Sunday, July 31, 2016

Vĩnh Biệt Mẹ Hiền

Mất Cả Một Bầu Trời

vulannhoma-01010232Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời.
(Thanh Tịnh)
Có những câu thơ kỳ lạ vô cùng, nó nằm sâu trong tiềm thức. Đọc một lần tưởng chừng như quên mất. Bỗng một hôm bừng dậy rõ nét. Thơ cũng là một Pháp, nhìn trên khía cạnh hiện tượng học. Phải đủ duyên mới hiện diện. Câu thơ trên của Thanh Tịnh hay quá, phổ cập quá, tác giả Nhất Hạnh trích lại nguyên bài trong đoạn đầu đoản văn Bông Hồng Cài Áo, dễ khơi dậy ngay niềm rúng động đối tất cả mọi người.
Tin mẹ mất đã hai hôm rồi từ quê nhà đến với tôi. Không hoảng hốt, không ngạc nhiên giật mình khi nhận được email Thắng gửi. Chỉ một chút lặng người đi rồi bình tĩnh ngay lại, dường như tôi đã sẵn sàng đón nhận tin này từ lâu nay. Từ năm ngoái, khi về quê thăm mẹ lần cuối. Mẹđã quên hết, quên sạch rồi. Ngay cả đứa con yêu của mẹ, bà cũng không còn nhớ nữa.
Tôi đợi, phải tôi đợi từ năm ngoái. Tôi trông, phải tôi trông từ năm ngoái. Không giống như những buổi chiều hiu hắt trong thời thơấu, hình ảnh đứa bé con là tôi đứng ở khóm tre đầu ngõ mặt buồn rượi nhìn con đường làng hun hút xa nhoè hình bóng mẹđi chợ Hôm, sao mãi chưa thấy về. Bây giờ mặt không buồn xo nữa, lòng rõ ràng, không còn hoang mang nữa. Tin tới, tôi có lặng đi vài giây, nghĩ rằng ừ bây giờ mẹđi thật rồi đây, và thấy bóng dáng mẹ nhoè hẳn vào vô thường, nhưng lòng an nhiên không ảo não nữa, không mong mẹ trở về nữa. Thời nhỏ chưa hiểu biết, tôi buồn, buồn ghê gớm mỗi khi xa mẹ. Bây giờ lớn rồi, 65 tuổi đầu rồi, thấy rõ sanh tử, chia ly là chuyện hẳn nhiên sẽ đến, phải đến, nên tâm hồn an tĩnh lạ thường. Tôi sắp đặt công việc, chuẩn bị mua vé máy bay về quê tiễn đưa mẹ lần cuối.
Tôi email ngay lại cho Thắng, nhưđã dặn dò năm trước về thăm, rằng không có gì thay đổi, cứ như vậy mà làm. Đừng đợi tôi về, cứ theo đúng thủ tục làng xã hiện nay chỉ để một hôm rồi hôm sau đem chôn. Tôi có mua vé máy bay về ngay thì cũng phải 1 tuần sau mới đến nơi, chỉ kịp thỉnh xin quý thầy Trúc Lâm Sùng Phúc về làm lễđúng Tuần Thất thứ nhất cầu siêu cho Mẹ.
Có một điều rất lạ, tôi dọn về Hải Ngạn Am, Oceanside được hơn 2 năm, chỉ chăm bón được vài chậu cây cảnh, loại có hoa hay bonsai mà thôi, chứ không thích trồng cây ăn trái. Mẹ tôi thì ngược lại. Hoa hoét là đồ xa xỉ phẩm, tốn công tốn của, chẳng ăn được vào mồm cái gì. Bà thường nói giọng quê mùa như thế. Nhà cũ trên Los Angeles đất sau vườn rộng, tôi đào một khoanh ao nhỏ thả vài ngọn sen hồng, dựng nhà thuỷ tạ một cột. Còn lại để mẹ toàn quyền trồng hàng trăm thứ cây ăn trái. Bà trồng vô thứ tự, không hàng lối gì sất. Năm bẩy cây ổi xá lị, gần chục cây mảng cầu xiêm, giống Mễ tây cơ. Đào, mận, hồng dòn, táo tầu, táo Mỹ, cam, chanh. Bưởi bốn năm cây, tưới nước mệt nghỉ. Vào vườn phải khom người, tránh va đầu vào cây trái lủng liểng. Lắm khi va phải gai bưởi sước trán, chảy máu đầu như bỡn.

Tôi chán cái vườn của bà, mất trật tự, tốn nước, tốn phân. Nay lại, tuần này anh mua cho mẹ ít bao phân bò, tuần sau lại mua cho mẹ bao phân trấu gà, mẹ trồng liếp rau, bụi ngò, húng thơm, cây tía tô nấu giả ốc cho mà ăn. Quên thì mẹ nói cho nhức cả đầu. Cãi thì bà bực mình gắt, thế đứa nào vừa ăn cả bát canh cà bát rau tía tô vừa rồi đấy? Tôi dỗi lên lầu đóng cửa phòng xem TV thì bà im, chiều mai đi làm về lại nghe nói tiếp.

