Wednesday, November 30, 2016

Những Bát Phở Việt Nam

Trận tuyết đầu mùa đã đến sớm và tan trước ngày Lễ Giáng Sinh trên vùng Tây Bắc. Năm nào cũng thế, anh chỉ mong tuyết rơi thật nhiều đúng vào ngày đó để có thể lấy cớ từ chối hết mọi việc, được ở nhà ngồi ngắm ngọn lửa hồng reo vui và nghe tiếng củi nổ lách tách trong lò sưởi, hay nhìn ra cảnh vật huyền ảo bên ngoài. Tối đến có thể ngồi xem tivi và lười biếng nằm ngu? quên trên ghế sô-pha trong phòng khách. Nhưng chẳng năm nào được như ý!

Mới thứ sáu trước lễ Giáng Sinh, còn ngồi trong sở nhìn tuyết rơi thêm dày đặc và phủ trắng hết mặt đường. Đang lo không hiểu làm sao lái xe về nhà được thì một ông H.O. mới qua, tới gần khung cửa thốt lên:
- Đẹp quá! Đẹp quá! 
Anh quay lại nhìn, thoáng thấy một chút rạng rỡ trên khuôn mặt cằn cỗi.
Ông ta nói tiếp:
- Lần đầu tiên trong đời tôi trông thấy tuyết rơi, ông ạ! Sáng nay, tôi ra khỏi nhà, đi trên tuyết hàng giờ, lòng thấy thanh thản lạ thường
Buổi tối ngày hôm sau, vợ chồng anh đến nhà một người bạn họp mặt với một số bằng hữu. Khung cảnh đẹp, không khí ấm cúng; cũng có ngọn lửa hồng, cũng có những kỷ niệm xưa. Sau đó cả bọn chuếnh choáng men rượu ngồi quàng vai nhau, vỗ bàn, gõ ly và cùng hát. Hát những đoạn cu?a bài này quàng sang những đoạn cu?a bài khác, thành một bản trường ca xuôi dòng từ sáu bẩy chục năm về trước, bất tận và bất hủ.
Tự nhiên anh nhớ lại hình ảnh những người lính Lê Dương say rựợu ôm nhau lảo đảo, hát nghêu nghao trên các hè phố vắng Hanoi, Saigon vào các đêm Giáng Sinh xưa. Ngày nhỏ anh thường sợ và cố tránh xa họ. Sau này mới biết trong những tiếng hát đó không phẳi chỉ có hơi rượu mà còn có thể vương cả những giọt lệ của đời lính viễn chinh, một chiều nào chợt thấy mình cô đơn, chợt nhìn thấy hình a?nh quê hương ở một nơi nào đó, có thể là bên giòng sông Volga hay bên giòng sông Danube.. đã nhòa trong nước mắt và biết là mình không mong có một ngày về nơi làng cũ, bên gác chuông xưa với những người yêu dấu không bao giờ quên.
Anh nghe lại những bài hát từ thời kháng chiến chống Pháp, anh nghĩ rằng có những người bạn hôm đó, chắc gì đã không thấy thoáng qua nỗi nhớ của những ngày theo các đàn anh vượt sông Hồng trong một đêm không trăng, hay ngồi ghe dọc theo sông Bassac mênh mông xuôi dòng vào Đồng Tháp. Chắc thế nào cũng có người không quên được những quãng đường rừng, có tiếng chim kêu, có tiếng vượn hót, lại có cả tiếng súng vang trong các vùng Đô Lương, khu Bốn, khu Năm, hay miền thượng du Hà Giang, Việt Bắc..
Anh cũng lại được nghe những đoạn của các khúc tình ca não nuột của thời tiền chiến, của những năm 1950, 60, 70. Chắc cu~ng có người nghĩ đến những đêm về sáng cuối cùng của những lần nghĩ phép cố kéo dài, Đứng ở đầu đường Tự Do, nghe lần chót tiếng một nữ ca sĩ vọng lại từ một vũ trường, đang hát một bản nhạc tình ngăn cách, chia ly, và ngày mai lại phải rời thành phố để bạt vào một vùng xa xôi nào đó, tưởng như mình cũng vừa đem theo thêm một mối tình lỡ dở.
Ngày hôm sau nữa, đến đón hai vợ chồng một người bạn từ Michigan sang làm lễ cưới cho cô em gái. Chị có một thời làm xướng ngôn viên cho đài truyền hình ở Việt Nam; và anh là một giáo sư hội họa, có bức tranh ‘‘Vượt Biển’’ vẽ từ hồi trong trại tị nạn được giữ trong bảo tàng viện Tổng Thống Ford.
Hôm làm lễ cưới ở nhà thờ, phía nhà gái chỉ có hai vợ chồng người bạn là anh chị cô dâu, và vợ chồng anh. Còn lại toàn là phía nhà trai. Lúc đu+'ng trong thánh đường rộng thênh thang và khúc nhạc cưới trỗi dậy, người anh rể thay mặt thân sinh cô dâu, còn ở Việt Nam, từ ngoài theo điệu nhạc dìu cô dâu đi vào. Anh hình dung lại cô em nhỏ đó, hồi nào mới bốn, năm tuổi vẫn thường hay đòi kẹo bánh các bạn của chị mình, và nay đang thành gia thất. Anh nhìn chị bạn ở hàng ghế trên, thấy chị đang cúi xuống chấm nước mắt. Bỗng nhiên anh cảm thấy trong chỗ đông người cũng có sự cô đơn và trong ngày vui cũng có những giọt nước mắt. Nhìn sang bên cạnh, vợ anh đang đưa khăn lên mắt. Anh cũng thấy lòng dưng dưng cảm động.

Ngay tối hôm đó hai vợ chồng người bạn phải trở về Michigan. Có một điều anh lấy làm ân hận không có đủ thì giờ để mời họ đi ăn phở; tuy rằng ngày hôm trước cô em gái đã đưa họ đi thăm quán phở Bắc một lần rồi.

Họ ở một vùng có ít người Việt, không có quán ăn Việt Nam. Anh có cảm tưởng như sau cái nhiệm vụ sang đây làm lể vu qui cho cô em vợ, mục đích của anh bạn là phải đi ăn phở. Cũng như anh mỗi lần lái xe trên ngàn dặm xuống Cali, khi tới nơi, nhất định phải đến Bolsa làm một tô phở trước đã, rồi tất cả mọi chuyện se~ tính sau. Anh bạn họa sĩ thèm phở đến nỗi nếu không là đại diện nhà gái phải đưa cô dâu chú rể đi chào các bàn tiệc thì hai người, anh và người bạn, có thể đã trốn luôn để lẩn ra tiệm phở ngoài phố rồ!

Đã qua một Giáng Sinh bận rộn nhưng đầy ý nghĩa của tình bạn cũ mới, và bây giờ anh đang chờ một cái Tết sắp đến. Năm nào cũng vậy, cứ giờ này các con gái anh lại sắp nhờ:‘‘Bố ra gốc vườn cắt cho con một cành cây thật đẹp để con làm cành mai.’’ Lắm khi anh cố ngồi suy nghĩ mà giòng tư tưởng cứ bị gián đoạn vì tiếng mấy mẹ con rộn rịp lo măng, miến, đậu gạo, để nấu bánh chưng và sửa soạn cỗ bàn cho ba ngày tết. Nhiều lần anh đã bảo làm sơ sơ, giản dị thôi, bày vẽ ra mệt quá. Anh nhớ đến một ông bạn chủ báo hay than: ‘‘Bà vợ tôi quanh năm lúc nào cũng thấy cúng với giỗ. Ngày nào cũng thấy bà ấy làm cỗ. Sợ có khi bà ấy làm nhầm cả sang ngày giỗ nhà người khác’’.

Anh biết người bạn chỉ nói đùa nhưng anh nghĩ chính vì cách sống đó đã làm cho mọi người cảm thấy gần gũi với tổ tiên và tưởng như hình bóng tiền nhân lúc nào cũng phảng phất trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi lần ăn một bữa giỗ, mỗi lần nhìn các con anh thì thầm những lời khấn nguyện với ông bà khuất bóng thì một lần nữa anh lại thấy rõ ràng gần với cội rễ hơn.

Năm nay anh mong có thể ngồi thư thả nhấm nháp mấy miếng mứt, ngắm mai vàng, nghe nhạc Xuân để cùng gia đình chờ giờ đi lễ Giao Thừa: và ôn lại trong thời gian qua mình đã làm được những gì, những gì mình đang làm và những gì mình sẽ làm.

Bên ngoài trời mưa rả rích. Thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lại thổi tạt một lớp mưa bay lất phất vào cửa kính. Ngồi một mình trong nhà, anh lười biếng chợt nghĩ nếu bây giờ có một người bạn nào đến rủ đi ăn một bát phở nóng, và sau đó uống một ly cà-phê đen, ngồi nghe những bản nhạc cũ và nói chuyện phiếm thì cuộc đời thật không còn gì bằng.

Anh lại nhớ đến người bạn từ Michigan sang đây, cao lương mỹ vị không thích mà chỉ thèm ăn phở. Trong một lúc, bao nhiêu kỷ niệm và giai thoại quanh gánh phở được gợi lại. Anh nhớ hơn ba mươi năm trước đây, lang thang trong trại tị nạn tại Cali, chỉ mong gặp được những người quen cũ. Một lần gia đình anh ngồi cùng bàn ăn với một gia đình khác. Ông chồng nhìn anh nhiều lần, muốn nói cái gì nhưng lại thôi. Sau cùng, ông ta nói với anh:

- Tôi trông ông quen quá, không hiểu đã gặp ông ở đâu.

