Thursday, May 25, 2017

7 tay súng kỳ diệu

Năm 1960, dựa theo kịch bản phim 7 chàng võ sĩ đạo của đạo diễn bậc thầy lừng danh Akira Kurosawa (người Nhật, đạo diễn phim Rashomon, đã được giải lớn thế giới, giải Sư tử vàng, liên hoan phim Venice 1950), Hollywood đã chuyển kịch bản này thành phim cao bồi “7 tay súng oai hùng”, nức tiếng trên thế giới và tại Sài Gòn,
Sài Gòn, năm 64, tôi, cậu học sinh trung học đã dành bớt số tiền mua sách báo lấy 2 vé, ngồi trong rạp Eden xem 2 lần bộ phim nổi tiếng này. Những năm ấy, phim cao bồi là một trào lưu thịnh hành nên “7 tay súng oai hùng” là phim ăn khách nhất.
Tháng 9 năm 2016, phim  The Magnificent Seven (tạm dịch “7 tay súng kỳ diệu”) đã được tái sản xuất và trình chiếu với đạo diễn Antoine Fuqua và dàn diễn viên gạo cội của Hollywood. Tại Boston, MA… tôi lại mua 2 vé, ngồi hơn 3 tiếng đồng hồ, xem 2 lần phim này, như 52 năm trước.
Phim mở đầu trong một nhà thờ thuộc thị trấn hầm mỏ Rose Creek hiền hòa, chung quanh những rặng núi khô khốc, đầy đá và đất đỏ, hình ảnh quen thuộc của miền viễn tây 1879, thuở được di dân khai phá với nguồn vàng trù phú, nhưng cũng là nơi đầy rẫy những thành phần phức tạp của dân tứ xứ. Ở đó sức mạnh và sự sinh tồn nằm trên đầu súng, kẻ mạnh áp bức người yếu, người quyền thế bóc lột dân nghèo nhưng trong đám bụi mù đó vẫn còn những người ngay thẳng, có nhân nghĩa, đứng về lẽ phải chống lại tội ác. Dân làng Rose Creek đang có cuộc họp mặt, quyết tâm xây dựng vùng đất mới thành một nơi sung túc của mình, bỗng đám bộ hạ của lão Bogue xông vô nhà thờ với vũ khi lăm lăm, trấn áp mọi người. Lão Bogue bước lên bục tuyên bố muốn lấy tất cả phần đất mỏ của dân chúng khu này và chỉ trả cho mỗi người 20 đô la. Mọi người phản ứng, nhưng họ không đủ sức kháng cự. Bọn bộ hạ của lão Bogue nổ súng, những người vô tội chết ngay dưới mũi súng của bọn chúng. Matthew Cullen, chồng của cô Emma Cullen, đứng lên bênh vực cho những người dân, bị Bogue bắn chết trước mặt vợ mình. Mọi người im lặng, cúi đầu chịu đựng.
Teddy Q và Emma tới thành phố lân cận tìm người có thể giúp họ chống lại lão Bogue, và cũng để trả thù cho chồng Emma.
Ðạo Diễn: Antoine Fuqua
Tài tử:
Denzel Washington vai Sam Chisolm
Chris Pratt vai Josh Farraday
Ethan Hawke vai Goodnight Robicheaux
Vincent D’Onofrio vai Jack Horne
Lee Byung-Hun vai Billy Rocks
Manuel Garcia-Rulfo vai Vasquez
Martin Sensmeier vai Red Harvest
Peter Sarsgaard vai Bartholomew Bogue
Matt Bomer vai Matthew Cullen
Haley Bennett vai Emma Cullen.
Sản xuất: MGM
Thể loại: phim Cao bồi miền viễn tây
Thời lượng: 130 phút
Ðã trình chiếu ngày 23 tháng 9 năm 2016
Phim “7 tay súng kỳ diệu” tổng kinh phí $107.6 triệu. Vào 20-11-2016, tổng kết đã thu $92.9 triệu tại Mỹ và Canada, $67.8 triệu tại những quốc gia khác, cả thế giới vào khoảng $160.7 triệu, Imax $4.3 triệu.
Chàng cao bồi Sam Chisolm bỗng xuất hiện, y phục đen, ngựa đen, lững thững một mình một ngựa  vô thành phố, mọi người e dè, lo lắng, không biết điều gì sẽ xảy ra. Thực ra anh ta là Sĩ quan truy nã của chính phủ. Sau khi hạ đo ván đám bộ hạ của Bogue trong tiệm nhậu, anh được Teddy nhờ giúp đỡ chống lại Bogue, Chisolm không đồng ý vì chưa chứng kiến được sự tàn ác của Bogue. Ðến khi hiểu được sự việc của lão ta, anh bằng lòng giúp Emma. Với số tiền cô ứng, anh đi khắp nơi, tìm những tay thiện chiến giang hồ để giúp dân làng Rose Creek.
Ðầu tiên là chàng cờ bạc lận Josh Farraday, tiếp theo là tay súng vang danh Goodnight Robicheaux, rồi đến anh người Tàu, vua phóng dao Billy Rocks, tay săn đầu mọi da đỏ chuyên nghiệp Jack Horne, cuối cùng là chiến sĩ da đỏ Red Harvest, và anh chàng sống ngoài vòng pháp luật gốc Mễ, Vasquez.
Bảy chàng cao bồi về tới Rose Creek, chạm trán với đám bộ hạ của Bogue, hạ đo ván 22 tay súng của lão. Chisolm tha cho tay cảnh sát trưởng, đồng bọn của Bogue, ra lệnh cho ông ta về báo với Bogue rằng: Rose Creek bây giờ thuộc về dân và Chisolm cùng nhóm cao bồi, muốn gì thì tới gặp. Tức nhiên là không bao giờ có chuyện gặp mặt thương thuyết với tay gian hùng Bogue.
Ðoán được tình huống, Chisolm xây dựng phương cách tác chiến, điều động cả thị trấn Rose Creek tham gia. 7 anh em huấn luyện dân chúng chuẩn bị chống lại cuộc tấn công của lão Bogue trong một tuần sắp tới.
Nhưng Goodnight Robicheaux chán nản cảnh bắn giết, bỏ đi, chỉ còn lại 6 tay súng, cô Emma tình nguyện tham gia thế chỗ.
Cuộc chiến cuối cùng đã tới, dân chúng và 6 tay súng cùng với Emma đã đánh bại được cuộc tấn công tràn ngập của Bogue. Giờ cuối, Robicheaux trở lại cùng bạn bè thanh toán chiến trường. Nhưng lão Bogue là một tay sừng sỏ, ông ta mang ra loại vũ khí mạnh nhất, khẩu đại liên tự động, một loại hàng hiếm, và là vũ khí sát thương hàng loạt thời bấy giờ. Dân chết, bị thương vô số. 7 tay súng biết mình thất thế, rút lui và tổ chức trận kháng cự cuối cùng. Trong một trận chiến không cân sức, đặc biệt là cái chết của anh chàng cờ bạc lận Farraday trong một canh bạc sinh tử đầy mưu trí và dũng cảm. Anh bị bắn trọng thương trước mặt Bogue và khẩu đại liên, nhưng cây cốt mìn trong tay anh đã phá tung mọi thứ.
Phim bắt đầu với cảnh trong nhà thờ, và vào giây phút cuối với lão Bogue cùng Chisolm cũng tại bàn lễ trong ngôi nhà thờ bị hỏa thiêu đó.
