được giới thiệu bài viết của tác giả Hoàng Anh Minh về chủ đề này, đồng thời mong muốn tiếp nhận các ý kiến đa chiều của bạn đọc.

Vụ khủng hoảng “cá chết” ở một số tỉnh miền Trung những ngày gần đây đã đẩy tổ hợp Formosa tại Hà Tĩnh vào một tình thế căng thẳng, trong bối cảnh các bên liên quan gồm nhà nước - nhà đầu tư và người dân đều có mối quan hệ lợi ích đan xen.
Đầu tư của Đài Loan tại Việt Nam
Ai cũng biết, Đài Loan có đại bộ phận dân số gốc Hoa, nhưng không phải ai cũng biết, từ thiết chế xã hội, văn hóa, đời sống, kiến trúc đô thị… của vùng lãnh thổ này lại chịu ảnh hưởng nặng nề từ người Nhật.
50 năm chiếm đóng của người Nhật đã giúp cho hòn đảo này có một nền tảng xã hội khá tốt để rồi, dưới sự cầm quyền của Quốc dân Đảng, Đài Loan phát triển mạnh mẽ như ta đã thấy ngày nay.
Năm 2014, Đài Loan có GDP đạt 600 tỷ USD, GDP đầu người đạt khoảng 22,5 ngàn USD và nền kinh tế này xếp thứ 26 trên thế giới. Đài Loan cũng có nền chính trị khá cạnh tranh và cởi mở, khi các đảng phái liên tục thay nhau nắm quyền.
Không như giai đoạn đầu, khi Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn nuôi mộng “phục quốc”, Đài Loan vài thập kỷ gần đây chủ trương phát triển kinh tế, đa phương hóa quan hệ ngoại giao để mong được công nhận là quốc gia độc lập. Họ muốn sự hùng mạnh về kinh tế sẽ giúp họ tự vệ, hay ít ra, cũng sẽ được phân khúc văn minh của thế giới tiếp nhận họ như là một phần đương nhiên.
Cho đến nay, về cơ bản mục tiêu này vẫn đang được Đài Loan duy trì.
Những năm cuối thập niêm 80, đầu thập niêm 90, người Đài bắt đầu để ý đến quá trình đổi mới và mở cửa của Việt Nam và những tín hiệu từ hai phía được phát đi. Năm 1991, một lãnh đạo Văn phòng Chính phủ từng được cử đi Đài Loan để đàm phán về việc mở một đường bay thẳng thay cho việc phải quá cảnh ở Bangkok.
“Đường bay thẳng” là một điểm nhấn vừa cụ thể vừa giàu tính biểu tượng. Không chỉ mở ra con đường cho thương mại và đầu tư, nó còn mở ra cánh cửa về ODA.
Trên thực tế, sau khi đường bay Cao Hùng - Tân Sơn Nhất được mở, Văn phòng Kinh tế - Văn hoá Đài Bắc tại Tp.HCM được thiết lập và Việt Nam đã vay được khoản vay ODA đầu tiên là 30 triệu USD đầu tiên từ Đài Loan với lãi suất rất thấp; đồng thời cũng là giai đoạn đầu tư bắt đầu bùng nổ và thương mại cũng phát triển theo, dù chậm và khiêm tốn hơn.
Với Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Việt Nam trở nên rất hấp dẫn với các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có nhà đầu tư Đài Loan. Năm 1989, sau khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 31 quy định nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư (SCCI), một tòa nhà được xây dựng tại 65 Văn Miếu để làm trụ sở cho cơ quan này, và rất đáng chú ý là hệ thống thang máy của tòa nhà này đã được tài trợ bởi một… nhà đầu tư Đài Loan.
Hệ thống thang máy ở tòa nhà rồi đây sẽ là “chốn đi về” của các nhà đầu tư nước ngoài, là một ví dụ để thấy, người Đài hết sức nghiêm túc với “kế hoạch Việt Nam” của họ. Lần lượt từng đại gia của Đài Loan đến Việt Nam, từ Chinfon, Vedan, CT&D, Foxconn, Formosa… cập bến Việt Nam.
Cho đến hết quý 1/2016, Đài Loan có 2.478 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký lên tới 31 tỷ USD, xếp thứ tư trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ, chỉ sau Hàn Quốc, Nhật Bản và Singapore (thực chất có thể coi là đứng thứ ba vì nhiều dự án đăng ký đầu tư từ Singapore nhưng vốn từ các nhà đầu tư tại các quốc gia khác).
Trên phương diện đối tác kinh tế, đối tác đầu tư, không thể phủ nhận những gì các nhà đầu tư Đài Loan đã mang lại cho Việt Nam trong khoảng 25 năm qua, cả về đóng thuế, giải quyết việc làm và góp phần cho tăng trưởng chung.
Nếu chia trung bình, có thể thấy mỗi năm Đài Loan có khoảng 100 dự án mới tại Việt Nam, tức trung bình mỗi tuần gần 2 dự án.

Formosa Hà Tĩnh đã và đang làm gì?
Để có sự hình dung đầy đủ về Formosa Hà Tĩnh, cần nhắc lại một chi tiết là khi Formosa quyết định đầu tư một tổ hợp gang thép tại Việt Nam, từ những ngày đầu, phía Formosa đã khảo sát nhiều địa điểm khác nhau.
Trong quan điểm của Formosa, xét về điều kiện tổng thể, Hà Tĩnh kém xa nhiều địa phương khác. Tuy nhiên, nếu xét về cảng nước sâu, Vũng Áng có lợi thế cạnh tranh rất rõ ràng.
Năm 1994, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chấp nhận đề nghị của Hà Tĩnh cho tiến hành nghiên cứu cảng Vũng Áng, bao gồm cả khu vực Sơn Dương. Tập đoàn DAJCA (Nhật Bản) cùng Viện Quy hoạch vận tải biển thuộc Bộ Giao thông Vận tải đã được chọn vào khảo sát, và sau đó đưa ra kết luận rằng Vũng Áng là nơi có cảng nước sâu và các điều kiện tự nhiên tốt hàng đầu của Việt Nam, rất phù hợp cho mô hình tổ hợp công nghiệp - cảng biển hiện đại.
Formosa đã chọn Hà Tĩnh vì cảng nước sâu và vì một điều rất đơn giản về kinh tế: tổng chi phí đầu tư là “rẻ” nhất so với các địa điểm khác cả ở Việt Nam lẫn nước ngoài.
“Rẻ” ở đây được hiểu là tổng thể nhiều yếu tố, trong đó có lợi thế cảng biển, chính sách thuế ưu đãi “khủng”, giá nhân công rẻ, điều kiện về môi trường dễ dãi, triển vọng thị trường đầu ra tốt cả về quốc tế lẫn nội địa, nguồn nước, nguồn điện khả thi và ổn định…
Đơn giản chỉ là bài toán chi phí - lợi ích! Những bộ óc đã cùng nhau làm nên một Formosa có doanh thu tới trên dưới 80 tỷ USD trong những năm gần đây, họ nhìn vấn đề rất nhanh.
Trong tổng các yếu tố “rẻ”, yếu tố tiêu chuẩn thấp về môi trường chắc chắn đã được Formosa tính toán kỹ, sau rất nhiều trải nghiệm kém vui về môi trường tại nhiều quốc gia phát triển khác.
Các ngành công nghiệp Formosa đã từng làm, chẳng hạn dệt nhuộm và nhựa, từng gặp rắc rối về môi trường tại nhiều quốc gia phát triển. Thép là lĩnh vực mới và cũng gây ô nhiễm không kém, nhưng vấn đề là với các điều kiện mà họ đưa ra, Việt Nam đã chấp nhận.
Cuối cùng thì Formosa đã nhận giấy phép đầu tư trong sự hào hứng từ cả hai phía. Theo giấy phép, Formosa được sử dụng tới 3.300 ha, gồm 2.000 ha đất liền và 1.300 ha mặt biển. Sự hào hứng về dự án khổng lồ khiến cho tỉnh Hà Tĩnh đã phải huy động “cả hệ thống chính trị” vào cuộc để giải phóng mặt bằng.
Không hề dễ dàng khi một số hộ dân thuộc diện giải phóng là người công giáo và có sự chống đối khá quyết liệt. Nhiều bận, Bí thư hoặc Chủ tịch Hà Tĩnh đã phải “đầu mũ cối, chân đi ủng” xuống hiện trường để trực tiếp giải quyết từng ngôi nhà.
Sau khi có mặt bằng sạch, Formosa vào cuộc xây dựng rất nhanh, dòng tiền đổ về rất mạnh. Dường như ngay lập tức, khối doanh nghiệp giao thông, xây dựng tại địa phương là những doanh nghiệp hưởng lợi đầu tiên.
Ngoài những gói thầu chính như xây lắp lò cao, xây cảng… Formosa chọn nhà thầu nước ngoài, còn thì các hạng mục xây dựng đơn giản đều do nhà thầu trong nước thực hiện, chẳng hạn làm đường sá, hàng rào, hệ thống thoát nước, san lấp…; hoặc ít ra cũng là làm thầu phụ.
Vì quy mô dự án là rất lớn, có những doanh nghiệp hầu như chỉ cung cấp một sản phẩm là ống bê tông để làm móng, hoặc đơn giản là bán đá hộc cho dự án này, cũng sống khỏe.
Mặc dù triển khai đầu tư khá nhanh chóng, Formosa vẫn liên tiếp nằm trong sự tập trung chú ý của truyền thông.
Các điểm nhấn chính bao gồm, vì sao Formosa là nhà đầu tư nước ngoài mà lại muốn vay vốn thương mại từ ngân hàng trong nước? Vì sao đưa người Trung Quốc vào Việt Nam làm việc, sinh ra phố Tàu và vô vàn tệ nạn? Vì sao xây miếu thờ, có phải là để “đánh dấu chủ quyền” hay không? Vì sao xây kênh thoát nước rộng tới mức “xe tăng đi lọt”, có phải là âm mưu quân sự gì không? Vì sao xây hàng rào gạch “quá dày”?...
Tất cả các câu hỏi này, hoặc không phù hợp về mặt kinh tế, hoặc phiến diện về kỹ thuật, nhưng mặc nhiên được xem như là những vấn đề vô cùng nghiêm trọng, thậm chí có cả yếu tố chính trị. Trong khi đó, các vấn đề lẽ ra cần được để ý nhất là thuế và môi trường lại không được đề cập đến.
Ngoài các vấn đề trên âm ỉ nhiều ngày tháng, ba “đỉnh cao” khủng hoảng mà Formosa phải chịu gồm (i) biến cố tháng 5/2014, theo đó một cuộc bạo loạn đã diễn ra, gây thiệt hại to lớn và có chết người, ảnh hưởng lớn đến tiến độ; (ii) vụ sập giàn giáo tháng 3/2015 khiến 13 người chết và (iii) biến cố tháng 4/2016, với nghi án “xả thải gây cá chết”.
Sự việc càng trở nên nghiêm trọng khi một cán bộ đối ngoại của Formosa đã có phát ngôn gây “hiểu nhầm”, và ban lãnh đạo Formosa phải tiến hành họp báo xin lỗi ngay sau đó.
Một cách tiếp cận “win - win”?
Cho đến nay, Formosa vẫn đang hiện diện tại Việt Nam với tư cách một thực thể, một pháp nhân kinh tế. Sẽ là công bằng và đúng mực hơn, nếu như chúng ta nhìn nhận Formosa đúng với tư cách này.
Rốt cuộc, dự án Formosa Hà Tĩnh phải được xem là lựa chọn chung và là trách nhiệm chung của cả hai phía: Formosa và chính quyền Hà Tĩnh (bên cấp phép). Về bản chất, chính quyền và Formosa đang cùng nhau thực thi một khế ước, một hợp đồng kinh tế. Các điều kiện cao nhất của hợp đồng chính là bản giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đã cấp và toàn bộ hệ thống pháp luật hiện hành mà chúng ta đang có.
Khi tất cả những giả thuyết chính trị, nhưng thuyết âm mưu đều chưa có cơ sở, thì trước hết, chúng ta nên tôn trọng và thực thi đúng các điều kiện trong hợp đồng này.
Với góc nhìn đó thì có thể thấy cho đến nay, việc thực thi hợp đồng này vẫn đang diễn ra tương đối tốt cả từ hai phía. Nỗ lực giải phóng mặt bằng, tái định cư của UBND tỉnh Hà Tĩnh là rất đáng ghi nhận; trong khi nỗ lực giải ngân vốn, xây lắp tổ hợp từ phía Formosa cũng rất nhanh gọn.
Theo kế hoạch chung, cuối tháng 6 này lò cao số 1 sẽ chạy chính thức, bắt đầu cho ra lò những mẻ thép thương mại đầu tiên.
Thêm một thông tin rất đáng chú ý. Trong 5 năm gần đây, tổng lượng thuế Formosa đã nộp vào Hà Tĩnh đã vượt con số 10 ngàn tỷ đồng dù chưa đi vào sản xuất. Trong khi đó, về phía Formosa, “thu nhập” là con số không tròn trĩnh vì đơn giản là chưa có sản phẩm để bán ra thị trường.
Còn theo số liệu mới nhất của UBND tỉnh Hà Tĩnh, tổng số tiền giải ngân của Formosa vào dự án tính đến hết tháng 3/2016 là 98% của số vốn đăng ký, tức khoảng gần 10 tỷ USD. Ngoài phần mua sắm thiết bị từ nước ngoài, trả cho nhà thầu quốc tế… thì một phần khá lớn cho công tác xây dựng cơ bản chắc chắn là đã ở lại Việt Nam.
Trong nỗ lực tìm giải pháp cho vấn đề Formosa, có lẽ khả dĩ nhất vẫn là nhìn nhận lại toàn bộ “hợp đồng”, tức là xem lại quá trình triển khai dự án. Hãy bắt lỗi các sai phạm và xử phạt nghiêm minh theo quy định, đặc biệt trong vấn đề môi trường, thay vì treo một bản án lơ lửng mà không rõ về lý, không đạt về tình.
Một hệ thống quan trắc độc lập của Nhà nước đặt ngay cửa ống xả là khả thi, và sẽ giúp ngăn ngừa những thảm họa môi trường trong tương lai. Với tất cả các vấn đề còn lại, đặc biệt là thuế, các điều kiện lao động… Việt Nam cũng có quyền đặt các trạm “quan trắc” khác miễn sao đúng luật, để đảm bảo rằng lợi ích “bên Việt Nam” trong hợp đồng này được bảo vệ.
Nói tóm lại, để bảo vệ lợi ích quốc gia nói chung, lợi ích môi trường nói riêng, không có cách nào khác là phải tranh đấu dựa trên “hợp đồng”, trên luật pháp và chứng cứ!
Đừng đặt một nhà đầu tư nước ngoài trước một cuộc “đấu tố” như hiện nay. Không chỉ sai về luật, chúng ta cũng chẳng được lợi gì về kinh tế và hình ảnh trước cộng đồng quốc tế. Hơn nữa, về nguyên tắc, kinh tế là thương lượng, là win - win.
“Đấu tố” vu vơ trong trường hợp này không đưa lại lợi ích nào cho quốc gia cả. Việt Nam vẫn tiếp tục cần kêu gọi đầu tư nước ngoài cho những dự án mới, cho dù chúng ta có thể sẽ không ưu tiên công nghiệp, thậm chí từ chối hẳn những dự án gây ô nhiễm.
Nhưng “hợp đồng” với Formosa giờ đã là một thỏa thuận quốc tế, nó cần được tôn trọng và giới đầu tư quốc tế đang nhìn vào cách hành xử của chúng ta. Nhà đầu tư thì như cánh chim trời, không nên để họ rơi vào cảnh “kinh cung chi điểu”.