Thế cho nên dọn về nhà mới một mình không có mẹ, tôi chỉ trồng mấy chậu cây cảnh cho vui mắt, hưởng cảnh nhàn nhã, không phải lao động nhiều. Năm trước đi chợ Tết, hứng lên bắt chước người bạn, rước một chậu cây quất trái sai chi chít về nhà chưng nhân dịp Tết. Đầu tháng 7 mùa hè này, hai hôm trước cây đang xanh tươi mơn mởn, buổi chiều bỗng lác đác rụng lá. Tôi đồ rằng mấy hôm ấy nắng gắt, mình quên tưới chăng. Chập tối sau khi tưới vội, cây rụng lá nhiều hơn. Thôi để sáng mai chắc xanh tươi lại chứ gì. Cái giống citrus này ở California mạnh như vâm, lo ngại gì. Sáng mai pha ly café ra sân ngồi, thăm cây quất, thấy càng khô héo hơn. Lấy tay động thử vào thân cây, tất cả lá còn lại đồng loạt rụng sạch, trơ cành như xương khô thảm hại. Tại sao thế, nào tôi có động chạm gì nhà anh, hôm qua chỉ tưới nước và nhổ sạch dúm cỏ dại trong chậu thôi mà. Ngay hôm đó tôi nhận tin email Thắng nói Mẹ tôi mất tính ra hai hôm rồi. Một Pháp hữu ghé thăm, tôi kể lại, rất nhanh đã liên tưởng ngay hai việc làm một, và nói mẹ tôi chỉ yêu cây ăn trái, và cụ báo tin cho tôi bằng cách ứng vào điềm cây rụng lá. Tôi sửng sốt ngẫm lại, quảđúng thật. Có những điều thần giao cách cảm lạ kỳ, khó tin nhưng có thật, xảy ra ngay trước mắt, thuộc loại nan tư nghì. Chiều đến tôi ngồi bên gốc cây, rưng rưng nghĩ về mẹ. Và tôi vào trong nhà thắp 3 nén nhang, ra cắm trong chậu bên gốc cây, nói thầm như nói với mẹ, Con biết rồi, và nếu đúng là mẹ báo tin, thì đầu óc mẹ hết alzheimer, đã tỉnh táo lại rồi, mẹ cứ thanh thản ra đi. Con sẽ đọc cho mẹ biến “Tâm Kinh Trí Tuệ Bát Nhã Rộng Lớn”, để mẹ cố gắng nhớ lại, thân này là giả tạm, tứ đại Đất Nước Gió Lửa đủ duyên nên hợp thành. Nay hết duyên thì tan rã, mẹ đừng bám víu vào nó nữa. Thần thức mẹ phải luôn luôn tỉnh thức mà biết rằng mẹ suốt đời khổđau, chồng bỏ từ thời hai mươi bảy tuổi đầu, ở vậy thắt lưng buộc bụng nuôi con, trả cái nghiệp nặng nề gây ra trong quá khứ, khi về già được hưởng phước báu, gần gũi pháp Phật, dứt bỏ thế gian mà đi tu làm Sa Di được 12 năm rồi. Nay hết duyên ra đi, đừng luyến tiếc gì nữa mẹ nhá. Thân này là thân giả tạm, như manh áo cũ mục, hãy bỏ lại tìm manh áo mới, tìm Pháp phục Như Lai mà mặc, sân si giận hờn bỏ hết, đừng ôm giữ nữa, mới nhẹ lòng theo về cõi Phật được. Vì nếu lúc ra đi mà còn phẫn uất sân hận thì hoá vào làm ma quỷ mà thôi. Ngay đến tình chồng, vợ nọ con kia, làm dang dở cả đời mẹ, cũng chỉ là mối dây oan trái, giả trá không thật. Ngay cả con dại cái mang này cũng chỉ là giả trá không thật. Đã hết duyên rồi đừng níu kéo thương tiếc, thì mới thanh thản mà ra đi. Phước báu cuối đời sẽ đưa mẹ về vui cảnh Phật. Hễ còn níu kéo thương tiếc thì còn lụy mãi vào vòng khổđau. Nghiệp chướng mẹ hãy rũ sạch, hãy lắng thần thức cho an tịch, buông bỏ hết thảy. Nếu còn chút nghiệp cũ phải đa mang, hãy nhớ đến phước báu của mình 12 năm xuất gia là nhân đã gieo trồng, tìm chỗ gia đình đạo đức tốt đẹp phù hợp gá thân, tiếp tục tu tập cho đến lúc giải thoát. Mẹơi, hãy học hạnh Quán Tự Tại Bồ Tát, lúc nào cũng phải hành trì, tưởng nhớ đến Trí Tuệ Bát Nhã thâm sâu, biết rõ ngũ uẩn đều Không, mới có công năng đưa mẹ thoát hẳn khổđau, về được bên kia bến bờ giải thoát. Không có gì khác, hay ai khác làm cho mẹ giải thoát được. Mẹ nhớ kỹđiều đó. Còn lại mọi thứ buông bỏ hết. Thứ gì cũng là giả tạm. Chỉ một thứ thật, là cái Trí Huệ Bát Nhã kia thôi. Vì Trí tuệ Bát Nhã mẹ thường tụng đọc, chỉ rõ ra rằng: “chiếu kiến ngũ uẩn giai Không độ nhất thiết khổ ách”. Điều đó mới giúp mẹ vượt qua được mọi khổđau ách nạn. Mẹ là người thông minh, thuộc Kinh Phật làu làu mà, con nhắc để mẹ luôn nhớ, hành sâu đoạn kinh ấy.
Xuống phi trường Nội Bài vào buổi trưa mồng 8 tháng 7giữa mùa Hạ, nắng gắt, tôi rảo bước về phía chỗ xe buýt đậu đưa khách vào trung tâm thành phố. Xe đổ tôi xuống gần cửa Nam. Không có gì vội vã, tôi tìm một quán nước dưới tàn cây rợp, uống một ly caphê đá, rồi thuê xe ôm sang bên kia quận Long Biên, về chùa Sùng Phúc vào xế trưa. Thầy tri khách xếp cho tôi nghỉ trong 1 căn phòng trống trên tầng lầu hai chờ thầy Trụ Trì đi Phật sự chưa về. Hai hôm sau tôi thỉnh quý Thầy về quê làm lễ cầu siêu cho mẹ nhân Tuần Thất thứ nhất. Quý thầy đều cảm thương và hoan hỉ nhận lời. Thầy Trụ Trì Tâm Thuần ân cần nắm mãi tay tôi không rời, nhưng thấy thầy Phật sựđa đoan, tôi chỉ xin thầy phó Trụ trì Tỉnh Thiền, Thầy tri sự Huệ Đăng lái xe, và thầy Thiện Tài rành nghi thức Tịnh độ cúng vong cùng về. Bốn thầy trò cùng nhau ngồi xe mang huy hiệu chùa Sùng Phúc khởi hành vào sáng sớm mồng mười từ Gia Lâm Hà Nội trực chỉ Thái Bình. Thầy Thiện Tài chu đáo đem theo cho mượn cả tượng Phật A Di Đà để về quê thiết lập bàn thờ Phật.
Lễ tất, Sư cô Diệu Hiền trú trì chùa Đông Khánh, kế bên nhà Thắng thỉnh mời quý Thầy sang chùa độ ngọ. Hoá ra quý thầy chùa Trúc Lâm Sùng Phúc thường về chùa vùng quê tôi giảng Pháp, độ chúng, vì lần này do tôi chỉ đường khác vào làng nên quý thầy không nhận ra cảnh chùa làng quen. Bữa trai cỗ thịnh soạn lạ và ngon miệng vô cùng. Toàn cây nhà lá vườn chùa trồng, những điã rau ngon, ngọt lịm tình quê hương, bản quán, chắc do đích thân bà vãi Thắm và sư cô Diệu Lành trổ tài bếp núc. Nắng trước sân chùa giữa trưa chan hoà rực rỡ. Nhìn ra xa cánh đồng bát ngát đang mùa cấy mạ lấp loáng nước, người dân quê tôi đang khom mình cấy trên những thửa mạ xanh rì, di động như những đốm chấm phá sinh động trên bức hoạ đồng quê thanh bình êm ả. Tôi hít một hơi dài không khí quê hương vào đầy buồng phổi, thấy hạnh phúc cho Mẹ tôi vừa qua đời, thật mãn nguyện như ý muốn của Bà, lúc chết được về nằm giữa cánh đồng mát mẻ trên mảnh đất quê hương, được phúc lớn có quý thầy đang mùa Vu Lan Thắng Hội về tụng kinh cầu siêu nhân Tuần Thất thứ nhất. Trong niềm ân cảm sâu xa, tôi tin biết Giác linh mẹ siêu sanh cảnh tịch lạc.
Theo lời vợ chồng Thắng, đứa cháu con ông Cậu nuôi dưỡng mẹ tôi lúc về già, kể rằng buổi trưa Bà còn ăn 2 chén cơm như thường lệ, vào giường nghỉ trưa một lúc sau Bà kêu mệt, Thắng gọi bác sĩ đến, bắt mạch, khám xét, ông ta nói thôi ở nhà trông nom, Bà sắp đi rồi. Khoảng 2 giờ chiều, mạch yếu dần, Bà nhìn mọi người bà con thân thuộc, láng giềng tề tựu, bình thản, nhìn thằng cu Thành 4 tuổi ngây thơ đứng bên giường, như nó vẫn hay luẩn quẩn bên bà, đút cho bà viên kẹo, cái bánh, mỉm cười với cháu, rồi nấc lên 1 tiếng trên tay vợ Thắng ra đi lúc 2 giờ 07 phút, có đông đủ tình bà con hàng xóm láng giềng thân thương.
Lạ một điều nữa, trước đó mươi ngày, gửi email cho Thắng không thấy trả lời, tôi tự nhiên nóng ruột, viết lá thư gửi bưu điện về cho sư cô Diệu Hiền chùa Đông Khánh, nhờ sang thăm và đưa lá thư ngỏ tôi viết cho vợ chồng Thắng hỏi xem tại sao mấy tháng nay nhận tiền gửi đều đặn mà không thông tin trả lời email cho tôi rõ tình hình sức khoẻ Bà ở nhà ra sao. Cô vãi Thắm bên chùa kể rằng, thư vừa vềđúng chiều hôm đó thì 2 giờ chiều cùng ngày, Bà mất. Sư thầy Nhuận Thuỷ (ngoài Bắc Tỳ Kheo Ni được gọi là Sư Thầy) cùng đệ tửđem thư qua. Cô vãi Thắm ở chùa thuật lại như thế, nhấn mạnh là điều thần giao cách cảm lạ kỳ. Ờ ngoài Bắc, chư Tăng Ni cũng đang trong mùa An cư kiết hạ. Trụ trì và chư Ni khác trong làng phải về trường hạ ngoài chùa huyện Kiến Xương, Thái Bình. Cho nên bỗng nhiên chiều hôm ấy, mẹ tôi có được phước báu nữa là có Sư Thầy Nhuận Thuỷ (Sư cô) ghé ngang chùa, nhân đó nhận lời ủy thác, từ trường hạ về tác lễ khâm liệm cho mẹ tôi. Mẹ được mặc Pháp phục, chít khăn nhà Phật, do dì Lỉnh, chị ruột cậu Hoa, từ tận Biên Hoà, Đồng Nai về quê thăm tháng trước, sắm sẵn cho mẹ tôi. Những phước duyên ấy như được sắp đặt sẵn, mà tôi đứa con bất hiếu ở xa không hay biết, hay làm kịp được chút gì cho mẹ.
Mẹ tôi mất trong vòng tay quyến thuộc, tình làng nghĩa xóm thân thương, cái nghĩa tử là nghĩa tận ở làng quê bao năm nay vẫn tồn tại, đậm đà, thắm thiết, của thôn làng, nhất là của họ ngoại Phạm-Xuân bên mẹ tôi. Bà mãn nguyện về chết trên mảnh đất của cha ông, nằm xuống giữa cánh đồng bát ngát, mát mẻ. Tấm thân tứđại trong kinh Quy Sơn khởi rõ rằng “Bẩm phụ mẫu chi di thể, giả chúng duyên nhi cộng thành” nghĩa là tấm thân này khởi có là do tinh cha huyết mẹ hợp nên, mượn các nhân duyên (nương nhờ các duyên) kết hợp mà thành.
Đến khi khôn lớn, lập gia đình sinh con đẻ cái, rồi theo nghiệp báo mà trôi lăn, tha phương cầu thực, chồng bỏ, năm 54 một mình đem con lặn lội vào Nam, cũng chỉ vì quên mình lo cho tương lai của con, mong cho con khôn lớn, thành người. Rồi lại theo con tha phương cầu thực xứ người, lo cho tôi từng miếng ăn giấc ngủ. Sau đó lại lo dựng vợ gả chồng cho con, quên đi hạnh phúc riêng mình. Chỉ biết vui buồn với hạnh phúc của con, lấy hạnh phúc của con làm hạnh phúc chính mình. Vậy mà đã bao lần tôi ích kỷ trách mẹ, thầm oán trách sự vụng về của mẹ làm tan vỡ hạnh phúc đời tôi. Ôi bây giờ tôi mới nhận ra mình là đứa con đại bất hiếu, cúi đầu hối hận, thỉ mẹđã qua đời.
Và thấm thía câu thơ Thanh Tịnh mà thầy Nhất Hạnh chép trong Bông Hồng Cài Áo, từ lâu lãng quên bỗng nhiên trở về rõ trong trí nhớ:
Tôi thấy tôi mất mẹ,
Mất cả một bầu trời.
Ngày xưa đọc, tôi thấy câu thơ hay quá, xúc động quá, nhưng nay xúc động giảm nhiều. Hay thì có hay, nhưng mà khách sáo quá. Mất cả bầu trời thì to lớn quá, mơ hồ rộng lớn quá. Làm sao mà sống nổi. Ví von như quả chuối ba hương, như xôi nếp một như đường mía lau thì gần gũi, cụ thể hơn. Nghĩa là mình có thểđòi hỏi, vòi vĩnh bất cứ lúc đói lòng nào. Muốn ăn xôi thì đòi ăn xôi, thèm ăn chuối thì đòi chuối. Tự nhiên không cần biết mẹ có hay không. Hoặc không cần biết mẹ có cho hay không. Nhưng có bao giờ mẹ có mà lại không cho đâu. Tự nhiên như đứa bé, đói lòng là rúc vào vú mẹ. Có bà mẹ nào không cho không? Cứ rúc vào bú cho kiệt ngực mẹ, không cần biết là sữa đầy hay vơi. Nhưng có đứa nào dám vòi vĩnh cha kiểu đó hay không? Luôn e dè sợ sệt. Cha còn lắm khi nói không, chứ mẹ thì luôn cười hiền từưng chịu. Chưa vòi đã chiều rồi.
Cho nên người đời mới có câu con hư tại mẹ. Gì cũng đổ lỗi cho mẹ. Mà tất cả cái xấu, cái oan ức mẹ đều vui vẻ nhận hết về phần mình. Trong bản nhạc phổ thơ Nhất Hạnh, bài Tiếng Gầm Sư Tử Lớn, gồm 5 đoạn nhạc, có đoạn về Mẹ khiến tôi rúng động nhất:
Hôm qua trời dịu nắng
Mẹ vun luống hoa vàng
Lúc nửa đêm mẹ chết
Hoa vàng lên vàng hoa Hoa ới.. hoa ơi…
Tiếng kêu hoa ới hoa ơi là tôi thêm vào, gọi hoa mà như gọi mẹ. Mỗi lần hát là tôi tắt giọng nghẹn lời, nước mắt ràn rụa.
Hoa cười mẹ không cười
Không mẹ hay có mẹ
Vẫn đường dài tôi đi
Không mẹ hay có mẹ
Đường tôi đi một mình
Tôi dẫm chân - lún đất
Đất lún vào chân không.
Thầy Nhất Hạnh kể, chị thầy bỏ mẹđi lấy chồng, cả thầy cũng bỏ mẹ đi tu vì lý tưởng. Mẹ tôi chỉ có mình tôi, thế mà về già tôi cũng không nuôi nổi mẹ, an trí mẹ về quê xưa, mượn người chăm sóc, tôi cũng đi tu vì lý tưởng. Tôi bỏ mẹ mà đi chứ mẹ có bỏ tôi bao giờ. Bây giờ tôi khôn lớn rồi, già dặn rồi, vững chãi trên đường đi một mình mình chọn rồi, mẹ mới thật sự bỏ tôi đi.
Tám năm chuẩn bị, mẹđòi về sống trên mảnh đất cha ông mình, nhưng cũng là lúc tinh thần mẹ quên quên nhớ nhớ. Thật ra quên lú những chuyện hôm nay, nhưng lại vanh vách nhớ những chuyện ngày xửa ngày xưa. Thắng kể rằng, ái chà bà vẫn nhắc ông Minh chồng nhà bà đẹp trai lắm, có lần tôi về thăm Thắng lư mặt gần bảo, anh Bảo con trai bà về thăm đấy, bà khẽ tát nó và bảo. Đừng hòng phỉnh bà, con giai bà trẻ đẹp chứ cái ông này già thế, không phải. Công an đấy. Nhưng mà ông công an này tốt đáo để, chỉ vào nhà ngồi chơi, cho bà đẫy quà. Năm cuối cùng thì mẹ quên hẳn. Buồn vui giận hờn đã xoá sạch. Thật ra tôi mừng và mong mẹ ra đi thảnh thơi như thế. Nghiệp đã sạch, thần thức tỉnh táo chỉ để vượt ngàn hải lý vềứng vào cây quất trước sân, báo cho đứa con côi cút này biết phút giây ly biệt. Những cây nhang con thắp tàn cong vòng không rụng, mẹơi.
Có người bạn Thiện Tri Thức, anh Bs. Đỗ Hồng Ngọc biết tin tôi vừa mất mẹ, viết email gửi nhắc 4 câu kệ trong kinh Đại Niết Bàn, Phật đọc cho ngài Anan trước giờ nhập diệt:
Chư hạnh vô thường
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc
Anh nói, mẹ anh cũng mất mấy năm trước, nhờ bốn câu kệ này, anh giữ được lòng thanh tịnh và đứng vững đôi chân. Cảm ơn người bạn khôn kểđã nhắc nhở. Cũng nhờ vin vào câu kệ tôi cũng mới vững đôi chân trên đường về quê lạy tiễn giác linh mẹ.
Buổi chiều sau lễ cầu siêu, Thắng dẫn tôi ra cánh mảđình Đông đứng trước mộ mẹ, khi gió hiu hiu thổi, thắp 3 nén nhang, cắm lên nấm đất xâm xấp nước ruộng, chợt bồi hồi nhớ bốn câu thơ Thanh Tịnh:
Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời
Ít phút tôi trầm tĩnh lại, ngồi xuống vỗ lên nấm đất mộ mới đắp, đọc cho mẹ và chính tôi nghe bài kệ:
Chư hạnh vô thường
Thị sanh diệt pháp
Sanh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc
Mẹ hiểu lời Khai thị của Phật không, tất cả các pháp, mọi việc trong đời đều vô thường, biến đổi, giả vọng nên có sanh có diệt. Chỉ khi nào sanh diệt diệt rồi, diệt đếncả cái sanh cũng diệt, cái diệt cũng diệt sạch, không một niệm nào, thì mới được thanh tịnh chân thật. Thoát ra khỏi luân hồi này mới là cứu cánh của an lạc thực sự mà thôi. Tịch diệt là Niết Bàn vậy. Mẹ có hiểu như lúc nào vẫn luôn sẵn lòng hiểu con không? Tôi thấy mẹ trong mộ gật đầu.
Và hôm nay, viết những dòng này, con thầm đọc nhắc mẹ câu kinh Bát Nhã, mẹ vẫn quen thuộc, tụng đọc làu làu:
“Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai Không, độ nhất thiết khổ ách.”
Luôn thấy biết rõ những giả vọng trong đời, hành trì nhuần nhuyễn đến một lúc sẽ vượt qua được mọi khổđau ách nạn. Lúc ấy, xá gì đi hay đến, kể gì còn hay mất, mẹ nhỉ.
Câu thơ
Tôi thấy tôi mất mẹ
Mất cả một bầu trời
diễn tả được cái đẹp mông lung, thơ dại. Cái đẹp tô điểm cho cuộc đời. Mà cuộc đời không thật. Lấy cái giả này để tô vẽ thêm lên cái giả khác. Khổđau không thật, hạnh phúc cũng không thật. Cái đẹp, hoá ra cường điệu, hời hợt lắm không..? Bầu trời chỉ là bóng vẽ trong tâm tưởng. Mất cả bầu trời là bầu trời sụp đổ tan tành còn gì. Câu thơ này thi sĩ viết lúc còn trẻ, thấy như vậy, đáp ứng được thị hiếu mộng mơ, vỗ về cho đời sống đỡ thảm sầu đi chăng, hay càng cường điệu làm người trong cuộcmịtmờảo giác, trĩu nặng thêm niềm đau nỗi nhớlạc loài?
Con biết, mẹ biết.
Không Hư – Hoàng Quốc Bảo
megia_4-content
 Chúng con mất Mẹ vào Mùa Thu
Trời mây ảm đạm, khói sương mù
Người từ ngàn dặm, xa mờ mịt
Vội vã quay về, nhìn Mẹ yêu

