Thursday, May 18, 2017

Bài viết hay(4938)

Phái đoàn do Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, dẫn đầu đã trao thỉnh nguyện thư và tiếp xúc với LHQ, Liên hiệp Châu Âu, Bộ Ngoại giao các nước châu Âu, cũng như các tổ chức thuộc Giáo hội Công giáo và một số tổ chức xã hội dân sự với mong muốn cùng nhau hỗ trợ tích cực hơn cho các nạn nhân. Công giáo nhập cuộc từ khi Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt quyết định lên tiếng, nay cha Hợp đã làm thay chính quyền công việc lẽ ra anh Fuck phải làm. Cái ngu của Cả Lú là đối đầu thay vì đối thoại và hợp tác. Đảng quá ngạo mạn, coi thường nhân dân, cứ muốn ngồi xổm trên đầu thiên hạ nhưng lại lòn trôn TQ theo kiểu khôn nhà, dại chợ.

Vụ Formosa: 200.000 chữ ký trao cho LHQ, châu Âu

Thị trưởng Gevena, Guillaume Barazzon (phải) tiếp Giám mục Nguyễn Thái Hợp.

Phái đoàn các linh mục thuộc Giáo phận Vinh đang đi châu Âu vận động quốc tế và trao thỉnh nguyện thư về thảm họa Formosa.
Thông cáo báo chí cho biết trong tuần này, Ban hỗ trợ nạn nhân ô nhiễm môi trường biển thuộc Giáo phận Vinh đã trao thỉnh nguyện thư cho các tổ chức quốc tế về việc giải quyết thảm họa môi trường do Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa-Hà Tĩnh gây ra.
Phái đoàn do Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Chủ tịch Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, dẫn đầu đã trao thỉnh nguyện thư và tiếp xúc với LHQ, Liên hiệp Châu Âu, Bộ Ngoại giao các nước châu Âu, cũng như các tổ chức thuộc Giáo hội Công giáo và một số tổ chức xã hội dân sự với mong muốn cùng nhau hỗ trợ tích cực hơn cho các nạn nhân.
Sau thảm họa Formosa vào tháng 5 năm ngoái, Ban hỗ trợ nạn nhân ô nhiễm môi trường biển Giáo phận Vinh đã khởi xướng thỉnh nguyện thư nhằm đưa vấn đề ra trước công luận quốc tế. Thỉnh nguyện thư này có chữ ký của gần 200.000 người, hầu hết là các nạn nhân trực tiếp và gián tiếp của thảm họa Formosa, theo thông cáo của Giáo phận Vinh.
Ngoài ra một số cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tôn giáo, bảo vệ môi sinh, nhân quyền, chính giới, đồng bào trong và ngoài nước cũng ký tên với tư cách là những người ủng hộ, đồng hành với các nạn nhân.
Tại Geneva, Thụy Sĩ, đoàn đã nộp thỉnh nguyện thư cho Chương Trình Môi Sinh LHQ (UNEP) & Cơ quan Phản Ứng Thảm họa Môi Sinh LHQ (OCHA).
Đoàn đã trao thỉnh nguyện thư cho Văn Phòng Đối Ngoại EU tại Brussels, Vương quốc Bỉ; Văn phòng Cao Uỷ Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) và Tổ chức Quyền Phổ Quát (Universal Rights Group) tại Geneva, Thụy Sĩ.
Linh mục Nguyễn Đình Thục thuộc Giáo phận Vinh, người đã ký tên vào thỉnh nguyện thư, cho VOA Việt ngữ biết ông kỳ vọng thỉnh nguyện thư sẽ giúp gây áp lực lên chính phủ Việt Nam, cũng như tăng sức ép đối với công ty Formosa:
“Họ cũng sẽ có tiếng nói để giúp cho vấn đề đấu tranh chống lại Formosa. Các tổ chức như tổ chức nhân quyền hay LHQ thì có thể bằng cách nào đó có thể gây áp lực đối với chính phủ, với công ty Formosa. Điều mà tôi nghĩ chúng ta cần là một tòa án quốc tế có thể nhận đơn kiện của chúng ta. Đó là điều mà chúng tôi rất mong muốn”.
Người Việt ở Đài Loan biểu tình đòi quyền lợi cho nạn nhân Formosa
Thông báo báo chí hôm 13/5 trên trang thamhoaformosa.com viết: “một năm sau, Formosa vẫn chưa có động thái khôi phục môi trường biển và giải pháp đền bù thiệt hại công bằng, thoả đáng. Trong khi đó, nhiều nỗ lực đi đòi công lý của các nạn nhân qua các kiến nghị, những cuộc xuống đường, tuần hành, hay khởi kiện đều bị nhà cầm quyền ra sức cản trở, thậm chí đàn áp bằng bạo lực”.
Linh mục Đặng Hữu Nam, cũng thuộc Giáo phận Vinh cho VOA biết lý do thực hiện thỉnh nguyện thư như sau:
“Uỷ ban hỗ trợ ngư dân đã thực hiện một kiến nghị để gửi lên các cơ quan quốc tế cũng như Quốc hội Đài Loan để yêu cầu can thiệp một cách rốt ráo về thảm họa Formosa tại biển miền Trung Việt Nam, đi tìm công lý và nhất là giải quyết thảm họa để sau này khỏi ảnh hưởng đến tương lai, đến dân tộc”.