Nhu cầu minh bạch và ứng xử văn minh
Những sự việc liên tiếp xảy ra trong môi trường kinh doanh hiện nay cho thấy, nhu cầu về sự minh bạch là rất lớn. Nhà nước, thay vì ôm đồm đủ thứ việc mà không hiệu quả, cũng đã đến lúc nên nhường bớt công việc của mình cho các lực lượng xã hội khác.
Những “hợp đồng” mà Nhà nước ký kết với các đối tác của mình, cho dù là kinh tế, chính trị hay văn hóa, cần được đặt trước con mắt quan sát, đánh giá của công luận. “Hợp đồng” với Formosa cũng vậy: không khó để công bố toàn bộ giấy chứng nhận đầu tư của dự án, trong đó nêu rõ các cam kết của hai bên, cứ theo đó mà đánh giá là đủ.
Chẳng hạn, các giới hạn về hàm lượng các chất trong nước thải cần được công bố để các bên liên quan có thể đo đạc, so sánh, đối chiếu. Các điều kiện về tài chính cũng vậy, cần công bố để nhân dân biết được, rằng quá trình cấp phép đã được tiến hành minh bạch, không có những thỏa thuận ngầm nào đó.
Riêng trong vấn đề môi trường, Nhà nước phải tạo ra sân chơi để những tổ chức giả dụ như “Nghiệp đoàn Nghề cá Vũng Áng”, “Hội Chăn nuôi lồng bè Kỳ Anh”, “Hiệp hội Bảo vệ môi trường biển Đèo Ngang”... chẳng hạn được có cơ hội và sức mạnh để tranh đấu thay cho Nhà nước.
Chính những thiết chế này - nếu được thiết lập - sẽ cùng Nhà nước giám sát các vấn đề về môi trường, để ông Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Tĩnh không phải lên truyền hình để phân trần rằng “không lẽ ngày nào cũng kiểm tra”; trong khi cá chết đã mấy tuần mà không có một kết luận nào cụ thể.
Nhà nước pháp quyền chỉ có thể mạnh lên, khi các tổ chức xã hội cũng mạnh lên tương ứng, vừa là đối tác, vừa là đối trọng, để các vấn đề như Formosa không còn là của riêng ai nữa.
Điều nghe có vẻ rất lý thuyết này, theo người viết, thực tế lại là lựa chọn duy nhất mà chúng ta cần có, để có thể tiếp bước trên cuộc chơi kinh tế đang vào giai đoạn hội nhập với cấp độ cao nhất.
Đừng quên, bên ngoài kia, nhiều đối thủ trên đường đua kinh tế đều không chỉ khôn ngoan, giỏi giang, mà còn văn minh, nhân văn hơn chúng ta rất nhiều!

TUYÊN BỐ CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN SỰ ĐỘC LẬP VỀ THẢM HỌA QUỐC GIA TẠI CÁC TỈNH MIỀN TRUNG
29-04-2016
clip_image002
A- Xét rằng:
1- Bắt đầu từ ngày 6-4-2016, trên địa bàn các tỉnh từ Hà Tĩnh đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên–Huế và một phần Quảng Nam đã xảy ra hiện tượng nhiều loài cá sống ở tầng đáy và vùng duyên hải (có cả cá voi) chết hàng loạt trôi vào bờ. Cá, ngao nuôi trong đầm gần biển và lồng bè trên biển cũng đồng số phận, gây ô nhiễm môi trường chưa từng thấy và hết sức nghiêm trọng. Song song đó, một thợ lặn thi công xây dựng đê chắn sóng ở cảng Sơn Dương (Hà Tĩnh) đã qua đời hôm 24-04. Ngày 26-04, 5 thợ lặn khác tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình đã phải vào bệnh viện sau khi lặn từ khu vực biển Vũng Áng lên. Ít nhất đã có hơn 20 trường hợp cấp cứu ở huyện Phúc Trạch (Quảng Bình) vì ăn các loại hải sản nghi nhiễm độc. Cũng khoảng 200 thực khách dự tiệc khai trương một nhà hàng tại huyện Quảng Trạch bị trúng độc sau khi thưởng thức các món cá biển.

