Tuesday, May 31, 2016

Bài viết hay(3431)



Từ một bài viết của Phạm Chí Dũng, Cam Ranh đang trở thành tâm điểm quan tâm của dư luận trong nước và cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Sáng nay, mấy ông ở Bolsa xúm vô "tám" rằng: Các máy bay tiêm kích MiG-21, MiG-17 sơn phù hiệu KQND Việt Nam đã xuất hiện trong sự kiện Tuần lễ Hải quân Mỹ diễn ra ở New York. Hà Nội sẽ cho phép tàu thuyền Hoa Kỳ được đồn trú tại Cam Ranh. Một chi tiết được giới quan sát ghi nhận là trong cuộc viếng thăm của Tổng thống Mỹ vào tháng 5/2016, trong lúc Obama luôn tươi cười và thoải mái, gương mặt giới lãnh đạo cao cấp Việt Nam lại luôn toát lộ vẻ lo lắng và căng thẳng. Có người giải thích: cuối cùng thì những quan chức này đã buộc phải quyết định việc không thể mãi đu dây và cách nào đó trở thành “đồng minh” của Mỹ, nhưng vẫn lo ngay ngáy sẽ làm cho Bắc Kinh nổi giận.
Ứng viên tổng thống của đảng Cộng hoà Donald Trump.
Việt Nam sẽ ra sao nếu Donald Trump trở thành Tổng thống Mỹ ? 

Mặc dù Donald Trump nhận được sự ủng hộ khá nhiệt liệt của các cử tri thuộc đảng Cộng Hoà trong các cuộc bỏ phiếu sơ bộ để trở thành ứng cử viên chính thức của đảng, viễn ảnh ông trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ vẫn khiến nhiều chính khách cũng như giới bình luận chính trị cảm thấy hãi hùng.
Ngay cả những người cùng đảng Cộng Hoà với ông cũng hãi hùng. Hai cựu Tổng thống Cộng Hoà, George H.W. Bush và George W. Bush cũng như ứng cử viên đảng Cộng Hoà trong kỳ bầu cử năm 2012, Mitt Romney tuyên bố không tham dự đại hội đảng vào tháng 7, lúc Trump chính thức trở thành đại diện của đảng trong kỳ bầu cử Tổng thống vào tháng 11. Chủ tịch Hạ Viện Paul Ryan, thuộc đảng Cộng Hoà, cho đến nay vẫn từ chối lên tiếng ủng hộ Trump. Nhiều tên tuổi lớn khác trong đảng giữ thái độ dè dặt.
Tại sao?
Có bốn lý do chính.
Thứ nhất, người ta cho Trump chỉ phát ngôn mị dân, ồn ào và bừa bãi chứ không có một chính sách gì rõ rệt. Mà nếu có, phần lớn những chính sách ấy đều bất khả thi (như dựng hàng rào dọc theo biên giới Mỹ và Mexico; trục xuất hết tất cả những di dân bất hợp pháp và cấm không cho người Hồi giáo vào nước Mỹ; sát hại gia đình của các tên khủng bố). Nếu thi hành được, những chính sách ấy sẽ chỉ gây ra những hậu quả bất lợi cho nước Mỹ.
Thứ hai, những chính sách của Trump thường đi ngược lại với các nguyên tắc chủ đạo của đảng Cộng Hoà lâu nay: Trong khi đảng Cộng Hoà chủ trương giảm thuế, Trump lại chủ trương tăng thuế của những người giàu có; trong khi đảng Cộng Hoà chủ trương tự do mậu dịch, Trump chủ trương áp đặt nhiều lệnh cấm lên các hoạt động thương mại với nước ngoài; trong khi đảng Cộng Hoà chủ trương đóng vai trò người hùng trên thế giới, khi cần, sẵn sàng tuyên chiến với các nước khác để bảo vệ quyền lợi của nước Mỹ, Trump theo chủ nghĩa biệt lập (isolationism), giảm các hành động can thiệp vào sinh hoạt chính trị của thế giới, v.v…
Thứ ba, người ta không tin Trump có thể đánh bại được Hillary Clinton trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng vào tháng 11 tới. Cách ăn nói bỗ bã của Trump làm mất lòng nhiều giới như cộng đồng những người nói tiếng Tây Ban Nha, những người Hồi giáo, phụ nữ và giới trí thức nói chung. Theo các cuộc điều tra, hầu hết những người vừa nêu đều không có ý định bỏ phiếu cho Trump.
Cuối cùng, thứ tư, người ta không tin Trump xứng đáng nắm vai trò tổng tư lệnh của siêu cường quốc số một trên thế giới về cả phương diện đạo đức lẫn trí thức. Dưới mắt nhiều người, ông là người kỳ thị chủng tộc và kỳ thị phái tính. Ông không giấu sự ngưỡng mộ của ông đối với cả Hitler lẫn Mussolini. Ông từ chối lên án các phong trào kỳ thị chủng tộc tại nước Mỹ. Ông cũng không có kinh nghiệm và kiến thức về chính trị quốc gia cũng như thế giới.
Cũng vì các lý do nêu trên, hầu hết các nhà lãnh đạo châu Âu đều lo lắng trước viễn ảnh Donald Trump trở thành tổng thống Mỹ. Nhiều dân biểu Quốc Hội Anh đề nghị cấm không cho Trump nhập cảnh vào nước họ.
Tháng 12, 2015, Thủ tướng Anh, David Cameron, thẳng thắn gọi các chính sách của Trump là “sai lầm, ngu xuẩn và gây chia rẽ”. Giới lãnh đạo các nước khác, không nói thẳng ra, nhưng đều nhìn Trump một cách đầy lo ngại. Dưới mắt họ, nguy cơ Trump trở thành một tên phát xít là rất lớn.
Tuy nhiên, ở đây, chúng ta chỉ nên tập trung vào Việt Nam: Đất nước chúng ta sẽ ra sao nếu Donald Trump được bầu làm Tổng thống nước Mỹ?
Theo tôi, có hai điều quan trọng sẽ xảy ra:
Thứ nhất, về phương diện kinh tế, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vốn đã được ký kết và đang chờ Quốc Hội thông qua sẽ khó biến thành hiện thực. Xin lưu ý là cả Hillary Clinton lẫn Donald Trump đều phản đối hiệp định này. Nhưng mức độ phản đối của hai người khác nhau: Bà Clinton chỉ phản đối một số nội dung của hiệp định còn ông Trump thì phản đối bản thân hiệp định. Trump từng nhiều lần buộc tội Trung Quốc, Ấn Độ và cả Việt Nam nữa, đang “đánh cắp” nhiều thứ từ nước Mỹ, trong đó, có việc làm của người Mỹ. Ông bảo ông không “tức giận” các nước ấy, ông chỉ “tức giận” với sự lãnh đạo “thiếu hiểu biết” và “bất tài” của chính phủ Mỹ hiện nay. Ông doạ sẽ tăng thuế đối với hàng hoá nhập từ Trung Quốc và cũng sẽ tăng thuế đối với các công ty Mỹ mở chi nhánh sản xuất ở nước ngoài để tận dụng giá nhân công rẻ. Với quan điểm như thế, rất khó hy vọng Trump sẽ thúc đẩy việc hiện thực hoá Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương mà Mỹ đã ký kết với 11 quốc gia khác, trong đó, có Việt Nam (các quốc gia khác ấy là Brunei, Canada, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Nhật Bản, Peru, Singapore và Úc.)
Thứ hai, về phương diện chính trị, Mỹ có thể sẽ không can thiệp vào những tranh chấp trên Biển Đông của Việt Nam. Phương châm tranh cử của Trump là tập trung giải quyết các vấn đề của Mỹ trước, chuyện thế giới tính sau. Ở châu Âu, Trump tuyên bố sẽ rút khỏi, hoặc nếu không, sẽ giảm bớt vai trò của Mỹ trong khối NATO trừ phi các quốc gia Âu châu tăng thêm ngân sách quốc phòng để có thể tự bảo vệ được chính họ. Ở châu Á, Trump chỉ nhìn Trung Quốc như một sự đe doạ về kinh tế chứ không phải về phương diện chính trị. Ông đòi Nhật Bản và Hàn Quốc phải trả thêm các chi phí cho việc Mỹ đóng quân trên nước họ. Hơn nữa, ông cho cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc nên phát triển vũ khí hạt nhân để tự họ, họ có thể đối đầu với Trung Quốc. Như vậy, khi lên cầm quyền, rất có nhiều khả năng Trump sẽ huỷ bỏ chính sách xoay trục về châu Á và sẽ không can thiệp vào các tranh chấp giữa Trung Quốc và một số quốc gia khác, trong đó, có Việt Nam, tại Biển Đông.
Với cả hai chính sách nêu trên, việc Donald Trump được bầu làm tổng thống nước Mỹ sẽ là một tai hoạ cho Việt Nam.
Chúng ta chỉ hy vọng khi thực sự lên cầm quyền, dưới áp lực của các cố vấn, các tướng lãnh và đặc biệt, của Quốc Hội, ông sẽ không thực hiện những điều ông tuyên bố lúc tranh cử.
Hy vọng vậy.
Nguyễn Hưng Quốc
Việt Nam, những tâm hồn hung hãn
Tổng thống Obama phát biểu tại một cuộc họp báo ở Hà Nội, ngày 23/5/2016.
Tổng thống Obama phát biểu tại một cuộc họp báo ở Hà Nội, ngày 23/5/2016.