Theo linh mục Nam, trong gần một năm qua, chính quyền Việt Nam quay lưng lại lợi ích của người dân trong sự cố Formosa, người dân đệ đơn lên tòa án thì bị ngăn cản, bức hại, sách nhiễu.
“Formosa gây họa tại Việt Nam, người dân là nạn nhân trực tiếp của thảm họa này. Suốt ba tháng trời mặc dù người dân phản ứng bằng cách biểu tình khắp nơi, từ Hà Nội đến Sài gòn, nhưng nhà cầm quyền đàn áp một cách dã man, rồi chối tội cho Formosa, còn thảm họa thì nhân dân phải gánh chịu. Trong một hoàn cảnh như vậy, Ban hỗ trợ ngư dân, các linh mục trong Giáo phận Vinh trợ giúp cho người dân, không chỉ là xuống đường biểu tình, lễ cầu nguyện, mà còn ký thỉnh nguyện thư xin can thiệp từ các tổ chức quốc tế, các tổ chức nhân quyền, bảo vệ môi trường lên tiếng để góp phần làm minh bạch cũng như giải quyết thảm họa Formosa”.
Bất chấp những đe dọa và cản trở, người dẫn đầu vụ kiện tập thể chống lại Formosa.
Liên quan đến việc chính quyền Việt Nam bắt giữ và truy nã các nhà hoạt động vì môi trường trong tuần này, linh mục Nguyễn Đình Thục chia sẻ:
“Tôi cũng không thể khẳng định được là do động cơ, lý do nào mà họ thực hiện việc truy nã anh Bạch Hồng Quyền cũng như là bắt anh Hoàng Đức Bình. Nhưng tôi nghĩ rằng những người bị bắt như anh Hoàng Đức Bình hay anh Nguyễn Văn Hóa, hay trước đó có một vài người nữa thì đều liên quan đến vấn đề đấu tranh Formosa. Qua đó cho thấy rằng họ cương quyết giữ lại Formosa bất chấp Formosa gây thiệt hại rất nặng nề cho người dân, bất chấp sự bức xúc, phẫn nộ của người dân về vấn đề này”.
Ngày 15/5, báo VietnamNet đưa tin Công an tỉnh Nghệ An đã bắt tạm giam Hoàng Đức Bình về hành vi ''chống người thi hành công vụ; lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân'' quy định tại điều 257, 258 bộ luật Hình sự.
Lệnh truy nã nhà vận động Bạch Hồng Quyền
Linh mục Nguyễn Đình Thục đặt nghi vấn rằng vấn đề Formosa có liên quan đến động cơ chính trị của chính quyền, khi họ muốn dùng sự kiện Formosa để “đổi chác lòng dân”:
“Chính phủ này chẳng quan tâm đến ích lợi, nguyện vọng của người dân. Họ chỉ lo cho lợi ích, hay là vì một lý do, động cơ chính trị chăng? Vì nếu chỉ vì lý do kinh tế thì tôi nghĩ không đến nỗi mà họ đổi chác lòng dân như thế, cũng như thiệt hại của người dân đến mức độ như thế? Vì lợi nhuận mà Formosa mang lại nếu đem so sánh thì không thể cân bằng được. Theo tôi nghĩ là có động cơ chính trị chăng? Là công ty Formosa, vấn đề Formosa không đơn thuần là vấn đề kinh tế, mà là vấn đề liên quan đến chính trị”.
Báo VietnamNet đưa tin rằng anh Hoàng Đức Bình đã xúc tiến, thành lập Hiệp hội ngư dân miền Trung với “ý đồ tạo dựng tổ chức ngoại vi, tập hợp lực lượng, lôi kéo giáo dân, ngư dân miên Trung tham gia vào tổ chức, tìm chọn hạt nhân kích động biểu tình, phá rối an ninh”.
Cũng theo báo này, ngày 2/4, Hoàng Đức Bình và Bạch Hồng Quyền đã vào “kích động quần chúng” Giáo xứ Trung Nghĩa (Thạch Bằng, Lộc Hà, Hà Tĩnh) “bao vây, tấn công” tổ tuần tra của Công an huyện Lộc Hà và Công an xã Thạch Bằng...
Truyền thông Việt Nam cho biết Công an tỉnh Hà Tĩnh ngày 12/5 đã ra quyết định truy nã toàn quốc Bạch Hồng Quyền về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điều 245 Bộ Luật Hình sự.
Lệnh truy nã Thái Văn Dung
Ngày 15/5, Công an tỉnh Nghệ An ra quyết định truy nã toàn quốc đối với Thái Văn Dung về tội “Không chấp hành án”, quy định tại Điều 304 Bộ Luật Hình sự Việt Nam.
Báo Công an nhân dân nói Thái Văn Dung từng là “đối tượng có nhiều hoạt động kích động gây rối an ninh trật tự, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thường xuyên đăng tải, phát tán các hình ảnh, thông tin tuyên truyền, xuyên tạc về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.