Từ cả tháng nay, hàng vạn ngư dân phải đưa thuyền lên bờ phơi nắng và nhịn đói, đời sống họ hoàn toàn bị đảo lộn; các đầm và bè cá bị mất hàng chục tỷ đồng. Trong khi chưa có thống kê chính thức về tổng mức thiệt hại, ước tính sơ khởi của Hà Tĩnh cho biết đã có 37 ngàn cá giống, 90 vạn tôm giống, 20 vạn ngao giống bị nhiễm độc mà chết, trị giá khoảng 4,7 tỷ đồng.
Công luận cho rằng nguyên ủy của tất cả vụ việc chính là nhà máy gang thép Hưng Nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh) do Đài Loan và Trung Quốc đầu tư dưới danh nghĩa tập đoàn Formosa. Nơi đây, hôm 04-04, một ngư dân đã phát hiện một đường ống xả thải khổng lồ chôn ngầm dưới biển đang phun rất mạnh một thứ nước màu vàng đục, có mùi hôi thối, ngửi vào thấy ngạt thở. Tập đoàn Formosa sau đó đã thừa nhận rằng hàng ngày họ xả 12.000 m3 nước thải ra biển và gần đây, để cọ rửa hệ thống dẫn nước này, họ đã sử dụng 300 tấn hoá chất mà theo một số chuyên gia là có nhiều loại cực độc (Tuổi Trẻ 24-04-2016).
2- Đang khi ấy thì nhà cầm quyền cộng sản lại phản ứng hết sức khó hiểu. Nhiều quan chức trung ương lẫn địa phương hoặc đã đưa ra những cảnh báo muộn màng (ngày 20-04, thứ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường mới yêu cầu các địa phương có cá chết phải tuyên truyền rộng rãi để người dân không sử dụng chúng làm thực phẩm hay thức ăn gia súc); hoặc những trấn an giả dối (ngày 23-04, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn bảo rằng cá bị nhiễm độc đều đã chết và đã được chôn nên bây giờ bắt được cá sống thì có thể ăn, Phó chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cho biết nhiều loại thủy sản vẫn sinh trưởng bình thường trong các lồng bè ở Vũng Áng và người dân có thể yên tâm tắm ở vùng biển này); hoặc những tuyên bố mâu thuẫn (Thứ trưởng Bộ TN-MT khẳng định đường ống xả thải ra biển của Formosa đã được cấp phép, đang khi Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường của bộ cho hay nhà máy này chưa được phép xả thải (Thanh Niên 23-4-2016)).
Dù thảm họa xảy ra từ hôm 06-04, nhưng đến ngày 26-04, đoàn công tác của Bộ Công thương mới đến kiểm tra công ty Hưng Nghiệp sau khi đã báo cho họ trước 4 ngày (RFA 23-04-2016). Còn Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn thì cho biết khu công nghiệp Vũng Áng có yếu tố nước ngoài nên đoàn công tác không vào kiểm tra được?! Riêng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì ngày 22-04 mới đến Vũng Áng nhưng chỉ để đôn đốc dự án xây cảng Sơn Dương và còn khen Hà Tĩnh đi đúng hướng, chứ tuyệt không có một lời nào về tình trạng cá biển chết thảm chất đầy bờ bãi và tiếng kêu của dân chúng đang cất lên ngút trời. Còn tân chính phủ thì trong cuộc thị sát ở tỉnh Hà Tĩnh hôm 24-04, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng mới cam kết sẽ ‘xử lý nghiêm’ thủ phạm, và hôm sau, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc mới chỉ thị các địa phương phải hỗ trợ ngư dân bị thiệt hại và nhanh chóng đưa ra kết luận để có biện pháp thích đáng. Tối 27-04, Bộ TN-MT đã tổ chức 1 cuộc gặp gỡ báo chí trong 10’ để chỉ đọc một thông cáo chính thức cho hay rằng vụ cá chết ở các tỉnh miền Trung chưa có bằng chứng liên can đến Formosa!
3- Nhưng chính Formosa hiện bị xem là nghi can số một. Tập đoàn này, cuối năm 2012, đã được nhà cầm quyền giao cho 2000 ha đất tại Vũng Áng để xây nhà máy gang thép Hưng Nghiệp và 1.200 ha mặt nước để làm cảng Sơn Dương. Dự án đã khiến cho 3.000 gia đình bị thu hồi đất, giải tỏa nhà, ảnh hưởng đến cuộc sống của khoảng 20.000 người. Chưa hết, Formosa còn được dành nhiều ưu đãi: thuê đất 70 năm nhưng từ năm thứ 16 mới phải trả phí (80 đồng/m2); miễn nộp thuế thu nhập trong 4 năm và 9 năm sau đó giảm một nửa, được đem cả hàng chục ngàn nhân công từ Trung Quốc sang làm việc, được hoạt động như một đặc khu mà các cơ quan chức năng của Việt Nam không dễ vào để kiểm tra an toàn môi trường cũng như mọi hoạt động của nó. Đang khi đó, Vũng Áng cũng là một yếu huyệt về an ninh quốc phòng!
Thế nhưng tập đoàn Formosa từng có những thành tích bất hảo. Năm 1998 họ đã đưa khoảng 5.000 tấn chất thải độc hại kể cả thủy ngân vào thị trấn Sihanoukville – Campuchia, gây nên cuộc khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng ảnh hưởng đến hơn 1.000 cư dân bản địa. Hồi tháng 09-2009, chính quyền Hoa Kỳ tại hai bang Texas và Louisiana đã buộc Formosa Plastics chi hơn 10 triệu đôla để xử lý vi phạm thải chất độc ra không khí và nguồn nước tại hai nhà máy của họ. Nên cũng trong năm này, tập đoàn bị trao giải "Hành tinh đen" do Ethecon, một cơ quan bảo vệ sinh thái ở Đức dành cho những cá nhân/tổ chức đã có những hành động phá hủy môi trường.
Chính vì não trạng đó mà hôm 25-4, khi bị chất vấn vì sao từ khi nhà máy hoạt động, vùng nước quanh đường ống xả thải ngầm ra biển chẳng còn tôm cá hay sinh vật, ông Chu Xuân Phàm – giám đốc đối ngoại của Formosa – đã có những phát biểu đầy thách thức ngang nhiên và thừa nhận trắng trợn: Muốn bắt cá bắt tôm hay muốn xây dựng một ngành thép hiện đại, cứ chọn đi! Nếu chọn cả hai thì làm thủ tướng cũng không giải quyết được. Hồi xưa, khi giải phóng mặt bằng đã tính phương án hỗ trợ ngư dân chuyển sang nghề khác, sao cứ phải đánh bắt cá quanh vùng biển này?”.
B- Từ những vụ việc trên, các tổ chức xã hội dân sự độc lập nhận định:
1- Đây là một khủng hoảng môi sinh nghiêm trọng, vì nó ảnh hưởng hết sức tai hại đến hiện tại cuộc sống của người dân và tương lai phát triển của đất nước:
Việc ô nhiễm nước biển (mà rồi đây sẽ lan tới vịnh Hạ Long và mũi Cà Mau do dòng hải lưu chảy hai chiều theo mùa) đã và sẽ hủy diệt mọi sinh vật trong lòng Đông hải chưa biết đến bao lâu mới phục hồi, nó cũng giết chết ngành chăn nuôi hải sản của cư dân ven biển. Đang khi đó thì việc đánh bắt xa bờ từ lâu đã trở thành bất khả do sự hoành hành của Trung Quốc. Điều ấy khiến Việt Nam mất đi nguồn thực phẩm đã nuôi sống dân tộc từ hàng ngàn năm qua, và cũng mất luôn nguồn thủy sản xuất khẩu!
Việc ô nhiễm nước biển cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc sản xuất muối và nước mắm lẫn chất lượng của hai sản phẩm này, hai thứ gia vị quan trọng mà 90 triệu đồng bào phải sử dụng thường nhật. Điều này tạo nên một hiểm họa lớn lao cho sức khỏe của giống nòi dân Việt. Việc ô nhiễm nước biển ngoài ra còn phương hại đến ngành du lịch, vì dọc bờ biển miền Trung có rất nhiều khu nghỉ dưỡng. Và rồi đây, có người dân nào còn dám đi tắm biển?
2- Đây là một thảm họa quốc gia lớn lao, vì từ nay buộc phải lên bờ sinh sống một giới đông đảo mà nhà cầm quyền từng gọi là cột mốc di động của chủ quyền quốc gia trên biển. Đông hải sẽ dễ dàng trở thành nơi Trung Quốc mặc sức tung hoành để cuối cùng chiếm trọn như mưu đồ từ lâu của họ. Việt Nam sẽ trở thành một quốc gia ven biển với một kẻ thù trong biển và một kẻ thù ngoài biển.
3- Đây là một tệ nạn chính trị hết sức kinh tởm. Vụ Formosa bộc lộ rõ ràng thói vô cảm và vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CS đối với lợi ích quốc gia, cuộc sống dân lành. Nó cũng cho thấy sự bất lực và chậm chạp của cả một hệ thống quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương trước một quốc nạn có tầm mức to lớn chưa từng thấy. Sự chậm trễ ấy đã tạo điều kiện cho nghi can kịp xoá hết dấu tích tội lỗi. Nó cũng hé lộ nhiều thế lực bảo bọc nghi can, che giấu sự thật, đánh lừa dư luận qua những phát ngôn đầy hàm ý hay cố mập mờ của một số quan chức cấp bộ lẫn tỉnh và nhất là qua hành vi ủy lạo tinh thần hà hơi tiếp sức của người đứng đầu đảng Cộng sản đối với tập đoàn Formosa đầy thành tích bất hảo.
4- Đây là một cơ hội để tái khẳng định: Mọi người sinh ra đều có quyền được sống trong một môi trường sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái. Quyền đó là một phần không thể thiếu trong tổng thể quyền con người, bao gồm quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe, quyền được cung cấp thực phẩm, quyền có nước sạch và quyền được bảo đảm an toàn vệ sinh. Không có môi trường lành mạnh, con người không thể sinh tồn để thực hiện các quyền tự do và khát vọng của mình.
Ngoài ra, môi trường là điều kiện tiên quyết để thụ hưởng quyền con người. Trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo vệ nhân quyền, nhà nước phải bảo đảm mức độ an toàn cần thiết về môi trường để người dân sinh sống. Đây là bổn phận không thể tránh né của nhà cầm quyền. Thứ đến, trong các quyền con người, quyền được tiếp cận thông tin, quyền tham gia vào tiến trình ra quyết định và quyền tìm kiếm công lý khi xảy ra sự tàn phá môi trường là những quyền cơ bản để người dân xây dựng môi trường lành mạnh cho cuộc sống của mình. Đây là quyền bất khả xâm phạm của công dân.
C- Do đó, các tổ chức xã hội dân sự độc lập tuyên bố như sau:
1. Tập đoàn Formosa phải chấm dứt ngay lập tức các hành động gây nên sự tàn phá môi trường; phải thực hiện mọi biện pháp tái lập môi sinh trong sạch, an toàn, lành mạnh và cân bằng sinh thái cho con người lẫn các loài sinh vật tại các vùng biển bị tác hại; phải bồi thường mọi thiệt hại về môi trường cũng như sinh mạng và đời sống vật chất của người dân tại các vùng biển bị tác hại.
2. Nhà cầm quyền cần có biện pháp kiểm soát chặt chẽ, cứng rắn, không vì lợi ích nhóm mà nhu nhơ với Formosa, không để Formosa thi hành việc xả thải gây ô nhiễm từ từ thay vì gây độc cấp tính như vừa qua, bởi lẽ hậu quả của biện pháp đối phó này sẽ là cá, người và biển chết chầm chậm; phải sẵn sàng xoá bỏ dự án Formosa, nếu những nguy hiểm tiềm tàng mà dự án gây ra không thể triệt tiêu được; kỷ luật các quan chức trung ương và địa phương vô trách nhiệm và có thể có tham nhũng, tiêu cực trong việc chấp thuận dự án Formosa và trong việc xử lý vụ đầu độc biển. Trước mắt, nhà cầm quyền phải ban bố tình trạng khẩn cấp về môi trường, nhanh chóng xác định nguyên nhân và thủ phạm gây ra hiểm họa, khởi tố hình sự vụ án đặc biệt nghiêm trọng này, công bố chính xác thiệt hại do vụ ô nhiễm gây ra, mời các tổ chức quốc tế có kinh nghiệm trong việc điều tra ô nhiễm môi trường để có những đánh giá độc lập.
3. Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước, các tổ chức xã hội và chính trị độc lập, các cộng đồng tôn giáo, các nhà báo tự do, xin hãy tham gia bày tỏ thái độ bất khoan nhượng đối với những hành động gây tác hại môi trường sống lúc này cũng như trong tương lai (kể cả dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, dự án nhà máy điện nguyên tử và dự án các đập thủy điện…). Xin hãy tham gia cách ôn hòa nhưng quyết liệt vào mọi hình thức: viết bài, lên tiếng, hội luận, chụp hình với khẩu hiệu, nhất là biểu tình vào ngày 01-05 tới.
Dân Việt chúng ta quyết không chọn con đường tăng trưởng kinh tế với cái giá hi sinh môi trường đất nước, quyền lợi dân nghèo, chủ quyền quốc gia. Dân Việt chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cầm quyền ngu dốt, tham lam, bán rẻ dân tộc vì tham vọng cá nhân, lợi lộc và phe đảng. Dân Việt chúng ta quyết không chịu chết thảm như những con cá nhiễm độc ở biển Đông lúc này!
Việt Nam, ngày 29 tháng 4 năm 2016.
Các tổ chức xã hội dân sự độc lập đồng ký tên
01- Bach Dang Giang Foundation. Đại diện: Ths Phạm Bá Hải.
02- Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: Giáo sư Phạm Xuân Yêm.
03- Diễn đàn Xã hội Dân sự. Đại diện: Ts Nguyễn Quang A
04- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nam-Hoa Kỳ. Đại diện: Ms Nguyễn Hoàng Hoa
05- Giáo hội Phật giáo Hoà Hảo Thuần tuý. Đại diện: Ông Lê Quang Hiển
06- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Ms Nguyễn Trung Tôn
07- Hội bảo vệ Quyền tự do Tôn giáo. Đại diện: Cô Hà Thị Vân
08- Hội Bầu bí Tương thân. Đại diện: Ông Nguyễn Lê Hùng
09- Hội Cựu tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bs Nguyễn Đan Quế, Lm Phan Văn Lợi.
10- Hội Dân oan đòi quyền sống. Đại diện: Bà Hồ Thị Bích Khương.
11- Hội Giáo chức Việt Nam. Đại diện: Nhà giáo Vũ Mạnh Hùng
12- Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam. Đại diện: Ts Phạm Chí Dũng
13- Hội Phụ Nữ Nhân Quyền Việt Nam. Đại Diện:  Bà Huỳnh Thị Xuân Mai
14- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Ks Đỗ Nam Hải. Nv Nguyễn Xuân Nghĩa.
15- Mạng lưới Blogger Việt Nam. Đại diện: Cô Phạm Thanh Nghiên.
16- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Lm Nguyễn Hữu Giải.
17- Nhóm Người Bảo vệ Nhân quyền. Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ
18- Phong trào Liên đới dân oan Việt Nam. Đại diện: Bà Trần Ngọc Anh
19- Tăng đoàn Giáo hội PGVNTN. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh.
20- Tổ chức Bảo vệ Tôn giáo và Sắc tộc. Đại diện: Ông Huỳnh Trọng Hiếu
Cá nhân ký tên:
01- Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, Hà Nội.
02- Tiến sĩ Hà Sĩ Phu, Đà Lạt.
03- Nhà báo tự do Nguyễn Minh Cần, Nga.
04- Nhà báo Kha Lương Ngãi, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn.
05- Nhà báo độc lập Chu Vĩnh Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu.
clip_image003
clip_image004
Chiều 28/4, để làm rõ hơn về 'tai nạn' biển chết miền Trung, báo Tuổi Trẻ đã có cuộc phỏng vấn facebook live với Giáo sư Tiến sĩ Khoa học Lê Huy Bá - chuyên gia độc học môi trường & và bà Cao Thu Thủy - Viện công nghệ sinh học thực phẩm Đại học Công nghệ Tp HCM.
Cuộc trao đổi diễn ra gần 1 giờ đồng hồ. Và ngay sau đó video 'bị' biến mất trên Tuổi Trẻ fanpage. Nhưng nó đã không kịp biến mất trước độc giả P. Anh đã kịp download và gửi cho Con Đường Việt Nam​.