Anh cũng nhìn lại ông, cái hình dáng rất quen thuộc, có lẽ anh đã gặp hàng ngày trong quãng thời gian trước. Anh nói:

- Tôi trông ông cũng quen lắm.

Cả hai lại tiếp tục ăn. Một lúc ông ta nhìn lại anh một lần nữa và nói gần như reo:

- Chắc ông hay ăn phở Tàu Bay!

Anh cũng kêu lên:

- Thì ra mình đã gặp nhau ở tiệm phở.

Thành ra hình ảnh những người hay ăn phở như anh và ông ta đã thành không tên, không tuổi, muôn thuở bàng bạc không quên. Có thể anh đã trông thấy ông ta thường ngồi ở bàn dưới cái đồng hồ, hay dưới cuốn lịch Tam Đa và thường gọi thêm một tô nước tiết mỗi sáng. Có thể, sau khi ăn xong một tô xe lửa nóng toát mồ hôi, anh lại gặp ông ta trong cái hẻm nhỏ bên cạnh, với một ly cà phê đá và vài chiếc bánh rán nóng hổi.

Hồi ở Saigon, có một năm anh được gửi đi học Anh văn để chờ đi Mỹ du học. Sáng nào cũng vội vàng ăn phở của một bà ở góc đường Sương Nguyệt Ánh. Ăn xong đứng dậy trả tiền thì bà ta chỉ và nói là đã có người trả rồi. Anh nhìn theo và một lúc mới nhận ra là một người bạn cùng đại đội hồi học lớp sĩ quan hiện dịch tại quân trường Đồng Đế, sau khi anh ra trường Quốc Gia Hành Chánh đã được Tổng Thống Diệm gửi ra huấn luyện trước khi đưa về các quận. Những ngày sau nữa trong lúc anh còn đang ăn, thì anh ta đến lúc nào, ngồi ở chỗ nào cũng không hay. Khi anh trả tiền, thì lần nào bà hàng phở cũng nói là có người trả cho ông rồi. Anh nhìn quanh cố tìm và lại thấy anh ta cười xòa, hóm hỉnh. Nhiều hôm trễ cả học vì ngồi nói chuyện lính tráng ngày xưa kẻ mất, người còn. Khi vào lớp trễ, cũng may là các cô giáo trẻ không nỡ nặng lời với học trò già. Anh cố lắ'm cũng chỉ trả được tiền phở vài lần, còn thì gần như luôn luôn đượcc ăn miễn phí. Chắc anh bạn kia là một tay phở lì và nằm vùng ở đó đã lâu. Anh cố nghĩ mà vẫn không hiểu tại sao anh ta lại nhớ và biệt đãi anh như thế. Chỉ biết rằng anh bạn đang làm ăn khá giả nhờ có cửa tiệm bán Vespa gần đó, ngay góc đường Hồng Thập Tự và Lê Văn Duyệt.

Anh lại nhớ ồi xưa ông cụ sinh ra anh, cũng là một vua ăn phở. Mỗi sáng đi làm, ông cụ thường ăn ở một quán phở sau sở Hỏa xa Saigon. Quen quá đến nỗi như một tiền lệ bất di bất dịch, chú dọn bàn cứ thấy bóng ông cụ ở đầu phố là đã cất tiếng gọi vào trong bếp:

- Một tái nạm hành trần, nước trong, một dĩa hành tây ngâm dấm!

Khi ông đến nơi là đã có sẵn sàng một tô phở ngon lành, nóng hổi bốc hơi trước mặt. Có lần, ông cụ đi qua giả vờ không ghé, khiến chú ta vừa bưng bát phở vừa kêu ơi ới:

- Tái nạm hành trần, nước trong, một đĩa hành ngâm dấm, có ngay rồi đây cụ ơi!

Nếu đem góp nhặt tất cả các giai thoại về phở của anh và mọi người thì chắc sẽ thành một trường thiên bất hủ không bao giờ hết. Nhất là khi nghĩ đến những áng văn chương có hạng về phở.

Thi sĩ Tú Mỡ coi phở như một cái đạo và làm thơ thành kinh điển để ca tụng phở:

...

Phở đại bổ! tốt bằng mười thuốc bắc.
Quế, phụ, sâm, nhưng chưa chắc đã hơn gì.
Phở bổ âm, dương, phế, thận, can, tì,
Bổ cả ngũ tạng, tứ chi cùng bát mạch.
Anh em lao động, đồng tiền không rúc rích
Coi phở là món thuốc ích vô song.
Các bậc vương tôn, thường chả phượng, nem công
Chưa nếm phở vẫn còn không đủ món.
(Phở Đức Tụng)...


Nói đến thơ phở, anh cũng không quên được cuốn ‘‘Yêu Tì’’ của Hoàng Hải Thủy, trong đó ông có một nhân vật là thi sĩ, vì yêu con gái ông chủ tiệm phở nên phải chịu làm bồi bàn để được gần người đẹp. Do đó khách ăn phở nhiều lúc phải giật mình kinh ngạc khi thấy anh ‘‘bồi phở’’ gọi vào trong bếp:

Một phở tái, hai phở tái, ba phở tái
Ngầu pín cắt lớn khoanh tròn
Gân mềm đừng lấy bạc nhạc,
Em ơi còn sụn không em!
Hành tây đừng quên đi nhé!


Trong cuốn “Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường’’ của Thạch Lam có bài ‘‘Cốm’’ đã được chọn làm bài tập đọc hồi tiểu học, ít có ai quên. Và hàng bún ốc với các cô đào về đêm ngồi ăn mà ‘‘nước ốc chua làm soa suýt những cặp môi héo hắt và khiến đôi khi nhỏ những giọt lệ thật thà hơn cả những giọt lệ tình...’’.

Có thể nói Thạch Lam là nhà văn đầu tiên viết về phở và các món ăn Việt Nam: ‘’Đó là thứ quà suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa và ăn phở tối’’.

Mãi đến năm 1957, phở lại được Nguyễn Tuân tán rộng trong tạp chí Nhân Văn tại miền Bắc. Ông kể lại cảnh ông và một số bạn bè ngồi bên hồ ở Helsinki, Bắc Âu, thèm nhớ đến bát phở ở quê hương. Vì bài báo này mà ông đã bị đảng Cộng Sản chỉnh huấn là có tư tưởng hủ hóa và ông đã phải hứa lột xác cùng phủ nhận tất cả các tác phẩm trước của mình.

Nói về phở, không phải chỉ có nhà thơ nhà văn trên mà một số người trong chúng ta coi ‘‘như không còn là một nón ăn nữa, nhưng là một thứ nghiện như nghiện thuốc lào, thuốc lá, chè tươi, thuốc phiện.’’

Trong ‘‘Miếng Ngon Hà Nội’’ xuất bản cùng năm tại miền Nam, phở và những miếng ngon, những hương hoa của đất nước lại được nhà văn Vũ Bằng nói đến mà báo Nắng Sớm 1957 đã viết: ‘‘thật là sâu sắc, tế nhị, thật là chan chứa tình cảm, chan chứa tình yêu đời, yêu nước...’’

Anh Anh được biết người vợ đầu tiên của nhà văn Vũ Bằng là một người có nhan sắc, hiểu biết rộng, quảng giao, lại vô cùng khéo léo. Bà đã là một nguồn cảm hứng vô biên cho cuộc đời viết văn của ông. Khi đất nước chia đôi, vì một sự không ngờ, hai ông bà phải xa nhau trong cảnh kẻ Bắc người Nam. Suốt hai mươi năm trời, bao nhiêu nhớ thương ông đã dồn vào các tác phẩm ông viết.

Trong cuốn ‘‘Miếng Ngon Hà-Nội’’, đã phảng phất hình bóng bà. Nhưng đến ‘‘Thương Nhớ Mười Hai’’ thì ông đã viết hẳn cho bà. Một năm có mười hai tháng. Mỗi tháng lại có một nỗi nhớ nhung riêng, những kỷ niệm thương yêu cũ, những món ăn tinh vi cầu kỳ, đã đẹp mắt lại lạ miệng, tự tay bà chăm chút nấu nướng để ông thưởng thức. Những trang đầu của hai tác phẩm trên, ông đều đề tặng bà với những lời nhớ thương tha thiết. Đang viết dở chừng cuốn ‘‘Thương Nhớ Mười Hai’’ thì nghe tin bà mất ở Hà nội, ông đã khóc; ‘‘Thương không biết bao nhiêu, nhớ không biết ngần nào người bạn chiếu chăn... cuốn sách này để thay mấy lời ai điếu.’’

Đêm đã khuya, anh còn ngồi một mình trong căn phòng vắng. Hai tác phẩm sau cùng của ông ở trước mặt, bài viết về phở của ông, anh vừa đọc xong lần nữa; và tập bản thảo anh đang viết cũng ngổn ngang trên bàn. Anh ngừng bút viết và chợt thấy thời gian như đã ngừng hẳn lại...

Hãy nghe Vũ Bằng tả sự hấp dẫn của một quán phở:

‘‘Ngay từ đằng xa, mùi phở cũng đã có một sức huyền bí quyến rũ ta như mây khói chùa Hương đẩy bước chân ta, thúc bách ta phải trèo lên đỉnh núi để vào chùa trong rồi lại ra chùa ngoài. Ta tiến lại gần một cửa hàng bán phở: thật là cả một cảnh bài trí nên thơ.’’