Nước mắt tuôn trào, ngấn lệ rơi
Lần cuối, nhìn Mẹ tim rụng rời
Xót xa thấy Mẹ nằm bất động
Đôi mắt nhắm nghiền Mẹ xa xôi

Thôi thế nghìn Thu Mẹ kính yêu
Mẹ bỏ con đi, gió mưa nhiều
Trời Thu ảm đạm, mầu mây tím
Nén hương tưởng niệm buổi kinh chiều

Nam Mô Chư Phật khắp mười Phương
Tịnh Độ, Từ Bi, thắp nén hương
Kính nguyện Phật Đài ngời sao sáng
Dẫn đường đưa Mẹ cõi thiên đường

Vĩnh Biệt Nghìn Thu, Mẹ thiêng liêng
Chúng con cô quạnh, nỗi niềm riêng
Ngoài hiên chiếc lá vàng rơi rụng
Một ánh sao rơi, mất Mẹ hiền

Thôi thế, từ nay Mẹ rất xa
Vĩnh biệt âm dương, Mẹ Lạc Nhà
Nam Mô Cứu Khổ, Kinh Bát Nhã
Kính Tâm Phật Độ, A Di Đà…
Kiu Oanh Trnh
(Ngày Mẹ mất)
Thơ vĩnh biệt Mẹ
Con biết Mẹ con yêu thơ lắm
Nuốt nỗi đau thương lệ ứa tràn
Con viết bài thơ con liệm Mẹ
Tiễn Mẹ đi về Cõi-vĩnh hằng.
Bài thơ mừng Mẹ tám mươi tuổi
Con mới viết hồi giữa tháng năm
Nghe thơ, Mẹ cười mắt rướm lệ
Mẹ yêu thơ thăm thẳm đáy lòng!
Thế gian biết bao người đã chết
Nhưng chết như Mẹ thật hiếm vô cùng
Tươi tỉnh, tinh tường đến phút chót
Và ra đi nhẹ như cánh hồng.
Mẹ nằm đó nhẹ như cánh hồng
Và cũng nặng như núi Thái Sơn
Ai cân nổi gian truân đời Mẹ
Gánh trên vai gầy tám mươi năm.
Mẹ chết mảnh mai như nhành liễu
Mẹ sống như đại thụ trăm năm
Bóng cây Mẹ xanh rờn hào hiệp
Che mát trọn đời chắt, cháu, con.
Xóm giềng, họ mạc, người thân sơ
Mẹ yêu thương đằm thắm thiết tha
Gặp khốn khó, Mẹ cưu mang không tiếc
Mẹ sẵn lòng chia cả thịt da.
Bảy mươi tuổi, Mẹ vẫn ham việc nước
Việc phố phường, đoàn thể chân vẫn son
Sức nhận được, việc gì cũng nhận
Mẹ đảm đương với tất cả tấm lòng.
Mẹ nằm đó vô cùng yên tĩnh
Như mặt nước hồ trong như đỉnh núi trong sương
Mẹ đã sống trọn đời đức hạnh
Nên phút ra đi thanh thản vô cùng.
Vĩnh biệt Mẹ, chúng con nhìn kỹ Mẹ
Lòng xé đau mà kinh ngạc vô cùng
Mảnh mai thế mà suối nguồn nghị lực
Vẫn tràn đầy cho đến phút lâm chung.
Mẹ cho chúng con hình hài máu thịt
Cho tâm hồn, cho cuộc sống sạch trong
Với chúng con, Mẹ là báu vật
Không có gì sánh được ở thế gian.
Mẹ ơi! Bà ơi! Cụ nội, ngoại ơi
Con cháu chắt, xóm giềng bè bạn
Phút vĩnh biệt xé lòng gọi Mẹ
Mẹ ơi, Mẹ có nghe thấy không?
Nắp ván nghìn đời đã đóng lại
Thôi từ đây, Mẹ mãi mãi vắng nhà!
Mẹ yêu thơ, con viết thơ dâng Mẹ
Như chính cuộc đời Mẹ mới là Thơ!
 Phùng Quán
Con đứng trên tầng năm của toà nhà và nhìn xuống dòng người. Chỉ thấy ánh đèn xe nối đuôi nhau dài dằng dặc thành những vệt sáng đến chói mắt. Người ta đang sung sướng . Người ta đang đi chơi , đang vui thú với nhau, với cuộc đời. Chỉ có con  hay còn ai khác nữa trong thế gian này cô độc, một mình.

Ảnh minh họa
Con nhón từng bước thật nhẹ trên nền gạch ướt át hơi sương. Cơn lạnh tê tái tuồn lên từ những ngón chân, lan tỏa lên đùi, lên lưng con rồi váng lên tận óc. Khi ấy con không biết tim mình còn trong lồng ngực hay đã vỡ tan rồi. Và con bật khóc. Khi ánh đèn xe dưới kia vẫn chói mắt con. Dưới đó. Có thể. Người đàn ông con yêu đang phơi phới bên cạnh người con gái khác.

Con vừa trở về từ căn phòng của anh ta. Được anh ta hôn và bị anh ta sỉ vả. Nếu anh ta đã chán chường , đã phản bội con rồi thì tại sao anh ta lại hôn con? Hả mẹ? Tại sao, ngoài mẹ ra, gương mặt anh ta vẫn ám ảnh con. Con có lỗi gì không khi tin vào tình yêu ấy, tin vào những giọt nước mắt đàn ông thủa ban đầu ấy.

Mẹ ơi. Mẹ dậy cho con niềm tin vào cuộc sống nhưng cuộc sống mang lại cho con sự tuyệt vọng . Đừng tựa cửa trông con nữa. Đêm nay, và tất cả những đêm khác nữa. Con sẽ không trở về đâu. Con nhìn ra xung quanh. Không có ai. Rất an toàn cho một cái chết. Những suy nghĩ tắc nghẹn. Con kiễng chân . Nhún người. Con không kịp thương lấy mình nữa rồi. Gió lùa tóc. Mê man. Thân hình con mỏng manh xiêu xuống. Con đau.

Một cơn đau lịm người. Thôi thế là xong. Mẹ có giật mình không khi con ú ớ gọi tên mẹ lần cuối cùng. Người con nhẹ bẫng , trong suốt và rất mơ hồ, khi con thấy mình bay được như bướm trắng . Con lướt qua đám đông nhộn nhạo đang xúm quanh xác chết đầy máu của cô gái trẻ và trở về nhà mình.