Có một bình luận trên VOA ở bài viết kỳ trước khiến tôi suy nghĩ khi người đọc bị bất ngờ trước một câu viết của tôi rằng “Thật khó để Việt Nam trở thành một đất nước dân chủ.” Thật ra tôi cũng rất đắn đo khi có suy nghĩ như vậy, nhưng bởi bản thân tôi cũng giật mình trước thái độ của dân chúng đối với sự có mặt của Tổng thống Obama tại đất nước mình trong những ngày vừa qua.
Tôi rất muốn đặt một câu hỏi thẳng thắn rằng: “Sẽ có sự thay đổi lớn nào xảy ra tại chính đất nước mình, sau khi Obama rời khỏi Việt Nam?” Hay tất cả chúng ta rồi sẽ quay lại cuộc sống bình thường như vừa đón đưa xong một ban nhạc thần tượng Hàn Quốc? Liệu có ai để ý xem  báo chí quốc tế nhận định gì về cuộc viếng thăm của tổng thống Mỹ hay chỉ đơn giản lướt qua vài cái tít tâng bốc của truyền thông trong nước? Dân Việt hồ hởi bởi sự có mặt của tổng thống Mỹ vì lẽ gì? Vì nước Mỹ giàu có? Vì nước Mỹ thân thiện? Sự thịnh vượng lên xuống theo thời. Nếu nói về phát triển kinh tế, chính Hoa Kỳ đang cực kỳ e ngại cường quốc Trung Hoa. Sự thân thiện? Đó là một chiêu bài PR không hơn không kém Chưa kể nếu các bạn muốn tìm hiểu về chính trị Mỹ, họ luôn muốn hướng tới hình ảnh của một đất nước thích khoa trương về sức mạnh. Chính vì vậy, sự thân thiện của Obama trở thành một hiện tượng và không ít người Mỹ tỏ ra bất đồng với sự nhún nhường quá mức của ông.
Dân chúng Việt niềm nở với Obama, chứ không phải Bush hay Clinton, bởi ông là người quyết định bãi bỏ cấm vận vũ khí đối với Việt Nam trong khi không làm như vậy với Trung Quốc. Vậy là đa số chúng ta hả hê nghĩ rằng không còn phải sợ tay Tập Cận Bình dòm ngó đến biển đông nữa bởi Việt Nam giờ đã có Obama làm bạn, đã có Obama hỗ trợ, đã có vũ khí từ đất nước hùng cường bậc nhất thế giời. Chúng ta hồ hởi với Mỹ để xù lông hung hãn với nước láng giềng. Nên nhớ, nước Mỹ luôn luôn là đất nước 2 mặt. Nếu trong số các bạn có đọc về thể chế tư bản, thì Hoa Kỳ là một quốc gia đầy cơ hội. Chính nước Mỹ quay lưng lại với đồng minh Anh Quốc trong cuộc tranh chấp kênh đào Suez giữa Anh và Ai Cập năm 1956 để dễ dàng tiếp cận với lượng dầu khổng lồ tại Saudi Arabia.
Báo The New York Times ngày 24 tháng 5 có đăng bài với tựa đề “As Obama Presses Vietnam on Rights, Activists Are Barred From Meeting”. Trong bài báo đưa rất rõ ràng cụ thể về 3 nhà hoạt động nhân quyền có tiếng nói tại Việt Nam mà tôi cũng đã đề cập đến trong một bài viết trước bao gồm ông Nguyễn Quang A, blogger Phạm Đoan Trang, và luật sư Hà Huy Sơn. Ông John Sifton của Human Right Watch nhận định rằng sự cấm đoán hay ngăn cản các nhà hoạt động xã hội đến gặp với Tổng thống Obama không chỉ là hành động xúc phạm đến ông mà còn là xâm phạm đến quyền con người khi tước đoạt quyền tự do thể hiện ý kiến cá nhân. Bài báo không chỉ đơn giản là đưa thông tin, 2 tác giả Gardiner Harris và Jane Perlez tỏ rõ thái độ và quan điểm qua từng câu chữ. Họ tường trình về 2.300 thính giả ăn mặc đẹp đẽ, ngồi ghế nhung đỏ và chắc chắn hầu hết đã được chính phủ sàng lọc, reo hò mừng rỡ khi Obama xuất hiện. Họ reo lên một lần nữa khi ông nói: “Việt Nam là một đất nước độc lập tự chủ, và không một đất nước nào có thể thay đổi điều đó,” như một ám chỉ liên quan đến Trung Quốc, đã từng tự tuyên bố chủ quyền biển Đông. Tuy nhiên, cả khán phòng im bặt khi ông đề cập các chủ đề về thực thi chủ quyền.
Chúng ta im lặng, bởi hoặc là chúng ta không biết, hoặc không ai quan tâm, hoặc quá mơ hồ về vấn đề đó. Obama cũng nói một câu rất tâm đắc rằng “Đất nước các bạn phải dựa vào chính mình.” Nhưng có vẻ lời nói ngắn ngủi ấy vẫn chưa đủ thấm. Với một đất nước mà nhân quyền còn là một vấn đề nhức nhối thì việc tự do mua bán vũ khí sẽ trở thành một vấn đề đáng lo ngại hơn vui mừng. Tôi nhấn mạnh lại câu hỏi của mình một lần nữa, rằng sẽ có sự thay đổi lớn nào xảy ra tại chính đất nước mình, sau khi Obama rời khỏi Việt Nam? Khi mà chính quyền đã tự chứng minh rằng họ không xứng đáng với mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ bằng những hành động cấm đoán như trên, và bản thân dân chúng thì hung hãn vô cùng trong những lời chê bai cô bé sinh viên trẻ tuổi mặc áo dài vàng cầm đóa hoa thập cẩm tặng ngài tổng thống, hay chỉ trích ông cán bộ nhà nước đi công được bác bảo vệ cõng qua làn nước ngập mùa mưa Hà Nội?Hoàng Giang
 Ẩn số lớn nhất trong chuyến đi VN của Obama bắt đầu được giải mã

Bài viết hay(3430)