Chisolm bắn trọng thương Bogue, giờ cuối anh ta cho biết chính Bogue và bộ hạ đã giết mẹ, hãm hiếp 2 em gái…, anh yêu cầu Bogue nắm tay anh cầu nguyện cho linh hồn những người thân, Bogue nhận ra Chisolm, lão rút khẩu súng nhỏ trong giày tính bắn nhưng Emmy đã hạ sát lão ta, cứu Chisolm.
Rose Creek trở lại bình yên, mọi người thở phào qua một ngày hoạn nạn. Chỉ còn lại 3 chàng cao bồi sống sót: Chisolm, Red Harvest,Vasquez lên ngựa phiêu  lưu về vùng núi đồi hoang vu miền viễn tây.
Emma đứng trước nấm mồ của 4 người đã hy sinh:
– Dù các anh là những ai trên cuộc đời này, nhưng đã chiến đấu cho những người không tự bảo vệ được mình và các anh đã chết cho họ… và chiến thắng trong cuộc chiến không phải của chính bản thân mình… Các anh vô cùng kỳ diệu!
Hồ Đắc Vũ

Mai Cua

Ðôi khi cuối tuần, tôi lên Worcester, ghé Nhà Hàng Phở Dakao của H., người bạn cũ thời Sài Gòn xưa. Tiệm có nhiều món ăn, nhậu hợp gu, mang lại hương vị những ngày rong chơi Phú Nhuận, Tân Ðịnh, Ðakao, Thủ Thiêm, Chợ Lớn… Tụi tôi dùng bữa trưa cho đến tối, 8 giờ, show Jazz live cho mỗi đêm thứ 7, vài người Sài Gòn ngày nào, ngồi nhâm nhi những bài pop 70. Nghe lửa già ấm áp kỷ niệm…
  1. đang làm gỏi khô bò đu đủ, cô gái bước vô:
– Dạ! chào mấy chú…cua tới! 5 bao cua, 3 con tôm hùm, chỗ quen, tặng thêm con cá 7 sọc…, cả thảy 50 đồng!
Cô gái mắt đen, mặt vuông, tóc cắt kiểu con trai, da trắng hồng, tươi cười.
– “Mai cua”! Bữa nay bán nhiều không? Cám ơn con cá nghen! Cho hoài!
  1. hỏi, bước tới lấy cua, trả tiền.
– Có gì đâu, cá tươi mà! Chú nướng lên nhậu luôn! Bye!
Cô gái thoáng ra cửa.
Vợ H:
– Con nhỏ dễ thương, vui vẻ, thật thà, chồng Mỹ già, gặp nhau ở SG, mang qua đây… xưa phụ bếp được mấy tháng, chồng mất việc, dọn đi xa … nghỉ luôn!
mai-cua
Hồ Đắc Vũ
Mai ở với mẹ trong căn chái lợp bao ny lông gá vô bên hông nhà sàn của người quen ở Rạch Ụ Cây, khu cầu Chà Và, gần khúc kênh đôi, Phạm Thế Hiển, quận 8.
Cũng như mẹ, Mai sống lê la ở mấy bến ghe chuyên chở trái cây, lúa gạo từ 5, 6 tuổi.
– Nhỏ! Ðem dưa lên!
Ghe kêu. Mai chạy xuống ghe, vác dưa lên.
– Ê! Kéo gạo coi!
Mai kéo bao gạo, bỏ lên cái cút kít 4 bánh tự làm từ thùng gỗ nước ngọt, chuyển ra xe lam.
Ðôi khi chủ ghe bầu, vui vẻ kêu Mai xuống quét sàn. Tối đó mẹ con vui vẻ bên nồi cơm trắng, khô cá khoai nướng, tàu hủ chiên chấm xì dầu. Những ngày ít ghe, Mai lội ra Chợ Cầu Ông Lãnh, đếm 2 chục cua luộc của người quen, không cần tiền thế chân, bỏ vô rổ, thêm muối tiêu, chục chanh, chục nĩa nhôm, chục dĩa nhựa đem xuống dọc bờ sông Bạch Ðằng, bán cho khách vãng lai hóng mát, hoặc du khách quanh khu Ðồng Khởi.
Năm đó Mai đã 18 tuổi, đen, xấu, ốm như khúc mía lau còi.
Chiều, mưa lớn, cả khu Bạch Ðằng ế ẩm, ông khách Mỹ du lịch bình dân ngồi xé khô mực  đưa tay:
– Hi! eh!
Mai từ bên kia chạy qua, trời mưa đường trơn, đôi dép nhựa sút ra, cô trợt chân, té nhào, 20 con cua ế trên chiếc rổ văng tứ tán, cô gượng đứng thất thần nhìn vốn liếng của mình bị những chiếc xe hơi cán nát. Mai dựa lưng tường khách sạn lạnh ngắt, thất vọng nghĩ tới số tiền vốn để hoàn trả cho 20 con cua!
– Hello!
– Hê! Hello!
Tay ai vỗ lên vai, Mai quay qua.
– You ok?
Ông khách du lịch gọi cua đưa Mai vào hàng hiên khách sạn,
-Ok! Ok!
Ông ta móc túi cho Mai 50 đô.
– Ok! Thanks!
Tay run run cầm món tiền quá lớn trong đời mình, Mai không kịp cám ơn ông khách, cô ngồi bệt xuống đất ôm mặt khóc… mưa ướt dầm tóc tai cô gái bất hạnh.
Công an phường cho Mai biết có người đàn ông Mỹ tên Thomas tìm.
– Nhưng em không quen ông Mỹ nào hết!
– Không quen sao ông í tìm?
Cô thoáng nhớ chuyện 50 đô, đứng dậy, thay áo, ra phường.
Ông Mỹ ân nhân hôm trước đang đứng trước mặt, ông ta chào Mai:
– Hi! Oh mine!
Công an:
– Không quen sao biết tên?
– Hai là Hi, tiếng Mỹ là chào. Mine là của tôi… không phải Mai.
Ông Mỹ, nói tiếng Việt:
– Tôi là Thomas, cô khỏe không?
Mai cười:
– Dạ khỏe! Thank you!
Công An:
– Không quen sao lói tiếng Mỹ?
– Cha ơi! Ai cũng biết thank you là cám ơn, goodbye là…
Ông Mỹ đưa cho cô mảnh giấy:
– Ðây là số phone và tên, địa chỉ của tôi, còn của cô?
Mai ẹo mình:
– Nguyễn Thị Mai, 155/13/7 quẹo trái. Phạm Thế  Hiển, quận 8… không có phone.
Ông Mỹ móc túi, đưa cái phone:
– Tặng cô. Sẽ liên lạc. Bye!
– Bye!
Mai chào, ông Mỹ lên taxi.
Qua liên lạc, Mai biết Ba của Thomas chết tại chiến tranh Việt Nam, Thomas là trung úy, bị thương và giải ngũ tại mặt trận Iraq, ông ta muốn cưới Mai làm vợ.
Mọi chuyện diễn biến nhanh, trong vòng 6 tháng, má Mai qua đời vì bệnh, năm sau Mai bỏ chái nhà sàn, bỏ bà con hàng xóm rạch Ụ Cây, qua Mỹ theo chồng.
Mai đáp xuống phi trường Logan, Boston.
Từ căn nhà nhỏ, một phòng ngủ, vùng biển Lynn, 20 miles, Tây Bắc Boston, Mai bắt đầu cuộc sống của mình tại Mỹ.