Ảnh minh họa
Con muốn gặp mẹ . Con thấy mẹ đang cười rất tươi bên cạnh cha, trong chiếc áo hoa tím cha mua tặng mẹ hồi chiều. Con ôm chầm lấy mẹ, nhưng mẹ không biết gì hết. Mẹ vẫn cười. Con thực sự cảm nhận được từng sợi tóc mẹ mềm rưng rưng trên ngón tay con mà. Con vẫn cảm nhận được hơi thở của mẹ mà .Con nghe cha nhắc tên con, rồi nghe tiếng chuông điện thoại vang lên. Mẹ cầm máy. Rồi con thấy mẹ khuỵu chân xuống. Cha giằng lấy điện thoại. Con chạy ra sân. Rất nhanh.

Con khóc. Nhưng nước mắt không rơi và thay vào đó là những cục nấc nghẹn ngào. Con mới hiểu rằng con không còn là người nữa. Con chỉ là một linh hồn lưu lạc còn vương chút trần ai trong cõi nhân gian này. Mảnh sân trước mặt với cây hoa ngọc lan cha trồng là cả một tuổi thơ trong trẻo, đẹp đẽ. Cha mẹ từng nhặt hoa cho con cài tóc, từng dỗ dành mỗi khi con dỗi hờn, từng dắt con đi khi con lũn cũn từng bước chân chập chững đầu tiên …

Mùi hoa ngọc lan ngào ngạt vây quanh. Con mê đi trong diệu vợi. Chỉ đến khi con nhìn thấy cha dìu mẹ lên xe . Con mới bừng tỉnh. Con bay theo chiếc taxi màu vàng , qua rất nhiều ngã tư. Còn xa lắm mẹ ơi. Đừng đến . Đừng nhìn thấy xác con nát bét trên đường. Mà hãy cố gắng nghe con gọi tên mẹ đây. Biết đâu ? Mẹ sẽ nghe thấy được ?…

Cáo Phó Bà Quả Phụ Nguyễn Văn Găng, Nhũ Danh Trần Thị Lang, Pháp Danh Tâm Điền



















 














Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc xin báo tin buồn đến tất cả thân bằng quyến thuộc về sự ra đi của Mẹ, Bà, Chị của chúng tôi là:
Bà Quả Phụ Nguyễn Văn Găng 
Nhũ Danh Trần Thị Lang
Pháp Danh Tâm Điền
Sinh ngày 24 tháng 5 năm 1935 ở Mỹ Tho, Việt Nam
Đã mãn phần lúc 7:33pm ngày 31 tháng 7 năm 2016 (nhằm ngày 28 tháng 6/ Ất Mùi năm Bính Thân) tại tư gia ở Việt Nam.
Hưởng thọ 82 tuổi
Linh cữu hiện đang được quàn tại tư gia ở Việt Nam.
Chương trình tang lễ:
Lễ tẩm liệm, phát tang và cầu siêu lúc 6:00am ngày 1 tháng 8 năm 2016 tại tư gia 
Lễ di quan lúc 6:00am ngày 3 tháng 8 năm 2016 tại tư gia 
Lễ hỏa táng lúc 9:00am ngày 3 tháng 8 năm 2016 ở Phúc An Viên, Quận 9
Tang gia đồng kính báo
Trưởng nam: Nguyễn Trần Đạt, vợ: Nguyễn Thị Nhật Tảo và con: Nguyễn Trần Nhật Bảo(USA)
Thứ Nam: 
Nguyễn Trần Duy Đức, vợ: Lê Thị Bích Ngân và con: Nguyễn Lê Đức Minh (VN)
Nguyễn Trần Duy Liêm, vợ: Tôn Nữ Châu Bảo và 2 con: Nguyễn Bảo Duy, Nguyễn Bảo Lâm(VN)
Nguyễn Trần Xuân Phong, vợ: Phạm Tuyết Hằng và con: Nguyễn Kim Thoa(USA)
Thứ Nữ:
Nguyễn Lan Chi(USA) 
Nguyễn Lan Hương(USA) 
Nguyễn Lan Anh(VN)
Em gái:Trần Thị Lắng và các con(VN)
Em trai:Trần Quang An và vợ(VN)
Em gái:Trần Thị Kim Anh và chồng con(VN)
Em trai:Trần Quang An và vợ(VN)
Em trai:Trần Văn Hồng và vợ con(VN)
Em trai:Trần Văn Long và vợ con(USA)
Em chồng:Nguyễn Danh Tài và vợ con(VN)
Em chồng:Nguyễn Thị Mỹ Huệ và chồng con(USA)
Em chồng:Nguyễn Thăng Long và vợ (VN)
Cáo Phó này thay thế thiệp tang.blank

Cách sống

Ngày xưa có đôi vợ chồng họ có một cậu con trai 12 tuổi và một con lừa nhỏ.
Một hôm họ quyết định đi chu du thiên hạ để xem nhân tình thế thái.
Khi đi qua một làng đầu tiên họ nghe thấy những người ở đây thì thầm: "Xem thằng bé trên lưng lừa kìa, đúng là thứ không được dạy bảo đến nơi đến chốn... Ai lại ngồi thế khi cha mẹ phải lội bộ bên cạnh."
Nghe vậy người vợ liền nói với chồng: "Không thể để họ nói xấu về con mình như vậy đươc".
Người chồng bèn nhấc cậu bé xuống và nhảy lên lưng lừa ngồi.
Khi qua xóm thứ hai họ lại nghe mọi người ở đây xì xầm: "Xem kìa, thằng chồng kia quả là không biết xấu hổ, khỏe mạnh thế mà lại ngồi trên lưng lừa để vợ và con đi bộ."
Anh chồng liền nhảy xuống khỏi lưng lừa và để chị vợ ngồi lên. Hai cha con đi bên cạnh.
Qua xóm thứ ba họ lại nghe thấy người ta xì xầm: "Tội nghiệp anh chồng, làm lụng vất vả cả ngày kiếm cơm áo về cho gia đình lại phải đi bộ còn xem con vợ kìa. Cả thằng con nữa đúng là vô phúc mới có được bà mẹ như vậy."
Nghe vậy cả ba quyết định tất cả cùng ngồi lên lưng lừa rồi đi tiếp.
Khi đi qua một xóm nữa họ nghe thấy mọi người nói với nhau: "Đúng là lũ vô cảm, độc ác chẳng khác thú vật. Ba người ngồi trên lưng con vật nhỏ nhắn thế kia thì nó gẫy lưng mất chứ."
Nghe vậy ba người liền tụt khỏi lưng lừa và đi bên cạnh con vật.
Đến xóm tiếp theo mọi người cảm thấy không thể tin vào tai mình nữa khi nghe thấy dân đây cười nhạo báng: "Nhìn kìa, đúng là lũ ngu. Cả ba lết thết đi bộ trong khi con con lừa chẳng có gì trên lưng."
Kết luận: người ta sẽ luôn luôn tìm cách chỉ trích bạn, nhạo báng bạn và hoàn toàn không đơn giản để tìm được một người chấp nhận bạn.Cho nên: hãy sống như bạn cảm thấy là đúng đắn và hãy làm những điều mà bạn cho là có ích  chúc các bạn thành công trong sự nghiệp và hạnh phúc trong tình yêu!
Đọc để tham khảo
1. Uống nhiều nước
2. Dành nhiều thời gian cho gia đình: ăn cơm, trò chuyện, dọn dẹp...
3. Ăn nhiều thức ăn mọc trên cây và ăn ít thức ăn được chế tạo trong nhà máy
4. Mỉm cười mỗi ngày và đặc biệt sau mỗi khi tổn thương
5. Mỗi cây mỗi hoa, mỗi người một cuộc sống. Yêu thương mọi người, trân trọng chính mình. Đừng so sánh !
6. Chăm sóc bản thân trước khi cơ thể và tâm hồn bạn rệu rã
7. Đừng coi mình làm trung tâm, khoa học đã chứng minh không phải là bạn rồi
8. Năng lực của bạn rất quý báu, đừng đốt nó vào những chuyện ngồi lê đôi mách
9. Ngủ để mơ, thức để làm
10. Tiết kiệm không chỉ với tiền mà còn với thời gian, sức khỏe. Đầu tư đúng đắn vào thứ đi cùng mình đến cuối cùng
Chúc các bạn cuối tuần vui vẻ và thử áp dụng những lưu ý này nhé ! 