Nước Mỹ xét lại chính sách ngoại giao trong mùa Bầu cử
Hoa Kỳ thường bị lên án làm sen đầm quốc tế. Nhưng sau một thời gian dài mệt mỏi, tốn kém và nhiều thất bại có những dấu hiệu cho thấy Mỹ đang xét lại ba cột trụ ngoại giao với NATO, Do Thái và Saudi Arabia kể từ thập niên 1950:
  1. Ứng cử viên Donald Trump tố cáo Âu-Châu, Nhật và Nam Hàn thiếu trách nhiệm, nhờ vả Hoa Kỳ che chở an ninh mà không chịu chi tiền.
  2. Ông Bernie Sanders đòi bỏ cam kết hậu thuẩn vô điều kiện cho Do Thái và Mỹ phải theo đuổi chính sách ngoại giao thăng bằng hơn tại Trung Đông (cho dù ông này là người gốc Do Thái).
  3. Tổng thống Obama khiển trách Saudi Arabia “ăn ké” (free rider) trên danh nghĩa là đồng minh lâu đời nhưng lại ngấm ngầm tài trợ khủng bố đâm sau lưng nước Mỹ và cứ nhất định đòi phải sống còn với Iran.

Dù chỉ là những lời tuyên bố nảy lửa trong mùa bầu cử nhưng các phát biểu nói trên phản ảnh nổi bất mãn của không ít dân chúng rằng Mỹ cáng đáng quá nhiều khiến đồng minh trở nên ỷ lại. Khu vực nào cũng tự cho là lợi ích chiến lược nên Hoa Kỳ không dám bỏ rơi cho dù có bị chơi gác.
Dĩ nhiên theo cách nhìn từ bên ngoài thì chính nước Mỹ hưởng lợi nhiều nhất trong các quan hệ đó. Nhưng dù có lời qua tiếng lại thế nào, một khi Hoa Kỳ dọa không còn “bao thầu” như trước thì các đồng minh cũng rúng động. Hơn thế đây không phải là những lời nói suông mà bắt nguồn từ nhiều áp lực rõ rệt và thực tế:
- Hoa Kỳ sẽ không còn là nền kinh tế số một trong khoảng 2020-2030 (Trung Quốc hiện đã qua mặt, làm cỗ máy tăng trưởng hàng đầu cho thế giới).
- Cuộc cách mạng kỹ thuật khai thác dầu hỏa và hơi đốt từ đá phiến giúp Mỹ thoát khỏi lệ thuộc vào Trung Đông.
- Hiện có quá nhiều điểm nóng với khối Hồi giáo, khu vực cận Nga và biển Đông. Mỗi cuộc tranh chấp lại mang sắc thái riêng biệt và cùng đòi hỏi Hoa Kỳ phải đặt làm trọng tâm chiến lược.
- Ngân sách quốc phòng của Mỹ dù khổng lồ nhưng không thể cùng một lúc chi trả cho những mặt trận vô cùng đa dạng từ du kích và khủng bố của Hồi giáo cực đoan, không-hải lực tối tân của Nga-Hoa, cho đến tiềm năng vũ khí tiêu hủy hàng loạt ở Bắc Hàn, Iran hay Pakistan.
- Quá nhiều nước muốn Mỹ can thiệp nhằm ngăn chận tham vọng bành trướng của Nga-Trung nhưng rồi lại núp né phía sau để hưởng các mối lợi kinh tế nhất là từ Hoa Lục.
- Cuối cùng là thất bại của Tây Phương khi ủng hộ các cuộc cách mạng dân chủ ở Trung Đông và Bắc Phi nhưng để lại một mớ rối nùi về an ninh, khủng bố, nội chiến và tỵ nạn.
Ứng cử viên nào khi đắc cử cũng phải thương lượng chớ không thể cắt đứt các mối quan hệ lâu đời. Nhưng đồng thời không thể loại bỏ giả thuyết Hoa Kỳ sẽ tìm ra giải pháp “Đông hoà Tôn Quyền, Bắc cự Tào Tháo” như đã từng làm dưới thời Nixon-Kissinger để hoà hoãn với Tàu mà chống Nga.
Thời kỳ “bao cấp” của Mỹ làm sen đầm quốc tế lui dần, và những nước nào muốn Hoa Kỳ che chở an ninh đều phải chia xẻ trách nhiệm (người Mỹ gọi là “put the skin in the game”) chớ đừng mong “ăn ké” – kể cả Việt Nam và vấn đề biển Đông.
Đoàn Hưng Quốc

Bài viết hay(3261)