Sáng nay, mấy ông ở Bolsa xúm vô "tám" rằng:Sở dĩ VC cho người Việt Nam tha ho coi phim "'mì ăn liền", xem văn nghệ, thể thao, sex... là nhằm ru ngủ.người dân, khi suốt cả ngày dán mắt vào màn hình tivi thì không còn tinh thần chống đối, không còn muốn xuống đường biểu tình phản đối. Y như thực dân Pháp!
Đâu là nguyên nhân gây nên tình trạng hiểm họa này?
 “…Mầm mống âm mưu xâm chiếm và đồng hóa Việt Nam của giới lãnh đạo Bắc Kinh gặp được mảnh đất phì nhiêu là sự tham lam đến tối mắt, sự yếu kém đến hèn hạ của của giới lãnh đạo Việt Nam…”
bieutinh1
Cái gì phải đến nó sẽ đến. Cuộc khủng hoảng môi trường hiện nay ở Việt Nam là điều tất yếu, nó không nổ ra vào tháng 4/2016 thì ở một thời điểm nào đó nó vẫn sẽ xảy ra. Ô nhiễm môi trường đang lan tràn rộng khắp trên toàn cõi Việt Nam, từ biển cả đến sông ngòi, từ đồng bằng ngập mặn đến đồi núi không còn rừng, từ thành phố đến nông thôn, thi nhau chặt cây, bê tông hóa gây nên bầu không khí đặc quoánh với thủy ngân và bụi bẩn, đấy là chưa kể đến nạn thức ăn nhiễm độc đe dọa đời sống hàng ngày của mỗi người dân. Khắp nơi đã bắt đầu nghe nhiều tiếng kêu ai oán. Mỗi người dân Việt Nam đều đã nhận thức được rằng không ai được miễn trừ trong tai họa chung này của đất nước.
Vậy câu hỏi đặt ra là ai đã gây ra và đâu là nguyên nhân gây nên tình trạng hiểm họa này cho dân tộc và đất nước Việt Nam?
Ở mỗi một sự vụ, ta có thể dễ tìm thấy một đối tượng là tác giả, thí dụ như trong vụ biển chết và cá chết tại Hà Tĩnh, chúng ta có thể  luận nhà máy thép Formosa là tác giả của việc xả thải độc ra biển gây ra. Chính người phát ngôn của nhà máy đã công nhận đều đó : « Việt Nam muốn chọn cá hay chọn thép ?».
Nhưng, ở tất cả các sự vụ gây nên cuộc khủng hoảng toàn diện về môi trường hiện nay, ai cũng có thể nhận thấy rằng không ai khác đó là :  Sự tham lam, đầu óc tăm tối của giới lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp ; âm mưu hòng tiêu diệt dân tộc Việt Nam của giới cầm quyền Bắc Kinh là nguyên nhân gián tiếp.
1. Sau 71 năm lãnh đạo ở miền Bắc và 41 năm sau thống nhất, đảng cộng sản Việt Nam đã để lại cho thế hệ tương lai con cháu một gia tài « rất ngộ », như lời thơ của cô giáo Trần thị Lam. Rừng đã hết mà biển thì đang chết. Mỗi đứa trẻ sinh ra gánh nợ nần ông cha để lại. Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu.
Họ rất biết để tình trạng đất nước như hiện nay lỗi là do họ. Nhưng họ không hề muốn chia sẻ quyền lực, vì họ vẫn còn tham lam, mất hết tình thương đồng loại và nhất là họ còn bị tăm tối bởi những thứ chủ nghĩa không tưởng, ngoại lai.
Điều nguy hiểm họ là tập thể nên không ai chịu nhận trách nhiệm cá nhân. Không phải lỗi của tôi, đó là tâm lý chung của toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nguy hiểm hơn nữa, để duy trì quyền lực họ đã biến người dân thành kẻ thù. Những cá nhân có đầu óc thay đổi đều bị trừng trị, những người dân đứng lên đều bị đàn áp không nương tay.
Bộ Chính trị và trung ương đảng cộng sản Việt Nam dường như là một tập thể tham lam và tăm tối. Ít ai tự vấn lương tâm để thoát khỏi sự tham lam tập thể. Ít ai tự vấn lương tâm để có thể đặt tình thương đồng bào lên trên hết. Tất nhiên, không phải tất cả họ đều tham lam và tăm tối. Thí dụ ông Nguyễn Phú Trọng, ta có thể thấy rõ ràng ông hơi bị tăm tối, nhưng ít thấy ông tham lam. Thí dụ Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thì không thể coi là tăm tối, nhưng ông bị khóa bởi sự tham lam tập thể. Nhưng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thì quả thật ông là một người có đầy đủ sự tham lam, tăm tối và thủ đoạn.
Nếu các ông là người dân bình thường, sự chỉ trích nêu trên là xấu, nhưng các ông đang nắm vận mệnh của cả một đất nước, cả một dân tộc 90 triệu đồng bào, thì những chỉ trích như vậy thật là đích đáng.
Người phụ nữ trong cuộc biểu tình tại Hà nội ngày 8/5/2016, đã nói với đám công an, an ninh đang ngăn cản : « Các anh có biết không, họ (giới lãnh đạo) giàu vô biên luôn, họ cho con cái đi học ở Mỹ hết, chỉ còn lại các anh đi ngăn cản chúng tôi thôi, họ sẽ gọi chúng ta là đồ ngu ». Cảm ơn người phụ nữ này đã nói thay cho đông đảo người dân.
Tại sao họ giàu vô biên? Sự yếu kém  trong quản lý dẫn họ đến với những tham lam tột độ trong việc sử dụng quyền lực để giành về quyền lợi tối đa. Những dự án kếch xù bán rẻ đất nước, cho thuê Hà tĩnh với giá rẻ mạt trong những 70 năm (một đời người). Bán rẻ lợi ích của đồng bào, chặt cây để xây đường tàu cho công ty Trung Quốc, xây tượng đài ngàn tỷ, trong khi đó bệnh viện hai ba bệnh nhân một giường nằm. Vân vân và vân vân.
Cô giáo Trần Thị Lam ý thức được rõ ràng nguyên nhân tại sao đất nước mình ngộ, nhưng với một trái tim nhân hậu, cô giáo chỉ dừng lại ở mức hỏi :
« Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu »
Nhưng cũng chẳng cần phải hỏi lên trời xanh, hãy hỏi thẳng người dân Việt Nam, họ đều có thể trả lời chắc nịch rằng: đảng cộng sản Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp gây nên tình trạng đất nước như hiện nay.
2. Đôi lúc ta tự nghĩ, có khi dân tộc mình còn đau khổ hơn dân tộc Khơ me. Pôn Pốt đã diệt chủng ba triệu đồng bào mình, nhưng dân tộc Khơ me chỉ đau một lần, chết một lần, trong một thời gian ngắn. Còn dường như dân tộc Việt Nam đang chết trước khi chết, chết dần dần, từ từ, dai dẳng và sẽ chết cho đến hết.
Nói như vậy để ta có sự so sánh dễ hiểu, chứ khó có người dân Việt Nam làm chấp nhận như vậy. Họ sẽ đứng lên nắm lấy vận mệnh của mình. Thật vậy, giờ đây mỗi người dân Việt Nam đã nhận ra được độ trầm trọng của sự kiện cá chết miền Trung. Cái chết đang đe dọa không chừa một ai. Mọi người đã lo ngại cho mình, cho gia đình mình. Cao hơn, có người đã lo ngại cho một sự diệt chủng, sự mất nước.
Hễ ai quan tâm đến vận mệnh đất nước đều không quên lời cảnh báo của ông cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch : « Thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu ».
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một cuộc đấu tranh lâu dài chống lại sự lệ thuộc của một nước nhỏ vào một nước lớn láng giềng. Cuốn lịch sử này từ ngàn xưa cho đến khi có đảng cộng sản Việt Nam là một lịch sử vinh quang, hào hùng. Tiếc thay, chủ nghĩa cộng sản ở thấm vào và sinh sôi tại Việt Nam, làm sói mòn tinh thần bất khuất của dân tộc.
Nguy cơ mất nước và diệt chủng dân tộc đang hiện hữu. Giới cầm quyền Bắc kinh chẳng khi nào từ bỏ dã tâm đồng hóa dân tộc Việt Nam. Đây là cơ hội thuận lợi nhất cho họ để thực hiện kế hoạch mà từ ngàn đời nay người Trung Quốc không thể thực hiện được.
Một cuộc chiến tranh không dùng súng đạn đang được nhà cầm quyền Trung Quốc thực hiện thắng lợi tại Việt Nam. Họ chỉ cần nắm phần chóp bu trong giới lãnh đạo Việt Nam, thì tất cả mọi thứ nằm trong sự khống chế và ý muốn của họ. Họ đang dùng người Việt Nam giết người Việt Nam, đang dùng đảng cộng sản Việt Nam để giết dân tộc Việt Nam.
Lời cảnh báo của ông Thạch đang trở nên dễ dàng nhận biết hơn bao giờ hết. Tiếc thay toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam hoặc quá tham lam, quá tăm tối hoặc đang quá hèn hạ để giả vờ bỏ qua lời cảnh báo này.
Diệt chủng không phải là một sự kiện mà là một quá trình. Điều mà người Trung Quốc đang thực hiện tại Việt Nam, thông qua sự đồng lõa của giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, dường như có thể coi là một cuộc diệt chủng. 
Mầm mống âm mưu xâm chiếm và đồng hóa Việt Nam của giới lãnh đạo Bắc Kinh gặp được mảnh đất phì nhiêu là sự tham lam đến tối mắt, sự yếu kém đến hèn hạ của của giới lãnh đạo Việt Nam, để cuối cùng hậu quả thì toàn bộ nhân dân Việt Nam phải gánh chịu.
Ấy vậy nên, khi xảy ra sự kiện cá chết miền Trung 4/2016, mọi công dân Việt Nam cả ở trong lẫn ngoài nước đều uất ức. Họ căm thù giới lãnh đạo Trung Quốc trăm lần, thì oán hận các vị lãnh đạo Việt Nam ngàn lần. Không biết các vị lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã nhận ra điều này chưa? Mong lắm các vị hãy quay về với nhân dân mình, dân tộc mình.
Genève, 18/5/2016
Đặng Xương Hùng
Khi thiên triều sụp đổ và lịch sử sang trang
Khi nhận định về Trung Quốc các chuyên gia thường quên hai điều rất cơ bản. Một là Trung Quốc là một thế giới hay một đế quốc - hay một thiên hạ theo cách nói của người Trung Quốc- chứ không phải là một nước, do đó không thể lý luận và dự đoán về nó như người ta thường làm với một quốc gia. Hai là Trung Quốc vốn sẵn có một văn hóa nghi lễ lấy hình thức để tạo ấn tượng về nội dung, có khi để che giấu nội dung. Văn hóa này đã được tăng lên nhiều lần dưới chủ nghĩa cộng sản mà một đặc tính nền tảng là che đậy sự thực.
Cho đến nay thực trạng Trung Quốc đã được che đậy dưới lớp vải điều hào nhoáng của một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ngoạn mục khiến nhiều người quên rằng kinh tế không phải là vấn đề nghiêm trọng nhất của Trung Quốc.
Kinh tế Trung Quốc hết thuốc chữa
Hãy nói ngay về lớp vải điều đó. Trong gần ba thập niên Trung Quốc đã gây kinh ngạc cho thế giới vì tỷ lệ tăng trưởng liên tục trên 10%. Tỷ lệ này được hạ xuống 8%, rồi 7% trong những năm gần đây. Các con số chính thức của Trung Quốc dĩ nhiên là không chính xác nhưng điều có thể thấy được là hàng hóa Trung Quốc đã tràn ngập các thị trường thế giới, các công trình xây dựng hoành tráng và các cao ốc đồ sộ mọc lên khắp nơi, tư bản Trung Quốc đầu tư vào mọi quốc gia, từ Châu Phi đến Châu Âu, Châu Mỹ qua Việt Nam, Lào và Campuchia. Ảnh hưởng Trung Quốc tỏa rộng. Có những dự đoán theo đó Trung Quốc sẽ qua mặt Mỹ trong một tương lai gần.
Nhưng rồi bắt đầu có những ngờ vực. Năm 2001 có cuốn sách The Coming Collapse of China (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) gây được tiếng vang lớn. Bạn bè đã tóm lược cho tôi cuốn sách này ; nó sai vì phạm một trong hai sai lầm cơ bản đã được nói ở đầu bài này nghĩa là lý luận về Trung Quốc như một quốc gia. Dần dần quan điểm của các quan sát viên về Trung Quốc thay đổi hẳn. Mới đầu người ta tự hỏi liệu Trung Quốc có thể lâm vào khủng hoảng không ? Rồi Trung Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng lúc nào ? Và bây giờ câu hỏi đặt ra là Trung Quốc sẽ còn che đậy được tình trạng suy thoái bao lâu nữa và lúc đó tương lai Trung Quốc sẽ ra sao ?