Đôi khi, cuộc sống là một chuỗi của cô đơn tận cùng, khi lòng người thì vô hạn, nhưng trái tim lại hữu hạn. Vậy nên, chúng ta luôn phải học cách rộng mở với đời nhưng lại e ấp khép chặt trái tim.Cuộc sống ném vào đời những quy luật của thương yêu bất tận, nhưng lại nhỏ nhen khi tình yêu đã mang đến đủ nhiều giới hạn. Bởi mỗi chúng ta được sinh ra, đều được nhồi nặn sự ích kỉ hàn chặt trong linh hồn.
Tạo hóa sinh ra con người phải biết đi trên đôi chân của mình, gượng dậy giữa những mặc cảm của nỗi đau chồng chất.Đó đôi khi là một lợi thế, nhưng phần nhiều lại là yếu điểm. Dần dà, con người ta phải học sống trong nỗi cô đơn, cái "cô đơn" ngấm ngầm trong máu thịt, và khép mình giữa những mạch cảm xúc đẩy đưa.
Người quen thân đã ít, người xa ngày một nhiều, học cách đối mặt với nỗi cô đơn là điều hiển nhiên phải có. Mặc dù, những bài học cuộc sống vốn không hề giản đơn.
Ngồi một chỗ thì thời gian vẫn cứ trôi qua một cách lãnh cảm. Ấy vậy mà khi con người quá bận rộn với nhiều mục tiêu, tìm kiếm một phút đắm mình cho thời gian chảy dài như thế lại trở nên hiếm hoi vô cùng.Người có nhiều thời gian luôn nghĩ đến những việc muốn làm, người không có thời gian lại nghĩ về những việc không cần thiết phải làm. Vì vậy, họ vô tình quên đi những điều giản dị hiển diện xung quanh, có khi chỉ là một nụ cười của người nào đó có ý nghĩa trong cuộc đời.
Cuộc sống không bán vé quay lại, mất đi vĩnh viễn không thu hồi được. Thế thì, tại sao không thử"yêu - thương"ngay từ lúc này?
Con người ta cần phải nếm trải đủ nhiều nỗi đau thì mới ngấm được yêu thương là điều cần thiết. Cũng như việc đi qua những ngày mưa dầm dề, mới thấy được tình yêu nồng nàn dành cho những ngày nắng gắt. Rồi một lúc nào đó chúng ta cũng sẽ nhận ra rằng, có những người chỉ có thể ở trong trái tim mình, chứ không thể hiện diện trong cuộc sống của chúng ta.
Tình yêu thì ở trong tim, nó không phụ thuộc vào lời nói hay cách thể hiên bề ngoài. Chỉ cần trong thâm tâm chúng ta biết rằng, mình vẫn biết yêu thương, thế đã là quá đủ.Đừng cố công làm màu mè lên những khái niệm giản đơn của cuộc sống, bởi những thứ xuất phát từ trái tim vốn dĩ rất mộc mạc.
Chẳng ai yêu lại không chút mong cầu, bánh xe dĩ vãng dù xa xôi vẫn mang nhiều trái đắng. Tô màu lên những kí ức là điều mỗi người vẫn thường làm khi có điều gì đó ở hiện tại đang vỡ tan.
Chúng ta thường chìm đắm trong kỉ niệm để xóa nhòa những nỗi đau. Để rồi lại vô tình làm cho những thương tổn trở nên sâu hoắm.
Người ta đặt tên cho tình yêu là định mệnh, và rồi lại đặt tên cho chia ly là bi kịch. Những tình yêu không trọn vẹn, luôn là những cuốn phim lãng mạn chất chứa nhiều nỗi đau.
Không phải cứ tạnh mưa thì cầu vồng sẽ xuất hiện. Con người ta luôn mong chờ tương lai tốt đẹp vào những phút giây bất trắc của tạo hóa, nhưng hiển nhiên chẳng có ai nghĩ rằng, sẽ luôn có biến cố vào phút cuối của lối mòn. Nhưng mà, tự tạo nên một cầu vồng nho nhỏ cho riêng mình cũng chẳng phải là điều khó khăn. Hãy cứ thử bắn nước tung tóe vào ánh mặt trời, cầu vồng sẽ rực rỡ hiện lên mà thôi.
Năng lực của con người vốn dĩ vô hạn, thế nên những gì số phận không thể mang đến cho mình, thì thôi hãy cố gắng tự mình tạo ra vậy.Chúng ta lướt qua nhau như những vạt nắng, để rồi màn đêm sẽ kéo xuống đuổi nắng đi đâu mất.Tình yêu vốn dĩ cần phải thủy chung, nhưng thỉnh thoảng lê la bên những vạt nắng cũng là điều dễ hiểu. 
Trưởng thành có nghĩa là phải học cách cảm thông cho những lỗi lầm. Vậy mới có thể yêu nhau dài lâu, và thương nhau đậm sâu. cuộc sống có bao lâu mà hững hờ phải không nào?
Suy nghĩ thực tế, cảm nhận những điều đẹp đẽ, mong muốn cái tốt lành; đó chính là mục đích của cuộc sống hướng thiện .Plato
Đời là cuộc đấu tranh liên tục; nó luôn được cải biên với nhưng khó khăn mới. Và chúng ta sẽ chiến thắng nhưng bao giờ cũng phải trải giá.
Mirko Gomex
Nếu bạn muốn đi qua cuộc đời không phiền toái thì chẳng nên bỏ đá vào túi mà đeo
V. Shemtchisnikov.
Thiên đường ở chính trong ta. Địa ngục cũng do lòng ta mà có .Chúa Jésus
Cuộc sống của chúng ta là cố gắng và lao động. Sự nghỉ ngơi hoàn toàn chỉ chờ chúng ta ở trong những nấm mồ Dex-to-ep-xki
Hãy can đảm mà sống bởi vì ai cũng phải chết một lần
Đừng đi qua thời gian mà không để lại dấu vết
Nhiều người đã khóc khi chào đời, phàn nàn khi đang sống và chán chường khi tắt thở
Bốn mươi là tuổi già của lớp trẻ, năm mươi là tuổi trẻ của lớp già
Bao giờ ta cũng phải luôn luôn có một nơi nào để đến
Những người vui hưởng cuộc sống thì không bao giờ là kẻ thất bại
Chúng ta hãy cố gắng để chỉ chết một lần thôi
Cantauzene
Bạn có yêu đời không? Vậy đừng phung phí thời gian vì chất liệu của cuộc sống được làm bằng thời gian.Franklin
Đời người được đo bằng tư tưởng và hành động chứ không phải bằng thời gian Emerson
Cuộc đời ngắn ngủi không cho phép ta hy vọng quá xa Ngạn ngữ Latin
Đừng sống theo điều ta mong muốn
Hãy sống theo điều theo điều ta có thể
Người muốn đi thì số phận dẫn đi
Người không muốn đi thì số phận kéo lê Ngạn ngữ Latin
Đời là một hài kịch đối với những người hay suy nghĩ và là một bi kịch đối với những người đa cảm G. Suip
Mục đích tối trọng của đời người không phải là sự hiểu biết mà là hành động A. Haoxlay
Cuộc sống như một cuốn sách. Kẻ điên rồ giở qua nhanh chóng. Người khôn ngoan vừa đọc vừa suy nghĩ vì biết rằng mình chỉ được đọc có một lần Giăng Pôn
Một người nào đó đã chết điều đó chưa chắc chắn đã phải người ấy đã từng sống X.Letx
Khi con người ta sống chỉ vì mình thì trở thành thừa đối với những người còn lại I.Rađep
Con người có thể chết được là để anh ta biết quý thời gian I.Rađep
Thảm họa của tuổi già không phải là ở chỗ người ta đã già mà là ở chỗ: người ta không còn cảm thấy trẻ trung nữa O.Uaind
Thời gian không đo lường bằng năm tháng mà bằng những gì chúng ta làm được H.Cason
Cuộc sống là nghĩa vụ ngay cả trong trường hợp nó chỉ diễn ra trong khoảnh khắc W.Gớt
Người ta còn sống mà làm gì, khi mà sau gót giày, gió quét sạch ngay dấu tích cuối cùng của ta S.Xvâygơ
Khi không còn ai ghen tị với bạn thì hãy xem lại liệu mình đã sống đúng chưa M.Ghenin
Người nào có thể làm mỗi giây phút đều tràn ngập một nội dung sâu sắc thì người đó sẽ kéo dài vô tận cuộc đời mình I.Cuôcxơ
Chỉ có cuộc sống vì người khác mới là cuộc sống đáng quý A.Einstein
Người hạnh phúc nhất không cần phải có mọi thứ tốt nhất, họ chỉ là người làm cho mọi việc, mọi chuyện đều diễn ra theo ý họ. Hạnh phúc thường đánh lừa những ai khóc lóc, những ai bị tổn thương, những ai đã tìm kiếm và đã thử. Nhưng nhờ vậy, họ mới biết được giá trị của những người chung quanh họ.
Điều quan trọng không phải chúng ta sống được bao lâu mà chúng ta phải sống như thế nào
Bailey
Khi bạn sinh ra đời, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười. Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn cười.(Sưu tầm)

SỨC MẠNH CỦA NỤ CƯỜI

Nụ cười là sắc tượng mỹ lệ nhất trên thế giới. Khuôn mặt rạng rỡ nụ cười đẹp gấp ngàn lần so với tô điểm má phấn môi son. Nhà hoạ sĩ Ý Đại Lợi Leonardo da Vinci hoạ nàng Mona Lisa với khuôn mặt rạng rỡ nụ cười đã trở thành bức hoạ sớm được thế giới công nhận là hình tượng đẹp nhất.
Nụ cười có sức mạnh vô cực. Trên lịch sử thế giới đã có biết bao triều đại chỉ vì nụ cười diễm lệ của mỹ nhân mà bị vong thân, mất nước. Điển hình như một nụ cười hé nở diễm lệ của Đắc Kỷ, đã làm vua Trụ say đắm, đánh mất cả giang sơn, dân tộc. Dương Quý Phi với cái nháy mắt, mỉm cười duyên dáng đã khiến quân vương đắm say bỏ bê việc triều chính. Chu U Vương vì truy cầu nụ cười hy hữu của Bao Tự, mà cam tâm phung phí tiền của mồ hôi nước mắt của dân, sai hầu nữ xé biết bao tơ lụa để làm trò vui cho Bao Tự; thậm trọng hơn nữa, vua Chu đã đánh mất chữ”Tín” với bá tánh quần thần, lấy pháo đài làm trường hí kịch, đùa cợt dối gạt hàng chư hầu; cuối cùng phải mang lấy hậu qủa tán thân, mất nước. Thậm chí hàng phong lưu tài tử như Dương Bá Hổ chỉ vì một nụ mỉm cười duyên dáng tươi đẹp của nàng Thu Hương mà đã không tiếc bán thân mình làm kẻ tôi tớ mài mực cho nhà nàng, đến kết cuộc tạo nên trò hôn nhân nực cười lưu danh muôn thuở.
Tiếng cười không những có năng lực diễn đạt được tâm tình vui buồn, giận thương của con người, mà còn có thể biểu lộ được tánh chất trung thực, thiện lương, hay tánh chất tà nguỵ, yêu ma, độc ác của lòng người, như đoạn kinh kịch dưới đây mượn dáng cười và tiếng cười để khắc họa tánh cách của từng nhân vật như giọng cười yêu ma của Tào Tháo, giọng cười cay đắng của Lưu Bị, giọng cười lạnh nhạt của Quan Công, giọng cười dối trá của Trương Phi, giọng cười mưu mô, ẩn tàng tính toán của Gia Cát Lượng, giọng cười u ám của Châu Công Cẩn.
Ngoài ra, qua dáng cười và tiếng cười của mỗi người mà có thể biết được phong cách và bản chất của người đó như cười hi hi, cười mỉm chi, cười ha hả, cười ngạo mạn, cười châm biếm, cười khểnh, cười gượng, cười thầm, cười xảo trá, mưu mô, thủ đoạn….
Nụ cười là năng lượng tăng cường nhựa sống xanh cho cuộc đời. Con người chúng ta, mỗi khi mỉm cười tức đã có sự biểu lộ tình cảm; và sự biểu lộ tình cảm đó chính làvị nước cam lồ kỳ diệu tưới mát khắp đại địa, khiến cho vàn muôn vật đều trỗi dậy nhựa sống.
Nụ cười là chiếc cầu thông thương mật thiết trong cuộc sống giao tế. Chính vì vậy bậc cổ nhân thường nói: Đưa tay đánh người, không ai nỡ đánh trên mặt người đang nở tươi nụ cười.
Trên vũ đài, sự biểu diễn của tên hề chính là muốn gây tạo nên cho người xem khai nở nụ cười thoải mái, vui vẻ. Thế nên trong cuộc sống bình nhật chúng ta cần nên giữ đưọc khuôn mặt tươi thắm nụ cười, thì khi nói chuyện mới có đủ sức thu phục lòng người; cùng người giao cảm, thậm chí giúp người lấy nụ cười hỷ hả để gạt đi nước mắt, chuyển buồn thành vui.
Điều mà chúng ta thường nói:”Trong lòng có vui thì mặt mới điểm nụ cười”. Vì vậy nụ cười không những chỉ là tác động trên khuôn mặt biểu lộ tình cảm, mà cò biểu lộ niềm vui trong lòng người. Nếu trong gia đình lúc nào cũng đầy ắp tiếng cười thì chứng tỏ gia đình đó có cuộc sống rất hạnh phúc, vui tươi, hoà hợp. Trong cuộc sống bình nhật, nếu chúng ta luôn luôn nở nụ cười hoan hỷ thân thiện để đối đãi với bất cứ khuôn mặt lãnh đạm nào thì trên chiến trường cuộc sống tất nhiên sẽ thu hoạch được lợi ích vô số kể.
Nụ cười là liều thuốc bổ vô giá; nhất là thời đại ngày nay, con người ta rất chú trọng màu sắc, chú trọng âm thanh. Do vậy, chúng ta cần nên thời thời khắc khắc giữ được khuôn mặt tươi thắm rạng rỡ nụ cười. Lấy nu cười để trang điểm cho cuộc sống căng thẳng; Lấy nụ cười để tịnh hóa xã hội cuồng loạn. Biến nụ cười xinh thắm ấy trở thành đóa hoa khả ái diễm lệ, tô điểm cho mảnh vườn sanh mạng. Đem nụ cười tươi đẹp ấy biến thành khúc nhạc tâm linh nồng ấm vi diệu cho chính mình và người. 