Sáng 6 giờ Thomas lái chiếc tàu, 20 lồng đánh tôm cua, ra vùng biển Lynn, thả bẫy, Mai phụ chồng cột những cái phao tròn màu cam vô lồng, đánh dấu phao, hai vợ chồng nghỉ tay ăn sáng trên biển, đến trưa chạy về nhà ( nhà ngay bến),  1 giờ chiều, Mai đi làm cho một tiệm giặt gần đó, 6 giờ về, ăn qua loa, lên tàu với Thomas, đi kéo bẫy. Vào mùa, bán ra cả 2-3 trăm một chuyến, ngoài mùa tệ lắm $100-150, mùa đông nghỉ, Thomas dành thì giờ bảo trì tàu, hốt tuyết thuê cho dân chung quanh khu.
Tôi tình cờ gặp Mai và Thomas ở chợ Tàu, có bán đồ ăn nấu sẵn, tôi mời.
– Dạ, Chú khỏe?
– Khỏe.
Thomas:
– Tôi vui vì đã có người vợ VN giỏi.
– Tôi mừng cho ông.
Mai:
– Chú biết hông. Ổng không nấu ăn, toàn mua ở ngoài. Từ khi cháu qua đây, ăn tối ở nhà.
– Ai nấu?
– Cháu.
Mai cười:
– Nói thiệt chú. Nhỏ tới lớn, cháu chưa giờ nấu. Nhà nghèo quá…. đâu có gì mà nấu, qua đây, nấu đại, coi you tube… nấu theo.
Tôi ngạc nhiên:
– Youtube?! Giỏi!
Thomas hỏi tôi:
– Cái này là chân vịt?
– Yes!
– Sao ăn giòn, ngon quá mà không có xương?
– Ðây là món Tàu.Người ta đã rút hết xương.
Thomas quay qua Mai:
– Em nhớ nấu món này.
Mai quay qua tôi:
– Cái gì ngon là ổng muốn em nấu. Món này chịu thua.
Tôi thì thầm:
– Có bán đông lạnh, mua về ướp, xào, xong!
Cô cười:
Tôi ngồi nhìn hai vợ chồng vui vẻ ăn uống.
Cuộc sống tất bật, tôi đi Canada, Pháp, Shanghai và chuyển nhiều nơi vì việc làm, Mai rồi cũng quên đi.
Cho đến hôm chợ Tết Việt Nam, tôi đến chơi gian hàng đồ ăn của Phở Dakao.
Chợ Tết Việt Nam tưng bừng, bông hoa, đèn đóm khắp nơi, mọi người chào hỏi, ăn uống, cười cợt, tôi đi một vòng.
– Ủa ! Chào chú! Thăm chợ Tết hả?
Mai chào, Thomas tay cầm hộp gỏi cuốn, miệng nhai.
– Chú ơi, năm nào chợ Tết, cháu cũng ráng tới.
– Hai vợ chồng khỏe không?
– Khỏe chú!
Cô Mai đẹp nhiều so với lúc mới qua, tướng tá tròn trịa, hơi mập một chút nhưng khỏe và sống động hơn xưa.
– Ðây là nơi món ăn Việt Nam ngon nhất, tiếc chỉ có một lần trong năm!
Tôi cười:
– Vì chỉ có một ngày năm mới.
Thomas chỉ mấy bao giấy lớn:
– Năm nào tôi cũng mua về cho Má tôi.
Mai mua 3 ly cà phê đá kiểu SG, đậm đà.
– Mời chú.
– Năm nào cháu cũng đưa Thomas tới đây cho ông thỏa mãn cái thèm đồ ăn Việt. À! Chú biết hông cháu hết đi làm hãng rồi, nhờ trời thương, biển đãi… lúc này Thomas đánh được nhiều cua tôm lắm, ổng mua chiếc tàu cũ, lớn hơn, sửa sang lại nên hai vợ chồng làm nhiều, cháu theo ổng, phụ lái, thả lồng, kéo lồng, đóng bao cua, bán cho những tiệm Nails của người Việt lòng vòng khu Bắc Boston. Khá hơn xưa.
– Chúc mừng hai vợ chồng.
Biển Boston trù phú tôm cua cá và sự siêng năng đã mang cuộc sống đầy đủ cho Mai và người chồng luống tuổi Thomas, bù lại những ngày cơ cực ở rạch Ụ Cây.
Cuối năm đó. Chiều, Thomas chạy vô bến, neo chiếc tàu, bỏ những bao cua vô thùng xe cút kít, đẩy lên bờ, cho vô chiếc xe tải, như mọi ngày tốt, bữa nay được 30 bao cua đá, 30 bao cua xanh.Thomas, Mai leo xe đi giao hàng.
Phone reng liên tục.
– Dạ! 10 phút em tới liền… Dạ! 10 bao!
– Dạ! Bữa nay có ghẹ xanh. Dạ được! 5 bao! Tới ngay…
Hai vợ chồng kiếm 300 đô nhẹ nhàng.
Mùa thu năm đó trời trở lạnh sớm, sương mù dày đặc kéo về vùng biển, sau một ngày vất vả hai vợ chồng về bến, cái bến tàu nhỏ quen thuộc bao nhiêu năm, có cầu gỗ sơn màu đỏ chạy dọc bãi lại trở thành nơi tai nạn giáng xuống vai Thomas.
Tàu cập sát cầu gỗ, Mai nhảy lên cột dây neo, Thomas kéo xe cút kít đẩy thùng đầy cua đã vô bao lên bờ, ông đang bước những bước ngắn trên miếng ván dài chừng 10 feet nối từ tàu tới bờ đá, tự nhiên tàu chòng chành, miếng gỗ hụt be tàu văng ra, Thomas và chiếc cút kít đầy cua rớt xuống biển, Mai la cầu cứu, mọi người chạy tới.
Sau 2 tuần, Thomas xuất viện với chân phải, tay trái được khớp kim khí, tuy chưa già lắm nhưng ông yếu hẳn đi.
Mai bắt dầu quán xuyến hết mọi chuyện, dưới chỉ dẫn của Thomas.
– Tàu chạy theo GPS hải hành, nhưng khi ra và vô bến em phải tự lái.
– Em biết!
Thomas ngồi xuống ghế, xoay tay lái.
– Em nhìn thấy cái đèn đỏ chớp tắt ở mũi tàu không?
– Thấy, anh!
– Ðó là điểm chuẩn của tàu, tất cả hướng, đều căn cứ vào điểm chuẩn.
Mai cầm tay lái.
Thomas nói:
– Ðổi hướng, 3 giờ chính Ðông.
Mai lặp lại:
– 3 giờ chính Ðông.
Cô xoay nhanh tay lái, chiếc tàu quay qua phải, tiến tới vùng đánh cua trước mặt.
Thomas vẫn lên tàu làm việc, nhưng phần chính vẫn là Mai. C-hẳng bao lâu, Mai lấy bằng lái tàu nhỏ, gần bờ, hai vợ chồng mướn thêm 2 người Mễ phụ việc, công việc khả quan hơn xưa rất nhiều.
Sau chuyến về thăm nhà, Mai vui mừng gặp lại bà con hàng xóm, ai cũng mừng cho con Mai đen, xấu, ốm như mía lau ngày xưa. Gia đình nào bây giờ cũng khá, nên kéo hai vợ chồng mỗi nhà một bữa tiệc nhỏ. Mai lên đường về Mỹ mà nước mắt đầm đìa từ cầu Chà Và cho tới phi trường.