Tất cả những đèn báo động đều đã đỏ rực. Nợ công của Trung Quốc được ước lượng bởi mọi định chế thẩm định (rating agencies) là ở mức 300% GDP, nghĩa là cao một cách nghiêm trọng. Nhưng con số này có thể chỉ là một phần của sự thực bởi vì không bao gồm những khoản nợ không chính thức hoặc không hợp pháp đầy rẫy trong xã hội Trung Quốc. Thí dụ như tình trạng tuyệt đại đa số các công ty nhà nước lớn mượn tiền của ngân hàng trung ương với lãi suất ưu đãi rồi cho các công ty nhỏ hoặc tư nhân vay lại với lãi suất cao, hay phần lớn các chính quyền địa phương không khai đúng số nợ.
Kinh tế Trung Quốc dựa trên xuất khẩu nhưng xuất khẩu đã giảm hẳn từ sau cuộc khủng hoảng 2008. Trong năm 2014 vừa qua, ngoại thương Trung Quốc đã sụt 11% (xuất khẩu giảm 3,3%, nhập khẩu giảm 22%), dầu vậy tỷ lệ tăng trưởng chính thức vẫn là 7,3%. Nhưng làm sao một nền kinh tế đặt nền tảng trên xuất khẩu lại có thể tăng trưởng 7,3 % trong khi ngoại thương suy sụp ?
Công ty tham vấn Lombard Street Research của Anh, vẫn sử dụng những dữ kiện của chính quyền Trung Quốc nhưng tính lại một cách nghiêm chỉnh hơn, cho biết tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc năm 2014 chỉ là 1,7%. Tuy vậy ngay cả tỷ lệ tăng trưởng khiêm tốn này cũng không thể có vì dựa trên những số liệu sai, thí dụ như các công ty sản xuất rồi bỏ vào kho vì không bán được hàng nhưng vẫn kể vào sản xuất, và khi sản phẩm đã hư hỏng cũng không khai v.v.
Một chỉ số đo lường lòng tin vào một nền kinh tế là chỉ số chứng khoán. Cuối năm 2007 chỉ số chứng khoán SSE của Trung Quốc lên tới cao điểm 6.000. Sau đó là cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008 làm tất cả các thị trường chứng khoán trên thế giới đều suy sụp. Ngày nay hầu như tất cả các chỉ số chứng khoán đều đã phục hồi được mức độ của năm 2007, các chỉ số của Mỹ, Đức và Nhật còn vượt xa mức 2007, nhưng chỉ số SSE của Trung Quốc vẫn chỉ quanh quẩn ở con số 4.000.
Lòng tin vào tương lai của kinh tế Trung Quốc còn thể hiện qua một con số khác. Kết quả của một cuộc thăm dò của Hurun Research Institute (Thượng Hải) và vừa được học giả David Shambaugh nhắc lại trên Wall Street Journal cho thấy 64% các đại gia Trung Quốc đã hoặc đang chuẩn bị di chuyển ra nước ngoài. Tư bản Trung Quốc đang tháo chạy. Một hiện tượng khác mà Shambaugh cho biết là chính quyền Mỹ đang theo dõi sự kiện rất nhiều phụ nữ Trung Quốc giầu có sang Mỹ sinh đẻ để con có quốc tịch Mỹ. Nếu tương lai Trung Quốc tươi sáng tại sao những người được ưu đãi nhất lại bỏ đi ?
Trong mọi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài các doanh nhân Trung Quốc không còn giấu giếm nữa. Họ nói thẳng là họ đang sản xuất với mức lời rất thấp hoặc lỗ nhưng vẫn phải sản xuất theo kế hoạch.
Nhưng kế hoạch nào ? Từ năm 2008 trong khi mọi quốc gia cố gắng vùng vẫy để ra khỏi cuộc khủng hoảng thì Trung Quốc đã có một chọn lựa khác hẳn. Đó là coi như không có khủng hoảng và bơm tiền ồ ạt vào sinh hoạt kinh tế, đẩy mạnh chi phí công cộng và ngành xây dựng để giữ nguyên mức độ tăng trưởng, với hậu quả là số nợ công tăng gấp bốn lần, các kho hàng của các công ty đầy ứ và rất nhiều thành phố ma xuất hiện tại rất nhiều nơi. Khủng hoảng càng che giấu lâu bao nhiêu thì càng trầm trọng thêm bấy nhiêu và bây giờ nó không còn giải pháp.
Năm 2013 khi mới lên cầm quyền, Tập Cận Bình ra lệnh giới hạn khối lượng tiền tệ bằng cách tăng lãi suất và kiểm soát tín dụng. Ông đã phải nhanh chóng từ bỏ biện pháp này -đúng trên nguyên tắc- trước nguy cơ sụp đổ tức khắc ; không những thế, chính quyền Bắc Kinh còn phải bơm tiền nhiều hơn nữa cho các ngân hàng và công ty. Sự kiện này chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không có thuốc chữa, sự sụp đổ chỉ còn là một vấn đề thời gian. Thời gian đó có thể rất gần vì ngay cả biện pháp bơm tiền cũng không còn hiệu quả nhất thời của nó nữa. Năm 2013 nhiều công ty muốn vay tiền mà không được, hiện nay đại đa số các công ty từ chối vay vì không biết dùng tiền để làm gì.
Một sự kiện khác cũng chứng tỏ kinh tế Trung Quốc không cứu vãn được. Giải pháp tự nhiên khi mô hình hướng ngoại không còn theo đuổi được nữa là tăng cường thị trường nội địa. Đó là điều Trung Quốc đã làm nhưng đã chỉ khiến kinh tế Trung Quốc nguy ngập hơn. Từ năm 2010, Trung Quốc đã liên tục tăng lương công nhân 10% mỗi năm với hy vọng là họ sẽ mua sắm nhiều hơn, nhưng mức tiêu thụ nội địa không hề gia tăng vì người công nhân Trung Quốc chỉ dùng khoản lợi tức mới có để tiết kiệm, phòng hờ khi đau ốm. Tuy vậy biện pháp tăng lương công nhân này đã có tác dụng làm tăng giá thành và khiến hàng hóa Trung Quốc khó bán trên các thị trường thế giới. Sự sút giảm của xuất khẩu cũng do nguyên nhân này. Trung Quốc hiện đã mất gần hết các thị trường tại Châu Âu.
Chừng nào kinh tế Trung Quốc sẽ thực sự sụp đổ ? Câu trả lời là : khi chính quyền Bắc Kinh thú nhận. Nhưng họ có sẽ thú nhận không ? Hiện nay niềm tin rằng kinh tế Trung Quốc "có sụp cũng còn lâu" chủ yếu là ở chỗ Trung Quốc vẫn còn khoảng 2.000 tỷ USD công khố phiếu của Mỹ và 1.000 tỷ Euros công khố phiếu Châu Âu. Mặc dù số tiền này chẳng là bao so với số nợ công của Trung Quốc -ít nhất 30.000 tỷ USD- nhưng nó đem lại ảo tưởng là Trung Quốc vẫn còn giầu có vì vẫn còn tiền cho Mỹ và Châu Âu vay. Bắc Kinh sẽ không đụng tới những số tiền này. Có nhiều triển vọng là họ sẽ tiếp tục như hiện nay cho đến khi thực trạng suy sụp trở thành hiển nhiên đối với mọi người.
Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt
Nhưng kinh tế suy thoái không phải mối nguy lớn nhất của Trung Quốc. Mối nguy lớn nhất là môi trường. Không khí tại các tỉnh phía Bắc ô nhiễm tới mức không còn thở được nữa ; nước vừa rất thiếu vừa nhiễm độc.
Một nghiên cứu phối hợp của bốn trường đại học MIT (Mỹ), Avraham Ebeinstein (Do Thái), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Thanh Hoa (Trung Quốc) công bố tháng 7-2013 tiết lộ một sự kiện kinh khủng : tuổi thọ trung bình của khối 500 triệu người dân các tỉnh phía Bắc đã giảm 5 năm rưỡi trong thập niên 1990 chủ yếu vì môi trường ô nhiễm. Mùa hè 2007 trên chuyến bay từ Tây An tới Côn Minh tôi đọc trên báo China Daily, tờ báo tiếng Anh của chính quyền Trung Quốc, một nghiên cứu theo đó gần một nửa số sông của Trung Quốc đã hết nước.
Tháng 3/2013, một nghiên cứu công phu -từ năm 2010 đến năm 2012- của Bộ Thủy Nguồn và Viện Quốc Gia Thống Kê của chính quyền Bắc Kinh đưa ra những con số chính xác một cách đáng sợ : Trung Quốc chỉ còn 22.909 con sông, trên 28.000 con sông đã biến mất. Mỗi con sông còn lại phải đem nước cho một diện tích khoảng 100 km vuông. Như vậy có nghĩa là từ 2007 đến 2012 tình trạng thiếu nước đã xấu đi nhiều thay vì được cải thiện. Nghiên cứu này cũng cho thấy có 400 thành phố hiện chỉ dùng nước bơm từ lòng đất lên. Kết luận của nghiên cứu này là thay vì gia tăng cung cấp nước từ nay chính sách quốc gia phải chuyển sang khuyến khích dân chúng tiết kiệm nước.
Tình trạng xuống cấp nguy ngập của môi trường chỉ một phần rất nhỏ do thiên nhiên, phần rất lớn là do chính sách tăng trưởng kinh tế hoang dại bất chấp môi trường. Cần lưu ý là bảo vệ thiên nhiên không phải là ưu tư của văn hóa Trung Hoa và Việt Nam truyền thống, trái lại người ta ca tụng những anh hùng có chí lớn "sẻ núi lấp sông". Nó cũng hoàn toàn vắng mặt trong chủ nghĩa cộng sản.
Vài năm trước tôi đọc một bài phóng sự trên báo Le Monde nói về một con sông có cái tên ngộ nghĩnh là Nộ Giang, nghĩa là dòng sông giận dữ, chảy từ Trung Quốc sang Myanmar. Lý do khiến người ta đặt tên như vậy là vì nước sông chảy rất mạnh. Nhưng ngày nay con sông này còn có một lý do chính đáng khác để nổi giận : nó trở thành nơi đổ rác chính thức của các thị xã chung quanh. Chính quyền địa phương xây rất nhiều bệ bê tông để các xe rác của các thị xã có thể đổ rác xuống sông một cách an toàn. Mỗi ngày hàng trăm tấn rác đủ loại được dòng nước cuốn sang Myanmar và trở thành một vấn đề của Myanmar.
rac_tren_song_nogiang
Một xe đổ rác của sở rác thị xã đang đổ rác suống sông Nộ Giang
Năm 2007 tại Bắc Kinh tôi không nhìn thấy mặt trời dù biết nó ở ngay trên đầu mình vì đang giữa trưa và trời rất nóng. Không khí đục ngầu vì khói từ các nhà máy không xử lý khí thải. Tôi hỏi anh hướng dẫn viên từ bao lâu rồi anh không còn nhìn thấy mặt trời nữa. Anh ta không nhớ.
bautroi_hoabac
Bầu trời Hoa Bắc
Năm 2000 lượng nước trung bình của mỗi người Trung Quốc chỉ bằng 15% mức trung bình thế giới. Bây giờ tình trạng còn bi đát hơn nhiều. Tại các tỉnh phía Tây trước đây phải đào sâu xuống 30m mới tìm được nguồn nước, bây giờ phải đào xuống 100m, mặt đất cứng như bê tông. Đó là hậu quả của việc trồng bông để xuất khẩu quần jean. Một đất nước trước hết là đất và nước, khi đất đã cằn cỗi, không khí và nước đã ô nhiễm đến nỗi không thở được và uống được thì cũng chẳng còn gì để nói. Đất nước Trung Quốc đang bị hủy diệt. Đó là lý do chính khiến rất nhiều người muốn rời Trung Quốc bằng mọi giá. Họ sợ chết.
Một chế độ tuyệt vọng
Mối nguy nghiêm trọng thứ hai, cũng nghiêm trọng hơn hẳn sự suy thoái của kinh tế, là bế tắc chính trị. Các quan sát viên theo dõi tình hình Trung Quốc đều đồng ý rằng đàng sau chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình là cố gắng tập trung quyền hành về trung ương và về tay ông.
Tham nhũng chỉ là lý cớ. Chính Tập Cận Bình cũng tham nhũng, nếu không làm sao ông có thể có một tài sản trị giá trên 200 triệu USD ? Không khác gì thủ tướng Ôn Gia Bảo trước đây tỏ ra rất quan tâm đến dân nghèo để rồi người ta phát giác ra rằng ông có hơn 2 tỷ USD. Các phe đảng của Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào, Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang chắc chắn không khoanh tay chờ bị thanh toán. Chủ nghĩa Mác-Lenin đã bị lố bịch hóa và không thể là xi măng gắn bó 85 triệu đảng viên cộng sản với nhau nữa, chỉ còn lại sự tranh giành quyền lực và quyền lợi.
Các tỉnh cũng không thể chịu đựng mãi ách thống trị của trục Bắc Kinh - Thượng Hải và sự chênh lệch giữa các vùng. Chưa kể là với sự sút giảm bi thảm của nguồn nước một cuộc chiến tranh giành nước tương tự như ở Trung Đông có thể diễn ra ; trên thực tế đã có xung đột giữa các tỉnh, thậm chí giữa các huyện trong cùng một tỉnh, để tranh giành những con sông vừa cạn vừa ô nhiễm.
Cần nhắc lại để nhấn mạnh rằng, Trung Quốc là một thiên hạ chứ không phải là một nước, lòng yêu nước đối với một người Trung Quốc chủ yếu là một tình cảm địa phương. Không cứ gì các sắc dân thiểu số, tuy cùng được gọi là người Hán nhưng một người Hán ở Côn Minh hoàn toàn không nhìn những người Hán ở Bắc Kinh hoặc Thượng Hải như những đồng bào. Quan hệ giữa các tỉnh Trung Quốc còn lỏng lẻo hơn nhiều so với quan hệ giữa các nước Châu Âu, đôi khi còn mang những thù hận chưa được hóa giải của quá khứ.