‘‘Qua lần cửa kính, ta đã thấy gì? Một bó hành hoa xanh như lá mạ, dăm quã ớt đỏ buộc vào một cái dây, vài miếng thịt bò tươi và mềm, chín có, tái có, sụn có, mỡ có, mỡ gầu có, vè cũng có.. Người bán hàng đứng thái bánh, thái thịt luôn tay, thỉnh thoảng lại mở nắp một cái thùng sắt ra để lấy nước dùng chan vào bát. Mỗi lần khói tỏa ra khắp gian hàng, bao phủ những người ngồi ăn ở chung quanh trong một làn sương mỏng, mơ hồ như một bức tranh Tàu vẽ những ông tiên ngồi đánh cờ ở trong rừng mùa thu.’

‘‘Trông mà thèm quá! Nhất là về mùa rét, có gió bấc thổi hiu hiu, mà thấy người ta ăn phở như thế thì chính mình đứng ở ngoài cũng thấy ấm áp ngon lành. Có ai lại đừng vào ăn cho được.’’

Và đây, bát phở Tráng, Hà Nội của Vũ Bằng

‘‘Cứ nhìn bát phở không thôi, cũng thú.’’ 

‘’Một nhúm bánh phở; một ít hành hoa thái nhỏ, điểm mấy ngọn rau thơm xanh biêng biếc: mấy nhát gừng mầu vàng thái mướt như tơ, mấy miếng ớt mỏng vừa đỏ màu hoa hiên vừa đỏ sậm như hoa lựu... ba bốn thứ mầu sắc đó cho ta cái cảm giác được ngắm một bức họa lập thể của một họa sĩ trong phái văn nghệ tiền tiến dùng mầu sắc hơi lố lỉnh, hơi bạo quá, nhưng mà đẹp mắt.’’

‘’Thế là ‘‘bài thơ phở’’ viết xong rồi đấy, mời ông cầm đu~a. Húp một tý nước thôi, đừng nhiều nhé! Ông đã thấy tỉnh người rồi phải không?’ 

Thêm nữa, cả Vũ Bằng và Thạch Lam đều có những ‘‘định nghĩa’’ về một bát phở ngon có nhiều điểm tương đồng. Thạch Lam viết:

‘‘Nếu là gánh phở ngon thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu dòn chứ không dai, chanh, ớt, với hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa. Ăn xong bát thứ nhất, lại muốn ăn luôn bát thứ hai.’’

Vũ Bằng đi xa hơn vào sự thưởng thức của tất cả ngũ giác và lại đầy lãng mạn:

‘‘Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở có như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt; thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mền, hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng ngọt cứ lừ đi, ngọt một càch hiền lành, êm dịu, ngọt một cách thành thực, thiên nhiên, không có chất gì là hóa học...Không, ông phải thú nhận với tôi đi: Có phải ăn một bát phở như thế thì khoan khoái quá, phải không?’’

‘‘Quả vậy, ăn một bát phở như thế, phải nói rằng có thể ‘‘lâm ly’’ hơn là nghe thấy một câu nói hữu tình của người yêu, ăn một bát phở như thế, thử có thể ví như sau một thời gian xa cách, được ngã vào trong tay một người vợ đẹp mà lại đa tình vậy!’’

Anh đã thấy thật khó mà mọi người có một định nghĩa chung tàm tạm về một bát phở ngon.

Nếu có đi ăn đến hàng ngàn tiệm phở, không tiệm nào giống tiệm phở nào. Bát phở mỗi nơi có một phong vị riêng, một chút đặc biệt mà nơi khác không có và do đó tiệm phở nào cũng có người ăn. Nhưng những người sành ăn lại muốn biết thế nào là ‘‘chân giá trị’’ của một bát phở. Nguyễn Tuân viết:

‘‘... Thật ra, ăn phở cho đúng, đúng cái‘‘gu’’ của phở phải ăn thịt chín. Thịt chín thơm hơn thịt tái, mùi thơm miếng thịt chín mới biểu hiệu đúng cái tâm hồn của phở. Thêm nữa, về mặt nhãn thức tạo hình người thẩm mỹ bao giờ cũng thấy miếng thịt chín đẹp hơn miếng thịt tái.’’

Vũ Bằng cũng viết:

‘‘Muốn biết chân giá trị của nó, theo lời người biết ăn phở, phải là thứ phở chín không thôi, phở chín mà ngon thì mới thật là ngon đấy.’’

Và ông nhất định đi tìm cái chân giá trị đó:

‘‘Thực ra, điều quan hệ trong một bát phở là cái bánh, nhưng thứ nhứt, như trên kia đã nói, phải cần có nước dùng thật ngọt. Bí quyết là ở chỗ đó. Và tất cả những hàng phở đều giữ cái bí quyết ấy rất kín đáo, y như người Tàu giữ của, vì thế cho nên trong làng ăn phở, vấn đề nước vẫn là vấn đề then chốt để cho người ta tranh luận.’’ 

Không phải tiệm phở nào cũng có phở ngon hợp với khẩu vị mình. Và không phải một tiệm phở ngon là ngày nào cũng có phở ngon. Có tiệm làm không đều tay, lúc ngon lúc dở, khiến thực khách đôi khi phải bực mình thấy lòng trung thành của mình không được đáp ứng. Thạch Lam viết ‘‘Có người nào chịu khó đi khảo một lượt vị phở xem sao, chắc có lắm điều mặn, chát, chua, cay’’ Ông phản đối những gánh phở cải lương, muốn thay đổi cái nguyên vị và ông trung thành với ‘‘lối phở cổ điển cũng như ưa nghe tuồng chèo giữ đúng điệu xưa.’’

Vũ Bằng cũng thế, ông cũng đồng ý phải giữ cái hương vị cố hữu và ông có một nhận xét rằng ‘‘Nói đến vấn đề ăn phở thì người Việt Nam quả là khó tính lạ lùng.’’

‘‘Người sành ăn phở, người ăn phở kỹ càng không thể dễ tính, nhất tề bước vào một cửa hiệu phở thứ nhất nào để mà ăn liều ăn lĩnh.’’

‘‘Nhiều người cho rằng sở dĩ thế, ấy là vì món phở đứng cao hơn mọi sự lừa bịp của thời nay; phở ngon là ngon, chứ không thể lừa dối người ta được.’’

‘‘Thì ra phở không phải chỉ là một món ăn, một sự thích thú cho khứu giác, nhưng còn là một vấn đề: Vấn đề ăn phở và vấn đề làm phở.’’

Vì thế khi ăn phở xong, mọi người thường bàn luận tất cả những vấn đề quanh bát phở kỹ lắm.

Hương vị phở vẫn như xưa, nhưng ngoại cảnh đã thay đổi nhiều. Ngày trước thường là phở gánh rong, mà Tha.ch Lam đã tả ‘‘anh hàng phở có tiếng rao, có người rao nghe quạnh hiu như tiếng bánh dầy giò đêm đông trong một ngõ khuất.’’ Sau này là những xe phở, tiệm phở đóng đô ở một chỗ cố định và thực khách phải tìm tới ăn.

Người ta ăn phở bất cứ lúc nào vì phở là một ‘‘món quà căn bản’’. Thường thì ăn phở để điểm tâm, để ăn thêm ngoài các bữa cơm, nhưng nay sang Mỹ phở lại được coi như một bữa ăn chính cho những người không đem theo túi lunch hay bỏ bữa cơm chiều.

Tìm hiểu tên các hàng phở, cũng có nhiều điều thú vị. Ngày xưa, phở gánh thường không có bảng hiệu, nên thực khách đã phải tìm các sước hiệu để gọi cho dể nhớ. Có thể là đặc điểm của từng anh hàng phở như phở Trọc, phở Cao, phở Gù, phở Lắp, phở Sứt... Có thể bằng những địa danh mà gánh phở ngự trị như: phở Ga, phở Gầm Cầu, phở Cửa Bắc, phở Nhà Thương... Và đặc biệt nhất là bằng tên cái mũ mà anh hàng phở đội trên đầu như phở Bê-Rê, phở Mũ Dạ, phở Mũ Đỏ, và có những anh nhặt được ở đâu những cái mũ của lính tàu bò, tàu bay mà đã tạo nên sự nghiệp và tên tuổi.

Nguyễn Tuân khám phá ra rằng: không có một hàng phở nào nổi tiếng lại có những tên dài lê thê hay trầm bổng du dương như ‘‘phở Thu Phong’’ hay ‘‘phở Bạch Tuyết’’ cả. Ông nghiệm ra ‘‘cái tên càng độc âm ngắn cộc, càng đáng cho người ăn tin cậy; cái tên một chữ gọn như một nhát dao thái xuống thịt chín.’’

Nhà văn Vũ Bằng đã sống nhiều năm ở miền Nam, Chắc ông đã thưởng thức biết bao nhiêu bát phở Saigon, nhưng vì ông quá thương nhớ đến bà vợ, nên bất cứ món ăn ở đâu cũng không thể sánh bằng những món ăn ở Hà Nội.