Hai vợ chồng mua ngôi nhà mới, đẹp, 3 phòng ngủ, ở Lynn, không xa bến tàu lắm.
“Mai & Thomas, hải sản tươi sống, chuyên Tôm Cua.” Cô mở tiệm hải sản ngay tầng dưới nhà mình, mỗi ngày giao nhiều mối cho nhà hàng quanh vùng và Boston.
Hai vợ chồng phát tài, trở thành một trong những tiệm bán tôm cua có tiếng ở Lynn.
Mùa hè năm 2014, người bạn đãi tiệc sinh nhật, nhờ tôi lấy đồ biển, và tôi gặp cô Mai.
– Trời ơi! Chào chú! Ði đâu lạc tới đây lận?
– Không lạc! Bạn chú nhờ tới đây lấy hàng, anh Huy.
– À có ngay! 50 cua, 20 tôm, 20 pounds nghêu! Cả thảy $300!… Lâu ngày gặp tặng chú 20 con sò huyết tươi, còn sống nhăn… món này chỉ có nướng  ăn với rau răm là ngon. Thấy Mai vui, tôi có thì giờ, nên hỏi:
– Sao?
– Dạ! Thomas bệnh nên bây giờ cháu coi mọi chuyện… Dạ! trời thương, khá hơn xưa. Khỏe hơn xưa.
– Giỏi!
Mai nhìn tôi:
– Bù lại những ngày thiếu thốn hồi bên VN chú!
Tôi chọc:
– Thì bây giờ cũng bán cua vậy!
– Khác quá đi chú ơi! Xưa bán vài chục con cua hấp bữa đực bữa cái kiếm không đủ sống, mưa nắng lội bộ mòn chân!
– Bây giờ?
– Giờ cháu bán cả trăm ký cua mỗi ngày, một bước lên xe, nửa bước xuống xe, có tiền của để dành, cuộc sống êm ả nhiều.
– Hay! Giỏi cô Mai!
Tôi khen.
Mai nhìn xuống.
– Nhưng đôi khi…buồn!
Cảm nhận được chữ “buồn” của Mai, tôi lặng yên, lấy túi đồ biển.
– Bye Mai! Gặp sau.
Khoảng 2 năm sau, trong buổi tiệc nhậu, bạn bè bàn tán về “Mai Cua”.
Hiệp:
– Ông chồng Mỹ bị hội chứng phổi, do nhiễm trùng khí độc trong chiến tranh Iraq, chừng 8 tháng sau qua đời.
Tâm:
– À vậy là tui biết cô “Mai Cua” này… Lần nào lên Casino Foxwood cũng gặp, yên lặng ngồi một mình bàn roulette, uống toàn Louis… ăn thua lớn lắm!
Khương:
– Ừa, đúng là cổ. Chủ hai tiệm bán đồ biển lớn ở Lynn nhưng sập rồi!
Mọi người nhìn Khương.
– Cổ hưởng bảo hiểm lớn của chồng, ông Thomas, mở thêm một tiệm nữa nhưng mấy tháng sau có lẽ vì buồn do cái chết của chồng, ‘Mai Cua” lậm vô Casino.
Mọi người.
– À… à… à!
Hầu như Mai tới Foxwood mỗi ngày.
Mai chơi trong phòng VIP, mỗi ván roulette có thể từ 1,000 cho tới 5,000.
– Dạ mời bà!
Người hầu rượu mang cho Mai ly Hardy, loại cô nhắc đắt tiền bây giờ, cô cười nhẹ, đẩy cái chip 50 cho tiền tip.
Roulette quay, Mai đặt 1,000 vô số 17 và rải đôi 16-17, 17-18, 14-17, 17-20, 500 mỗi 2 số.
Tiếng hột lanh canh, Mai nhắm mắt… cô nghe cái háo hức bồn chồn trong lòng…
– 20!
Người dealer kêu lớn, những tiếng xuýt xoa…Mai trúng 9,000.
– Hôm nay ngày hên của cô, xin chúc mừng.
Ông Mỹ quản lý cúi chào Mai.
Ðúng như lời ông nói, Mai thắng đậm 15,000 trong vòng 2 tiếng.
– Dạ xin mời cô dùng bữa tối tại nhà hàng Vue 24, phòng VIP, cô có thể đến bất cứ lúc nào, hoặc bây giờ, có người hộ tống cô tới.
Mai lắc đầu, tip 2 cái chip 500, cô đứng lên đi ăn.
Nhưng một đêm của Mai ở Foxwood không phải ngắn như vậy. Ăn xong Mai làm một vòng những gian hàng, không có gì mới, vẫn như hai hôm trước.
Mai vô sòng Vip Baccarat.
Canh bạc lớn cho một đêm của Mai xảy ra tại đây, và cũng chấm dứt tại đây sau 3 giờ đen đỏ.
Mai thua sạch, kể cả 2 cái thẻ tín dụng loại bạch kim, chỉ còn vài trăm tiền mặt, cô vô Bar làm nửa chai Hardy, say, lên lầu ngủ.
Trong giấc ngủ chập chờn mùi rượu ông Thomas hiện về…
– Không sao! Cô đừng lo, tôi xin mua hết số cua đã mất! Mai lạnh run trong cơn mưa,  khu Bạch Ðằng mờ trước mặt… Cô khóc.
Và như vậy, 2 năm sau, Mai bán tiệm, khai vỡ nợ. Người bạn tử tế dân Tân Ðịnh, cho tá túc trong căn phòng nhỏ dưới tầng hầm ở Malden.
Vừa rồi có hội chợ gây quỹ cứu trợ bão lụt miền Trung, những nhà hàng tham gia bán đồ ăn Việt Nam giá rẻ, tôi tham dự với mấy người bạn, phần cũng thích món Việt, nhất là những món miền Trung cay ớt xanh. Hôm đó trời tuyết lất phất, tôi và bạn chọn bàn ngay cửa kính, không còn gì ngon bằng húp tô bún bò đặc thù xứ Quảng, bánh nậm, bánh quai vạc, bánh bèo chén, nem chua, chả cá… cay ớt xanh, nồng nước mắm… nhìn ra ngoài tuyết đang rơi.
– Ăn cua đi mấy chú!
Tôi giật mình quay lại.
– Mai!
“Mai Cua”ngày nào đang đứng trước mặt tôi, hai tay hai dĩa cua, tóc cắt ngắn, mắt sáng, ốm và hốc hác.
-Ủa Chú?!…Khỏe hông? Lâu quá không gặp!
– Khỏe!
– Dạ! Mấy chú, cua nướng, cua hấp!
– Chú lấy hết 2 dĩa!
Mai để 2 dĩa cua xuống bàn, tôi trả tiền.
– Ra sao rồi Mai?
Mai cúi mặt, vẻ ngần ngừ, cô ngước nhìn tôi, cặp mắt sáng long lanh nước mắt.
– Dạ! Thì bây giờ cháu mua cua ở tàu, mang về bỏ mối mỗi ngày cho mấy nhà hàng, và người mua lòng vòng như xưa.
Giọng Mai nhỏ lại:
– Ông chồng Mỹ chết rồi!
Tôi động lòng đứng dậy ôm vai Mai.
Một khoảng im lặng.
Tôi lúng búng:
– Rồi cũng qua thôi!
Mai nhìn những tô bún bò.
– Ông chồng Mỹ của cháu thích bún bò lắm!
– Mời Mai ăn bún bò luôn.