Trong suốt dòng lịch sử dài của nó, sự thống nhất của Trung Quốc đã chỉ được duy trì bằng bạo lực và tàn sát. Thí dụ như giữa thế kỷ 19 để dẹp cuộc khởi nghĩa ly khai của Hồng Tú Toàn nhà Thanh đã tàn sát 70% dân chúng các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và 90% dân chúng tỉnh Quý Châu. Tinh thần dân tộc của người Trung Quốc hầu như không có. Chính vì thế mà các nước rất nhỏ bé và chậm tiến như Mông Cổ và Mãn Châu đã có thể thiết lập những ách thống trị lâu dài. Các triều đại Nguyên, Thanh sau cùng đã cáo chung vì tham nhũng và lỗi thời chứ không phải vì là những ách thống trị ngoại bang.
Bế tắc chính trị của chế độ cộng sản Trung Quốc cũng đã chứng tỏ không có lối thoát. Khi mới lên cầm quyền Hồ Cẩm Đào đã muốn nới lỏng dần dần những quyền con người cơ bản với hy vọng chuyển hóa dần dần về dân chủ trong trật tự nhưng trong những năm cuối, nhất là từ năm 2011 trở đi, ông đã phải đảo ngược chính sách và gia tăng đàn áp. Năm 2013 Tập Cận Bình lên cầm quyền với một chủ trương rõ rệt : từ chối cải tổ chính trị, tăng cường độc quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc và thanh trừng mọi khuynh hướng ly tâm trong đảng. Tập Cận Bình thừa kế một Trung Quốc tương tự như Liên Xô của Gorbachev cuối thập niên 1980. Gorbachev đã thất bại khi cố làm những thay đổi cần thiết nhưng ít ra cũng đã tránh cho Liên Xô một sự sụp đổ trong hỗn loạn. Tập Cận Bình trái lại từ chối làm một việc phải làm. Hậu quả chắc chắn sẽ bi đát hơn.
Nhưng việc phải làm đó là gì ? Đó chính là sự chuyển hóa bắt buộc về dân chủ. Các tiến bộ về giao thông và truyền thông đã thay đổi hẳn thế giới, kể cả Trung Quốc. Tăng trưởng kinh tế trong ba thập niên qua cũng đã cho người Trung Quốc thêm sức mạnh. Họ đã hiểu rằng con người phải có những quyền căn bản, họ muốn và ngày càng có thêm khả năng để đòi hỏi những quyền đó.
Nhưng vấn đề là Trung Quốc không thể tồn tại với lãnh thổ và dân số hiện nay dưới một chế độ dân chủ vì các vùng của Trung Quốc quá khác nhau và cũng không muốn chia sẻ một tương lai chung. Vấn đề cũng là chủ nghĩa cộng sản, chất keo gắn bó các vùng với nhau, đã trở thành ghê tởm. Trên trang Web www.ninecommentaries.com do phong trào Thoái Đảng thiết lập từ tháng 11/2014 hàng ngày trên 50.000 người tuyên bố ly khai với Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Số người ly khai hiện đã lên quá 200 triệu.
Lịch sử Trung Quốc nói chung là sự lặp lại của cùng một kịch bản, một kịch bản chưa thay đổi vì thể chế chính trị vẫn còn là một thể chế tập trung chuyên chính. Kịch bản đó như sau : một chính quyền được dựng lên trong hoàn cảnh xã hội tan hoang và kiệt quệ ; chính quyền thành công trong những năm đầu và xã hội dần dần hồi sinh ; xã hội càng hồi sinh thì nhu cầu kiểm soát càng lớn và chính quyền càng cần tăng cường bộ máy cai trị ; bộ máy quan liêu vì thế tiếp tục phình ra và sau cùng trở thành mạnh hơn quyền lực chính trị ; kết quả là quyền lực chính trị suy yếu dần và tích lũy mâu thuẫn, cuối cùng bị một lực lượng khác đánh đổ sau một cuộc xung đột làm xã hội suy kiệt ; và kịch bản bắt đầu lại từ số không. Kịch bản này hiện đã tới màn cuối dưới chế độ cộng sản. Tập Cận Bình đang cố xiết lại để ngăn ngừa sự xuất hiện của một lực lượng mới.
Khi Nguyễn Tấn Dũng lặp đi lặp lại là "nhất quyết không để nhem nhúm những tổ chức đối lập", ông ta chỉ nhắc lại một ám ảnh của quan thầy Bắc Kinh.
Phải lo ngại cái gì ?
Chế độ cộng sản Trung Quốc còn trụ được bao lâu nữa ?
Như đã nói ở đầu bài này, đừng nên quên rằng Trung Quốc không phải là một quốc gia mà là một thế giới, một thiên hạ hay một đế quốc tùy cách nhìn, do đó sự thay đổi chế độ sẽ không nhanh chóng như trong một quốc gia mà sẽ diễn ra một cách tương tự như sự tàn lụi của một đế quốc. Các giai đoạn cuối trào của các đế quốc nói chung và của Trung Quốc nói riêng thường kéo dài khá lâu. Tuy nhiên chúng ta đang sống trong một thế giới thay đổi dồn dập. Các diễn biến có thể nhanh hơn rất nhiều.
Càng nhanh hơn vì một lý do khác. Chế độ cộng sản Trung Quốc tồn tại từ sau cuộc thảm sát Thiên An Môn dựa trên hai hợp đồng bất thành văn miễn cưỡng.
Hợp đồng thứ nhất là nhân dân chịu đựng chế độ toàn trị, và cả sự tàn phá của môi trường, với điều kiện là Đảng Cộng Sản duy trì được một mức tăng trưởng kinh tế cao. Ôn Gia Bảo tỏ ra đã hiểu thỏa hiệp này khi ông nói rằng nếu mức tăng trưởng xuống dưới 8% thì sẽ có bạo loạn. Hợp đồng này ngày nay đã chấm dứt vì kinh tế suy thoái.
Hợp đồng thứ hai là quần chúng Trung Quốc chịu đựng bất công xã hội để cho một thiểu số làm giầu với thỏa hiệp ngầm là như thế họ sẽ có thêm vốn để gia tăng đầu tư thúc đẩy kinh tế. Hợp đồng này đã bị phản bội khi những người giầu có bỏ ra nước ngoài mang theo tài sản. Sự phẫn nộ có thể bùng nổ rất dữ dội.
Có cần lo sợ sự sụp đổ của chế độ cộng sản và sự tan vỡ gần như chắc chắn của Trung Quốc không ? Mối nguy thường được nói tới là chính quyền Bắc Kinh có thể gây hấn với bên ngoài để kêu gọi đoàn kết dân tộc và làm dịu những mâu thuẫn bên trong. Nhiều người đang lo âu trước việc Trung Quốc xây những phi trường trên những đảo nhân tạo tại Biển Đông. Nhưng sự lo ngại này không cần có. Nó là do cách nhìn Trung Quốc như một quốc gia thay vì một đế quốc.
Thực tế cho thấy các đế quốc chỉ gây hấn trong những giai đoạn cường thịnh, trái lại rất nhu nhược đối với bên ngoài trong những giai đoạn cuối trào, để dồn sức đương đầu với những khó khăn bên trong. Trung Quốc cũng không phải là ngoại lệ. Trong những lúc suy vi, các hoàng đế Trung Quốc không những không xâm chiếm các biên quốc mà còn phải cống hiến những quý phi, có khi cả những công chúa, cho các vua các nước nhỏ chung quanh để cầu an. Chuyện Chiêu Quân cống Hồ chỉ là một trong rất nhiều thí dụ. Việt Nam và thế giới sẽ không phải lo ngại một sự gây hấn nào.
Cũng không cần lo ngại cho người Trung Quốc. Trung Quốc có phân chia thành bốn hay năm nước thì đó cũng vẫn là những nước lớn bậc nhất thế giới, nhưng đồng điệu hơn và hợp lý hơn Trung Quốc hiện nay. Điều mà chúng ta có thể chúc cho người Trung Quốc là những thay đổi cần thiết sẽ diễn ra trong hòa bình.
Thiên triều sụp đổ
Câu hỏi bao giờ chế độ cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ không đặt ra, hoặc đặt ra một cách rất khác, đối với chế độ cộng sản Việt Nam. Đối với một chư hầu, một đế quốc coi như đã sụp đổ khi không còn là một chỗ dựa nữa.
Đối với Đảng Cộng Sản Việt Nam, chế độ cộng sản Trung Quốc coi như đã sụp đổ. Nó đang quá bối rối với những khó khăn nội bộ để có thể hỗ trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam. Bắc Kinh lo cho mình cũng chưa xong còn mong gì giúp được ai. Họ sẽ phải buông Việt Nam và Triều Tiên dù không muốn như Liên Xô đã từng phải buông Đông Âu trước đây. Nhưng chế độ cộng sản Việt Nam lại rất cần bám lấy Trung Quốc.
Trong cuộc tiếp xúc ngày 26/6/2014 tại Sài Gòn, ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã không cải chính lời phát biểu của chuẩn đô đốc Lê Kế Lâm, theo đó Trung Quốc thỏa thuận viện trợ cho Việt Nam 20 tỷ USD và cho vay 100 tỷ USD. Chế độ cộng sản Việt Nam rất cần yểm trợ tài chính này bởi vì do hậu quả của bất tài và tham nhũng kinh tế Việt Nam thực ra đang ở trong tình trạng phá sản.
Theo phát biểu của chính ông Trương Tấn Sang tháng 11/2014 tại quốc hội thì tình trạng kinh tế Việt Nam "rất không thoải mái". Ba phần tư số thu ngân sách (khoảng 30 tỷ USD năm 2014, giảm nhiều so với năm 2013) được dùng để trả lương, phần còn lại không đủ để trả nợ. Nói gì tới những chi tiêu tối cần thiết khác.
Một điều cần được nhìn thật rõ là Đảng Cộng Sản Việt Nam chưa bao giờ là một đảng tự lập. Nó luôn luôn dựa vào một thế lực bên ngoài nào đó. Ra đời như một phân bộ của Đệ Tam Quốc Tế, nó đã tranh đấu, rồi cầm quyền, với sự bảo trợ của Liên Xô hoặc Trung Quốc, hoặc cả Liên Xô lẫn Trung Quốc. Giữa thập niên 1980 khi Liên Xô suy yếu và không còn bảo trợ được nữa, nó đã vội vã bỏ ngay lập trường thù địch để xin được phục tùng Trung Quốc. Trái với một nhận định hời hợt không phải Bắc Kinh cố thu phục Hà Nội mà chính Hà Nội đã cầu khẩn và làm tất cả để được lệ thuộc Trung Quốc. Trong mấy năm gần đây khi Liên Bang Nga có vẻ mạnh lên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam cũng đã cố gắng tranh thủ sự hỗ trợ từ Nga. Văn hóa của Đảng Cộng Sản Việt Nam là một văn hóa chư hầu.
Tất cả những tính toán và kỳ vọng của họ đều đã hoặc đang sụp đổ. Nước Nga của Putin đã bại sụi sau cuộc phiêu lưu Ukraine. Đến lượt Trung Quốc cũng chao đảo và sắp sụp đổ. Rất có thể là chính Bắc Kinh đã nói với Hà Nội là hãy tìm những nguồn hỗ trợ khác vì họ không còn khả năng giúp đỡ ai cả. Điều đó có thể giải thích những chuyến công du Hoa Kỳ dồn dập của các cấp lãnh đạo cộng sản Việt Nam gần đây, kể cả chuyến đi sắp tới của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những chuyến thăm viếng này đều do sáng kiến của Hà Nội.
Lịch sử không phải chỉ sắp sang trang mà đang sang trang. Mọi người Việt Nam đều phải sáng suốt để tránh những ngộ nhận tai hại. Những thành viên bộ chính trị và ban bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam có thể thù ghét nhau vì tranh giành quyền lực và quyền lợi, nhưng họ đều hoàn toàn đồng ý với nhau là phải dựa vào Trung Quốc để duy trì chế độ độc tài toàn trị. Tất cả đều chống dân chủ. Tất cả đều đồng ý rằng "đi với Tầu thì mất nước, đi với Mỹ thì mất đảng" và tất cả đều đồng ý chẳng thà mất nước chứ không mất đảng. Không có một ngoại lệ nào cả.
Nhưng bây giờ họ không còn chọn lựa nào khác là đi với Mỹ ("Mỹ" phải được hiểu là các nước dân chủ) vì họ không dựa vào Trung Quốc được nữa. Chiến lược của họ trong lúc này chỉ là cố kéo dài thời gian hấp hối của chế độ và làm mất thêm thời giờ của nước ta trong cuộc chạy đua về tương lai, dù chúng ta đã mất quá nhiều thời giờ và đã quá chậm trễ. Chúng ta không được quyền có một ngộ nhận nào cả.
Mọi ưu tư của chúng ta phải dồn vào cố gắng để đất nước bước vào kỷ nguyên dân chủ một cách nhanh chóng nhất trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc để chúng ta có thể lập tức cùng nắm tay nhau chinh phục tương lai.
Nguyễn Gia Kiểng
(04/2015)