Nguồn: https://www.voatiengviet.com/a/vu-formosa-thinh-nguyen-thu-200000-chu-ky-trao-cho-lhq-chau-au/3853085.htmlVOA Tiếng Việt

Thấy gì từ kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ?

Bài học Hungary: Vay 1 tỷ đô la từ thời cộng sản nhưng phải trả đến 20 tỷ đô la, đến nay vẫn còn nợ 10 tỷ.
Bình luận về nguy cơ tài chính nước nhà trong bối cảnh giới tài phiệt toàn cầu có nhiều cách thao túng khó lường, bạn Quang Thang Trinh viết: “Tất cả các nhà băng TW ở các nước ít nhiều đều bị giới tài phiệt thao túng, cả NHNN Việt Nam(...)Số liệu vay 1 tỷ đôla (từ thời CS) trả nợ 10 tỷ mà vẫn còn 10 tỷ đô la là số liệu thực của Hungary - quê hương thứ 2 của tôi . Tôi nghĩ VN rất khó tránh cái bẫy này. Liệu chúng ta có khả năng tiêu hóa điều này ko: Khoảng thời gian tính là 15 năm (1973-1989), nợ netto tăng từ 0,8 tỷ đôla lên 19,4 tỷ đôla, tức tính theo GDP từ 9,2 % lên 66,5 %.
Vay có 0.8 tỷ (đúng ra đòi vay 5 tỷ, tiền về có 0.8 tỷ thôi) mà phải trả tới tới 19.4 tỷ đô la? Có thể gọi là cướp hay là cái gì? Và bây giờ lỗi tại ai: Tại người vay 0.8 tỷ hay tại người ko trả được nợ?”
ĐỖ MINH TUẤN bình luận: Đào mồ những thằng đi vay, bán đấu giá xương của chúng cho bảo tàng lịch sử động vật quý hiểm trong danh sách đỏ. Tóm lại là thôi đi các vị! Bớt vì nước vì dân đi cho nhân dân và con cháu được nhờ, khi chưa có cải cách thể chế, kiểm soát quyền lực, (chứ không phải nhốt quyền lực vào lồng như cách làm thơ của TBT) thì đừng có giở trò yêu nước thương dân, hùng hổ tranh nhau PHÁT TRIỂN, để rồi lại móc túi dân bằng thuế nọ thuế kia lấy cớ là sửa chữa chính những thứ rác rưởi tàn tệ mà các vị thải ra. PHÁT TRIỂN thực ra là uống tinh trùng các thế hệ con cháu nhân dân (chứ không phải con cháu các vị)