– Dạ không! Ăn bún bò nhớ chồng, nhớ nhà…
… Cháu nhớ gánh bún bò của bà Tám ngay chân cầu Chà Và, mỗi lần có tiền ăn xong mua thêm một tô bỏ trong lon gô cho má, bây giờ lại nhớ ông già Thomas dễ thương…ổng như vừa ăn, vừa khóc, vừa nói:
– Em Mai ơi! Món này cay quá! Tình cảm quá! ăn… khóc nhớ Việt Nam.
– Thôi chào chú, bán cua cho xong.
Tôi ngồi xuống ăn tô bún bò nóng óng ánh màu đỏ ớt bột, rau bắp chuối, ớt xanh…, tôi cay mắt.
Không nhớ về Sài Gòn, nghĩ về “Mai Cua”.
Hạnh phúc rồi lại tới với những hạt được gieo trồng.
Chậc! Không nhớ đã đọc câu này ở đâu.
Hồ Đắc Vũ

Sáu Ðờn

Ngay ngã tư Trương Tấn Bửu, Nguyễn Huỳnh Ðức, có hẻm nhỏ đâm qua đường Hồ Biểu Chánh. Lâu rồi, dân bán lẻ tụ lại bày hàng kiếm sống, sau đó mọc thêm tiệm sửa xe, cà phê, vài người với tấm bạt trải xuống đất bày kềm búa, xích xe cũ, lon đinh ốc, trong hẻm có tiệm Tàu bán gạo lẻ, mắm, cá khô, bên kia đường là sạp bán bún riêu, kế bên là hai tiệm tạp hóa, bán sữa, kem, tối có tiệm phở bên lề, bây nhiêu đó tạo thành “Khu Chợ Nhỏ Nguyễn Huỳnh Ðức” như những người sống chung quanh thường gọi.
Anh Sáu Ðờn sống ở khu này, chỗ lưu trú của anh là cái sạp nhỏ sửa xe, ban đêm bỏ trống, bên hông căn nhà hai tầng, đối diện sạp bún riêu.
Chủ căn nhà là bà góa, chồng chết trong trại cải tạo, gạ được tay cán bộ Ngoại Thương, chuyên xuất thịt bò qua Liên Xô, bán bò, nên xơi nhiều bò, 3 năm sau chết vì cao máu. Thời đó, Sài Gòn có phong trào lấy Việt kiều để ra đi, bà góa chộp Việt kiều để ở lại làm cảnh, nên quơ ngay tay Việt kiều Mỹ, loại thất nghiệp kinh niên bên Quận Cam, ban ngày lái chiếc Lexus coi mổ bò, ban đêm “mổ” con lợn lòng hồi xuân của bà, tháng kiếm rủng rỉnh vài ngàn đô, dân khu này gọi là “Việt kiều Bò.”Không ai biết và cũng không ai quan tâm anh Sáu Ðờn từ đâu tới. Với khuôn mặt sạm đen, hốc hác, một chân cụt tới ống, anh có vẻ như một thương binh trước 75. Ngoài cây nạng gỗ, gia tài được chiếc mền dù, vài quần áo lính, ca nhôm, muỗng dao, tất cả dồn trong cái ba lô vải màu kaki của quân trường ngày xưa. Anh Sáu Ðờn ăn đó, ngủ đó, kiếm sống bằng cái ghi ta cũ, đứt một dây và những bài hát xưa. Anh đàn không hay, giọng hát như nghẹt mũi, nhưng cũng có người nghe, bằng chứng là cái lon nhôm trước mặt ngày nào cũng lưng lửng tiền lẻ của các bà các cô hay lai vãng bên hàng bún riêu. Cũng như tay “Việt kiều Bò”, người ta gọi anh là Sáu Ðờn.
Cuộc đời tất bật trôi qua, sáng trưa chiều tối vùn vụt tới, mọi người lo tranh sống trong cái không khí đổi đời nghẹt thở, không ai để ý tới sự hiện diện của anh Sáu và càng không quan tâm tới tiếng đàn thiếu dây, tiếng hát nghẹt mũi bên hông căn nhà hai tầng khu Chợ Nhỏ Nguyễn Huỳnh Ðức.
sau-don
Hồ Đắc vũ
Nhưng không phải ngày nào rồi cũng trôi qua yên ổn như nhau.
Sáng đó, anh Sáu tới máy nước trong hẻm rửa mặt, lấy bình nước, ôm cái ghi ta, quẹt tới quẹt lui.
– Ư ư!… em hỏi anh! em hỏi anh… bao giờ trở lợi!… xin trả lời! xin trả lời!… mai …mốt anh dzzzìììaaaaaa!…
Sao hôm nay giọng Sáu Ðờn mùi quá, đã vậy anh còn rống lên, xuống giọng rên i ỉ như khóc đám ma, bà con qua lại chợt rợn người, bùi ngùi nhớ chuyện xưa, mấy cô xì xụp tô bún riêu bên kia đường thổn thức ngày tháng cũ, ai đi ngang cũng bỏ vô lon nhôm của anh Sáu chút tiền lẻ.
Riêng anh công an khu vực thì khác, anh không bùi ngùi chuyện xưa, mà cũng đếch có chuyện cũ để nhớ nên anh khó chịu.
– “Lày”! “Nàm” quái gì ông ống thế hở?
Sáu Ðờn đang nhắm mắt:
– …Anh trở dzìa! Anh trở dzìa!! Ư ư…có khi là người đã cụt…chân...
Sáu Ðờn, lim dim, quơ cái ống chân cụt ốm nhách như khúc củi khô trước mặt, anh công an tới sát bên, la lớn:
– “Lày”! Im không thì bảo?
Anh Sáu mở mắt, tắt tiếng.
Góc Chợ Nhỏ nghẹt thở, mọi người nhìn anh Sáu và người công an.
– “Nàm” gì “na” hét mất trật tự thế hở?
– Dạ! háát!
Mặt Sáu Ðờn xanh lè, anh lí nhí:
– Dà!… dà! Hát kiếm cơm mà anh!
– Hát cái gì mà cụt chân, cụt tay? Nhạc “lào” vậy?
– Dạ! Em đâu biết! Nghe sao hát vậy mà!
Anh công an chỉ bên kia đường.
– Qua trụ sở “nàm” việc!
Sáu Ðờn lí nhí năn nỉ, anh công an lấy đàn, ba lô bước qua trụ sở kế tiệm thuốc Bắc nằm bên góc Nguyễn Huỳnh Ðức.
Anh công an không thèm hỏi han gì tới lý lịch, hộ khẩu của Sáu Ðờn, vì anh thừa biết có bao nhiêu thương binh ngày xưa lây lất kiếm ăn trong thành phố, anh nghiêm mặt:
– Muốn kiếm sống thì “nựa” bài mà hát! Nhạc gì kinh thế? Ðánh nhau bao nhiêu “lăm”, chết cả “nũ” chưa chán sao mà còn rên ư ử… Chết mí chóc!… Sao không hát bài vui, bài mới?
Sáu Ðờn đưa tay gãi đầu, nói liều:
– Dạ!… Dạ em nói thiệt: Hát bài mới đâu có ai cho tiền!
Anh công an còn trẻ, hiểu thừa sự thật.
– Nhưng cũng rống vừa phải thôi! La ong ỏng hàng xóm khiếu “lại”…
Anh chỉ tay vô nhà Việt kiều Bò, nơi bức tường, chỗ tạm cư, làm ăn sinh sống của Sáu Ðờn hàng ngày.