Bài viết hay(3429)

 Mấy ông ở Bolsa xúm vô "tám" rằng tui nên lo cho con thay vì "ruồi bu" đi lo chuyện VN hay Bolsa. Quá đúng! Tui đồng ý hoàn toàn. Viết trên Blog cho vui vậy chứ tui ngu gì mà đi lo chuyện VN hay Bolsa. Cứ coi những đứa giàu nhất Bolsa có ai thèm đi lo chuyện VN hay Bolsa? Mackeno. Chết ai mặc bây.

Mỹ Linh, Quốc ca, và bài học từ Nhân Văn Giai Phẩm

Bản thân người viết không phải là khán giả yêu thích cách trình diễn của “Diva” Mỹ Linh, ngay từ khi cô chỉ mới bắt đầu bước vào làng nhạc Việt. Vậy nên yêu, thích, giận, ghét là chuyện rất thường của con người, đặc biệt khi nói đến âm nhạc – thứ vốn không có một chuẩn mực cố định nào. Có thể dùng mọi từ ngữ để miêu tả buổi diễn này – “ngờ nghệch”, “báng bổ”, “ngu ngốc” hay “không thể chấp nhận được”. Nhưng đến khi một nhóm các cá nhân mong muốn có một hành động pháp lý để “trừng trị” Mỹ Linh, chúng ta có một câu chuyện khác để bàn đến.
20160526093504-1
Ca sĩ Mỹ Linh trong phần trình bày Quốc Ca tại buổi lễ. Ảnh: Vietnamnet
Sự nhầm lẫn về đối tượng điều chỉnh của pháp luật
Pháp luật dùng để điều chỉnh những mối quan hệ cụ thể, cần thiết và chỉ nên được sử dụng để bảo vệ những mối quan hệ quan trọng. Các quan hệ này phải được duy trì cho sự phát triển kinh tế, xã hội. Có thể sẽ có nhiều người cho rằng, sau màn trình diễn của ca sĩ Mỹ Linh, đối tượng bị xâm hại và cần được bảo vệ là “sự thiêng liêng, hùng hồn” của Quốc ca. Nhưng họ đã nhầm lẫn rằng thứ gọi là “thiêng liêng, hùng hồn” thật ra chỉ là cảm nhận cá nhân, không phải là một sự thật khách quan như tài sản hay tính mạng, sức khỏe của các cá thể trong xã hội. Điều đó cũng đồng nghĩa, nhiều người chúng ta đang kêu gọi áp đặt cảm nhận cá nhân thành pháp luật.
Sự nguy hiểm của “quá trình pháp luật hóa ý chí” hay “kiểm soát cảm xúc bằng pháp luật” này không quá hiếm thấy trong lịch sử Việt Nam hiện đại. Chúng ta có thể kể đến các vấn đề liên quan đến Nhân Văn Giai Phẩm, có thể tóm gọn nhất trong lời đấu tố của Tố Hữu (mà chính Văn Cao – tác giả của bài Quốc ca, cũng là nạn nhân):
Lật bộ áo “Nhân Văn – Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm…”
(Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại “Nhân Văn – Giai Phẩm” trên mặt trận văn nghệ, nhà xuất bản Văn Hoá, 1958).
nhanvangiaipham
Một số tác gia danh tiếng của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.
Thi sĩ Quang Dũng từng bị kỷ luật với bài thơ danh tiếng Tây Tiến; hay cuộc “cách mạng văn hóa” tại miền Nam sau năm 1975 khi sách và thơ của các tác giả như Khái Hưng, Nhất Linh, Nguyên Hồng, Thạch Lam… bị cấm và tiêu hủy vì truyền bá và ủng hộ “tư tưởng tiểu tư sản” (dù nội dung tác phẩm đôi khi chỉ vu vơ về hai đứa trẻ ngắm tàu).
Đề rồi bằng Đổi Mới, tự do biểu đạt và cảm nhận cá nhân bắt đầu được xem xét bảo vệ hơn, những tác giả năm nào được minh oan, trao giải thưởng Hồ Chí Minh, tác phẩm được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy… sau khi họ đã chết.
Cũng cần nhớ rằng những cảm nhận tiêu cực nói trên chỉ là của bạn, của một cá nhân trong cả một xã hội lớn. Cảm xúc và kỳ vọng của một cá nhân, dù có vị trí và tiếng nói quan trọng thế nào, không hẳn (và chắc chắn không nên) được xem là cảm xúc và kỳ vọng của những người khác. Thậm chí nếu cảm nhận của một cá nhân tương tự với 90% dân số, điều đó cũng không thể đồng hóa với việc thứ cảm nhận đó phải được biến thành luật và phải được chế tài để đảm bảo thi hành.
Hãy suy nghĩ rằng, ngay cả khi chỉ có một mình Mỹ Linh chấp nhận phong thái trình bày như trên, ca sĩ này cũng có đầy đủ quyền tự do để thực hiện nó. Người nghe cũng có đầy đủ quyền để tẩy chay ca sĩ này, nhưng không thể mong muốn cô phải vào tù hay bị cấm diễn.
Mong muốn áp đặt cảm xúc, suy nghĩ của người này lên người khác luôn là một vấn đề được nhiều người lên án trong xã hội. Nhưng khi nói đến pháp luật, cũng có một bộ phân không nhỏ mong muốn áp đặt pháp luật để bảo vệ cảm xúc của họ. Họ đã và đang đóng góp vào sự lớn mạnh của một nhà nước “anh cả” mà không hề nhận ra.
Hãy cẩn thận với xu hướng chuyên chế và sự độc quyền cảm xúc
Luật Khoa đã từng giới thiệu đến bạn đọc loạt bài viết về khuynh hướng chuyên chế và sự trỗi dậy của ứng cử viên Donald Trump – người đã chính thức giành vị trí ứng cử đại diện Đảng Cộng Hòa, một đảng phái lâu đời và vẻ vang của Hoa Kỳ. Dù thật sự rằng Donald Trump là một người công khai phân biệt chủng tộc, thường phát ngôn ngờ nghệch và thiên về chủ nghĩa “tách biệt”; các cử tri Hoa Kỳ chỉ bắt đầu bị chi phối và ủng hộ ông ta khi họ nhận thấy có quá nhiều mối đe dọa hữu hình đối với họ, từ chủ nghĩa khủng bố, Nga, Trung Quốc hoặc làn sóng nhập cư ào ạt.
Tại Việt Nam, chỉ vì việc một ca sĩ hát Quốc ca không thỏa mãn cảm xúc, chúng ta đang kêu gọi xử lý hình sự và hành chính, áp đặt quyền lực nhà nước lên một người chỉ vì họ hát trái ý mình.
Hãy khoan bàn tới quyền tự do ngôn luận, quyền tự do biểu đạt được Liên Hợp Quốc thừa nhận hay tu chính án Thứ Nhất từ một quốc gia xa xôi ở bên kia bán cầu. Với tư duy pháp lý hằn học và vũ lực, có lẽ đây là một trong nhiều cơ sở để giải thích xu hướng chuyên chế của một bộ phận người dân Việt Nam cùng những lựa chọn lịch sử.
Vậy nên, trước khi giận dữ và yêu cầu nhà nước “vào cuộc” xử lý, hãy bình tâm suy nghĩ rằng: có quá nhiều cách ứng xử khác nhau, tại sao chúng ta lại chọn quyền lực nhà nước? Chúng có thật sự bảo vệ một mối quan hệ xã hội nào đó quan trọng, hay chúng chỉ đơn thuần bảo vệ cái cảm xúc cá nhân của chúng ta?
Đây không phải là lần đầu tiên sự hằn học của một số người dân Việt Nam được thể hiện. Từ việc cho rằng người bán hàng rong bị công anh quật ngã là đúng, cho đến yêu cầu chính quyền địa phương bắt giữ một nhóm vận động LGBT diễu hành tại phố đi bộ Nguyễn Huệ thành phố Hồ Chí Minh, có thể thấy xu hướng chuyên chế ủng hộ một chính quyền “anh cả” vẫn đang rất mạnh mẽ tại Việt Nam, vốn sẽ chỉ có hệ quả xấu cho nền tư pháp về lâu dài.
Mỹ Linh có xuyên tạc tác phẩm và tác giả?
Ngoài các lập luận của nhiều khán giả bình dân, nhiều luật sư cũng theo dòng giận dữ đả kích ca sĩ Mỹ Linh. Họ nói rằng, theo Luật Sở hữu Trí tuệ (SHTT) thì ca sỹ (người biểu diễn) có nghĩa vụ phải tôn trọng quyền tác giả (Khoản 2, Điều 25 “không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả”).
Trong các quyền tác giả, có quyền nhân thân (vô thời hạn) về “Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.” (Khoản 4, Điều 19).
“Bài hát thì phải có nốt nhạc, hát phải đúng nốt, quãng v.v. Tất cả cái đó tạo nên sự toàn vẹn của tác phẩm.” – vị này bình luận. Kết luận này, theo người viết có phần vội vã và khiên cưỡng, và cùng nhắm đến mục tiêu của các khán giả muốn trừng trị người trái ý mình – một cách “luật” hơn.
Trong quy định nói trên, chúng ta có hai điều kiện cần và đủ. Một là “sửa chữa, cắt xén và xuyên tạc” tác phẩm cũng như “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả”. Người cho rằng Mỹ Linh đang sửa chữa, xuyên tạc tác phẩm của Văn Cao có lẽ sẽ khá bận bịu với xử lý vi phạm của hàng nghìn ca sĩ tại Việt Nam. Chỉ vì một ca sĩ hát một tông quá trầm, ngân quá dài hay thêm thắt vào luyến láy không đồng nghĩa với việc họ cắt xén và xuyên tạc tác phẩm.
Nội dung bài hát vẫn được thể hiện một cách trọn vẹn, vấn đề chỉ là không phải ca sĩ nào cũng hát cùng một cao độ. Việc giảm một quảng hay nửa quảng cao độ của bài hát gần như là một điều kiện bắt buộc để ca sĩ có thể trình bày được bài hát đó, tùy theo chất giọng của mình. Trong khi, luyến láy, ngân nga cũng là cách mà ca sĩ thực hiện quyền sở hữu trí tuệ thứ cấp của mình; truyền cảm xúc vào bài hát và góp phần quan trọng cho thành công của chúng. Cái nhìn có phần hung tợn của một số luật sư nói trên sẽ chẳng giúp ích gì cho nền âm nhạc nước nhà, ngoài triệt tiêu sức sáng tạo của giới văn nghệ sĩ và vô cùng phi thực tế.
Điểm thứ hai là trả lời câu hỏi liệu cách trình bày nói trên có “gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả” hay không? Có thể lấy ví dụ về việc dùng các phôi ảnh của bộ truyện tranh Doraemon rồi kèm vào các câu chuyện có nội dung không phù hợp với lứa tuổi đối tượng của bộ truyện tranh làm ví dụ cho danh dư, uy tín bị ảnh hưởng của tác giả.Tuy nhiên, điều này sẽ chỉ diễn ra nếu người tiếp nhận hiểu lầm đây thật sự là tác phẩm gốc của tác giả, hoặc là một biến thể được tác giả chấp thuận, hoặc việc sửa chữa cắt xén nhằm mục đích bình luận và công kích tác giả. Trong trường hợp người tiếp nhận đều hiểu đây không phải là một sản phẩm gốc, hoặc trong trường hợp của Mỹ Linh, đây chỉ là cách trình bày riêng của cô ấy, thì danh dự, uy tín của Văn Cao bị ảnh hưởng như thế nào? Cách nói hát lệch tông, hát quá trầm, ngân quá dài gây phương hại đến danh dự và uy tín tác giả, một lần nữa, chỉ là dùng vỏ bọc pháp luật để che giấu cảm xúc riêng của người bình luận đó thôi .
Nguyễn Quốc Tấn Trung