Thủ tướng Chính phủ vừa phê duyệt kế hoạch vay, trả nợ của Chính phủ năm 2017, với chi tiết như nêu ở bảng dưới đây:
Theo đó, năm nay Chính phủ dự định vay 342.000 tỉ đồng, trong đó có 243.000 tỉ là vay các nguồn trong nước, còn lại 99.000 tỉ là từ nguồn ODA và vay ưu đãi nước ngoài.
Về kế hoạch trả nợ, năm nay Chính phủ dự định trả 260.000 tỉ đồng nợ, trong đó 243.000 tỉ đồng là trả nợ trực tiếp của Chính phủ, 17.000 tỉ đồng là nợ của các dự án cho vay lại.
Điều đầu tiên có thể nói được về những con số “khô khan” và tối giản nói trên là về độ lớn của chúng. Nếu so với quy mô GDP theo giá thực tế của Việt Nam thì số nợ Chính phủ dự định trả trong năm nay tương đương khoảng 5-6% (năm 2015, GDP sơ bộ theo giá thực tế là 4,2 triệu tỉ đồng; chưa có số liệu cho năm 2016). Điều này có nghĩa là quy mô trả nợ của Chính phủ năm nay và trong mấy năm qua (gần) tương đương với giá trị thặng dư toàn bộ nền kinh tế tạo ra trong năm. Hay nói nôm na là làm ra chỉ đủ để trả nợ, không có mấy tích lũy. Hàm ý này cũng được minh chứng thêm bằng việc Chính phủ phải vay để đảo nợ liên tục từ nhiều năm qua. Việc dùng nợ để “nuôi” nợ này là hệ quả của việc vay nợ tiếp tục tăng lên trong khi khả năng trả nợ ngày càng suy giảm.
Phần lớn số vốn Chính phủ đi vay về vẫn là để dùng cho trả nợ, phần vốn còn lại dành cho đầu tư phát triển vẫn “teo tóp”. Ảnh: MAI LƯƠNG
Thứ hai, nếu chỉ nhìn vào con số vay nợ của năm 2017 là 342.000 tỉ đồng so với con số vay nợ 452.000 tỉ đồng của năm trước, người ta có thể nói rằng tình trạng vay nợ năm nay đã có sự cải thiện đang kể khi quy mô vay nợ giảm mạnh. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng con số 342.000 tỉ nói trên chưa/không bao gồm khoản vốn huy động bằng trái phiếu dành cho đầu tư phát triển, là khoản mục hàng năm trong kế hoạch vay nợ các năm trước đều có, đều được công bố, nhưng không hiểu vì lý do gì không được công bố cho năm nay. Giả sử khoản mục này năm nay bằng năm ngoái, tức là 60.000 tỉ đồng, là con số thấp nhất trong mấy năm gần đây, thì tổng giá trị vay nợ cần thiết sẽ vọt lên 402.000 tỉ đồng.
Kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ năm 2017 cho thấy một số tín hiệu lạc quan hơn về chuyện nợ nần của Chính phủ. Tuy nhiên, do có một số khác biệt trong nội dung thông tin công bố nên bức tranh về ngân sách nói chung, về vay nợ và khả năng trả nợ của Chính phủ nói riêng vẫn còn nhiều góc khuất cần làm sáng tỏ thêm.
Con số 402.000 tỉ đồng này vẫn là điều đáng mừng, ở cái nghĩa là quy mô vay nợ của Chính phủ sẽ giảm đáng kể trong năm nay so với năm trước (giảm 50.000 tỉ đồng). Nhưng điều làm nó kém lạc quan hơn chính là ở góc độ đại bộ phận vốn Chính phủ đi vay về vẫn là để dùng cho trả nợ, phần vốn còn lại dành cho đầu tư phát triển vẫn “teo tóp”, giữ nguyên ở mức khiêm tốn như vậy (tỷ trọng vốn vay dành cho đầu tư phát triển năm 2016 là 13,2%, dự kiến năm nay tăng một chút - lên 14,9%, nếu Chính phủ tiếp tục dành khoản tạm tính 60.000 tỉ đồng nói trên cho đầu tư phát triển). Cứ như vậy thì khả năng “bóc ngắn cắn dài” sẽ còn tiếp tục vì năng lực sản xuất, tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế vẫn sẽ tiếp tục tăng trưởng chậm, làm giới hạn khả năng nhanh chóng trả nợ, giảm nợ của Chính phủ.