Blog văn nghệ(vanghe) này là blog thứ 4 của tui sau khi 3 Blog trước đã bị giết chết queo dù chỉ nói về chuyên môn là kiến trúc, xây dựng, quy hoạch(kientrucxd), du lịch - môi trường(dulichmt), văn hoá và thời sự. Thực tình mà nói thì Blog này chỉ có tính cách văn nghệ theo kiểu "tạp lục" với đủ thứ 'hổ lốn" chủ yếu là vui cho hết tháng ngày buồn tênh trong kiếp sống lưu vong ở Mỹ. Hổng dám có tham vọng gì hết trọi. Vậy mà có người ghét nên cứ phá hoài, khổ ghê! Thôi thì coi như Blog này là hủ mắm trộn lẫn thập cẩm, ai thích thì nhào vô, hổng thích thì dang xa ra. Vậy thôi. Lời cuối chia sẻ cùng bè bạn. Mong thông cảm.
30 tháng tư: Nhìn người rồi lại nhìn ta!
Cuộc tháo chạy của VNCH năm 1975 được khởi đầu bằng cuộc tháo chạy của Cộng Hòa Khmer. Mỗi lần đến 30 tháng tư, chúng ta cần nhìn lại hai cuộc tháo chạy này dưới những khía cạnh khác nhau để rút thêm những bài học lịch sử.
NHÌN NGƯỜI TRƯỚC…
Với sự hậu thuẫn của Mỹ, ngày 18.3.1970 trong lúc Sihanouk đang ở ngoại quốc, Thủ Tướng Lon Nol cho quân đội bắt giữ chính quyền dân sự ở Phnom Penh, bao vây toà nhà Quốc hội và triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng và trao quyền lực khẩn cấp cho Lon Nol. Lon Nol cử Hoàng thân Sirik Matak – người bị chính phủ Pháp loại bỏ để trao ngôi vị cho Sihanouk - giữ chức Phó Thủ tướng. Sau cuộc đảo chính, Hoàng thân Sihanouk đến Bắc Kinh và bắt đầu ủng hộ Khmer Đỏ trong cuộc chiến lật đổ chính phủ Lon Nol.
Tháng 10 Lon Nol tuyên bố thành lập Cộng hòa Khmer và Lon Nol trở thành Tổng thống đầu tiên. Hoàng thân Sirik Matak được cử làm Phó Tổng Thống.
Hoàng thân Sihanouk
Tháng 4 năm 1973, Lon Nol đình chỉ hoạt động của Quốc hội, tuyên bố thành lập "Hội đồng Chính trị Tối cao" bao gồm chính ông, Sirik Matak, Cheng Heng và In Tam.
Vào đầu năm 1975, Khmer Đỏ và CSVN bắt đầu mở cuộc tấn công chế độ Lon Nol, thành lập vòng đai bao vây thủ đô Phnom Penh. Quốc hội Hoa Kỳ quyết định không cấp viện trợ thêm cho Campuchia nữa. Ngày 1.4.1975, Tổng Thống Lon Nol tuyên bố từ chức và bay đi tỵ nạn ở Hawaii. Hoàng thân Sirik Matak quyền Tổng Thống.
Sáng 12.4.1975 Hoa Kỳ thực hiện Chiến dịch Eagle Pull, di tản các nhân viên, các viên chức Mỹ và một số viên chức Campuchia bằng máy bay trực thăng từ thủ đô Phnom Penh tới các hạm đội Mỹ trong vịnh Thái Lan.
Đại sứ Mỹ ở Cambodia lúc đó là ông John Gunther Dean đã thông báo cho các viên chức cao cấp của Cộng Hòa Khmer biết Hoa Kỳ dành cho họ quyền tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ, nhưng Hoàng Thân Sirik Matak, Thủ Tướng Long Boret, Lon Non (em của Lon Nol) và các thành phần nội các của chính phủ Lon Nol đã từ chối, mặc dầu Long Boret và Sirik Matak có tên trong danh sách “Bảy kẻ Phản Bội” (Seven Traitors) bị Khmer Đỏ tuyên án tử hình. Tổng cộng có 150 người trong chính phủ Cộng hòa Khmer đã di tản theo người Mỹ. Còn Hoàng thân Sirik Matak đích thân viết cho Đại sứ John Gunther Dean một lá thư có nội dung như sau:
Tôi thành thật cảm tạ Ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do. Than ôi! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy! Với Ngài và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài, không bao giờ tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do. Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết. Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều tệ hại, nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó. Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ! Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi.”
Ký tên: Hoàng thân Sirik Matak
Hoàng thân Sirik Matak
Riêng về Thủ Tướng Long Boret, Đại sứ John Gunther Dean kể:
"Long Boret đã từ chối việc di tản. Ông ta là một người tài giỏi. Trẻ hơn nhiều so với Lon Nol hoặc Sirik Matak. Khi cá nhân tôi đến gặp ông vào ngày 12 tháng 4, trong cuộc di tản buổi sáng sớm của chúng tôi, đề nghị ông ta hãy dắt vợ con cùng chúng tôi rời khỏi Phnom Penh vì tôi lo sợ cho sự an toàn của ông ấy, ông ta cảm ơn tôi nhưng [như ông ta nói] nghĩ rằng tính mạng của ông ấy không đáng lo ngại.”
Thủ Tướng Long Boret
Ngày 17.4.1975, lực lượng Cộng hòa Khmer sụp đổ, Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh. Hoàng thân Sirik Matak, Thủ tướng Long Boret, Lon Non và các viên chức hàng đầu của Chính phủ Cộng hoà Khmer đã bị bắt đưa đi xử tử tại trung tâm thể dục thể thao Cercle Sportif. Các đơn vị thuộc quân đội Lực lượng Vũ trang Quốc gia Khmer của Lon Nol còn lại trong thủ đô đều bị tước vũ khí và đưa đi xử bắn toàn bộ tại sân vận động Olympic.
Trong Hồi ký “Ending the Vietnam War” Kissinger nói rằng chính quyền Ford đã bất ngờ và xấu hổ vì trên thực tế các quan chức hàng đầu của Campuchia đã từ chối rời khỏi đất nước, bao gồm Hoàng Thân Sirik Matak, Thủ tướng Long Boret và em trai cựu Tổng thống Lon Nol là Lon Non, mặc dầu họ nằm trong danh sách mà Khmer Đỏ đã tuyên án tử hình.
RỒI QUAY LẠI NHÌN TA...
Tướng Dương Văn Minh vốn nổi tiếng là THAM, NGU, HÈN nên bị Mỹ khai thác và đưa ra làm con bài thí mỗi khi muốn thay đổi tình hình.
1.- BỊ DÙNG LÀM SÁT THỦ
Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Giám Đốc Phủ Đặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo của VNCH đã kể lại hai chuyện liên quan đến những sự vi phạm nghiêm trọng của Dương Văn Minh, nhưng được Tổng Thống Diệm bỏ qua cho:
Đại tá Nguyễn Văn Y
Vụ thứ nhât: Chôm thùng phuy vàng của Bình Xuyên
Ông cho biết vào khoảng tháng 5 năm 1955, sau khi đánh đuổi quân Bình Xuyên chạy vào Rừng Sát, ông đã thả các nhân viên Phòng 2 đi thăm dò ven rừng. Họ thấy một người đang ngồi câu cá trên một chiếc xuồng ở một khu vắng, dáng điệu rất khả nghi, nên bắt về thẩm vấn. Sau nhiều cuộc tra hỏi, người này thú nhận anh ta là một cận vệ của Bảy Viễn, được phái ở lại giữ hai thùng phuy vàng và bạc đã phải nhận chìm xuống nước trước khi chạy trốn. Ông cho mò tìm và vớt được hai thùng, một thùng đựng bạc giấy và một thùng đựng vàng. Ông bảo nhân viên đem số bạc ướt phơi khô rồi đưa tất cả đi nạp vào ngân khố. Còn thùng vàng được chở đến giao cho Đại Tá Dương Văn Minh, Quân Trấn Trưởng Sài Gòn. Dương Văn Minh chẳng báo cáo gì về vụ vàng này. Ông Diệm đã ra lệnh điều tra. Hai người được trao nhiệm vụ điều tra là Thẩm Phán Lâm Lễ Trinh, Biện Lý Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn, và Thiếu Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội. Đại Tá Xuân báo cáo số vàng Tiểu Khu Chợ Lớn tịch thu được đã giao cho Đại Tá Dương Văn Minh. Nhưng sau khi suy nghĩ, ông Diệm nói với ông Nhu: “Thôi, cho nó đi cho yên!”
Vụ thứ hai: Chứa chấp gián điệp Việt Cộng.
Vào đầu năm 1960, nhân viên tình báo thấy một người thường lui tới nhà Dương Văn Minh ở số 3 đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi ra, anh ta thường nhìn trước nhìn sau rất kỹ, thấy không có gì khả nghi mới bước ra.
Khoảng tháng 3 năm 1960, có một người có mặt mày và hình dáng rất gióng Dương Văn Minh, đã đến ở luôn trong nhà Dương Văn Minh và mỗi lần đi đâu thường được chính Dương Văn Minh chở đi. Sưu tra hồ sơ, nhân viên tình báo biết ngay đó là Dương Văn Nhựt, em của Dương Văn Minh, có bí danh là Mười Tỵ, hiện đang là Thiếu tá trong bộ đội miền Bắc. Vợ của Dương Văn Nhựt hiện đang sống tại Sài Gòn. Theo dõi sát, nhân viên tình báo biết được Dương Văn Nhựt đang đi vận động Phật Giáo và sinh viên chống ông Diệm.
Trong cuộc phỏng vấn ngày 16.10.2004, Đại Tá Nguyễn Văn Y cho biết khi vợ Dương Văn Nhựt có bầu gần sinh, Dương Văn Nhựt đã đưa vợ tới ở nhà của Trung Tá Dương Văn Sơn, em của Dương Văn Minh. Lúc đó Dương Văn Sơn đang làm trưởng phòng truyền tin của Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn Nhựt.
Ông đã trình vụ này cho Tổng Thống Diệm, nhưng sau khi nghe, Tổng Thống đã đưa cho ông cái hộp quẹt và bảo đem tất cả hồ sơ ra đốt đi. Tổng Thống nói: “Mỹ mà nó biết được Trung Tướng của mình theo Việt Cộng thì xầu hổ lắm. Đốt hết đi! Từ rày tôi không muốn nhắc tới cái vụ này nữa.” Nhưng đốt hồ sơ rồi cũng chưa xong, nhân viên tình báo còn phải bắt Dương Văn Nhựt và dẫn ông ta ra chiến khu để ông ta đi qua Cam-bốt và trở về lại miền Bắc, với lời cảnh cáo: Nếu trở lại sẽ bị thanh toán.
Ngày 18.7.1962, ông Diệm thông báo cho Tướng Harkins biết ông quyết định hủy bỏ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân của Tướng Minh vì ông ta “thiếu khả năng.”
Biết Tướng Dương Văn Minh đang bất mãn với ông Diệm, nên năm 1963 khi tổ chức đảo chánh ông Diệm, Mỹ đã dùng Dương Văn Minh làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, tức chỉ huy cuộc đảo chánh. Nhưng khi hành động, Thiếu Tá Lucien Conein chỉ để cho Dương Văn Minh làm sát thủ, giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và hai người chống đảo chánh là Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, và Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân, còn việc tổ chức và điều hành quân đội đảo chánh đều đặt dưới quyền chỉ huy của hai nhân viên CIA là Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu.
Tướng Minh được trao quyền lãnh đạo chính phủ trong giai đoạn chuyển tiếp, sau đó bảo Tướng Khiêm làm “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, loại bỏ các tướng râu ria của Dương Văn Minh về tội “thân Pháp”, đưa Tướng Nguyễn Khánh ra làm sát thủ Ngô Đình Cẩn. Nguyễn Khánh ban hành một đạo luật hồi tố để giết Ngô Đình Cẩn. Giới luật gia phản đối vì luật này vi phạm nguyên tắc bất hồi tố (non-retroactive) của hình luật và điều 11 Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nhưng khi Mỹ bảo thì chẳng cần luật pháp, nên Nguyễn Khánh đã cho xử bắn Ngô Đình Cẩn. Sau đó các biến loạn đã xảy ra, Mỹ loại Nguyễn Khánh và đưa hai tên tà lọt của CIA là Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm lên cầm quyền tại Miền Nam cho đến ngày mất nước.
2.- BỊ DÙNG LÀM HÀNG TƯỚNG
Ngày 21.4.1975, Đại Sứ Martin đến thuyết phục Tổng Thống Thiệu từ chức để đưa Dương Văn Minh lên đầu hàng, nhưng ông Thiệu chẳng biết gì hết, còn hỏi ông Martin: “Nếu tôi từ chức, viện trợ Mỹ có đến không?” Đại Sứ Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng có thể có”.
Frank Snepp cho biết sáng 20.4.1975, Đại Sứ Mattin đã đi gặp Đại Sứ Mérillon của Pháp và xin tiếp một tay. Đại sứ Merillon cho Tướng Minh biết ông ta đã liên lạc với phía bên kia, họ cho biết chỉ nói chuyện với tướng Minh. Tướng Minh tưởng thật, đồng ý làm Tổng Thống để điều đình với “phía bên kia” và thành lập một “chính phủ hòa hợp hòa giải”. Tướng Timmes đã đến gặp Tướng Minh để thăm dò, Tướng Minh cười và trả lời: “Vẫn còn cơ hội cho các cuộc thương thuyết…” (There was still a chance for negotiations). Nhưng chiều 28.4.1975, lúc 17 giờ 50, sau khi nhận chức Tổng Thống, Tướng Minh đã cho người đi tìm Đại Sứ Mérillon thì ông đã biến mất rồi!
Đến đây người Việt mới nhận ra rằng Mỹ là "siêu cộng sản"!
 Tổng Thống Dương Văn Minh
Lúc 11 giờ sáng ngày 30.4.1975, khi thấy không còn gì để hy vọng nữa, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng T-54 đầu tiên của Việt Cộng tiến trên đại lộ Thống Nhứt về phía Dinh Độc Lập, ủi sập một cánh cổng đã mở, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền... Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng nhất loạt tuân lệnh.
Khi mọi người chưa kịp làm gì tiếp thì Trung Tá Bùi Tùng, Chính Ủy Lữ Đoàn Xe Tăng 203 tới. Ông Minh thấy ông Tùng người to cao thì lễ phép chào và nói:
- Thưa ông, chúng tôi đợi các ông vào lâu rồi để bàn giao chính quyền.
Trung Tá Tùng nói:
- Các ông là người bại trận. Các ông không còn gì để bàn giao mà chỉ có đầu hàng vô điều kiện.
 Ông Tùng buộc Tổng Thống Dương Văn Minh và Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Dương Văn Minh bị dẫn tới Đài Phát Thanh Sài Gòn
Bản tuyên bố đầu hàng do Chính Trị Viên Bùi Tùng thảo, ông Minh đọc và đài phát thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30:
Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”
Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống chỉ 36 tiếng đồng hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30.4.1975 đã tuyên bố đầu hàng, kết thúc cuộc đời làm con bài thí của Mỹ trong một thời điểm rất bi thảm.
NHỮNG BÀI HỌC ĐẮT GIÁ
Nhìn lại những gì mà Thủ Tướng Long Boret và Hoàng thân Sirik Matak của nước Campuchia nhỏ bé đã làm rồi nhìn lại hành động của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Thống Dương Văn Minh của nước Việt có lịch sử ngàn đời oai hùng…, ít ai không cảm thấy đau buồn.
Người Mỹ khi rút khỏi Sài Gòn không hề thông báo cho các viên chức cao cấp của VNCH rằng Hoa Kỳ dành cho họ quyền tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ như họ đã thông báo cho các viên chức Cộng Hòa Khmer khi rút khỏi Phnom Penh, nên hầu hết các viên chức cao cấp VNCH đã phải bị đi tù vì hợp tác với Mỹ. Chính quyền Ford cũng không hề “bất ngờ và xấu hổ” về chuyện này. Mặc dầu vậy “tình hữu nghị Việt – Mỹ vẫn đời đời bền vững”.
Hoàng thân Sirik Matak đã nói với người Mỹ “không bao giờ tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do” và “Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ!”, trong khi đó đa số người Việt đấu tranh vẫn tiếp tục tin tưởng rằng người Mỹ sẽ giúp họ “giải phóng quê hương” và mỗi khi có chuyện gì bất bình thường đi mách với Mỹ!
Đó là những bài học lịch sử đắt giá. Triết gia George Santayana (1863 – 1952) đã nhắc nhỡ chúng ta:
Những người không thể nhớ quá khứ bị kết án tái diễn nó. Học từ quá khứ của chúng ta là cách duy nhất có trách nhiệm để chuẩn bị cho chính chúng ta về tương lai, nhất là khi quá khứ đó là chứng tích của thất bại đáng ghi nhớ.”
Ngày 28.4.2016
Lữ Giang  
41 Năm Sau 30 Tháng TưBên cạnh nhiều thành tích nổi bật của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đã được loan báo, ngày cuối Tháng Tư năm nay có thể được ghi dấu bằng sự xuất hiện của một nhà thơ Mỹ gốc Việt chỉ mới 16 tuổi. Cô Đỗ Nguyên Mai, tác giả tập thơ “Ghosts Still Walking” (Những Bóng Ma Vẫn Đang Bước Đi) sẽ đọc thơ tại Los Angeles cùng lúc với thi tập được phát hành tại Anh và Hoa Kỳ.