NẤC THANG CUỘC ĐỜI

Trong xã hội hiện nay, y học phát đạt, sinh hoạt vật chất thăng cao. Trong một quốc gia tiên tiến, người dân tuổi thọ bình quân sống đến khoảng 80 tuổi. Nếu đem cuộc đời 80 tuổi ấy so dụ như một tầng lầu cao 80 tầng cấp thang, thì con người từ khi cất lên tiếng khóc chào đời, tức một tuổi bắt đầu. Thế rồi mỗi năm, mỗi năm thêm một tuổi, một tuổi. Đời người cứ thế từng bước, từng bước đi lên cho đến tận đích. Trong bước đi từng bước, từng bước  của đời người, bằng cách nào mới có thể lên đến được tầng cao nhất thứ 80? Tức đạt đến đỉnh cao của tuổi thọ, đỉnh cao của cuộc đời.

Câu chuyện thần thoại kể rằng: Xưa có hai anh em nhà nọ xuất ngoại leo núi. Sau khi xuống núi trở về ngôi nhà 80 tầng lầu, họ định dùng thang máy để lên lầu, không may thang máy bị trục trặc không thể kéo lên được. Hai anh em cảm thấy không có vấn đề gì trở ngại, khi phải chuyển sang cách từng bước, từng bước leo lên từng nấc thang; bởi vì lúc thường nhật họ đã từng kiên chí luyện tập leo núi, khiến cho họ có được sức lực dẻo dai. Nhờ vậy, mặc dầu phải leo đến nấc thang cao nhất của tòa đại lầu rất vất vả, nhưng họ vẫn duy trì được tinh thần phấn khởi, cố gắng hướng từng bước leo lên.

Khi họ đã hướng lên đến nấc thang của tầng lầu thứ 20, họ không những không cảm thấy mệt nhọc, mà còn tự giác rằng, mình phải leo cho thật nhanh, và thật vững chắc, không sợ bất cứ một nấc thang nao. Thế là họ hăng hái đặt bước hướng lên. Đến khi leo lên đến tầng lầu thứ 40, bỗng nhiên họ cảm thấy thân thể xuất hiện trạng thái mệt mỏi. Họ cảm thấy cái vali hành lý của họ càng lúc càng trở nên nặng nề vô cùng. Thế là hai anh em thương lượng, quyết định đem hành lý để lại nơi tầng lầu thứ 40, đợi khi có thang máy sẽ trở lại lấy.

Bằng tín tâm và dũng khí, họ tiếp tục hướng lên leo cho đến tầng lầu thứ 60. Lúc này họ cảm thấy sức lực đã suy yếu hẳn đi. Khí đã suy, lực đã mòn, dường như không còn đủ sức lực để tiếp tục leo lên đến tầng lầu thứ 80. Nhưng trong khoảng khắc suy nghĩ: mình đã lên được đến tầng lầu thứ 60 rồi; cự ly chỉ còn 20 nấc thang, còn có gì không thể vượt khó? Thế là họ không quản ngại muôn vàn khó khăn, mệt nhọc trong khí lực suy yếu của tầng tuổi 60; cho dù phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt với chân mỏi gối chùn. Cuối cùng họ đã lên được đến đích thang của tầng lầu thứ 80. Toại nguyện chí hướng, họ nở nụ cười sung sướng. Nhưng khi người anh định mở cửa bước vào nhà, đột nhiên la lớn: “Chết rồi! Chìa khóa mở cửa để trong vali hành lý, chưa đem lên được.” Người em nghe thấy như vậy, tâm hồn tràn ngập nỗi thất vọng, thân thể rã rời như bong bóng xì hơi, đầu óc mênh mang mờ mịt.
Câu chuyện trên chỉ cho chúng ta rõ rằng: Sinh mạng của con người, trong 80 tuế nguyệt của đời người, tầng tuổi thứ 20 là lứa tuổi thanh xuân cường tráng, tràn đầy sức sống hạnh phúc, tươi vui, tuyệt đẹp vô cùng. Đến tầng tuổi 40, vì sinh kế gia đình, con cái..., hai vai gánh vác những trách nhiệm nặng nề như gánh một vali hành lý nặng. Ở thời tuổi ấy, có người đem gánh vali hàng lý nặng đó đặt để nơi tầng tuổi 40, rồi tiếp tục nỗ lực leo lên cho đến nấc thang của tầng lầu 60. Vào tuổi 60 của đời người, đã cảm nhận rõ mình thế lực không còn dẻo dai để tiếp tục gánh vác trọng trách, nhưng vẫn không ngừng nỗ lực bước trọn lên đến chung đích; cho dù chỉ là đem theo cái thân thể yếu mòn để tiếp tục bước lên những nấc thang còn lại của cuộc đời. Và khi đã đặt chân đến nấc thang của tầng tuổi 80, ngoái đầu nhìn lại quá trình mình đã vượt qua, một chùm chìa khóa để lại dưới tầng lầu thứ 40, tức sự nghiệp gánh vác trọng trách mình đã không còn đủ sức lực và dũng khí để bước trở xuống lấy nó mở cửa vào nhà hạnh phúc.
Bạn đọc thông minh thân mến, bạn cũng có một cuộc đời của 80 tầng cấp lầu, bạn đã có quy hoạch cho mình nên làm những gì chưa?

Nếu thắng hãy thắng người hơn mình bằng đức khiêm cung

(PGVN)

Người hiểu biết nhiều thì càng phải khiêm tốn, dù là đối với người hèn kém hơn mình. Phải lãnh thọ và quý trọng những gì xung quanh ta. Khiêm tốn một phần, tăng thêm một phần công đức

Xin cúi xuống làm đất, cho người bước đi qua. Xin nâng dậy cánh hoa, cho người vui đôi mắt,...”
Chúng ta quan sát thấy ở nơi nào đất trũng xuống thì ở đó nước tràn về. Người sống ở đời biết khiêm tốn mới học hỏi được nhiều điều hay, tu dưỡng phẩm chất thanh cao, vẹn toàn đức hạnh, làm gương cho người học tập theo.
Người biết khiêm tốn luôn được mọi người yêu mến, quý trọng. Người khiêm tốn phải bao dung đức lành này từ sự lớn cho đến việc nhỏ, như giọt nước nhỏ từng giọt lâu ngày đầy lu to. Nếu biết thương mình, mình thương người thì nên tích đức, tránh ác, hành thiện, thực tập thói quen luôn luôn kiểm soát tâm ý mình khi đối người tiếp vật.

Người ngã mạn, cống cao dù có công danh sự nghiệp cũng chỉ được trong chốc lát. Bởi không đầy đủ phước đức nên không thể nuôi dưỡng được lâu dài! Nếu, trên đã tìm cầu danh vọng, phú quý giàu sang mà không hành hạnh khiêm tốn khó mà thành tựu mong ước! Người hiểu biết nhiều thì càng phải khiêm tốn, dù là đối với người hèn kém hơn mình. Phải lãnh thọ và quý trọng những gì xung quanh ta. Khiêm tốn một phần, tăng thêm một phần công đức.
Cố đại lão Hòa thượng Thiện Hoa có dạy: “Tu là từ mẫn vật, khiêm tốn tự y, thiên ty tọa xứ, thuyết luật pháp ngữ, kiến quá mặc nhiên”. Nghĩa là, người tu phải có lòng yêu thương loài vật, phải khiêm tốn nhún nhường, phải biết bổn phận của mình, phải nên luận bàn đúng theo lời Phật dạy và chỉ tự xét lỗi mình chớ nên tìm lỗi kẻ khác.
Nhà học giả La Bruyere đã nói: “Sự khiêm tốn có giá trị như cái bóng loáng của bức tranh, nó nổi bật lên và hùng dũng”. Cho nên Phật tổ dạy: “Hãy thắng người hơn mình bằng đức tánh khiêm cung.”
 Thiên Ấn
Nguồn: Chùa Hoằng Pháp
KHIÊM CUNG(低頭)
 Một ngày nọ trên chuyến du lịch đồng hành, có một người khách hỏi một nhà triết học: “Từ mặt đất lên đến bầu trời xanh kia có chiều cao là bao nhiêu?”
 Nhà triết học trả lời:--- ba thước cao.
- Thấp như vậy sao? Con người chúng ta chẳng phải vốn đã có chiều cao ít nhất là ba tất, bốn tấc, năm tất, sáu tất rồi sao?
Nhà triết học đáp:”Đúng vậy, nếu bạn vượt qua ba tất thước cao của con người thì bạn phải biết vận hành pháp đứng vững giữa trời đất, và nhất là cần phải nên hiểu biết thực hành pháp khiêm cung”.---Đó là đoạn đối thoại dồi dào sức sống về đời sống triết học.
Các nhà nho thời cổ đại, người học trò bắt đầu vào học, trước dạy họ khấu đầu bái sư, thậm chí bạn bè tương giao cũng phải cúi đầu thi lễ. Tín đồ Phật giáo, tin Phật trước phải lễ bái chư Phật, chư Tổ. Trong cuộc sống, nếu không lấy pháp khiêm cung cùng người tiếp xúc, lại tùy ý mình muốn dài ngắn, cao thấp thế nào, tùy mình dọc ngang tung hoành, thì làm sao có thể bảo toàn được cuộc sống tốt đẹp. Thế nên, chúng ta muốn cùng người tạo mối giao tiếp tốt đẹp, tất nhiên đòi hỏi chúng ta phải biết thực hành pháp khiêm cung.
Trong giao tiếp giữa người và người, khiêm cung là tượng trưng cho sự lễ phép, lịch sự; là biểu thị nhân cách khiêm tốn, khiêm nhường cao qúi. Cuộc sống của đờiù người có hiểu biết và thực hành được pháp khiêm cung chân thiện mỹ đó thì mới có thể đột phá triệt tiêu đi cái ngã chấp khổng lồ, để khai mở đời sống trong sáng tiến bộ, và mới không bị thất lợi trong giao tế. Trong Phật giáo, mỗi người Phật tử đều thực tập cúi đầu lễ bái là biểu hiện mình cùng đức Phật tiếp tâm. Thế hệ con cháu, thế hệ đàn em khi đến trước các bậc tiến bối, các bậc tôn túc thẳng mình cung thủ cúi đầu thi lễ chào hỏi, là hành động biểu lộ rằng, lớp hậu học chúng concần đến sự quan tsâm của quý ngài.
Khiêm cung là biểu hiện sự lễ phép, cung kính nhún nhường; nhưng trong Phật giáo, pháp hành khiêm cung có lúc không phải hoàn toàn bắt buộc cúi đầu thi lễ, mà có lúc cần phải ngẩng cao đầu chiêm ngưỡng. Khiêm cung còn được biểu hiện bằng tâm ý thanh tịnh đi nhiễu Phật, nhiễu tháp biểu thị tâm lưu luyến cung kính, cho đến thu nhiếp ba nghiệp, tịnh tâm quán tưởng. Do vậy, pháp hành khiêm cung của Phật giáo rất sâu rộng, đáng thời cúi đầu nên cúi đầu, đáng lúc ngẩng đầu nên ngẩng đầu; đáng thời đi nhiễu hành nên đi nhiễu hành; tuy øthời hợp cảnh mà hành pháp. Lại nữa, khiêm cung chính là con đường giao thông, là chiếc cầu thông thương được biểu đạt qua tâm ý truyền đến đối phương niềm hoài cảm hỗ tương tôn trọng tiếp nhận.
Trong pháp hành cúi đầu hành lễ của Phật giáo còn có cách giải thích khác nữa là: Cái gọi là” chăm sóc bước chân’’, ý chỉ rằng, chúng ta làm bất cứ việc gì, cần phải có tư duy quán sát sao cho hợp thời, hợp lý; làm đâu ra đó và làm cho đến nơi đến chốn với lòng khiêm cung chân thật. Bởi vì đối diện với bất ky øcông việc làm nào, nếu chúng ta với tâm khiêm cung cần lao khẩn ý thì mới thành tựu được nền móng đời sống vững chắc. Trên lộ trình giao thông, vì muốn an toàn, khi đi đường bộ, hoặc khi lái xe, chúng ta đều phải nhìn xuống mặt đất và cẩn thận chăm sóc lấy từng bước chân của mình trên đường đi, chứ không dám ngưỡng mặt nhìn trời mà đi. Trong cuộc sống, nếu chỉ biết hướng lên phía trước để tìm tòi, để so đo tật đố, thì người đó nhất định sẽ gặp thất bại.
Khiêm cung là một cử chỉ thành thục, đầy đủ đứùc chân thiện mỹ. Chúng ta cùng quán xét xem cây cỏ khi kết trái đơm bông đều hướng xuống mặt đất trĩu cành. Cây lúa khi trổ bông chín mùi thơm ngát cũng trĩu ngọn cúi đầu. Thế nên khiêm cung là cử chỉ cao qúy khién cho người khác ngay khi tiếp cận liền khởi tâm yêu mến, hoan nghinh. Làm người, nếu tự cho rằng mình có dáng cao to trượng phu tướng, lại có địa vị, có uy quyền rồi sanh tâm cao ngạo, uỡn ngực vênh vang, đầu ngưỡng thật cao mạnh bước hiên ngang. Hạng người đó đáng liệt vào danh thứ nào? Trên lịch sử thế giới, các bậc hiền thánh được mọi người tôn xưng là bậc tài cao đức trọng vì họ suốt cuộc đời họ biết sống và phụng sự trong pháp hành khiêm cung. Cống cao ngã mạn sẽ làm tổn thất nhân đức; khiêm cung nhã nhặn, sẽ tăng trưởng nhân cách đạo đức và là pháp thu phục lòng người thành công. Chúng ta là hàng hậu học cần nên noi gương hàng thánh nhân học tập pháp hạnh khiêm cung mới tạo được cùng người mối rộng kết thiện nhân duyên.
Người biết sống khiêm cung nhất định sẽ có cuộc sống hạnh phúc, và sẽ có ngày thành đạt vinh quang.
Thưa qúy đọc giả, qúi vị đã từng thể hội qua thành qủa tốt đẹp kỳ diệu của pháp hạnh khiêm cung? 