Thứ ba, cũng là một điều đáng mừng khác, khi số vốn vay dùng để bù đắp bội chi năm nay là 172.000 tỉ đồng, giảm gần một phần ba (giảm 82.000 tỉ đồng) so với năm 2016. Điều này, thoạt nhìn, có thể dẫn đến kết luận dễ dãi rằng bội chi ngân sách đã giảm mạnh nên Chính phủ chỉ cần vay ít hơn để trang trải cho thâm hụt ngân sách.
Nhưng nếu nhìn vào khoản mục trả nợ gốc (hoặc “đảo nợ”, theo cách dùng của Chính phủ trong một số năm) thì tình hình cũng lại trở nên kém lạc quan hơn.
Cụ thể, năm nay Chính phủ dự định chi tới 144.000 tỉ đồng để đảo nợ, trong khi con số này năm trước mới là 95.000 tỉ đồng. Thực ra, bội chi ngân sách cần phải bao hàm cả khoản mục đảo nợ vì tiền dùng cho mục đích này rốt cuộc cũng là tiền lấy từ ngân sách nhà nước chứ chẳng phải là tiền ai đó hào phóng chi trả giúp cho Chính phủ. Do đó, nếu gộp hai khoản này lại thì nhu cầu vay để bù đắp bội chi ngân sách và đảo nợ năm 2017 là 316.000 tỉ đồng, chỉ giảm 33.000 tỉ đồng so với con số này của năm 2016 (349.000 tỉ đồng), tức chỉ bằng non nửa con số 82.000 tỉ đồng nêu ở đoạn trên.
Nói cách khác, nhu cầu vay để bổ sung cho ngân sách sẽ không giảm mạnh trong năm nay như điều đã cho thấy từ sự sụt giảm mạnh của khoản mục “bù đắp bội chi” trong kế hoạch vay nợ của Chính phủ.
Thứ tư, về kế hoạch trả nợ 260.000 tỉ đồng của Chính phủ trong năm nay, nếu so với con số 273.000 tỉ đồng của năm trước thì rõ ràng đây cũng là một sự cải thiện, vì nó cho thấy gánh nặng nợ nần đã giảm bớt trong năm nay. Tuy nhiên, cũng không rõ vì lý do gì mà kế hoạch trả nợ năm nay lại không có khoản mục đảo nợ như của năm trước. Điều này càng trở nên khó hiểu hơn vì rõ ràng là trong kế hoạch sử dụng vốn vay của Chính phủ năm nay có khoản mục dành cho đảo nợ (144.000 tỉ đồng) như đã phân tích ở trên.
Để thận trọng hơn, ta hãy chú ý đến sự tăng vọt của khoản mục trả nợ trực tiếp của Chính phủ, 243.000 tỉ đồng trong năm 2017 so với chỉ 154.000 tỉ đồng trong năm 2016. Không loại trừ khả năng là năm nay Chính phủ lại tính gộp khoản mục đảo nợ vào khoản mục trả nợ trực tiếp của Chính phủ. Nếu đúng vậy thì ta có thể tạm thời “thở phào” vì điều này cũng vẫn cho thấy rằng quả thật là gánh nặng nợ nần cũng như việc phải vay để đảo nợ đã được cải thiện phần nào trong năm nay.
Nhưng nếu không phải vậy thì đây không những là một thiếu sót khó hiểu, khó chấp nhận, mà còn cho thấy những dấu hiệu nguy hiểm khi nghĩa vụ nợ trực tiếp của Chính phủ tăng vọt trong năm nay so với năm 2016 (tăng tới 89.000 tỉ đồng).
Cuối cùng, có một tín hiệu phấn khởi hơn sau những gì đã thấy từ những con số nêu trong phân tích ở trên. Đó là con số kế hoạch đi vay để cho vay lại (26.000 tỉ đồng trong năm nay so với 43.000 tỉ đồng trong năm 2016), cũng như con số kế hoạch trả nợ cho các dự án cho vay lại (17.000 tỉ đồng trong năm 2017 so với 24.000 tỉ đồng trong năm 2016). Những con số này cho thấy Chính phủ đã thật sự trở nên thận trọng, e dè hơn với việc vay để cho vay lại, vốn là một trong những nguồn gốc dẫn đến gánh nặng nợ công ngày càng phình to khó kiểm soát.
Tóm lại, về tổng thể, kế hoạch vay và trả nợ của Chính phủ năm 2017 cho thấy một số tín hiệu lạc quan hơn về chuyện nợ nần của Chính phủ. Tuy nhiên, do có một số khác biệt trong nội dung thông tin công bố, không biết là bởi do vô tình hay cố ý, nên bức tranh về ngân sách nói chung, về vay nợ và khả năng trả nợ của Chính phủ nói riêng vẫn còn nhiều góc khuất cần làm sáng tỏ thêm trước khi người ta có thể tạm thời an tâm rằng tình hình đang tiến triển theo hướng lành mạnh hơn.Phan Minh Ngọc