Trong khi ấy, để chào đón Tháng Năm, tháng mà nước Mỹ chính thức tuyên dương truyền thống Văn Hóa Á Châu Thái Bình Dương, các giải thưởng Asian Heritage Award tại Cali cũng đặc biệt hướng về cộng đồng Việt.

Sau đây là chi tiết:

Lễ Phát Giải Giải Truyền Thống Châu Á 2016

Chiều Thứ Bẩy 23 tháng Tư, tại Viện Joan B. Kroc vì Hòa Bình và Công Lý thuộc Đại Học San Diego, 10 nhân vật Việt Mỹ đã cùng nhận nhiều giải thưởng đặc biệt.

blank
2016 Heritage Award vinh danh các nhân vật gốc Việt tại Viện Joan B. Kroc vì Hòa Bình và Công Lý thuộc Đại Học San Diego.

Bản tin chính thức của Ban Tổ Chức loan báo bên cạnh lễ phát giải, đây còn là dịp cùng lúc gặp gỡ ba ba nhân vật huyền thoại độc đáo (tree unique legends) liên quan tới cộng đồng người Việt:

- Người thứ nhất là diễn giả chính của dạ tiệc, Hải quân Đại Tá Paul Jacobs, nguyên hạm trưởng USS Kirk, người đã điều động việc tiếp cứu hơn 30,000 người Việt di tản ngày 1 tháng 5, 1975 đang nổi trôi trên biển.

- Người thứ hai là nhà văn Nhã Ca, một tác giả của miền Nam được thế giới quí trọng.

- Và người thứ ba, đương kim Giám Sát của San Diego County, Ông Bill Horn, một cựu Thủy Quân Lục Chiến từng giúp bảo lãnh hàng trăm người Việt tị nạn vào nước Mỹ.

Cùng nhận giải Asian Heritage Award, bên cạnh nhà văn Nhã Ca và Giám Sát Viên Bill Holl, có Dr. Nguyễn Hữu Xương, Giáo sư Quyên Di Chúc Bùi, Dr. Danh Trương, Dr. Trương Nông, Dr. Doãn Dao, và Dr. Chirstina Cao.

Phát biểu trong dịp đặc biệt này, Nhã Ca nói: “

“Trong cuộc hành trình suốt 40 năm qua, mỗi người Việt khi ra đi, đều mang theo truyền thống văn hóa của quê hương tươi đẹp. Sau cuộc chiến tranh nhiều oan khuất, quê hương ấy tiếp tục bị dìm trong tù ngục. Vì tự do, nhiều người đã ra đi - hoặc muốn ra đi như chúng ta - nhưng họ không thể đến. Xin trân trọng tưởng nhớ.

“Giải thưởng hôm nay không thuộc về tôi, mà thuộc về những người đã chìm dưới đáy biển, gục ngã trong nhà tù, những người bị tàn sát mà chưa được giải oan, như đã kể trong “Giải Khăn Sô Cho Huế / Mourning Headband for Huế”, cuốn sách mà học giả Olga Dror, khi đi tìm sự thật trong chiến tranh Việt Nam đã dịch sang anh ngữ.

“Bên bờ Thái Bình Dương, từ tòa nhà mang tên Mrs. Kroc, vị phu nhân nghệ sĩ và hào hiệp của San Diego, những giải thưởng dành cho người Việt hôm nay nhắc chúng ta niềm tin vào truyền thống Á Châu tốt đẹp và lý tưởng tự do, hòa bình và công lý.”

blank
Từ trái, Hải quân Đại Tá Paul Jacobs, Dr. Michael L. Nichols Bà Peggy L. Nichols, Nhã Ca, và Rosalynn Camen.

Nhà Thơ Nữ Gốc Việt 16 Tuổi Ra Mắt, Đọc Thơ ngày 30 tháng Tư 2016

LOS ANGELES (VB) – Cô Đỗ Nguyên Mai -- một nhà thơ Mỹ gốc Việt tại Los Angeles, Hoa Kỳ -- năm nay sẽ tưởng niệm ngày Miền Nam thất trận bằng cách rất riêng của cô: in một tập thơ viết bằng tiếng Anh.

Điểm độc đáo: nhà thơ Đỗ Nguyên Mai mới 16 tuổi, tập thơ được một nhà xuất bản Anh quốc ấn hành và phát hành toàn cầu qua mạng Amazon.

Nếu đang cư ngụ tại Nam California, bạn có thể gặp trực tiếp nữ thi sĩ 16 tuổi này trong một buổi đọc thơ vào đúng ngày 30-4-2016, tại The Open Book ở thị trấn Valencia (thuộc quận Los Angeles, California), từ 4pm tới 7 pm.

Tập thơ có nhan đề “Ghosts Still Walking” (Những Bóng ma Vẫn Đang Bước Đi).

Tất cả các bài thơ trong tập đều xuất sắc, không phải vì được viết bởi một thiếu nữ 16 tuổi gốc Việt, nhưng vì tự thân giá trị thi ca.

Thí dụ, thử đọc bài thơ “Burning Incense” nơi đầu tập (cột báo này không tình bày đúng bố cục bài thơ, chỉ dịch ý thôi:

Một đạo binh những lời thì thầm đón chào tôi nơi
ngưỡng cửa của những giấc mơ; không gian trống vắng –
nhưng quá đầy.
Những bóng ma ngủ và thức,
cũng như tôi.
Cũng hãy đón tôi vào nhé.

blank
Nhã Ca và Gween Colorado. Trên màn ảnh là thơ Hồi Chuông Thiên Mụ bản Anh ngữ.

Bạn có thể đọc lần thứ nhì thứ ba và sẽ thấy: Âm vang tiếng Anh của bài thơ trên được sắp xếp theo một ngữ pháp, và bố cục tượng hình, hệt như tiếng thì thầm quyện trong làn gió đêm.

Lời đề tặng nơi đầu tập thơ cũng là những dòng chữ biết ơn tổ tiên và ba mẹ, dịch:

“Để dâng tổ tiên của tôi, những người đã hướng dẫn ngòi bút của tôi từ khởi đầu,

và người trong gia đình tôi, những người đã cho tôi âm vang này.

Cảm ơn đã cho tôi những giấc mơ.”

Một bài thơ có thể làm bạn ứa nước mắt là bài “From Phùng Thị Chính to her Child” (Lời bà Phùng Thị Chính nói với con sơ sinh).

Tập thơ của Đỗ Nguyên Mai ghi sơ lược về lịch sử trước bài thơ này: Vào khoảng hai ngàn năm trước, khi nghĩa quân Việt Nam nổi dậy để bứt ra khỏi vòng thuộc địa Phương Bắc, Phùng Thị Chính là một nữ tướng của Hai Bà Trưng, chỉ huy đạo binh tiên phong. Cuộc khởi nghĩa đã tới năm thứ 3, trong trận đánh quyết liệt nhất, bà Phùng Thị Chính sinh con trên chiến trường, bà buộc con sơ sinh vào lưng và tiếp tục dẫn quân ra trận. Thua trận, Hai Bà Trưng tự trầm nơi Sông Hát Giang, bà Phùng Thị Chính cùng con nhỏ tự trầm theo.

Bài thơ này, được Đỗ Nguyên Mai viết như lời nữ tướng Phùng Thị Chính nói với con sơ sinh:

… Cái chết này là tình yêu của mẹ
cuộc sống ngắn ngủi này, một trận đánh
duy nhất thay vì
một thế kỷ thảm bại
hy vọng duy nhất của mẹ cho con.

Con, bị thương từ khoảnh khắc con
có hơi thở đầu tiên.

Con, tắm đỏ trong
máu cạn kiệt của mẹ.

Con, sinh ra từ ngọn lửa sắp tắt của mẹ
vào đời trong hỏa ngục.

Sinh ra, giữa ba ngàn nữ binh,
những cánh tay cầm binh khí và những trái tim tổn thương.

Sinh ra, từ cõi của hai chị em
hai nữ thần đã dẫn những người đời thường
đi làm trong sạch cõi đất bi thảm này.
.
Sinh ra từ chiến thắng, từ chiến trận.
.
Tất cả bây giờ đã biến mất;
tất cả của con nay đã biến mất.

Tất cả ngọn lửa cho con để khởi dậy từ
đã tắt.
.
Không còn nơi nào cho con bây giờ
nhưng trong những dòng nước này, đang chở
xác những người cao quý lên trời,
dìm chết chúng ta trong dòng máu vương giả
được bao bọc bởi dòng sông thanh tịnh.
Và như thế, chúng ta đã chết.
(hết trích dịch)

.

blank
Đỗ Nguyên Mai, nhà thơ Mỹ gốc Việt 16 tuổi, ra mắt và đọc thơ “Ghosts Still Walking” tại Los Angeles, chiều 30 tháng Tư 2016.