– Còn rống “nên” “nà” tôi tống ra khỏi khu vực đấy nhá!
– Dạ, em hiểu.
Từ hôm đó, giọng ca Sáu Ðờn hết rềnh rang ở khu Chợ Nhỏ nữa.
– Sao tắt tiếng mậy?
Bà Năm bán trầu hỏi.
– Ðứt dây hả con?
Anh Bảy cà na hỏi.
– Bộ hết hơi?
Ông già vá xe cũng hỏi:
– Tuột dên hả mầy?
Sáu Ðờn làm thinh…
Nhưng đói, nên mấy hôm nay Sáu Ðờn bắt đầu hát bài mới lí nhí trong miệng, tiếng đàn rèn rẹt che hết giọng nên số tiền bà con cho, xuống thấp thấy rõ, anh càng thấm thía sự tuột dốc của mình qua những bữa tối đói meo. Kẹt quá, anh mò lên khu ăn nhậu gần cổng xe lửa số 6 hát thêm, nhưng không tranh được đất sống vì khu đó đã đầy ăn xin.
– Ê! Thằng què kia! Ðất này là đất sinh, đất tử của bà! Khôn hồn thì xéo đi nhá!
Sáu Ðờn lạnh tanh nhìn con nhỏ Bắc Kỳ chanh chua, anh chọc:
– Mẹ! Ðất sinh, đất tử của mầy là ở ngoài í! Ra ngoải kiếm ăn!
Tối đó nhờ đám thanh niên ăn nhậu tốt bụng, họ cho Sáu Ðờn dọn sạch bàn tiệc dư thừa và hai chai bia, đến khuya anh đem tới hiên tiệm tạp hóa, ngồi nhấm nháp. Ðã lâu lắm anh mới có được bữa ngon, Sáu Ðờn uống hết giọt bia cuối cùng, lăn ra ngủ…
Khuya, nghe tiếng động lạ, anh chồm dậy, thì ra con nhỏ Bắc Kỳ.
– Dạ! Cho em xin ít đồ ăn! Cả ngày không có gì vô bụng, meo quá!
Có chút bia trong người, Sáu quên chuyện cũ, đẩy lon đồ ăn cho nó:
– Ăn hết đi!
– Dạ! Xin anh!
Con nhỏ ăn một hơi, chạy qua vòi nước uống ừng ực, chạy lại ngồi bên Sáu Ðờn.
– Sao mầy chưa ngủ?
Sáu nhừa nhựa hỏi.
Con nhỏ Bắc Kỳ liếc đôi mắt ti hí:
– Này! Thích con này không?
Trong cái đầu ngà say vì hai chai bia, Sáu Ðờn thấy con nhỏ Bắc Kỳ mắt hí coi cũng ngon, nhưng anh không hứng vì bữa ăn còn đầy trong bụng.
– Ngủ đi! Mai tính!
Sáu Ðờn nhắm mắt ngủ, nhưng con Bắc Kỳ thì không, nó cởi chiếc áo lính, bộ ngực trắng nõn bày ra, nó tuột quần và nhào vô ôm Sáu Ðờn, la lên:
– Ối giời ơi! Thằng què hãm tôi! Ối! Công an! Ðau quá! Ðau quá! Nó hãm tôi!
Con nhỏ làm thêm tuồng độc, lăn quay ra ôm con chim máu me tùm lum.
– Ối! Công an! Chết con rồi! Ðau quá!
Sáu Ðờn giật mình, anh ú ớ:
– Ðồ chó!…
Hậu quả là Sáu Ðờn bị mấy người Dân Phòng đánh một trận, tức tốc bị trói lên công an Quận, ngủ với muỗi trong phòng giam.
Sáng hôm sau, tỉnh say, anh mới biết cái mưu thâm độc của con Bắc Kỳ, cũng may nhờ có ông già bụi đời nằm gần đó làm chứng, Sáu trắng tội. Anh công an Quận hăm:
– Có bia vô làm cha nổi hứng chớ gì!… Tôi còn thấy anh trong khu vực này là nằm tù nhá!
Cả thành phố thay đổi vùn vụt, nhà xây lên, nhà đập xuống, đường Nguyễn Huỳnh Ðức được mở rộng, hàng quán, tiệm, khách sạn mọc ra chật cứng, đường càng lớn, tiệm càng nhiều thì đất sống của Sáu Ðờn càng nhỏ lại, cái hông nhà ông Việt kiều Bò, nơi tạm trú của anh Sáu ngày nào, bây giờ là lề đường, mà luật thì không cho ngủ lề đường. Chỗ cư trú mất, Sáu Ðờn còn mất luôn nơi kiếm sống; vài tháng sau, khu Chợ Nhỏ biến mất, chung quanh là lầu hai, lầu ba, những người buôn bán lẻ trở thành chủ tiệm, sạp bún riêu ngày nào vài ba chiếc ghế đẩu trở thành nhà hàng máy lạnh chạy rì rì… Cả thành phố lột vỏ trần truồng như con nhộng, có một năm mà tất cả tiến lên vùn vụt. Cái gì cũng hơn: nhà cao hơn, to hơn, khiến đất mắc hơn, hiếm hơn, xe nhiều, đường kẹt, bụi bặm ô nhiễm càng tăng và tiền bạc đương nhiên cần thiết hơn…cho nên đạo đức trở nên tệ hơn… Tóm lại cái gì cũng hơn xưa, và dĩ nhiên Sáu Ðờn càng gần chỗ chết… hơn.
Ăn xin chuyên nghiệp anh không làm, la cà mấy quán nhậu, nhà hàng hát vớ vẩn xin tiền, anh bị đuổi đi, hoặc ăn hiếp bằng cách lấy tiền xâu. Sáu Ðờn già rồi, sống vất vưởng, thiếu ăn càng lúc càng yếu, suy dinh dưỡng nên cái chân cụt sinh ra lở loét gây sốt suốt ngày, anh không còn sức để cự lại bọn trẻ, phe đảng. Sáu Ðờn buồn, cố sống lòng vòng khu chợ Nhỏ ngày xưa, bề gì bà con cũng còn nhớ anh.
– Sáu! Rửa cái sân!
– Sáu! Lau giùm cái xe!
– Sáu! Chạy đi mua cây đá!
Cả ngày Sáu Ðờn thường phụ mấy tiệm quen ngày xưa kiếm sống, có khi được cho tô bún, ổ bánh mì, hoặc bó rau muống, trái dưa leo. Ðêm anh che tấm ny lông nhỏ nằm tạm cổng sau nhà Việt kiều Bò, vì sợ ăn cướp, anh ta xây cổng song sắt nhọn hoắt, khoá chặt với sợi dây xích to bằng cườm tay, không ai ra vào nên Sáu Ðờn còn may mắn có chỗ ngủ qua đêm.
Mùa mưa tới từ tuần rồi.
Sáu Ðờn ngày càng khổ hơn với cái chân cụt nhiễm độc, thuốc của Y Tế quận cho chỉ đủ bôi vết thương, tiền ăn không có, anh làm gì có tiền mua trụ sinh, suốt ngày Sáu Ðờn run rẩy ôm đàn kiếm ăn với cơn sốt bừng bừng trong đầu, mắt mờ, môi khô, những đầu ngón tay lạnh cứng lại, anh không còn hơi để hát.
– Thôi !… Hát mí hò gì! đi chỗ khác cho con buôn bán!