Lời Phật dạy về đạo làm người

(PGVN)

Kinh Thiện Sanh, là bản kinh căn bản dạy cho ta biết cách giữ gìn các mối quan hệ đó một cách tốt đẹp, ở đó ta thấy được các quan hệ được Phật dạy đều theo hai chiều rất tinh tế, như đời: “đường hai nẻo xuống lên”.

Bấy giờ, đã đến lúc đức Thế Tôn khoác y – bát lên đường vào thành khất thực, trên đường đi, đức Thế Tôn thấy một chàng thanh niên đang lễ bái, là người con có hiếu nên nghe theo lời dạy của cha trước khi mất, cứ mỗi sáng, sau khi tắm gội xong anh ta ra đường thực hành việc lễ bái sáu phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới. Cuộc gặp gỡ là duyên khởi cho bản kinh Thiện Sanh ra đời.

Đây là một bản kinh nguyên thủy, ngắn gọn, ghi lại lời Phật dạy cách đối nhân xử thế, cách thực thi các bổn phận và trách nhiệm của người Phật tử đối với bản thân, gia đình và xã hội, rộng hơn là Phật dạy cách kiến tạo một xã hội hài hòa, một cuộc sống đầy an lành và hạnh phúc.

Trong tạng A-hàm, theo bản dịch Việt từ Hán mới nhất của Thượng tọa Tuệ Sỹ thì Kinh Thiện Sanh thuộc No.16, Phần II, Trường A-hàm. Trong tạng Nikaya, theo bản dịch Việt từ Pali của Hòa Thượng Thích Minh Châu, tương đương kinh Thiện Sanh là Kinh Giáo Thọ Thi-Ca-La-Việt (Sigàlovàda sutta) thuộc No.31, Trường Bộ Kinh. Bài viết chủ yếu trích từ ấn bản điện tử từ trang nhà Phatviet.com của TT.Tuệ Sỹ, tất cả các đoạn trích đều được đóng mở “.”, phần lễ bái sáu phương, hầu hết lấy nguyên văn trong kinh.

Tránh bốn việc ác và sáu việc làm hao tổn tài sản

Khi Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, dẫn đầu đoàn khất thực với đại chúng hai ngàn năm trăm vị Tỳ-Kheo đi vào thành, đức Thế Tôn thấy một gia chủ tử tên Thiện Sanh đang lễ sáu phương, Ngài hỏi:

“Vì sao, ngươi vào buổi sáng sớm ra khỏi thành, đi đến khu công viên, với cả người còn ướt đẫm, mà ngươi lại lạy các phương như thế?”

Thiện Sinh bạch Phật:

“Khi cha con sắp chết có dặn: “Nếu con muốn lạy, trước hết hãy lạy các phương Đông,Tây, Nam, Bắc, trên và dưới”. Con vâng lời cha dạy không dám chống trái.”

Phật bảo Thiện Sanh:

“Này con trai trưởng giả! Quả có cái tên các phương đó chứ không phải không. Nhưng trong pháp Hiền Thánh của ta chẳng phải lễ sáu phương như thế là cung kính đâu.”

Thiện Sinh thưa:

“Cúi xin đức Thế Tôn thương dạy cho con cách lễ sáu phương theo pháp Hiền Thánh.”

Phật bảo Thiện Sinh:

“Nếu trưởng giả hay con trưởng giả nào biết tránh bốn nghiệp kết không làm ác theo bốn trường hợp và biết rõ sáu nghiệp hao tổn tài sản. Như thế, này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả nào tránh được bốn việc ác là lễ kính sáu phương”

Bốn nghiệp kết mà Phật dạy: Sát sinh, trộm cắp, dâm dật, vọng ngữ, đây là bốn điều xấu ác mà bất cứ ai cũng nên tránh, hàng ngày đọc báo chúng ta vẫn thường thấy nhan nhãn các tội phạm phạm bốn điều trên: giết người, cướp của… gây cho xã hội những bất an thường nhật. Rõ thấy, những điều mà Phật dạy chẳng có gì khác ngoài những chuyện thực thường ngày ở thế gian.

Bốn trường hợp ác: tham dục, sân hận, sợ hãi, ngu si. Về tham dục, không phải cứ tham dục là điều xấu, mà tham dục cần phân biệt có hai loại, loại tham dục phục vụ ngũ dục (tài, sắc, danh, thực, thùy) khiến cho tâm trí mê mờ, dẫn đến những vọng tưởng điên đảo, sân hận, sợ hãi và ngu si… loại tham dục này thì cần phải loại bỏ, loại tham dục thứ hai phục vụ cho chánh kiến, chánh tư duy, chánh nghiệp… cho sự học hành, phát triển nhân cách, tinh thông trí tuệ, nâng cao dân trí, sự phồn thịnh xã hội, sự bình an, sự hạnh phúc..thì cần thực hành và phát huy.

Sáu nghiệp hao tổn tài sản cần tránh:

1. Đam mê rượu chè.

2. Cờ bạc.

3. Phóng đãng.

4. Đam mê kỹ nhạc.

5. Kết bạn người ác.

6. Biếng lười.

Phật bảo Thiện Sinh:

“Này Thiện Sinh, nếu trưởng giả hay con trai trưởng giả biết rõ bốn kết hành không làm ác theo bốn trường hợp, lại biết sáu nghiệp tổn tài ấy là, này Thiện Sinh, tránh được bốn trường hợp, cúng dường sáu phương, thì đời này tốt đẹp, đời sau tốt đẹp; đời này căn cơ và đời sau căn cơ; trong hiện tại được người trí ngợi khen, được quả báo bậc nhất; sau khi chết được sanh lên trời, cõi thiện”.

Như vậy, Phật dạy người nào tránh được bốn nghiệp kết, bốn việc ác, sáu nghiệp hao tổn tài sản thì không những đời này đẹp và cả đời sau cũng được hưởng những quả tốt đẹp, đời này có duyên lành và đời sau cũng có duyên lành, trong hiện tại được người ngợi khen, xã hội ngợi khen, gia đình ngợi khen và trên hết phương ấy được an ổn, xã hội ấy được tốt đẹp, không lo sợ…

“Người nào không làm ác,

Do tham, hận, sợ, si,

Thì danh dự càng thêm,

Như trăng hướng về rằm”.

Bốn hạng kẻ thù và bốn hạng người đáng thân

Trong Trung Hoa Kim Cổ Kỳ Nhân có thuật lại tình bạn giữa Bá Nha – Tử Kỳ, một tình bạn đẹp lưu danh muôn thuở. Bá Nha là một vị quan làm đến chức Thượng đại phu, còn Tử kỳ chỉ là một chàng nông dân kém Bá Nha chục tuổi. Nhưng chỉ mỗi Bá Nha hiểu được tiếng đàn của Tử Kỳ, từ đó hai người trở thành tri kỷ, khi nghe tin Tử Kỳ chẳng may qua đời, Bá Nha đã cầm đờn đập mạnh vào tảng đá,cây đờn vỡ tan, sau đó đọc bốn câu thơ:

“Dao cầm đập nát đau lòng phượng,

Đã vắng Tử Kỳ đàn với ai?

Gió xuân bốn mặt, bao bè bạn.

Muốn tìm tri âm, thật khó thay!”