Memorial Day Và Người Gốc Việt

Những con số vĩ đại của những nam nữ quân nhân Mỹ phục vụ cho Tổ Quốc. Và những con số khó khăn kinh hồn của những quân nhân Mỹ đã hy sinh, bị thương tật thể chất hoặc tinh thần. Nếu tính trong thời gian từ cuộc khủng bố 911 tới giờ, khoảng 1% dân số Mỹ đang phuc vụ cho Tổ Quốc Mỹ, trong quân lực Mỹ. Nhân dân và chánh quyền Mỹ nhớ ơn Quân Lực Mỹ, thường dán khẩu hiệu "Support Our Troop" và làm lễ nhớ ơn Veterans Day và tưởng niệm Memorial Day. Nhưng nhìn lại cuộc sông khó khăn của cưu quân nhân, thương binh, tử sĩ, mỗi một người Mỹ chánh truc cảm thấy cần phải làm cái ghì thiết thực hơn nhưng "thank you" ấy.

Tội nghiệp những cựu quân nhân, thương binh, tử sĩ và gia đình trong xã hội Mỹ thừa mứa vật chất và tiện nghi lắm. Tài liệu thăm dò của Wounded Warrior Projects 2015 Alumni đáng tin cậy cho biết, mỗi ngày cứ trong 22 anh chị em gốc quân nhân ấy thì có 1 người tự tử. Chiến tranh Iraq và Afghanistan đem lại hậu chưng nguy nan lớn nhứt. It nhứt 2/3 số quân nhân tham chiến về không tránh đưọc hậu chứng này. 2 triệu 700 ngàn quân nhân Mỹ tham chiến ơ hai nước ấy, có 970.000 người bi chấn thương tinh thần và vật chất.

Các buổi lễ rủ cơ, kèn trống chỉ giúp cho nhưng người làm truyền thông và chánh trị. Chớ những anh chị em thương phế binh, gia đình tử sĩ đâu có phương tiện, thì giờ, tiền bạc đi tham dư.

Nếu người Mỹ "Support Our Troop" bằng con tim đồng cảm, và khối óc nhớ ơn, hành dộng trả ơn thưc tế, thì những việc làm dễ này có lẽ quí hơn những bài diển văn lời hay ý đẹp của các chánh trị gia và nhà báo. Tiêu biểu như đi ngoài đường hay ơ trong xóm thấy một cựu quân nhân thất nghiệp, không nhà cầm bảng nhờ giúp đỡ, ngừng xe hỏi thăm, giúp tiền mua một miếng bánh sandwich. Vào tiệm quán, gặp dành 5 hay 10 phút hỏi thăm phục vụ đơn vị nào, mời 1 ly cà phê hay ly bia. Đó là trả ơn người đã đem cuộc đời hoa mộng đi chiến đấu cho nước Mỹ phú cương trên thế giới.

Đó lá cách tiếp tay với chánh quyền Mỹ để đải ngô xứng đáng anh chị em cưu quân nhân và gia đình. Chánh quyền lo không kịp, không nổi nên có nhiều khiếm khuyết trong việc đải ngộ. Như năm 2014, tin VOA ngày 21 tháng 5, mấy ngày trước Lễ Chiến sĩ Trận Vong của Mỹ, Tổng Thống Obama phải họp báo làm sáng tỏ về vụ tai tiếng một số nhà thương cựu chiến binh (VA Hospitals) của chánh quyền Mỹ bê bối khiến các cựu chiến binh Mỹ tại một số tiểu bang phải chờ rất lâu mới được cho hẹn. Ông cho biết chánh quyền đã cho những viên chức liên hệ nghĩ việc có lương để chờ điều tra. Ông khẳng khái tuyên bố: những chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu dũng cảm ở những chiến trường, họ không cần phải chiến đấu để được săn sóc sức khỏe tại quê nhà của họ. Ông cam kết những viên chức có tội trong nội vụ sẽ bị trừng phạt (punished).Ông nhấn mạnh chữ trừng phạt.

Memorial Day ở Mỹ là ngày lễ Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong, một ngày lễ truyền thống và lịch sử của liên bang Mỹ, cữ hành trên tòan quốc vào ngày Thứ Hai cuối cùng của tháng 5 hằng năm để tưởng niệm, nhớ ơn những người nam nữ Mỹ, con yêu của Tổ Quốc đã vì nước hy sinh, vì dân chiến đấu. Memorial Day năm nay nhằm ngày 30- 5- 2016.

Theo nghi thức quốc kỳ Mỹ được treo rũ cho đến quá ngọ giờ địa phương, người Mỹ đi viếng nghĩa trang tử sĩ và các tượng đài tử sĩ Mỹ để tưởng niệm. Ngày lễ Chiến sĩ Trận Vong về thời tiết được người Mỹ xem là ngày bắt đầu mùa hè kéo dài tới ngày Lễ Lao Động vào đầu tháng 9.

Đối với người Việt ở Mỹ, bản tính dân tộc Việt là trọng tình, trọng nghĩa, ơn đền nghĩa trả. Nên vào Ngày Lễ Chiến Sĩ Trận Vong, người Mỹ gốc Việt chẳng những tưởng niệm quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa vì dân chiến đấu, vì nước hy sinh trong cuộc chiến đấu tự vệ chánh đáng để bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa mà còn tưởng niệm quân nhân đồng minh Mỹ, 58.159 tử trận và 1.719 mất tích trong Chiến Tranh VN mà Mỹ đồng minh của VNCH đưa cả nửa triệu quân qua giúp VNCH bảo vệ tự do dân chủ trước làn sóng xâm lăng của CS Bắc Việt.

Một số nghĩa cử đáng mừng nói lên hành động trả ơn hơn nhớ ơn của người quân dân cán chính VNCH ở hải ngoại. Như vận động Xây Dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại. Nếu CSVN trả thù người chết, tử sĩ VNCH bằng cách cào mồ, cuốc mả, lấy đất làm đường và xây cất cơ sơ sản xuất kinh doanh, xoá tên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà trong nước, thì các cơ quan, đoàn thể quân dân cán chính Việt Nam Công Hoà và cộng đồng người Việt ở hải ngoại tập họp lại thực hiện kế hoạch xây dựng Nghĩa Trang Quân Cán Chính Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại. Để tử sĩ Việt Nam Cộng Hoà có nơi an vị tương xứng và để người Việt có nơi tưởng niệm tri ân. Để quân dân cán chính VNCH ở hải ngoại sống cùng chiến đấu với đồng đội, chết được cùng nằm bên nhau dưới bóng cớ hồn thiêng sông núi nền vàng ba sọc đỏ.

Như người Mỹ gốc Việt thế hệ một rưởi và hai con em của gia đình quân dân cán chính VNCH di tản qua Mỹ đã tình nguyện vào quân đội Mỹ khá nhiều so với tỷ lệ dân số. Tình nguyện vào quân đội, đem mạng sống của mình để bảo vệ nước Mỹ và người Mỹ ở quốc nội và quyền lợi, niềm tin nước Mỹ ở hải ngoại, là hành động trả ơn cao cả và dũng cảm nhứt. Để biết rõ có thể vào web Quân Nhân Mỹ Gốc Việt Trong Quân Lực Hoa Kỳ (Vietnamese Americans Armed Forces Association) www.vaafa.org

Như tất cả người Viêt hải ngoại trên thế giới tận tình giúp đồng đội thương phế binh còn kẹt ở nước nhà. Trong các công tác gây quỷ, việc gây quỷ giúp cho thương phế binh VNCH còn kẹt ở nước nhà là thu đạt kết quả cao nhứt, lớn nhứt.