Riêng anh thì thấy phở ở Saigon không có gì thua kém phở Hà Nội. Anh vẫn nhớ những bát phở 79 đường Võ Tánh, ăn trong những ngày đầu tiên đến Saigon, vẫn có những hương vị thanh tao như mùa thu Hà Nội. Rồi đến những bát phở Tàu Bay sung mãn như đồng bằng Cửu Long; và những bát phở gà Hiền Vương, Trương Minh Giảng nước trong, thịt trắng ngà cạnh những da sợi tơ vàng, và có lúc lại được điểm thêm vài chùm trứng non màu hoàng yến trông thật là vô cùng ngon mắt. Cái thiên kiến của Vũ Bằng nhiều lúc cũng có trong anh và nhiều người. Ăn bát phở nơi này la.i nhớ đến bát phở nơi kia. Ăn miếng ngon bây giờ lại nhớ đến miếng ngon ngày trước. Có lẽ vì thế cái tình quê hương của chúng ta lúc nào cũng day dứt không bao giờ nguôi.

Anh đã được ăn những bát phở suốt dọc Việt Nam. Những bát phở từ thuở ấu thờì của những gánh phở đầu phố ở Hanoi. Những bát phở thơ ngây ‘‘chưa biết mùi đau khổ ấy, chưa nhiễm mùi phức tạp, không cần hành hăng, không cần chanh chua, không cần ớt cay.’’ của Tha.ch Lam

Những ngày còn là học trò từ vùng kháng chiến trở về thành, thỉnh thoảng có tiền, anh cũng mò đến phở Tráng hàng Than, mà nhà văn Vũ Bằng và nhiều người cho là ‘‘Vua phở 1952’’. Tay cầm chiếc bát không, anh cùng đứng chung với các ông thông, ông phán đạo mạo chờ đến lượt mình. Ăn xong, lại chờ đến lượt để trả tiền. Thật là sốt ruột.

Anh đã lớn lên với những bát phở ở Hanoi, sau khi đất nước chia đôi, anh lại trưởng thành với những bát phở ở Saigon. Anh ăn phở gần như hàng ngày, tại những quán phở có tên tuổi như Tàu Bay, 79, Tương Lai, phở Hòa, Hòa Cựu... hay những xe phở đầu đường không ai cần nhớ tên và cũng chỉ gọi bằng những biệt danh, như các gánh phở ngày xưa.

Anh lại nhớ những bát phở vội vàng tại bến xe, ăn cố trước khi xe chạy, đưa anh về một vùng nào mịt mù xa xôi, và không biết lúc nào trở về để có thể lại ăn phở nữa. Rồi còn những bát phở cặn cuối cùng về khuya cùng bạn bè sau khi tan ở vũ trường ra. Những bát phở trưa trong quán vắng, trong những ngày lang thang ở thành phố, với tuổi trẻ buồn nản trôi qua.

Anh đã được ăn những bát phở tại Đà Nẵng, cạnh Air Viet Nam những năm 1955, 56 mỗi lần nghỉ hè về thăm gia đình và nhớ lại những hàng phượng vĩ đỏ rực dọc sông Hàn, mà sau đó ít khi có dịp trở lại.

Những bát phở trong tiệm ‘‘Số 1’’ ở Nha Trang, ăn vội trước khi trở lại quân trường để kéo dài hàng tuần với những bữa ăn ‘‘hỏa tốc’’ có món thịt bò dai như vo? xe hơi.

Anh cũng đã cố đi tìm, nhưng chưa được ăn một bát phở nào ở Huế, Cần Thơ, Long Xuyên hay Rạch Giá hồi đó, mà chỉ có những bát bún bò Đông Ba, hủ tíu Long Xuyên và bún suông Kiên Giang.

Nhớ nhất là những ngày đang yêu tha thiết em một người bạn. Những lần từ đảo xa trở về Saigon, nhiệm vụ của anh là ngày ngày trung thành đến thăm anh bạn. Trong khi chờ người yêu đi học về, anh lại ra chầu ngoài quán phở Tích đầu đường. Anh vừa ăn phở, uống cà-phê vừa nghe một thực khách quen thuộc đẹp trai, tài hoa, hát hay lại nhẩy giỏi là Trần Ngọc Dương tức Dương Bò đau khổ bấm những phím lục huyền cầm và hát bài Tôi ?ưa Em Sang Sông’’. Tự nhiên, trong tim anh cũng thấy bồi hồi và lo lắng.

Những bát phở, sau khi đã có gia đình, bên người yêu xưa với lũ con nhỏ. Sau những buổi cơm chiều, tất cả lên xe ra khỏi nhà đi chơi. Tối khuya lại áp vào mấy tiệm phở đường Pasteur. Anh khó có thể quên được những buổi tối Saigon trời trong gió thổi mát rượi, gia đình anh ngồi cùng với bạn bè chiếm hết cả dẫy bàn, bên những bát phở tái sách, gầu, vè, sụn, sữa. Chắc nhiều người còn nhớ món thịt sữa này. Đó là thứ thịt ở phần vú con bò, những miếng thịt được thái mỏng màu ngà, mùi vị vừa dòn vừa ngọt nên rất được ưa chuộng, nếu đến trễ là ít khi nào còn.

Sau đó là những ngày đầu định cư trên đất Mỹ. Hàng tuần anh lại được ăn những bát phở dò dẫm, khám phá ở nhà hay của bạn bè. Mọi người quây quần, vừa ăn vừa khen. Người thì gật gù, giọng khuyến khích:‘‘Cũng gần giống phở’’, người thì nhiệt thành hơn, kêu:‘‘Giống quá! Giống quá!’’ và ngậm ngùi nhớ đến những bát phở ở quê hương mà mình vừa rời bỏ.

Gần chục năm sau, đồng bào đến càng ngày càng đông và tiệm phở mở càng ngày càng nhiều. Anh lại được ăn những bát phở ly hương dọc theo Thái Bình Dương bên Mỹ. Seattle với những tiệm phở chính danh, chỉ chuyên về phở: Phở Bắc, Tàu Bay, phở Hòa và những bát phở trong những tiệm ăn khác.

Xuống Portland, anh ăn phở Trường. Đến Los Angeles anh ăn phở Bolsa, phở 79, Nguyễn Huệ, và có một thời phải ghi tên chờ đợi để được dẫn vào bàn ăn phở Hòa. Đến Houston, được cc bạn đưa đến Phở Bình Mobile Home. Mỗi lần sang thăm Houston anh vẫn nhắc đến cái tên hiệu cũ đó. Quán phở vẫn còn đó. Ăn bát phở mà nhớ lại những ngày bơ vơ mới đến đất Mỹ.

Sang miền Đông, anh ăn những bát phở Đại Tây Dương ở Washington DC và xuống Richmond, Virginia anh lại được vợ chồng cô em gái mời ăn phở nhà, có nêm một chút mắm ruốc khiến nước phở có vị ngọt và mềm một cách lạ.

Anh còn muốn đi khắp nước Mỹ, từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam để được thưởng thức những bát phở của đồng bào anh. Anh lại còn muốn đi khắp cả thế giới, đến những nơi có đồng bào anh cư ngụ. Từ Canada qua Pháp, Anh, Ý, Đức tới Sydney, Melbourne, Úc châu... để được đến những quán Việt Nam, mà chắc nơi nào cũng vẫn giữ ít nhiều mùi vị cố hữu của bát phở quê hương.

Bây giờ thì phở đã đi quá xa, đi khắp năm châu. đâu đâu cũng chiếm được khẩu vị của mọi người. Phở cũng đã được chọn vào hàng “Top Ten” trong danh sách các món ăn quốc tế tại Mỹ. Riêng tại Hà Nội, có thời phở làm bằng thịt bò Kobe của Nhật, đã phá kỷ lục vượt bực trong cái bảng giá, 50 đô-la một tô, đắt gấp mấy lần giá các bát phở trung bình trên thế giới, nói gì đến những bát phở bình dân ở Việt Nam. Người ta thường thấy chỉ có các đại gia hay các quan chức được công xa chở đến ăn sáng. Chỉ phiền một nỗi là số đông quần chúng vẫn vất vả không kiếm nổi một đô la một ngày.

Không biết nếu Thạch Lam, Vũ Bằng sống lại có choáng váng vì bát phở thịt bò Kobe không, mà trước kia lúc nào các ông cũng ca tụng những bát phở thanh đạm, truyền thống, miếng ngon của quê hương. Không biết Nguyễn Tuân có tức uất vì có lần ông đã thú nhận thèm nhớ bát phở khi đi công tác xa quê hương. Vì bài viết này ông đã bị hạ tầng công tác và gặp bao khó khăn với chính quyền thời đó. Bây giờ thì chính cái đám con cháu của đám người vùi dập ông, lại phởn phơ ngồi ăn những bát phở sang gấp trăm lần hơn bát phở thời bao cấp mà lúc đó ông thèm muốn.

*

Anh ngồi nhớ lại nhớ đến những người xưa, như Thạch Lam trong đám người ăn phở, như những ‘‘người đều hợp lòng trọng sự thưởng thức món qùa ngon, nâng cách ăn phở lên hàng nghệ thuật đáng kính’’.

Đến Vũ Bằng nói tới ‘‘những miếng ngon mà người Việt Nam ăn vào thấy ngát mùi đất nước Việt Nam, thấy mình Việt Nam hơn, và thấy thích thú, kiêu hãnh được trời cho làm người Việt Nam.’’