Trong cuộc sống ai cũng cần có bạn, tình bạn kiểu Bá Nha – Tử Kỳ thuộc dạng xưa nay hiếm, nhưng cũng cần phải lựa bạn tốt mà chơi, vì nếu “giao du với bạn xấu có sáu lỗi: 1, tìm cách lừa dối; 2, ưa chỗ thầm kín; 3, dụ dỗ vợ người; 4, mưu đồ chiếm đoạt tài sản của người; 5, xoay tài lợi về mình; 6, ưa phanh phui lỗi người”. Đó là sáu tai hại về bạn xấu. Nếu chúng ta làm bạn với kẻ ác mãi thì gia sản mỗi ngày mỗi tiêu tán”.

Phật bảo Thiện Sanh.

“Có bốn hạng kẻ thù mà như người thân, ngươi nên biết. Bốn kẻ ấy là những ai? 1, hạng uý phục; 2, hạng mỹ ngôn; 3, hạng kính thuận; 4, hạng ác hữu.

[(1) “Hạng úy phục thì thường hay làm bốn việc: một, cho trước đoạt lại sau; hai, cho ít mong trả nhiều; ba, vì sợ gượng làm thân; bốn, vì lợi gượng làm thân.

(2) “Hạng mỹ ngôn thì thường hay làm bốn việc: một, lành dữ đều chiều theo; hai, gặp hoạn nạn thì xa lánh; ba, ngăn cản những điều hay; bốn, thấy gặp nguy tìm cách đùn đẩy.

(3) “Hạng kính thuận thì thường làm bốn việc: một, việc trước dối trá; hai, việc sau dối trá; ba, việc hiện dối trá; bốn, thấy có một chút lỗi nhỏ đã vội trách phạt".

(4) “Hạng bạn ác thì thường làm bốn việc: một, bạn lúc uống rượu; hai, bạn lúc đánh bạc; ba, bạn lúc dâm dật; bốn bạn lúc ca vũ.”

“Có bốn hạng người thân đáng thân vì thường đem lại lợi ích và che chở. Những gì là bốn? Một, ngăn làm việc quấy; hai, thương yêu; ba, giúp đỡ; bốn, đồng sự. Đó là bốn hạng người thân đáng thân cận”.

1) Này Thiện Sinh, hạng ngăn quấy thì thường làm bốn việc đem lại nhiều lợi ích và hay che chở: thấy người làm ác thì hay ngăn cản, chỉ bày điều chánh trực, có lòng thương tưởng, chỉ đường sinh Thiên. Đó là bốn trường hợp ngăn cản việc quấy đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.

(2) Hạng thương yêu thì thường làm bốn việc: Mừng khi mình được lợi, lo khi mình gặp hại, ngợi khen đức tốt mình, thấy mình nói ác thì tìm cách ngăn cản. Đó là bốn điều thương yêu đem lại nhiều lợi ích và hay che chở.

(3) Hạng giúp đỡ có bốn việc. Những gì là bốn? Đó là: che chở mình khỏi buông lung, che chở mình khỏi hao tài vì buông lung, che chở mình khỏi sợ hãi, khuyên bảo mình trong chỗ vắng người.

(4) Hạng đồng sự thì thường làm bốn việc: không tiếc thân mạng với bạn, không tiếc của cải với bạn, cứu giúp bạn khỏi sợ hãi, khuyên bảo bạn lúc ở chỗ vắng người.”]

Lễ bái sáu phương hay cách thức xây dựng một xã hội hạnh phúc

Sáu phương là gì, tại sao phải lễ bái sáu phương như chàng Thiện Sanh đã làm, anh ta làm vì nghe lời cha mà không hiểu ý nghĩa của việc lễ bái đó. Phật dạy: “Sáu phương là gì? Phương Đông là cha mẹ, phương Nam là sư trưởng, phương Tây là thê thiếp, phương Bắc là bạn bè thân thích, phương trên là các bậc trưởng thượng, Sa-môn, Bà-la-môn, phương dưới là tôi tớ”. Bài dạy lễ sáu phương là cách mà Phật dạy đạo làm người.

Đạo hiếu làm con, phận làm cha mẹ.

Kẻ làm con phải kính thuận cha mẹ với năm điều:

1. Cung phụng không để thiếu thốn.

2. Muốn làm gì thưa cha mẹ biết.

3. Không trái điều cha mẹ làm.

4. Không trái điều cha mẹ dạy.

5. Không cản chánh nghiệp mà cha mẹ làm.

Kẻ làm cha mẹ phải lấy năm điều này chăm sóc con cái:

1. Ngăn con đừng để làm ác.

2. Chỉ bày những điều ngay lành.

3. Thương yêu đến tận xương tủy.

4. Chọn nơi hôn phối tốt đẹp.

5. Tùy thời cung cấp đồ cần dùng..

Này Thiện Sinh, kẻ làm con kính thuận và cung phụng cha mẹ, cha mẹ thương con, bảo bọc cho con thế thì gia đình ấy được hạnh phúc, xã hội bình an, phương ấy được an ổn không có điều lo sợ.

Đạo nghĩa thầy trò

Đệ tử cung phụng sư trưởng có năm điều:

1. Hầu hạ cung cấp điều cần.

2. Kính lễ cúng dường.

3. Tôn trọng quí mến.

4.Thầy có dạy bảo điều gì không trái nghịch.

5. Thầy có dạy bảo điều gì nhớ kỹ không quên. Kẻ làm đệ tử cần phải thờ kính sư trưởng với năm điều ấy.

Thầy cũng có năm điều để săn sóc đệ tử:

1. Tùy thuận pháp mà huấn luyện.

2. Dạy những điều chưa biết.

3. Giải nghĩa rành rõ những điều trò hỏi.

4. Chỉ cho những bạn lành.

5. Dạy hết những điều mình biết không lẫn tiếc.

Nếu đệ tử kính thuận, cung kính nghe lời sư trưởng, thầy thì thương trò, chỉ bảo dạy dỗ tận tình cho học trò thì nền giáo dục xã hội ấy phát triển, phương ấy vững bền, an ổn không có điều lo sợ.

Đạo nghĩa vợ chồng

Chồng phải có năm điều đối với vợ

1. Lấy lễ đối đãi nhau.

2. Oai nghiêm không nghiệt.

3. Tùy thời cung cấp y, thực.

4. Tùy thời cho trang sức.

5. Phó thác việc nhà.

Vợ cũng phải lấy năm việc cung kính đối với chồng

1. Dậy trước.

2. Ngồi sau.

3. Nói lời hòa nhã.

4. Kính nhường tùy thuận.

5. Đón trước ý chồng.

“Chồng đối với vợ thương yêu, tôn trọng, vợ đối với chồng cung kính đối đãi nhau, như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.

Quan hệ bạn bè, tình làng nghĩa xóm

Người ta phải lấy năm điều thân kính đối với bà con

1. Chu cấp.

2. Nói lời hiền hòa.

3. Giúp ích.

4. Đồng lợi.

5. Không khi dối.

Bà con cũng phải lấy năm điều đối lại

1. Che chở cho mình khỏi buông lung.

2. Che chờ cho mình khòi hao tài vì buông lung.

3. Che chở khỏi sự sợ hải.

4. Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người.

5. Thường ngợi khen nhau.

“Tình người, tình làng nghĩa xóm, biết thân kính bà con như vậy thì phương ấy được yên ổn không điều chi lo sợ”.

Quan hệ chủ tớ, trên dưới

Này Thiện Sinh, chủ đối với tớ có năm điều để sai bảo

1. Tùy khả năng mà sai sử.

2. Tùy thời cho ăn uống.

3. Phải thời thưởng công lao.

4. Thuốc thang khi bệnh.

5. Cho có thời giờ nghỉ ngơi.

Tôi tớ phải lấy năm điều phụng sự chủ:

1. Dậy sớm.

2. Làm việc chu đáo.

3. Không gian cắp.

4. Làm việc có lớp lang.

5. Bảo tồn danh giá chủ.

“Này Thiện Sinh, nếu chủ đối với tớ được như vậy thì phương ấy được an ổn không điều chi lo sợ”.

Quan hệ giữa đàn việt với Sa-môn

Kẻ đàn việt cung phụng hàng Sa-môn với năm điều.

1. Thân hành từ.

2. Khẩu hành từ.

3. Ý hành từ.

4. Tùy thời cúng thí.

5. Không đóng cửa khước từ.

Sa-môn, Bà-la-môn cũng khuyên dạy theo sáu điều:

1. Ngăn ngừa chớ để làm ác.

2. Chỉ dạy điều lành.

3. Khuyên dạy với thiện tâm.

4. Cho nghe những điều chưa nghe.

5. Những gì đã được nghe làm cho hiểu rõ.

6. Chỉ vẻ con đường sanh thiên.

“Này Thiện Sinh, nếu đàn việt kính phụng hàng Sa-môn, Bà-la-môn như thế thì phương ấy được an ổn không điều gì lo sợ”.

Bấy giờ Thiện Sinh bạch Phật:

“Lành thay, bạch Thế Tôn! Thật quá chỗ mong ước của con xưa nay, vượt xa những lời dạy của cha con. Như lật ngửa những gì bị úp xuống; như mở ra những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được gặp đèn, có mắt liền thấy. Những gì được Như Lai thuyết giảng cũng như thế; bằng vô số phương tiện khai ngộ cho kẻ ngu tối; làm rõ pháp thanh bạch. Phật là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, do đó có thể chỉ bày, hướng dẫn cho đời. Nay con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Cúi xin đức Thế Tôn chấp thuận cho con được làm ưu-bà-tắc ở trong Chánh pháp. Kể từ hôm nay cho đến trọn đời, con nguyện không giết, không trộm, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.”
Đọc toàn bộ nội dung kinh, một bản kinh ngắn, súc tích, ngôn ngữ Phật dùng rất rõ ràng mà bất cứ ai đọc cũng có thể nắm bắt, lời dạy như luồng sáng mở ra những gì bị đóng kín; như người mê được tỏ, đang ở trong nhà tối được gặp đèn, có mắt liền thấy, rất thiết thực, căn bản, rất cần cho chúng ta trong ứng xử với các mối quan hệ thường ngày trong cuộc sống.
Các pháp đều nương với nhau mà tồn tại, cũng vậy, mỗi người trong cuộc sống cũng đều phải có nghĩa vụ và trách nhiệm về một điều gì đó với một ai đó, mỗi một ai đó sẽ là phần còn lại về nghĩa vụ và trách nhiệm của người nào đó, suy ra sẽ nhìn thấy một ma trận ngang dọc, ma trận vuông tròn các quan hệ. Quan hệ cha mẹ, con cái, ai cũng ít nhất một lần làm học trò, ai cũng ít nhất có một người bạn, ai cũng phải làm một việc gì đó để sống,…vì vậy cần phải ứng xử sao cho hợp đạo hợp nghĩa, đúng mực để tự bảo vệ bản thân tức là bảo vệ cho gia đình, cho xã hội.
Kinh Thiện Sanh, là bản kinh căn bản dạy cho ta biết cách giữ gìn các mối quan hệ đó một cách tốt đẹp, ở đó ta thấy được các quan hệ được Phật dạy đều theo hai chiều rất tinh tế, như đời: “đường hai nẻo xuống lên”.
Nguồn: www.loiphatday.org