– Biến giùm cái đi bố!
– Nỡm! sáng sớm ám bà rồi!
Thành phố càng thay đổi, Sáu Ðờn càng khó khăn hơn. Những người biết anh trước đây, hay bố thí, hay tử tế với anh, càng lúc càng biến mất, nghe nói họ đi nước ngoài với gia đình; thay vào đó là những giọng chanh chua, mặt mày cộm đanh đá, coi lạ quá chừng.
Sáu Ðờn xuống dốc lẹ làng. Những bài hát một thời, không rung động nổi tấm lòng của cư dân mới khu chợ Nhỏ ngày nào, họ không biết bài hát cũ, hoàn toàn không có kỷ niệm gì của ngày tháng xưa, nên họ lạnh lùng lơ đi. Sáu Ðờn đâu biết rằng: trước đây họ không khác anh gì mấy, cũng gói áo quần, xách tay lèo tèo mớ đồ rẻ tiền, nhảy tàu hỏa, sống chết nhào vô vùng đất phương Nam “giàu giả tạo” để sống và được sống. Những người đó đã từng thấm thía quá nhiều về cái nghèo khổ bẩm sinh, nên tiền vô túi, là ủi cất, ít khi nào biết cho ra…, nên cái lon nhôm của Sáu Ðờn trống trơn mỗi ngày.
Sáu Ðờn vừa đói vừa sốt trong cái rửng mỡ, hào nhoáng cuả cái Sài Gòn thay đổi, nhiều đêm, chút tiền cuối cùng mua được cái bánh tráng, anh nhúng nước, cuốn lại ăn, cho qua cơn.
Mưa dứt, Sáu Ðờn quyết định lên chợ Tân Ðịnh kiếm ăn.
Hông chợ Tân Ðịnh là dãy xe bán đồ ăn đến khuya, cho những khách ăn chơi về trễ.
– Em còn nhơớớ!… hay em đã quên!…nhớ Sài Gòn mưa rồồiii chợt nắng!…
Sáu Ðờn đang hát, đang kềm cơn sốt run người.
Tiếng tiền giấy bỏ vô lon làm anh hứng khởi…đầu óc mường tượng tới ổ bánh mì thịt của tiệm Ba Lẹ gần đó với hành ngò thơm lựng.
– … Nhớ phố xưưưaaa!…có bao người queeenn!!!
Cô gái ăn mặc diêm dúa, ngừng nuốt gắp mì, nhìn Sáu Ðờn.
– Bài này hay quá anh!
Cô ta quay qua người đàn ông.
– Em sinh bên Mỹ… biết gì Sài Gòn mà hay!
– Thì… bây giờ mới biết, nên hay!
Cô chồm tới, bỏ thêm tiền vô lon nhôm.
– Dạ, dạ! Cám ơn cô!
Ðêm thật khuya, Sáu Ðờn ngồi xuống, dựa lưng vô bức tường nhà thờ Tân Ðịnh, anh thở một hơi dài, cái lon nhôm nặng tiền làm cơn sốt trong người nguôi lại.
– Mười…, mười lăm, hai mươi…
– Mẹ mầy!
Tiếng chửi thề, kèm theo cái đá thốc vô mặt Sáu Ðờn, anh bật ngửa, lon tiền văng ra xa,
– Mẹ mầy! Ở đâu mà tới đây giành đất của ông hở thằng què?
– Tui… tui có dành gì đâu! Tui hát xin tiền mà!
– Ðây là khu của tao! cấm mầy tới!
Bây giờ thì Sáu Ðờn hoàn hồn, trước mặt là hai thằng cao lớn, chung quanh là ba đứa con nít chừng 5, 6 tuổi, rách rưới.
– Thì tui đờn hát kiếm ăn như mấy người, có làm gì sai đâu?
– Mẹ! Ðây đếch phải vùng của mầy!
Sáu Ðờn nhìn trừng trừng vô mặt thằng lớn nhất…
…Mầy mà gặp tao năm ngoái là tao tát cho rụng răng rồi! Anh chồm tới, nhưng cơn sốt bỗng trở lại, vết thương của cái chân cụt những ngày thiếu ăn làm anh hụt hẫng.
– Biết điều thì chia cho tụi này rồi xéo ngay!
– Có bao nhiêu mà chia?
Anh phân trần.
Thằng lớn nhảy vô Sáu Ðờn, anh đưa tay định tống vô mặt nó, nhưng sức lực bỗng biến mất, anh mất đà, té xuống, cơn sốt bùng lên, thân thể co quắp lại như con tôm trúng lửa, mắt anh bỗng tối sầm, loáng thoáng tiếng chửi, tiếng cười và tiếng lon nhôm ném vô tường.
Sáu Ðờn mở mắt, trăng sáng trắng hai tháp chuông nhà thờ cao vút, cơn sốt làm anh run bần bật, anh cố đứng dậy, chiếc ghi ta bể nát nằm bên tường, anh lượm từng mảnh ôm vô ngực, nước mắt rưng rưng.…
Cuối cùng thì Sáu Ðờn cũng về tới nhà, nhà là chiếc cổng sau nhiều song sắt, khóa chặt suốt ngày của Việt kiều Bò. Sáu Ðờn thở không ra hơi, cơn sốt cộng cái đói quằn quại trong người, anh quấn chiếc mền rách, ra máy nước uống một bụng đầy nhưng sốt vẫn sốt, đói càng đói hơn, Sáu Ðờn dựa vô tường, mệt mỏi nhìn bầu trời lành lạnh, đầy sao.…
Những ngày buồn bã trong Cô Nhi Viện Thủ Ðức, đi lính Biệt Kích, trái mìn oan nghiệt ở Tống Lê Chân……vào tù, ra Bắc, vợ anh thăm nuôi đúng một lần với cái thư nhét trong đòn chả lụa. “Con đang bệnh, cần phải sống, em cũng muốn sống. Lạy anh ba lạy, cho em trở lại cuộc đời của em.”
12 năm cải tạo, Sáu Ðờn thui thủi mồ côi, cắn răng quên đi vợ con và cả chính mình.
Lúc trở về Sài Gòn, không nơi tạm trú, không thân nhân bạn bè, Sáu Ðờn xuống Gò Vấp cất tạm cái chái bên chùa, ngày ngày phụ công quả kiếm hai bữa ăn. Mấy tháng sau, chùa bị bắt vì dính dấp chuyện chống Nhà Nước, dĩ nhiên lính Biệt Kích cũ, ở ké như anh bị tống vô tù với tội danh mới: chống phá Nhà Nước!
Thêm 5 năm Chí Hoà, anh ra tù và hoàn toàn không còn ai trên đời này biết anh, anh chơi vơi với lý lịch biệt kích Mỹ và 5 năm tù chính trị, cuộc sống mới hoàn toàn ly khai anh, anh không còn dịp sống như những công dân bình thường, đất nước tuy đang xây dựng lại và cấp bách lột xác vẫn không có một chỗ làm, dù tồi tệ nhất dành cho anh… Không đường thoát, anh mua cái đàn cũ, tập tành vài bài hát và trở thành người hát rong kiếm sống.…
Sáu Ðờn mệt lắm, người toát mồ hôi, anh thở dốc.…
Nụ cười ngày xưa của vợ… thằng con chập chững đi……Trời ơi! Không lẽ đêm trăng rực rỡ mà mình chết sao? Cơn lạnh bỗng kéo tới, anh cong người lại, hai tay ôm gối cố tìm một chút ấm áp.…Không! Sáu này không chết dễ dàng được… Mấy năm binh lửa dọc Trường Sơn vẫn chưa hạ được mình mà… Anh rướn người lên, ngã mạnh vô cánh cửa sắt, mồ hôi lạnh vã ra, hớp từng ngụm không khí, cái lạnh khủng khiếp ngập vô đầu, đôi mắt mờ dần.…Không! Không lẽ đêm nay mình chết… Lạy trời đất! Làm sao thấy mặt vợ, thằng con trai… Biết em ở đâu bây giờ?…
Sáu Ðờn gục đầu, những ngón tay co lại, anh cố bò sát vô cánh cửa sắt tìm hơi ấm.