Hơn thế nữa, có Nguyễn Tuân, dù sống trong chế độ Cộng Sản bao năm cũng vẫn còn thần thánh hóa bát phở, trong một ngày xa quê hương:

‘‘Tôi thấy rằng trong muôn vàn thực tế phong phú của nhân dân Việt Nam, có một cái thực tế mà hằng ngày ít ai nỡ tách rời nó, tức là cái thực tế phở. Cái thực tế phở ấy lồng vào trong cái thực tế vĩ đại của dân tộc. Trong một giọt nước rơi lóng lánh có cả câu chuyện của vầng thái dương; trong miếng ăn, cũng thấy rộng được ra những điều cao cả yên vui trên đất nước bao la tươi đẹp. Tôi thấy tổ quốc ta có núi cao vòi vọi điệp điệp, có sông dài đằng đẵng, có biển bờ thăm thẳm, có những con người Việt Nam dũng cảm xây đắp lịch sử quang vinh, những công trình lao động thần thánh; nhưng bên cạnh những cái đó, tôi biết rằng Tổ quốc tôi còn có phở nữa.’’

Còn riêng anh, cứ mỗi lần nhớ đến ông cụ thân sinh trước đây ngày ngày vẫn trung thành đáp xe bus lên phố đến tiệm phở, và cứ mỗi lần anh thấy đàn con cháu vẫn ăn phở một cách say sưa, thì anh vẫn mãnh liệt tin rằng cái tinh thần Việt Nam dù thế nào và dù có ở nơi đâu thì cũng vẫn còn và sẽ còn mãi mãi. 

Nguyễn Công Khanh

Tiết Canh


Tiết canh là món ăn độc đáo của nhân dân ta. Từ xa xưa, người ta đã biết ăn tiết canh vịt, tiết canh lợn, tiết canh dê…Sở dĩ có thói tục từ sớm như vậy là bởi vì người cổ đại quan niệm huyết tươi là một vị thuốc bổ màu nhiệm.
 
Đông Y cũng đã sớm phát hiện ra rằng huyết của mỗi con vật đều có tính chất và tác dụng riêng ví như huyết lợn vị mặn, tính bình, dùng làm thuốc bổ huyết, có thể trị chứng thiếu máu, suy nhược cơ thể. Huyết chim sẻ vị mặn, tính nóng, bổ thận. Huyết dê làm mạnh cơ thể, tráng thận, bổ huyết, chữa choáng váng, chóng mặt, đau lưng. Huyết dơi làm mạnh ngũ tạng, hoạt huyết. Huyết rắn trị nhức mỏi, phong thấp… Ngoài ra huyết tươi còn là phương thuốc cấp cứu ngộ độc thần diệu.
 
Không biết từ đâu, người xưa đã tìm ra cơ chế đông máu rất tinh vi. Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng huyết tươi có chứa huyết tương và huyết cầu, trong đó huyết tương lại cấu tạo bởi huyết thanh và sinh sợi huyết. Khi sinh sợi huyết biến thành sợi huyết, sợi huyết tụ lại cùng với huyết cầu thành hiện tượng đông máu.
 
Trong quá trình đó, phản ứng căn bản là sự biến đổi sinh sợi huyết thành sợi huyết. Phản ứng này phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
 
Nhưng dù có nhiều yếu tố đến đâu chăng nữa thì tựu chung cũng chỉ có hai loại:
 
Yếu tố ngăn cản sự đông máu chính là nước mặn, chanh, Axid nitric, đường…Thế cho nên người ta thường dùng nước mắm hay chanh để hãm tiết canh.
 
Các yếu tố làm máu chóng đông là muối Calci, các vật lạ có góc cạnh…
 
Do nắm được cơ chế đó, người ta đã đánh được những bát tiết canh rắn đặc và ngon mắt. Nhớ có một lần đi công tác xứ Thanh Hoá, tôi được nghe ông chủ hàng thịt dê núi quảng cáo: “Các chú cứ ăn đi, tiết canh ngon miễn chê, đông cứ gọi là cứng ngắc. Chốc nữa lên đường, xin biếu mỗi chú một bát đút túi quần đem về Hà Nội uống rượu”. Nghe thế đã biết trình độ đánh tiết canh của ông chủ này thế nào!!!
 
Thường thì người ta hay ăn tiết canh vịt, tiết canh lợn… thế nhưng có lẽ tiết canh vịt trong tâm thức nhiều người mới là hảo hạng.
 
Đầu tiên, đem một bát to cho vào hai muỗng nước mắm và một muỗng canh nước nguội. Cắt tiết vịt, bỏ chút tiết đầu rồi hứng tiết chảy vào tô đó. Nhớ vừa hứng vừa quấy nhẹ tay cho đều. Dân gian gọi đây là giai đoạn hãm tiết. Hồi trước, có người hãm tiết bằng chanh hay khế nhưng không phổ biến vì nhìn thành phẩm sẽ không ngon vì bị chuyển sang tối màu. Trong khi hãm tiết, nhanh chóng làm sạch lông vịt, mổ lấy ngay bộ lòng, sơ chế sạch rồi băm vụn tất cả trừ gan. Phi hành tỏi cho thơm, đem bộ lòng vào xào chín (Có nơi đem luộc chứ không xào, hành đem nướng chín chứ không phi). Hành và mùi tàu, ta cắt vụn. Giai đoạn làm tiết canh bắt đầu bằng việc cho lòng, hành vào đĩa rồi dàn mỏng. Sau đó pha loãng máu chưa đông bằng ba muỗng canh nước, khuấy đều đem đổ vào đĩa trên. Tiết pha loãng gặp vật lạ thì đông lại. Cắt mỏng gan luộc, bầy lên trên. Rắc lạc rang giã dập, rau mùi… Khi ăn vắt chanh, nhâm nhi chén rượu với rau húng, tiêu, ớt…
 
Nói thì đơn giản như vậy nhưng không phải ai cũng đánh được tiết canh. Có những người cứ động đến bát tiết là hỏng, nhưng cũng có người đánh dù có cẩu thả cũng đông vô tư. Họ được gọi là những người “Mát tay”, hiện tượng này cũng xảy ra trong việc muối cà, muối dưa vậy. Phải chăng những con người ấy được sinh ra dưới sự bảo trợ của “Vị thần đánh tiết canh”?
 
Mua được chú vịt ngon, việc đánh hỏng tiết canh là một gáo nước lạnh dội vào lòng háo hức của những người đang chờ nhậu.
 
Nguyễn Hạnh

Thư của ông chồng gửi vợ và bồ nhí

Hai bà thân mến!

Tôi đã đọc thư của bà nọ gửi cho bà kia. Tại sao tôi đọc được ư? Tại vì khi các bà cả đời theo dõi tôi, rình rập tôi, chả lẽ không có phút nào tôi theo dõi lại.

Đọc xong hai bức thư, tôi hơi buồn. Dù cố tỏ ra lịch sự, để xứng đáng với bản thân mình và xứng đáng với tôi, nhưng các bà vẫn vênh váo và công kích lẫn nhau. Bà nọ coi thường bà kia, cho bà kia là nạn nhân của mình.

Thưa các bà;
Có một điều chắc chắn hai bà không chịu hiểu: chính tôi mới là nạn nhân của hai bà. Cả thể giới biết điều đó. Cả nhân loại tiến bộ lên án điều đó.
Ai, nếu không phải hai bà, chỉ sau mười mấy năm, đã biến một chàng trai khỏe mạnh, đầy nhiệt tình, đầy sức sống như tôi thành một ông tuy chưa già (còn lâu tôi mới già) nhưng gầy yếu, còm nhom, sợ sệt?
Ai, nếu không phải hai bà, có lúc từng người một, ngày đêm tra khảo tôi, ép uổng tôi, vùi dập tôi?

Trong công cuộc tàn phá đời tôi, hai bà có rất nhiều điểm chung: cùng nấu ăn dở, cùng mua cho tôi những chai bia dở và cùng bắt tôi đi coi những bộ phim dở.

Nhưng hai bà, mỗi người đều có những đặc điểm riêng ghê rợn. Bà đầu tiên thích xuất hiện trong nhà với bộ đồ nhàu nát, với tóc rối bù cùng với đôi dép chiếc nọ chiếc kia. Bà sau này xuất hiện nơi công cộng với quần soóc chật căng, với áo thủng ở lưng cùng với mắt xanh viền đỏ. Cả hai thứ ấy đều giết tôi, đều nện tôi chí tử về mặt tinh thần.

Nếu bà thứ nhất sểnh ra lại chạy tót sang hàng xóm, nghe thiên hạ kể về chồng thiên hạ, sau đó tự khai báo về chồng mình, thì bà thứ hai sểnh mắt ra là phóng thẳng tới quán cà phê, nghe thứ nhạc cả thiên hạ nghe tuy chả đứa nào hiểu được câu nào.

Nếu bà thứ nhất đay nghiến tôi bao giờ về thì bà thứ hai hỏi tôi bao giờ đi. Nếu bà thứ nhất kêu rằng tiền điện, tiền ga đã tăng thì bà thứ hai than son môi và phấn hồng sao không giảm giá. Nếu bà thứ nhất khảo tôi về tiền lương thì bà thứ hai khảo tôi về quà tặng. Cả hai bà, trong một phạm vi nào đó, đều lái tôi và đối xử với tôi như thể tôi là giám đốc nhà băng. Cho nên không lạ gì, cho tới tận phút này, nhiều lúc tôi ngạc nhiên là mình còn sống. Hoặc mình chưa ngồi trên chiếc xe lăn. Nhưng tôi cảm thấy rất rõ ràng, cái giờ phút đó cũng chả còn xa nữa.