Nơi trang cuối tập thơ có đoạn “About the Author” cho biết Đỗ Nguyên Mai là một nhà thơ Mỹ gốc Việt, cũng là nhạc sĩ, hiện ngụ ở vùng Los Angeles. Bên cạnh việc học về sử và báo chí, cô cũng đang dạy tiếng Việt cho trẻ em…

Tập thơ gửi tới tòa soạn Việt Báo với lời đề tặng bằng tiếng Việt, chữ viết tay:

“Kính tặng Bà Nhã Ca

Đỗ Nguyên Mai

19.4.16”
Trong lá thư kèm theo, cũng bằng tiếng Việt, viết:
“Kính gởi Bà Nhã Ca,
Thưa Bà, cháu tên Đỗ Nguyên Mai, 16 tuổi,
Đây là tập thơ đầu tiên của cháu đã được nhà xuất bản Platypus Press phát hành chính thức vào ngày 29-4-2016 tại Anh và ngày 30-4-2016 tại Hoa Kỳ.
Có nhiều bài thơ nói về lịch sử và quê hương, như From Phùng Thị Chính to Her Child, Fleet, For My Mother…
Cháu đã đọc Mourning Headband For Huế. Xin gởi tập thơ đến Bà như một lời cảm ơn…”(hết trích)
Cũng nên ghi chú rằng: Mourning Headband For Huế là bản dịch sang tiếng Anh từ cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế” của nhà văn Nhã Ca.
Độc giả có thể tìm thi tập “Ghosts Still Walking” bản eBook của Kindle. Muốn mua sách in, xin theo đường dẫn: http://platypuspress.co.uk/ghostsstillwalking.
Bài nói chuyện của Tom Hayden
Tôi tìm được trong bài nói chuyện của Tom Hayden 2 đoạn văn:
1.- Ông ta trách về sự bỏ quên hàng trăm ngàn quân nhân VNCH, không được vinh danh (lý do chính phủ ngại rằng nếu thứ nhận và vinh danh quân nhân VNCH, sẽ phải trả tiền trợ cấp). Ông ta cũng đòi cả hai phía Mỹ và Cộng Sản Hà nội cũng phải tôn trọng, thì mới nói đến chuyện hàn gắn.
2.- Ông ta muốn Henry Kissinger nhận trách nhiệm và xin lỗi. Trong khi ông ta (Tom Hayden) hối hận về việc mình đã góp phần trong nhiều quyết định của phong trào phản chiến. Vì Kissinger đã không xin lỗi, nên Tom Hayden đã từ chối không ăn tối với Kissinger vào tối 26/4
Và trong bài, có nhiều chỗ ông ta đã có nhận thức vô cùng sai về Quân Lực VNCH, cũng như đánh giá sai sự từ chối Tổng Tuyển Cử sau Hiệp Định Geneve. Quan điểm của ông ta về chính trị Hoa Kỳ, chúng ta không cần quan tâm. Như quan điểm thiên cộng về chiến cuộc VN, chúng ta sẽ có ngày gần đây nói với ông ta. Những lỗi chính tả trong bản Anh ngữ là của ông ta, chúng tôi giữ y nguyên.
Sức Mạnh của sự Chống Đối, Hồi Tưởng lại Phong Trào Phản Chiến
Phát biểu của Tom Hayden tại Hội Thảo Chiến Tranh Việt Nam,
Thư Viện LBJ, Austin, Texas, ngày 26 tháng 4, 2016.
Chú thích của người dịch: Bài này không biết nói vào lúc nào trong Hội Thảo. Vì trong phần The War at Home, ngày 27/4/2016, ông ta và David Maraniss và Marilyn Young chỉ trả lời điều hợp viên Robert Schenkkan về những điều mà phong trào phản chiến đã gây ảnh hưởng đến chính trị, xã hội Hoa Kỳ trong thời chiến tranh VN. Và ông ta cũng không thể phát biểu vào ngày 26 - như có ghi trong phần giới thiệu - trước khi nghe phần của  ông Henry Kissinger diễn ra vào lúc 6 giờ chiều!
Xin thưa trước rằng Tom Hayden là người phái cực tả, thân cận với khuynh hướng Cộng Sản, và có cái nhìn vô cùng sai lạc về chiến tranh Việt Nam cũng như đối với các bên tham chiến, đặc biệt là đối với Việt Nam Cộng Hoà vá Quân lực chúng ta. Nhân vật ông ta nêu ra trong bài ông Dubois, là người thiên Cộng. Tom Hayden mà dạy các lớp về Việt Nam là một sự thiệt thòi nguy hiểm cho chúng ta.
Vì thế, trong bài có rất nhiều luận điểm làm cho chúng ta thương tổn và phẫn nộ. Trong tương lai, tôi xin quý vị thức giả hãy cùng tôi viết thư cho ông ta để vạch ra những điểm đó.
Cám ơn ông Mark Updegrove, Giám đốc Thư viện LBJ
Cám ơn Đại tá Mark Franklin, Trưởng Ban Lịch sử và Di sản của Phòng Tưởng Niệm Việt Nam.
Cám ơn ông Jim Knotts và Reema Ghazi, Vietnam Veterans Memorial Fund.
Cám ơn ông Jim Popkin đã loan báo từ lúc khởi sự chương trình này.
Xin cám ơn quý vị đã có lời mời tôi và cho tôi cơ hội để tự vấn lương tâm về Chiến Tranh Việt Nam và phong trào phản chiến đối kháng. Chúng ta đang tái tạo lại di sản. Bản thân tôi vừa hoàn tất cuốn sách thứ ba về Việt Nam với tựa đề “Việt Nam và Sức Mạnh của Phản Kháng” mà sẽ được Yale University Press phát hành năm tới. Mấy chục năm trước, tôi đã viết hai cuốn sách “Phe Bên Kia” (viết chung với Staughton Lynd, do New American Library phát hành năm 1966) và “Sự Ham Chuộng Quyền Sở Hữu cũng là một Thứ Bệnh” do Holt Rinehart Winston phát hành năm 1972. Tôi cũng dạy nhiều lớp về Việt Nam tại các Đại Học Immaculate Heart College và Scripps College ở Claremont, và cũng tham dự hội thảo với các thành viên đảng Dân Chủ trong Hạ Viện. Hiện nay, tôi cũng thích thú với các tác phẩm của Nguyễn Thanh Việt về hồi ký và sự lãng quên trong tác phẩm “Cảm Tình Viên” đã đoạt giải Pulitzer trong tháng này.
Sự tranh luận về chiến tranh và phong trào phản chiến vẫn còn tiếp tục. Năm ngoái, có 1000 thành viên phong trào hoà bình đã tụ tập ở nhà thờ New York Avenue Presbyterian  và đài tưởng niệm Martin Luther King ở Hoa Thịnh Đốn để thách đố với luận điệu về chiến tranh của Bộ Quốc Phòng. Những cuộc tranh cãi đó, xảy ra ở Fort Meyer, chẳng đi đến đâu và còn đang tiếp diễn. Tôi ghi nhận sự có mặt của Joe Galloway hôm nay tại đây. Ông là người tham dự cuộc tranh luận đầu tiên tại Fort Meyer.
Hôm nay, tôi phân phát ra đây một Nghị quyết mới của Ha Viện do dân biểu Barbara Lee chủ xướng. Bà là một lãnh tụ trong nhiều năm của phong trào hoà bình và công lý. Bản Nghị quyết này để ghi nhớ kỷ niệm 50 năm của chiến tranh Việt Nam và cuộc vận động để chấm dứt nó. Trong đó có đoạn viết: “Cuộc vận động để chấm dứt chiến tranh Việt Nam là một trong những phong trào lớn nhất và có những nỗ lực kéo dài nhất để đạt được hoà bình và công lý cho nhiều thế hệ và đó cũng đóng góp quan trọng để chấm dứt cuộc chiến.”
Tác động của chúng ta tưởng chẳng có gì phải thắc mắc. Chúng ta đã đánh bật hai vị tổng thống ra khỏi Bạch Cung. Chúng ta đã làm chấm dứt tình trạng động viên. Năm này qua năm khác, con số người xuống đường gia tăng cho đến khi đạt con số hàng triệu và đã trở thành phong trào phản chiến lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Phong trào hoà bình chẳng khác gì “Tổng đình công” được miêu tả trong cuốn lịch sử về Tái Tạo (Black Reconstruction in America) của ông W.E.B. Dubois (Chú thích của người dịch: Dubois là một người da đen khuynh hướng Cộng Sản sống ở giữa thế kỷ 19.)  Nó bao gồm việc chống đối, bỏ việc của các binh sĩ trong các căn cứ và chiến hạm. Nó phát triển xuyên qua cá cộng đồng dân da màu, da đen, Latino, Puerto Rican, dân da đỏ, và dân gốc Á… lôi cuốn theo các sinh viên tại các cơ sở đại học vào cuộc đình công, lãng công. Trong khi giới hippies bị coi là xấu xa, họ càng xa lánh những gì mà họ cho là thứ văn hoá nhà binh và áp bức. Phong trào đã đưa đến sự chống đối của phe Dân Chủ mà cũng chẳng thiếu người Cộng Hoà. Trật tự chính trị, quân sự, các đại học bị lung lay bởi sự rút ra của hàng triệu người ngay từ đầu khi bị gán vào cái gọi là nguyên trạng. Phụ nữ Mỹ rút ra khỏi chính sách quân phiệt để cũng lãnh đạo phong trào phản chiến. Những người thuộc nhóm LGBT (đồng tính, luỡng giới, cải giới) cũng tham gia phong trào. Hiện tượng này đáng được coi trọng và nghiên cứu một cách nghiêm trang tại các hội thảo tương lai.
Dù có nhiều người Mỹ đồng quan điểm với tôi, thì cũng có nhiều người khác giữ vững ý niệm mà Tổng thống George H. W. Bush đã diễn đạt sau chiến cuộc Vùng Vịnh năm 1991 rằng: “Nhờ ơn Thượng Đế, chúng ta đã khử được hội chứng Việt Nam một lần và mãi mãi.” Hàng ngàn người Mỹ và hàng triệu người Iraq đã chết trong chiến tranh này để giải thoát cái hội chứng mà Tổng Thống Bush ví như là thứ bất ổn tinh thần.
Cái lý do căn bản của những nỗ lực kiên trì nhằm coi là chiến thắng ở Việt Nam là vì sự lo sợ phải thừa nhận sự thất bại năm 1975 của những chính trị gia và các cố vấn an ninh quốc gia. Nhiều người trong chúng ta lý luận rằng chiến tranh Việt Nam đã có triệu chứng thất bại ngay từ 1946 khi chính phủ Hoa Kỳ trang bị vũ khí cho quân Pháp để hành quân ngu xuẩn ở Điện Biên Phủ rồi sau đó, ngăn cản cuộc tổng tuyển cử mà Hiệp Định Geneve đã quy định.
Một sự thừa nhận chính thức sự bại trận, cũng như hội chứng Custer, sẽ dẫn đến sự mất uy tín cũng như thừa nhận một cách đau đớn với những gia đình mà con cái họ đã chiến đấu anh dũng nhưng vì những chính sách sai lầm của các đảng chính trị và các chính trị gia. Hậu quả chính trị trong nước là mối nguy đáng sợ cho nền dân chủ của chúng ta, từ chủ nghĩa McCarthy cho đến Watergate cho đến các chương trình phản gián.
Sự phản hồi đó kéo dài cho đến ngày nay. Tôi cảm thấy ngỡ ngàng khi ông Ngoại trưởng John Kerry, một thành viên sáng lập của tổ chức Cựu Chiến Binh Chống Chiến Tranh Vietnam Veterans Against the War [VVAW] đã bị loại một cách thô bạo trong cuộc tranh cử tổng thống năm 2004. Ông ta từng bị thương khi chiến đấu với các lực lượng Cộng quân trong khi bao nhiêu người khác yên ổn trong các văn phòng vì được miễn dịch. Có một ngoại lệ là Thượng nghị sĩ McCain, là người đã cùng John Kerry tạo ra sự đả thông trong lịch sử ngoại giao để bình thường hoá quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ.
Điều mỉa mai là hai nước chúng ta (sic) trên thực tế đã là đối tác để phát triển giao thương và ngăn chặn sự bành trướng của Trung Hoa ở Thái Bình Dương. Tôi cầu nguyện cho mối quan hệ đối tác giúp chúng ta trong nghĩa vụ làm hết sức mình để điều trị cho các bệnh nhân nhiễm chất độc da cam và tháo gỡ bom đạn còn sót trên chiến trường tránh cho thường dân những cái chết và thương tật.
Còn đây, là một mâu thuẫn đau lòng mà chúng ta phải đối diện. Hàng trăm ngàn quân nhân Nam Việt Nam mà chúng ta trả lương, huấn luyên và đẩy vào chỗ chết dưới sự chỉ huy của chúng ta (?). Nhưng danh dự của họ chưa bao giờ được thừa nhận. Lý do mà chính phủ không thưa nhận là vì ngại sẽ có một chính sách mới giúp cho gia đình họ được hưởng trợ cấp. Những thuyền nhân được vinh danh, nhưng không vinh danh những người đãhy sinh cho chúng ta (?). Sự hàn gắn đòi hỏi phải kính trọng những người ở phiá này, từ chính quyền Hà Nội và chính phủ Hoa Kỳ.
Những người Lào và Cam Bốt cũng bị xoá nhoà trong tâm trí chúng ta.