Thiết nghĩ quốc gia dân tộc này, chánh quyền này, Quốc hội, Hành Pháp, Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến, hai đảng Cộng Hoà lẫn Dân Chủ cần phải chiếu cố hơn nữa đối với cựu quân nhân bị thương tật. Đãi ngộ xứng đáng chiến sĩ không có nghĩa làm những tác động sân khấu, làm tin cho báo chí, tuyên bố dể kiếm phiếu- mà phải bằng hành động thiết thực có lợi thực tế và trực tiếp cho những quân nhân.

Thiết nghĩ Hành Pháp, Lập Pháp không tăng gia những ưu tiên cho cựu quân nhân, giản dị thủ tục xin tiền cựu quân nhân, tạo dễ dàng cho con em cựu quân nhân được gởi nhà trẻ, được phụ giáo khi học hành. Quan tâm và cố gắng đi tìm những quân nhân trừ bị sau thời gian bị gọi vào quân đội xem coi khi trở về có được vào sở cũ làm hay không. Các công ty dành ưu tiên tuyển dụng cựu quân nhân để đền ơn đáp nghĩa đối với những người con yêu của Tổ Quốc./. (Vi Anh)
CSVN Và TQ Thua TT Obama
Hai chế độ chung sức CS Việt Nam và Trung Quốc vẫn thua một TT Obama tại Việt Nam.

Một, CS thua TT Obama ngay trận mở màn Mỹ xả cấm vận, bán vũ khí sát thương cho CSVN. Ngay ngày đầu tới Hà nội, trong cuộc họp báo với Chủ Tịch Nước CSVN, TT Obama xác nhận xả cấm vận. Một hư chiêu, có tiếng nhưng không có miếng, chỉ lấy lòng CSVN và làm cho TC nghi kỵ CSVN. Vì từ lời nói tới hành động mua bán vũ khí sát thương, còn phải qua nhiều cửa ải, quốc hội, nhân quyền, pháp lý gắt gao lắm. TT Obama cũng có kể ra một số. TT Obama nói, "Việc bán này vẫn sẽ phải đáp ứng những điều kiện gắt gao, bao gồm những điều kiện về nhân quyền…"

Nhưng TC tức CSVN cành hông. Phát ngôn viên ngoại giao TC nói đánh đầu CSVN, hăm CSVN mẻ răng, rằng Bắc Kinh lấy làm vui về việc Mỹ xả cấm vận cho CSVN. Nhưng truyền thông đại chúng TC tố xả láng CSVN. Nào Tân Hoa Xã tố Việt Nam và Hoa Kỳ có thể gây ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định trong khu vực. Nào Mỹ lợi dụng mối bang giao Việt-Mỹ để dùng làm công cụ đe dọa hay thậm chí gây tổn hại đối với các lợi ích chiến lược của một nước thứ 3. Nào cảnh cáo Mỹ đổ dầu vào lửa. Và cảnh cáo Việt Nam cần thận trọng trước những kế hoạch "có động cơ không thành thật" của Hoa Kỳ. Còn tờ Hoàn Cầu Thời Báo ở Bắc Kinh, một phiên bản tiếng Anh nặng tinh thần thượng tôn Hán tộc của Nhân Dân Nhựt báo tiếng nói chánh thức của Đảng viết rằng Hoa Kỳ đang dùng Việt Nam để khuấy động Biển Đông.

Hai, CS thua TT Obama trong mặt trận nhân quyền. Nhân quyền vốn là trở ngại trung tâm trong bang giao Hà nội- Washington, nhân quyền sẽ là cục xương khó cho Hà Nội nuốt khi Hà nội mua vũ khi sát thương nữa. Quốc Hội xét việc gỡ cấm vận, xét từng hợp đồng bán, từng loại vũ khí mua, công dụng để bảo vệ biển đảo hay để trấn áp nhân dân. Và quan trọng nhứt, CSVN có cải thiện nhân quyền đủ hay chưa, gánh nặng dẫn chứng phải do CSVN và Hành pháp Mỹ làm trình Quốc Hội.

Ba, CS thua TT Obama ngay trong mặt trận kinh tế và giao thương. CSVN lợi quả theo thần bánh ít đi bánh qui lại mới toại lòng nhau khi Mỹ gỡ cấm vận. CSVN móc hầu bao ngoại tệ quí hiếm 11.3 tỷ mỹ kim để cho hãng hàng không giá rẻ VietJet đổi từ tiền Việt ra Mỹ Kim trả tiền mua 100 máy bay Boeing 737 MAX 200 của Mỹ. Việc mua bán này cũng làm cho Liên Âu bực mình vì CSVN làm một cuộc đảo chánh đối với Airbus của Liên Âu, giúp cho Boeing lên ngôi ở VNCS. Từ khi thành lập hồi năm 2011, VietJet chỉ hoạt động bằng máy bay A320 của Air bus là đối thủ châu Âu của Boeing. CSVN còn dự định mua máy bay không người lái của Mỹ nữa.

Bốn, CS thua TT Obama trong mặt trận dân vận và địch vận của Mỹ. Trước khi TT Obama đến VN, nhờ Mỹ bang giao, giao thương, chuyển trục quân sự Mỹ về Á châu Thái bình dương và Mỹ đặc cách giúp CSVN vào TPP, để bao vây quân sự và kinh tế TC, thăm dò của PEW cho biết 78% dân VN có cái nhìn thiện cảm và tích cực về Mỹ, muốn chánh quyền xích lại gần Mỹ để có thể thoát Trung về kinh tế và giải toả áp lực TC xâm lấn biển đảo VN, áp chế chủ quyền và độc lập của quốc gia dân tộc VN. Dân chúng ở Hà nội và Saigon chào đón, hoan hô TT Obama nhiều hơn, nồng nhiệt hơn TT Clinton và Bush.

Phải nói TT Obama là người hùng biện, hấp dẫn nhưng bình dân có tài thu hút quần chúng. Ông không mặc đồ lớn, không cà vạt, đi ăn hai tô bún chả Hà nội, uống hai chai bia, không dùng ly, cầm chai uống cùng với một người đầu bếp nổi tiếng trên truyền hình nước Mỹ là ông Anthony Bourdain tại một tiệm ăn nhỏ ở trung tâm Hà Nội. Ông còn mua thêm 4 tô "to go", để chứng tỏ Ông rất thích và người thân cũng thích.

Dân chúng bắt tay Ông nhiều quá, Ông tháo nhẫn cưới bỏ vào túi quần chứng tỏ rất trân quí quà cưới và không muốn người siết tay Ông bị đau tay. Một cử chỉ nhỏ nhưng ý nghĩa lớn, nam nữ đều khen Ông là người chung tình và trọng tha nhân.

Ở Hà Nội cũng như Sài Gòn, Ông gặp gỡ đại diện những tổ chức xã hội dân sự, đọc bài diễn văn gửi nhân dân Việt Nam, nói chuyện trước các doanh nghiệp, và lớp trẻ VN. Ông công khai nói nhiều người Việt yêu tự do, dân chủ được toà đại sứ mời bị công an VNCS ngăn trở không đến được chứng tỏ Ông biết rõ CS lén cản đường, bắt thẩy lên xe.

Trong bài diễn văn gửi nhân dân Việt Nam, 2.000 người ngồi chật cứng hội trường, TT Obama mở lời bằng tiếng Việt "Xin Chào, Xin Chào Việt Nam." Ông dẫn dụ câu thơ về chủ quyền VN của Lý thường Kiệt, "Nam Quốc sơn hà Nam đế cư, Tuyệt nhiên định phận tại thiên thư" chữ Hán dich ra quốc ngữ VN.

Ông nhấn mạnh độc lập, chủ quyền đất nước phải "do người dân Việt Nam quyết định". Ông quả quyết Hoa Kỳ sẽ đưa tàu và máy bay di chuyển ở bất kỳ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép, và ủng hộ quyền của các nước khác hành động như vậy.

Ông nói "Khi có quyền tự do bày tỏ ý kiến, tự do ngôn luận, và khi mọi người có thể chia sẻ ý tưởng qua internet và mạng xã hội mà không gặp một cấm đoán nào thì điều đó sẽ thúc đẩy sự sáng tạo mà mọi nền kinh tế đều cần để phát triển."… "Khi có tự do báo chí, khi các nhà báo và bloggers có thể đưa ra ánh sáng những nỗi bất công, những sự lạm quyền, điều đó bắt các giới chức có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm, và điều đó làm cho công chúng tin rằng chúng ta đang có một chế độ tốt"…

"Khi mọi người có thể ra ứng cử, và vận động tranh cử một cách tự do, khi mà cử tri có thể lựa chọn người lãnh đạo của mình trong những cuộc bầu cử công bằng, thì điều đó làm cho đất nước ổn định, bởi vì dân chúng biết rằng tiếng nói của họ được lắng nghe, và những thay đổi hòa bình có thể xảy ra. Và xã hội sẽ giang rộng vòng tay đón những người mới"…

"Khi có tự do tín ngưỡng, điều đó không chỉ giúp con người có điều kiện biểu đạt tình yêu của họ đối với tôn giáo, mà còn cho các nhóm thuộc những tôn giáo khác nhau phục vụ cộng đồng bằng các hoạt động giáo dục, giúp đỡ bệnh viện, những người nghèo, và những người dễ bị tổn thương của xã hội. Và khi người dân có quyền tự do tụ tập thì họ được tự do thành lập các tổ chức xã hội dân sự. Điều đó sẽ giúp chính quyền giải quyết các thách thức mà đôi khi họ không thể một mình làm được. Vì thế nhân quyền không làm tổn hại sự ổn định mà giúp nền tảng xã hội ổn định hơn, và tiến bộ hơn".

Về nhân quyền, Ông nói "Nói cho cùng, nhân quyền đã thôi thúc mọi người khắp nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam, vùng lên lật đổ chế độ thuộc địa. Và tôi tin rằng tôn trọng nhân quyền là cách diễn đạt đầy đủ nhất ý nghĩa của độc lập, kể cả ở nơi đây, ở một quốc gia hãnh diện tuyên bố rằng chính quyền của mình là chính quyền của dân, do dân và vì dân".

Sau cùng, Ông nói dùm cho dân VN bị CS cấm, không được công khai nói lên khát vọng của mình, nên dân chúng VN rất hoa nghinh Ông, công khai cho CSVN, CSTQ một bài học, một tất yếu sẽ xảy ra, ánh sáng tự do dân chủ sẽ đến, lùa độc tài vào bóng tối lich sử./. (Vi Anh)