Đọc tới đây, chắc hai bà sẽ hỏi: Khổ như vậy sao ông (bà thứ nhất gọi ông) và sao anh (bà thứ hai kêu anh) vẫn đèo bồng?
Khổ quá. Câu hỏi đó, chính tôi cũng thường tự hỏi mình. Và tôi cũng mang ra hỏi bạn bè tôi, tức mấy gã đàn ông khác. Số phận của chúng cũng chả hơn gì. Và bọn tôi đành kết luận thế này: cái kiếp đàn ông nó thế!

Nhân đây cũng nói luôn, kiếp đàn ông thật ra là kiếp vô cùng khổ cực. Nhiều khi chả khác nào con ngựa, con trâu (chẳng hề được như con dê mà dân gian vẫn nói). Đàn ông sinh ra là để đàn bà lợi dụng, bóc lột (đôi khi bóc lột còn thô bạo hơn cả cướp bóc), đè nén và hành hạ. Đàn ông sinh ra là để đàn bà sai đi mua đồ, sai lái xe, sai trả tiền, sai đón con, sai luôn cả việc...đi ngủ.
 
Trong cái bể khổ mênh mông, bao la đó, sự khổ vì bồ nhí cũng chả nổi bật bao nhiêu. Nó chỉ được gom chung vào nỗi khổ vì các bà. Đã là các bà thì một bà, hai bà hoặc ba bà cũng thế thôi!

Hai bà thân mến,
 
Giờ đây tôi đã tỉnh ra rồi. Tôi xin hai bà tha cho. Tôi không còn sức nữa.
 
Kể từ giờ phút này tôi là một gã trai vô hại. Từ bỏ mọi mưu mô. Tôi ăn cơm nhà, tôi ngủ giường nhà. Tôi nuôi một vài con chim, mua vài hòn non bộ, sắm mấy giò phong lan. Tôi mở tivi xem tiết mục Thầy thuốc gia đình.
 
Tóm lại, tôi hoàn lương toàn diện.
 
Hai bà đừng xỉa xói nhau nữa. Đừng so bì nhau nữa. Tôi đã đầu hàng. Tôi đứng giữa hai phe. Tôi xin ngừng bắn.

Bà nào định đi đâu, cứ đi. Bà nào đang ở đâu, cứ ở. Tôi cũng thế. Tôi xin một phút bình yên. Tha cho tôi đi nhé.

TU CaCa

Dân Bắc Kỳ


 
Trong những buổi nói chuyện với bạn bè, nếu người nào nói chuyện gì có vẻ khó tin và rào trước đón sau cao hơn cả bức tường Đông Bá Linh, tôi thường hay nói diễu cợt là họ nói chuyện như người Bắc Kỳ Hà Lội. Bấy lâu nay tôi tưởng đó chỉ là một bình phẩm vô bổ, thế nhưng gần đây vài người email “phê bình xây dựng” là tôi không nên nói xấu người Bắc thường nhật vì không phải người Bắc nào cũng như thế. Là người có tinh thần hoà giải luôn có đầu óc cầu tiến, thấy sai thì nhận thức mình đúng ngay lập tức để sửa đổi, tôi hoàn toàn đồng ý không phải tất cả người Bắc nào cũng vẽ hươu vẽ vượn; thế nhưng sự thật là phần đông tính tình người Bắc giống nhau. Mở quyển tự điển Việt Nam của hai tác giả Nguyễn Tài Đức và Nguyễn Tài Tình (hai người này đều là bà con ruột thịt của tôi) tra khảo chữ “khách sáo”, lời giải thích sẽ là: một người sinh truởng hay có máu mủ liên hệ trực thuộc ở miền Bắc. 
 
Trước khi độc giả cực lực phản đối cho tôi lên đoạn đầu đài là tôi nói xấu người Bắc, tôi xin khẳng định rất tỏ tường tôi không phải là điệp viên nằm vùng quê em miền Tây Ninh trà trộn vào hàng ngũ người miền Bắc làm mật thám: tôi cũng là người miền Bắc. Bố mẹ tôi sinh ở làng Bách Cốc, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Tuy rằng tôi sinh trưởng trong Sàigòn ở nhà thương Đức Chính đường Cao Thắng, đối diện rạp Đại Đồng gần chợ Bàn Cờ, cái văn hóa giáo dục tôi thấm nhuần là từ bố mẹ tôi người miền Bắc, hoàn toàn không có một chút pha loãng hay ảnh hưởng một tí nào của người miền Nam. Thật sự là văn hóa miền Bắc ghi khắc quá sâu đậm trong tôi đến nỗi khi tôi vừa mới lên lên ba tuổi, bố mẹ tôi đã tốn rất nhiều tiền cho tôi vào trường học sửa giọng để tôi nói “lấy cái chổi”chứ không phải “nấy cái chủi”, “lái xe” thay vì “nái xe”.

Hạn chế chỉ tiếp xúc với người trong gia đình nên hành động và cư xử của tôi như người miền Bắc từ lúc bé, tôi chỉ phát hiện sự khác biệt giữa Bắc Kỳ và Nam kỳ khi vào học tiểu học. Trước khi đi học, bố tôi đã dậy tôi tập đọc ở nhà, lối dậy đánh vần của bố tôi khác với ở trường cô giáo người miền Nam dậy. Chẳng hạn như chữ “tam”, bố tôi dậy đọc là “te^-a-ta-em-tam”, trong khi cô giáo dậy : “a-em-am, tờ-am-tam”. Chữ “đàn”, bố tôi đọc là “đê-a-đa-en-đan-huyền-đàn”, trong khi cô giáo dậy “a-en-an-huyền-àn, đờ-àn-đàn”. Ban đầu tôi hơi ngớ ngẩn một tí nhưng khám phá ra ngay là tuy khác lối đánh vần, chữ đọc cuối cùng cũng giống nhau. Có một lần khi cãi nhau, tôi nói với người bạn là: “Đồ mặt dầy”. Nó đứng thộn mặt ra, hỏi tôi mặt dầy là mặt gì, tôi cũng không biết làm sao mà giải thích được cho nó hiểu nên cuộc cãi cọ chấm dứt. Làm sao cãi cọ khi hai bên không hiểu nhau? Rồi có những lúc đám bạn Nam Kỳ chọc tôi, hát: “Bắc Kỳ ăn cá rô cây, Ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc Kỳ”, thì tôi biết chắc là tôi không phải là người Nam.

Tôi kể chuyện vòng vo tam quốc như thế để xác định chính tôi cũng là Bắc kỳ, do đó nếu có chỉ trích người Bắc thì tôi là người tay trong, có đầy đủ thẩm quyền và kinh nghiệm để phân tích và phê bình.

Nước Việt Nam cấu tạo bằng ba miền, Bắc Trung Nam. Vì lịch sử và địa thế, cách phát âm và cá tính của người ba miền khác nhau. Người Việt bắt đầu từ miền Bắc rồi đi dần vào miền Trung và miền Nam. Các vua nhà Trần thôn tính nước Chiêm Thành từ Quảng Bình đến Phú Yên vào thế kỷ thứ Mười Lăm, và vua Quang Trung Nguyễn Huệ xâm chiếm miền Nam của người Khmer vào thế kỷ Mười Bẩy. Người ở miền Trung do đó phát âm tiếng Việt với âm hoà lẫn của người Chiêm Thành, và người miền Nam phát âm tiếng Việt hoà lẫn với âm tiếng Khmer. Cộng thêm ảnh hưởng văn hóa, cá tính của người miền Trung và Nam có đặc thù rõ rệt so với người miền Bắc.

Người miền Bắc ảnh hưởng sâu đậm của đạo giáo Khổng Tử, vua ra vua , tôi ra tôi, kẻ sĩ là kẻ sĩ. Lễ là một đức tính quan trọng trong năm đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Hơn nghìn năm bị người Tầu đô hộ sáng nào cũng ăn đỉm-sâm làm người miền Bắc ngao ngán luôn mang ý tưởng nổi dậy đánh đuổi người Trung Hoa dành lại độc lập để có cơ hội ăn lại được bát phở. Người miền Nam ảnh hưởng Phật Giáo, của nền văn minh Khmer, ruộng lúa phì nhiêu vì nằm trong đồng bằng sông Cửu Long, thức ăn đầy dẫy với tôm cá, lúa gạo nên dân tình phè phỡn. Cá tính của người miền Bắc do đó khác hẳn người miền Nam: Người miền Bắc tiết kiệm, cần cù, siêng năng, khoe khoang, tài giỏi, khéo ăn nói, khách sáo, trong khi người miền Nam hiền từ, chất phác, thành thật, đơn giản, thoải mái trong đời sống, suy nghĩ, thẳng thắn có sao nói vậy.

Tôi lấy vợ người Nam, có bạn cả người Nam lẫn người Bắc nên am tường cả hai nền văn hóa. Trước 75 khi từ ngoài Bắc di cư vào Nam, chúng tôi không gọi ba má là bố mẹ mà gọi là Thầy U thì đủ biết là tôi hấp thụ nền văn hóa Bắc Kỳ mức thượng thừa đến chừng nào. Người Bắc lúc nào cũng lịch sự, khi nói chuyện với bạn của người thân trong gia đình vai vế nhỏ hơn mình thì luôn luôn hạ danh xưng mình bằng người thấp hơn. Tôi còn nhớ khi còn học tiểu học, một cậu bé đến nhà rủ tôi đi học chung. Lúc ấy tôi đang tắm, bố tôi ngồi trong nhà mới nói với cậu bé:

- Em còn đang tắm, anh vào nhà ngồi chơi một chốc đợi em nó xong thì sẽ ra đi với anh.