Tôi hỏi quý vị, chúng ta không là cựu binh Việt Nam theo cách của chúng ta sao? Chúng ta không bị gạt và chia rẽ bởi chính phủ đó sao? Có phải đó là kinh nghiệm được chia sẻ của thế hệ chúng ta rằng chúng ta đã bị lợi dụng song phương không? Và ai là người gánh lấy trách nhiệm, chúng ta ở lứa tuổi đôi mươi hay là những kẻ đầy quyền lực? Hãy tự phán xét lấy.
 Tiến sĩ Kissinger - người đã đứng trên đỉnh cao quyền lực mà vận hành trong suốt các cuộc chiến tranh Đông Dương, người đã bào chũa cho giới chính trị gia - phải nhận lãnh trách nhiệm mà ông đã mang lấy. Bản thân tôi muốn có cuộc đối thoại đúng nghĩa với ông Kissinger, cuộc đối thoại đòi hỏi sự ngay thẳng về vai trò ông ta đã đóng. Tôi đã tỏ sự hối hận về phần tôi đối với những quyết định mà phong trào hoà bình đã làm ra, và chờ đợi sự thừa nhận và lời xin lỗi từ ông Kissinger.Chương trình hội thảo này tạo cơ hội cho sự hàn gắn. Vì cơ hội này đã không xảy ra, tôi buộc phải từ chối lời mời ăn tối với ông Kissinger tối ngày 26 tháng 4, 2016.
Nguyên văn
REMARKS BY TOM HAYDEN TO THE VIETNAM WAR SUMMIT, LBJ PRESIDENTIAL LIBRARY, AUSTIN, TEXAS, APRIL 26, 2016
THE POWER OF PROTEST, RESTORING THE MEMORY OF THE PEACE MOVEMENT
Thank you Mark Updegrove, Director of the LBJ Library
Thank you Colonel Mark Franklin, Chief of History and Legacy at the Pentagon's Vietnam Commemoration Office
Thank you Jim Knotts & Reema Ghazi, from the Vietnam Veterans Memorial Fund
Thank you Jim Popkin for reaching out at the beginning of this process
Thank you for your gracious invitation to this significant opportunity for introspection into the Vietnam War and its peace movement opposition. The reconstructions of our legacies live on. I myself have just finished my third book on Vietnam, to be published next year by Yale University Press, tentatively titled "Vietnam and the Power of Protest." My earlier books appeared decades ago: "The Other Side", with Staughton Lynd [1966, New American Library, 1966], and "The Love of Possession Is a Disease with Them" [Holt Rinehart Winston, 1972.] I also have taught Vietnam classes at Immaculate Heart College, Pitzer and Scripps colleges in Claremont, and a seminar with Democratic staff in the US House of Representatives. Currently, I am excited by the works of Viet Thanh Nguyen, on memory and forgetting, for which he won a Pulitzer Prize this month for his novel, The Sympathizer.
The debate over the War and anti-war movement is still alive. Last year 1000 peace activists gathered at the New York Avenue Presbyterian Church and the Martin Luther King Memorial in Washington D.C. to challenge and engage with the Pentagon's narrative of the war, which we considered to be unbalanced. Those discussions, held at Fort Myer, have been fruitful, unresolved, and ongoing. I note the presence here today of Joe Galloway, who took part in that first Fort Myer's dialogue.
Today I am distributing a new House of Representatives Resolution by Rep. Barbara Lee, a peace and justice leader over many years, which commemorates the 50th anniversary of the Vietnam War and the movement to end it. The resolution reads in part that, "The movement to end the Vietnam War was one of the largest and most prolonged efforts to achieve peace and justice in many generations and war critical to bringing and end to the war."
There is no question of our impact. We helped turn two presidents out of office. We ended military conscription. Year after year, our numbers in the streets grew until it reached millions and became the largest peace movement in our country's history. The peace movement was not unlike the "general strike" described by W.E.B. Dubois in his history of Reconstruction. It included resistance and walkouts among our troops from military bases to battleships. It spread through communities of color, African-American, Puerto Rican, Latino, Native American, and Asian-American, and from there to campus communities in unprecedented student strikes and moratoriums. While hippies were being demonized, they too were withdrawing from what they considered a repressive and militarized culture.  The movement led as well to the opposition of many Democrats and not a few Republicans. The military, the universitie,s and the political order were shaken by the withdrawal of millions from their first attachment to the status quo. American women withdrew from militarism and helped lead the anti-war movement too, as did so many then-closeted LGBT people.  The whole phenomenon deserves greater respect and serious research at future conferences like this.
Though many Americans will agree with this assessment, many others hold firm to the belief expressed by President George H.W. Bush after the first Gulf War in 1991 that "By God, we've kicked the Vietnam Syndrome once and for all." Thousands of Americans and millions of Iraqis later died in this war to stamp out a syndrome, which President Bush likened to a mental disorder.
The fundamental reason for these persistent efforts to reclaim victory in Vietnam is a fear in many politicians and their national security advisers of accepting our defeat in 1975. Many of us would argue that the Vietnam war was doomed to failure as early as 1946 when our government armed the French for their march to folly at Dienbienphu, then blocked the nationwide elections promised by the Geneva Accords of 1954.
An official acceptance of defeat in battle, a kind of Custer Syndrome, would lead to a reputational loss as well a painful acknowledgement to military families that their sons fought honorably but under misguided policies imposed by a bipartisan caste of politicians. The political corollary at home was a frightening threat to our own democracy, from McCarthyism to Watergate to COINTELPRO.
This backlash continues today. I felt it was astonishing that our Secretary of State, John Kerry, who was a founding member of Vietnam Veterans Against the War [VVAW] was viciously ‘swift-boated’ out of the presidential race in 2004. He suffered wounds in actually fighting communist forces while so many others in office sat home and enjoyed their immunity. An exception that fought and suffered was Senatir John McCain, who went on with Kerry to a historic diplomatic breakthrough when the US-Vietnam relationship was normalized.
The irony is that our two countries are in a de facto partnership to promote trade and limit China's expansionism in the Pacific.  I myself pray that the partnership fulfills our obligation to do everything possible to treat Agent Orange victims and remove the unexploded ordinance that continues to wound or kill this generation of Vietnamese civilians.
Here is another painful contradiction we must confront. Hundreds of thousands of South Vietnamese troops were paid for, trained and sent to their deaths under our command, but their honor has never been recognized. One reason that our own government does not recognize their fate is that such a change in policy would entitle their families to benefits. The Boat People are honored, but not the Saigon troops who sacrificed for us. Reconciliation requires respect for their side, from Hanoi to Washington DC.
 The people of Laos and Cambodia are receding from our memory as well.
I ask you, are we not all Vietnam veterans in our own way? Were we not all lied to and divided by our government? Isn't the shared experience of our generation that we were mutually manipulated into that cauldron? And who was responsible, those of us in our twenties or those who were in power? Judge for yourselves.
Dr. Henry Kissinger, who operated from the very pinnacle of power during those Indochina Wars, and who defended the establishment throughout, must especially reflect on the responsibilities he carries. I personally would welcome a real dialogue with Dr. Kissinger, which requires a frank admission of the part one played. I personally regret my own part in many decisions the peace movement made, and await an acknowledgement and apology from Dr. Kissinger as well. This conference offers a great opportunity for inner reconciliation. In the absence of that opportunity, I must decline your invitation to the dinner with Dr. Kissinger on April 26.
In gratitude,
TOM HAYDEN 
Michael Do (Do Van Phuc)
Trung Quốc không cho một hàng không mãu hạm Hoa Kỳ cập cảng Hong Kong, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nói.
Tàu USS John C Stennis chạy bằng năng lượng hạt nhân cùng các tàu hộ tống đã bị chặn không được vào cảng hôm thứ Sáu.
Phía Hoa Kỳ nói họ trông đợi là chuyến đi riêng rẽ của một tàu Mỹ khác, USS Blue Ridge, sẽ được tiếp tục bình thường.
Cuộc tranh cãi về sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Biển Đông đã gây ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc trong những năm gần đây.
Yêu cầu của phía Mỹ theo đó muốn tàu USS John C Stennis được cập cảng đã bị từ chối bất chấp "hồ sơ theo dõi từ lâu nay cho thấy đã có nhiều chuyến ghé thăm thành công tới Hong Kong", phát ngôn nhân Ngũ Giác Đài Bill Urban nói với hãng tin Reuters.
Tàu USS Blue Ridge đã vào Hong Kong vào đầu giờ sáng hôm thứ Sáu, Reuters tường thuật.
Phía Trung Quốc không đưa ra bất kỳ lý do chính thức nào về việc từ chối tàu USS John C Stennis.
Tàu này đã đi lại trong khu vực Tây Thái Bình Dương từ vài tháng qua.
Hồi đầu tháng, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ash Carter đã lên tàu USS John C Stennis để tỏ ý ủng hộ các đồng minh trong khu vực.
"Việc một hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ có mặt trong khu vực không phải là chuyện gì mới," ông nói hôm 15/4. "Điều mới ở đây là bối cảnh căng thẳng đang diễn ra, là điều mà chúng tôi muốn giảm bớt."
Hồi đầu tháng, Hoa Kỳ và Philippines đã đồng ý tiến hành tuần tra chung ở Biển Đông.
Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết vùng biển này và đã ngày càng quyết liệt trong việc khẳng định vấn đề này