Ánh đèn trong nhà Việt kiều Bò hắt một vệt dài ra tới sau cổng, trong nguồn sáng đó, dù vật vã hôn mê, anh vẫn còn chút sức lực để nhìn thấy: con ở của Việt kiều Bò mang ra một thau nhôm đặt ngay chỗ nằm của hai con chó bẹc giê, thính giác bén nhạy của người đói sắp chết cho biết đó là đồ ăn…
Ðúng vậy, hôm nay ngày rằm Tháng Bảy, ngày cúng cô hồn, nhà Việt kiều Bò tiệc tùng từ trưa, tối nay hai con chó được một thau thịt bò nướng. Sáu Ðờn run lập cập khi ngửi được mùi thịt bò, cái mùi mà bao năm qua không còn trong khứu giác của anh.…Cơn sốt biến mất… chỉ còn lại mùi thịt bò! Ðúng là thịt bò!
Sáu Ðờn kéo song sắt, chồm lên hít một hơi dài, cơn đói tràn cả người, anh cố đứng dậy trên bàn chân lạnh ngắt, đầu gối run lập cập, anh nhìn hàng song sắt nhọn trên cánh cổng… Không! Không bỏ được! Sáu Ðờn lầm bầm… phải leo vô, phải ăn được thịt bò! Thịt này của mình chứ không phải của mấy con chó. Có thịt mình sẽ sống… Có ăn mình sẽ không chết đêm nay… biết đâu có ngày gặp con, gặp vợ.
Sáu Ðờn dồn sức lực vô hai cánh tay và chiếc chân lành, cố kéo người lên,… chỉ mấy thước thôi mình sẽ qua cơn đói, sẽ hết sốt, sẽ sống… Anh leo lên tới đầu cánh cổng, anh len qua những cây sắt nhọn, đưa tay kéo chiếc chân còn lại đang sưng vù.…Cố lên, cố lên!… Sáu Ðờn tự nhủ…mình đói nên lấy đồ ăn của hai con chó, mình không xâm phạm của cải, tài sản riêng tư gì hết…mình không trộm cắp gì hết. mình đói mà…lấy được thau thịt của hai con chó là mình sống. Sáu Ðờn lấy hết sức kéo cái chân nhức nhối qua những song sắt.…
Trong khoảng cách một phân. Trong thời gian một giây. Trời đã nhắm mắt, vô tình với anh Sáu khốn khổ! Cái chân què vừa qua khỏi hàng sắt nhọn…mảnh quần rách của Sáu Ðờn bung ra, móc vô song sắt, giựt lại, anh mất đà, chới với, cây sắt nhọn đâm thẳng cái chân cụt, toé máu. Sáu Ðờn đau quá chồm lên, cố gỡ cái chân ra khỏi cây sắt, nhưng sức lực không còn, anh hụt hơi rớt người xuống.…
Những đầu sắt nhọn của cánh cổng đâm vào ngực, Sáu Ðờn hộc lên, co lại, hai tay anh buông ra, rớt từ trên đầu cánh cổng xuống nền sân. Anh đưa tay, máu tanh tưởi trong miệng, chung quanh bỗng tối đen… Trong chút hơi tàn còn lại, Sáu Ðờn vẫn ngửi thấy mùi thịt bò, cái sống còn khiến anh lăn qua, tay bám nền sân, cố bò tới, thau thịt bò thơm lựng cách chừng vài gang. Cố tới, một chút nữa, một chút thôi!… Tay anh đụng thau thịt bò…ngón tay bám sâu vô những miếng thịt mềm mềm. Ơi thịt! Ơi thịt!  Anh thu hết sức kéo thau lại gần.…Bỗng Sáu Ðờn nghe tiếng chó gừ, và cái rát xé cổ họng, anh bị kéo lên khỏi mặt sân, máu tràn ra đầy mặt, ngàn tiếng ve kêu trong đầu, chung quanh tối đen, lạnh ngắt, anh co quắp, giựt mạnh, bầu trời đầy ánh trăng tắt ngúm trong đôi mắt đứng tròng.
– Mẹ! Ðói quá đâm “niều”!
– Bọn trộm cướp! Trước sau gì nó cũng “nàm”!
– “Nại”… cái bọn tàn dư phản động! Biệt kích mà!
– Làm bộ ăn xin ở nhờ, hèn gì mấy bữa nay có nghe nó hát hò gì đâu!
– Nó âm mưu chơi nhà “lày nâu” rồi!
Mọi người xầm xì về cái chết của Sáu Ðờn. Những người hiểu chuyện, không nói được, chỉ làm thinh, ôm lòng thương Sáu Ðờn trong bụng, họ không bao giờ nghĩ anh ta là kẻ cướp, họ buồn cười vì cái nón “tàn dư phản động” của người nào đó chụp cho anh. Họ biết phong phanh Sáu Ðờn bị chó nhà Việt kiều Bò cắn chết, tay còn ôm thau thịt bò, họ thương cho thân phận cùng đường của Sáu Ðờn.
“Sáu Ðờn đã theo dõi nhà anh Việt kiều Bò từ lâu, sau cơn  đói thuốc (!) leo tường đột nhập, âm mưu cướp số tiền lớn cả triệu đô la thuộc Công Ty Liên Doanh của chủ nhà và Nhà Nước, anh ta bị chó cắn chết, tại chỗ”.
Ðó là lời bàn ra bàn vô của hàng xóm quanh nhà Việt kiều Bò, công an có đến làm biên bản, đâu ai quan tâm tới Sáu Ðờn, từ lúc sống cho đến khi chết.
Sau đó anh Việt kiều Bò cho ít tiền chôn thằng cướp giả danh, thằng tàn dư phản động Sáu Ðờn, ai cũng khen ông tử tế, nhân từ!
Sự đến và đi của Sáu Ðờn không gây một xao động nào trong làn sóng đổi đời vùn vụt của Sài Gòn, tức nhiên cũng không ai cần biết đến sự thật về cái chết của anh.…Ngoài anh ta và hai con chó!
Gâu! Thau thịt đó là của tụi tao! Chủ cho tụi tao!…     Gâu! Thằng què không tư cách dám nhào vô lấy!…Gâu! Lấy rồi tụi tao đói à! Làm gì có chuyện đó! Tao cắn một phát ngay yết hầu là xong!…Con bò còn chết huống gì thằng què bịnh hoạn!… Dạ, dạ! Gâu gâu! Chủ kêu con!…
Hai con chó chạy vô, nằm sát chân Việt kiều Bò, ông xoa đầu nó.
– Giỏi con! Giỏi con!
Ông đẩy tới cái thau nhôm, đầy những miếng thịt bò nạc đỏ hỏn, to hơn cái thau đêm nào Sáu Ðờn thèm thuồng cho đến chết!Hồ Đắc Vũ