Thằng nhỏ người Nam mặt non choẹt, chỉ mới có mười tuổi thấy ông già râu tóc bạc phơ ngồi trên ghế sa-lông gọi mình là anh nên sợ vãi đái ra cả quần không dám đứng đợi tôi, bỏ ù chạy mất.

Sự khách sáo về lễ nghi không phải một sớm một chiều một người có thể thu hoạch được. Nó giống như bí quyết kiếm hiệp huyền bí Tịch Tà Kiếm Phổ trong Lục Mạch Thần Kiếm phải tu luyện trên núi Bảo Long ba mươi năm mới trở nên cao thủ võ lâm. Bố mẹ dậy ngày đêm hết năm này sang năm khác, bị chửi te tua “Dậy con như nước đổ lá khoai!”, “Cái thằng tối như đêm, dầy như đất!”, “Nói con như nói van nói lậy!” thì mới trở nên điêu luyện trong việc khách sáo.

Một lần lễ lộc nhà nấu xôi chè, sau khi cúng kiếng và gia đình đã ăn xong, mẹ tôi sới xôi và chè ra hai bát nhỏ –xôi chè vẫn còn rất nhiều ở trong nồi và bảo anh tôi, lúc bấy giờ khoảng chừng sáu tuổi, mang sang biếu nhà bà Bác ở xóm kế bên.

Anh tôi khệ nệ bưng hai bát xôi chè sang nhà bà Bác và trở về nhà mười lăm phút sau với bộ mặt tươi rói, báo cáo với bố tôi là sứ mạng đã hoàn thành:

-Thưa Thầy con đã mang chè sang biếu Bác.

-Con giỏi lắm. Bác có nhà không con?

-Vâng, Bác có nhà. Bác ăn chè ngay vì Bác nói Bác đang đói bụng.

-Thế Bác có nói gì không?

-Bác bảo về nói với U là U nấu chè ngon, và cảm ơn Thầy U.

-Con mang sang cho Bác, có nói gì với Bác không?

-Dạ, con nói với Bác là nhà cháu ăn thừa mang sang biếu Bác…

Bố tôi nghe đến đây thì nổi ngay lên một cơn nhồi máu cơ tim:

-Ối giời ơi cái thằng chết tiệt! Ai bảo con lại nói thế? Cái thằng tối như đêm, dầy như đất!

Bố tôi giận dữ vì quá hiển nhên là anh tôi trình độ khách sáo vẫn còn quá sơ đẳng, thấy sao nói vậy người ơi. Nhưng nhận thức ra lỗi này không phải là lỗi của anh tôi mà là là lỗi chính mình chưa rèn luyện chín chắn cho con nên bố tôi phải dành ra vài phút thì giờ huấn luyện anh tôi lại cho thấu đáo nền văn hóa Bắc Kỳ:

-Bận sau con không nên nói như thế. Khi mang biếu cho Bà hay bất cứ ai, con phải nói là U cháu trước khi nấu món này cả tháng trước đó chỉ nghĩ đến Bác. Đêm qua U cháu trước khi nấu đã trằn trọc cả đêm vì cứ hình dung là Bác ăn bát chè sẽ thấy ngon miệng vì U cháu nấu chỉ quyết ý dành riêng cho Bác….

Khách sáo có nghĩa là có tính chất xã giao, lịch sự bên ngoài, không thật lòng. Vì vậy mà tuy rằng gia đình nghèo rớt mồng tơi, các con đứa nào cũng được bố dặn dò kỹ lưỡng là ai cho gì cũng không lấy, có đói đến đâu, đến nhà người khác được mời ăn thì cũng phải từ chối. Mang cái chỉ thị tối cao như vậy nên ngày xưa tôi chỉ thích đến nhà bạn người Nam vì nếu ba má chúng nó mời ăn uống, tôi không bao giờ trả lời không; trong khi đó nếu đến nhà bạn Bắc Kỳ, lúc nào cũng vậy, chưa đến mà tôi đã no tuy rằng trong bụng thì đói meo khi được bố mẹ bạn mời: “Dạ, cháu mới ăn ở nhà”, “Không cháu không uống”.

Chữ khách sáo bao hàm ý nghĩ không thật lòng nên nói chuyện với người Bắc một người lúc nào cũng nên đề cao cảnh giác như ngày xưa lính Việt Nam Cộng Hòa đứng gác sông Bến Hải vĩ tuyến thứ 17 vì không biết đâu là hư, đâu là thực. Chỉ có người Bắc uyên thâm có bằng Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, đầu óc mới thông suốt để đoán biết lúc nào người Bắc nói thật, lúc nào ý của họ ngược lại 180 độ.
 
Một cô bạn vợ tôi người Nam lấy chồng người Bắc, nhà ở California, sang thăm mẹ chồng ở Ohio. Máy bay đến khuya, sáng 7:30 bà mẹ chồng đã đến gõ cửa phòng hỏi dậy chưa. Cô ta trả lời vẫn còn ngái ngủ. Bà mẹ chồng trả lời: “Thế thì con cứ ngủ tiếp đi nhé, chừng nào dậy cũng được”. Cô bạn người Nam của vợ tôi không có kinh nghiệm chiến trường giao thiệp với người Bắc nên tưởng bà ấy nói thật, ngủ luôn một mạch cho đến 11 giờ. Trong thời gian này thì bà mẹ chồng đã nấu điểm tâm cho thằng con trai ăn sáng, rồi bắt đầu chuẩn bị cho buổi ăn trưa. Về nhà sau này anh chồng kể bị bà mẹ dũa thê thảm là lấy con vợ không có ý tứ, sáng không biết dậy sớm lo điểm tâm cho chồng hay cho bố mẹ chồng. Cô bạn vợ tôi nói : “Chính bả nói mình cứ ngủ, mình nghe lời bả ngủ tiếp mà bả lại chửi mình!”

Vợ tôi là người miền Nam, khi lấy tôi đã học xong đại học Văn Khoa ở Việt Nam, đang học dở chừng đại học bên Paris, sang đây học tiếp đại học Mỹ nên đầu óc tương đối thông suốt: chỉ trong vòng vài tháng đầu là nàng đã tiếp thụ được lối nói chuyện vòng vo tam quốc của người Bắc gia đình chúng tôi thay vì đi vào thẳng vấn đề. Mỗi lần nàng xuống bếp, chỉ cần nàng nói: “Cái bếp hôm nay sao bẩn quá” là tôi tự khắc hiểu ý nàng nói ngay là “Anh Ngọc đi lau cái bếp!”, tôi phải nhanh chân đi lau bếp; hay hôm nào đi làm về nàng nói: “Hôm nay sao Loan thấy hơi nhức đầu”, là tôi hiểu ngay ý nàng nói “Tối nay Loan không nấu cơm”, tôi tự động chèo thuyền ra sông Đồng Nai câu cá về chiên ăn một mình.
 
Nói thế nhưng không có nghĩa lúc nào tôi cũng hiểu ý nàng. Có một lần đứng trong phòng khách, nàng nói “Nhà mình sơn mầu khác chắc đẹp”, tôi dịch nghĩa ngay là: “Anh Ngọc, sơn nhà bên trong mầu khác!”. Phòng có nhiều đến đâu, cực đến đâu đi nữa tôi cũng có khả năng sơn lại cả căn nhà, thế nhưng phòng khách nhà tôi khoảng khoát, trần nhà cao hai tầng không cách gì tôi sơn được ngoại trừ mướn thợ với cầu thang chuyên môn có thể với tuốt tận trên cao để sơn trần nhà. Khảo giá thì thợ nói sơn lại cả bên trong nhà khoảng $2,000 làm tôi bệnh mấy ngày liền vì nếu tôi sơn thì chỉ tốn $500 là cao lắm. Lo lắng vài tuần mất ăn mất ngủ, tội sụt cân vài pounds. Nàng hỏi lý do thì tôi thú thật trả lời. Lúc ấy nàng mới cho tôi biết là nàng không có ý muốn tôi sơn lại nhà, chỉ nói một câu bâng quơ vậy thôi!

Khi mình nói chuyện có tính chất bên ngoài không thật lòng thì từ điểm đó đến điểm nói chuyện phóng đại tô mầu Eastmancolor cũng không xa nhau là mấy. Ở điểm này, người Bắc cũng bỏ xa người miền Nam, đặc biệt là người sinh sống ở miền Bắc .

Tôi có một người chị cùng cha khác mẹ ở Nam Định tên là chị Hiền. Sau khi bố tôi di cư vào Nam thì khoảng năm 1960 mọi liên lạc thư từ bị miền Bắc cắt đứt nên hai bên không biết tin tức nhau. Đến năm 1995 khi tôi về Sàigòn lần đầu tiên, thăm một gia đình họ hàng xa ở Vũng Tầu, những người này vẫn còn liên lạc với gia đình người chị tôi ở ngoài Bắc nên họ dẫn tôi ra bưu điện để gọi điện thoại ra Nam Định để nói chuyện với chị ấy:

-Thưa chị, em là Ngọc, con thứ năm của Thầy U. U và cả gia đình sang định cư bên Mỹ từ năm 1975, hiện tất cả bình yên. Em là người đầu tiên trong gia đình về lại Sàigòn thăm nhà. Lúc Thầy U vào Nam thì em chưa sinh…

-Giời ơi, Ngọc đã về quê hương đấy à. Chị tôi khóc nức nở rồi nói tiếp:

-Lúc em sinh ở Sàigòn chị có biết vì Thầy U có biên thư cho chị.

-Anh chị không bận thì vào Sàigòn thăm em, em có một tí quà biếu anh chị.

-Chị yếu lắm, đi tầu hoả 40 giờ vào trong Nam chị rất là ngại. Em đã đi xa xôi vạn dăm từ Mỹ về Việt Nam mà sao em không đi nốt ra Bắc thăm chị?

Rời Việt Nam tháng 4 năm 1975, trở về Sàigòn lần đầu tiên hai mươi năm sau nơi căn nhà cũ và những đường phố quen thuộc từng sinh sống mà tôi còn lo sợ không yên lòng, huống gì nói chuyện đi ra Bắc? Đã thế người nhà họ hàng tôi ở Vũng Tầu ai cũng một lòng ngăn cản tôi không nên đi: “Chú đi ra ngoài Bắc thì thế nào họ cũng thịt chú. Cướp bóc nhiều lắm!”. Vì thế, dù rằng tôi rất ước ao gặp lại người chị cùng máu mủ từ bố tôi nhưng tôi không dám ra Bắc mà muốn chị ấy vào Nam để chị em gặp nhau.

-Em ngại ra Bắc…

-Thôi em nói chuyện với anh Lễ nhé. Anh Lễ là chồng của chị tôi, chị trao máy cho anh Lễ:

-Cậu Ngọc đã về Việt Nam rồi đấy à?

-Thưa vâng.

-Từ ngày miền Nam được giải phóng, anh chị đã tưởng gặp lại Thầy U và các em, thế nhưng chỉ trong một thời gian ngắn cháu Vinh và Toàn tập kết vào Nam báo tin cho anh chị hay là Thầy đã mất từ năm 1970, còn U và các em đã đi đâu mất làm anh chị khóc cả mấy ngày đêm. Sau này biết U và các em định cư ở Mỹ anh chị cũng mừng. Giờ thì em đã về lại quê hương, giòng máu mủ duy nhất của Thầy mà em lại không ra Bắc thăm anh chị…

-Em sợ lắm. Em nhất định không đi.

-Nếu thế thì anh và cháu Tuấn đi xe hoả vào thành phố đón cậu ra đây. Nhà ta có chú Biên trong quân đội, sẽ ra đón cậu ở nhà ga, cậu không phải sợ gì cả.

Sau khi anh ấy nài nỉ đến bao nhiêu lần, cuối cùng tôi cũng xiêu lòng theo lời đề nghị, chờ anh ấy và cậu con trai vào Nam rồi tháp tùng tôi ra Bắc.

Tôi xuống nhà ga Nam Định sau khi ngồi trong chuyến tầu hoả kinh hoàng gần 44 giờ, và đúng như anh Lễ nói, anh Biên, đại gia đình vợ chồng anh Lễ chị Hiền cùng con , cháu , chắt, và bao nhiêu là người lạ đã đến đón vợ chồng chúng tôi. Từ nhà ga đi bộ về nhà khoảng chừng hai cây số. Nhận thấy chúng tôi là người ở ngoại quốc về, những người khác ở trong làng túa ra đi bộ với chúng tôi càng ngày càng đông, cho đến khi về đến nhà thì tôi không còn biết ai là ai vì số người đứng vây quanh tôi đông vô số kể. Trong bao nhiêu tiếng xì xầm bàn tán về tôi, tôi bỗng nghe tiếng đàm thoại rất rõ của hai đứa nhỏ nói chuyện đứng ngay kế bên tôi:

-Ai đấy? Một thằng bé người lạ hỏi.

-Ông tao đấy. Ông tao ở Mỹ mới về.

Chị của tôi năm nay 70 tuổi, đã có con lẫn cháu chắt, nên tôi là vai ông với những đứa cháu chắt này. Tôi nghĩ thằng bé đang nói là một trong những đứa cháu chắt của chị ấy đang nói về tôi.

-Thế ông mày nói tiếng gì?

-Ông tao đấy hả? Gớm, ông tao nói tiếng Mỹ, tiếng Tây, tiếng Tầu..,. tiếng gì cũng được cả.

Tôi nghe thằng bé nói mà trố mắt nhìn xem mặt mày nó ra như thế nào. Nó non choẹt, chỉ độ chừng bẩy tuổi là cùng, chưa bao giờ gặp tôi, tôi cũng chưa bao giờ biết nó. Thế mà nó đã khoe xoen xoét ông của nó – là tôi - với thằng bạn nó là tôi nói đủ thứ tiếng!

Chị tôi mừng vô hạn khi gặp lại tôi. Hai bàn tay gầy guộc dơ xương của chị ấy cứ bấu chặt vào tay và vai của tôi trong khi nước mắt chị khóc ròng.

-Thầy mất chị không đươc gặp Thầy nhưng bây giờ gặp được em, xem như là chị cũng mãn nguyện rồi. Em giống Thầy như đúc…

Tuy mừng gặp lại người chị cùng cha khác mẹ, tôi vẫn còn mối quan tâm trong lòng về tình trạng an ninh ở ngoài Bắc mà người thân trong Nam đã nói cho tôi biết. Có lẽ biết được nỗi lo sợ của tôi, anh Lễ xen vào:

-Cậu có thấy là ở đây bình yên vô sự làm gì có cướp bóc phải không? Người ở trong Nam họ nói láo, hăm dọa cậu không muốn cậu ra Bắc, cố tình ngăn chận tình ruột thịt của anh chị em mình chứ ngoài Bắc làm gì có cướp bóc, cậu thấy không? Tất cả mọi sự đều bình thản vô tư.

Đêm hôm ấy ngủ trên gác nhà chị Hiền mà tôi trọc trằn ngủ không yên tuy rằng đã được anh Lễ trấn an ngoài Bắc không có chuyện cướp bóc. Giữa đêm tôi xuống dưới nhà vì cần đi toilette. Căn nhà này bước vào là phòng khách, dài khoảng bẩy thước, rồi có một gian trống khoảng bốn thuớc không có nóc nhà nhìn thẳng lên trời chị tôi dùng làm nhà bếp. Sau gian trống này là một gian nhỏ toilette và chỗ để tắm. Từ phòng khách muốn đi toilette phải mở cửa đi vào nhà bếp trước. Ban đêm trời tối đen như mực không thấy gì ở phía truớc, tôi mò mẫm vịn thành thang gác xuống lầu rồi chậm chạp tiến về cửa hướng ra nhà bếp. Sờ soạng được mặt cửa, tôi mò tay xuống quả đấm, xoay đẩy cửa ra ngoài thì tiếng soong chảo khoảng dưới cánh cửa rớt đổ vang ầm trong đêm tối, to còn hơn bom nguyên tử nổ ở Nagasaki. Tôi bàng hoàng, chưa đoán biết sự gì đã xẩy ra thì cái đèn vàng héo hắt trong nhà ai đã bật lên. Nhìn kỹ lại tôi thấy anh Lễ đang ngủ ở giường kế bên cửa đã bật ngồi dậy và với tay vào công-tắc bật đèn lên vì tiếng động khua anh ấy dậy. Qua ánh đèn, bây giờ tôi mới biết tại sao có tiếng soong chảo rớt đổ: Nhà nghèo cửa mở ra sau nhà bếp không có khóa nên anh Lễ ban đêm sợ ăn trộm vào nhà nên để vài nồi niêu soong chảo ngay dưới bực cửa. Ai mở cửa ra là nồi sẽ rớt xuống đất, tạo ra một hệ thống báo động ăn trộm cực kỳ tinh vi không tốn một đồng xu nào.

Nhà chị tôi nghèo, chả có gì đáng ăn cắp mà anh tôi còn “gắn” hệ thống báo động ăn trộm soong chảo, thế mà vào lúc ban ngày anh ấy nói với tôi là ngoài Bắc không có cướp, tôi cứ thoải mái vô tư! Đúng là chỉ có người Bắc chúng tôi mới ba hoa chích chòe đến thế!

Cái tật vẽ hươu vẽ vượn của người Bắc nó đã tồn tại từ cả nghìn năm nay. Lịch sử Việt Nam chúng ta có nhiều bằng chứng cụ thể: Phù Đổng Thiên Vương lên ba không biết nói cười nhưng khi có giặc Ân tràn xuống thì vươn vai thành người ba trượng cỡi ngựa đánh tan quân giặc. Lý Thuờng Kiệt giả cho người vào đền thờ ngâm thơ bài Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư trong đêm để vận đông tinh thần binh sĩ đánh bại quân nhà Tống.
 
Một thói quen hay tật xấu thường hay khó thay đổi. Trường hợp tôi cũng là thí dụ điển hình. Cho dù tôi có óc sửa sai đến đâu để cải tiến, có nhận thấy người Bắc có nhiều khuyết điểm sai lầm đến đâu để sửa đổi, mà vợ tôi người Nam cứ khen người Bắc phát âm chính xác, nói năng bặt thiệp lưu loát thì chắc chắn đến Tết Congo người Bắc chúng tôi sẽ không bao giờ có sự thay đổi!
Nguyễn Tài Ngọc