Cần đổi ‘tư duy lo sợ hội nhập và tận thu thuế’


Giao thông ở Việt NamGetty Images

Khi đọc phát biểu của người đứng đầu Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam, ủng hộ việc tăng thuế môi trường với mặt hàng xăng dầu, và khẳng định mỗi công dân phải có nhiệm vụ nộp thuế, đóng góp cho ngân sách(**), quả thực tôi cảm thấy uất nghẹn.
Cái uất nghẹn đó không phải là một thứ tình cảm cảm tính, hay sự lo sợ sẽ thiệt hại thêm vài chục ngàn đồng mỗi tháng khi xăng tăng giá.
Thứ nhất, hội nhập thương mại quốc tế ở cả cấp độ đa biên (tham gia WTO) và hội nhập khu vực (tham gia các hiệp định thương mại tự do - FTA), điều mà tất cả các nhà đám phán, doanh nghiệp và người dân đều biết trước đó là các cam kết về cắt giảm thuế quan.
Hàng hóa của Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế suất thấp hơn khi xuất khẩu sang nước bạn, thì ở chiều ngược lại chúng ta cũng giảm thuế đối với hàng nhập khẩu. Việc thuế giảm dần về 0% là một xu hướng tất yếu của thương mại, và khi tham gia vào sân chơi đó chúng ta đều biết.
Điều tôi thật sự thất vọng là cách một số nhà làm chính sách ứng xử với xu hướng này. Họ không nhìn nhận nó như một thời cơ lớn cho nền kinh tế, cho người tiêu dùng mà chỉ lo sợ thất thu thuế và tìm mọi cách để làm sao cho nguồn thu thuế không bị hụt.
Thử hỏi nếu như ta tham gia hội nhập quốc tế trong tâm thế đó thì có phải nửa đời nửa đoạn không? Một bên ta cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết, một bên ta lại tăng thuế nội địa để sao cho không thất thu thuế, vậy thì chẳng phải đã triệt tiêu đi tác dụng của việc giảm thuế?
Vậy thì gia nhập WTO, ký kết các FTA cuối cùng để làm gì nếu như chúng không giúp người dân được hưởng hàng hóa, dịch vụ phong phú hơn, ở mức giá hợp lý hơn?
Thứ hai, lối tư duy đó bộc lộ một tầm nhìn rất ngắn hạn. Việc cắt giảm thuế quan, nhất là ở những mặt hàng thiết yếu cho nền kinh tế như xăng dầu, là cơ hội lớn chứ không phải chỉ có cái hại là thất thu thuế.
Xăng dầu giảm giá sẽ kích thích nền kinh tế phát triển bởi nó là đầu vào của nhiều ngành sản xuất, dịch vụ. Chi phí của doanh nghiệp giảm thì doanh thu, lợi nhuận của họ tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp thu được cũng sẽ nhiều hơn.
Người dân tăng chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ nhờ xăng dầu giảm thì thuế giá trị gia tăng họ nộp cũng nhiều hơn. Đó là viễn cảnh trong dài hạn mà những người làm quản lý kinh tế phải hình dung.
Ta hãy xem cắt giảm thuế như việc đào một cái hố để trồng cây. Cái cây lớn lên sẽ ra hoa, kết trái. Nhưng nếu ta chỉ sợ đào hố sẽ để một lố trống trên đường và lập tức lấp ngay lại bằng việc tăng thuế nội địa thì sẽ không bao giờ có cái cây nào mọc lên cả.
Thứ ba, chưa cần là những người có thu nhập cao để nộp thuế thu nhập đi chăng nữa, bất cứ người dân bình thường nào trong xã hội này cũng hàng ngày, hàng giờ nộp thuế.
Từ cân đường, hộp sữa đến chiếc vé tàu, vé xe mà họ bỏ tiền ra mua hàng ngày đều có thuế giá trị gia tăng. Đến những người buôn gánh, bán bưng ngoài chợ cũng nộp phí chợ, rồi cũng phí đó cũng tính vào từng mớ rau, con cá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả.
Cho nên tôi không nghĩ người dân cần được giáo huấn về nghĩa vụ nộp thuế. Thậm chí người dân có quyền hỏi lại, liệu những người có trách nhiệm đối với việc thu và sử dụng những đồng thuế kia đã tôn trọng mồ hôi, công sức của người dân?
Cho nên, vấn đề không nằm ở vài ngàn đồng, mà xót xa hơn nó thể hiện rõ tư duy của không ít người cầm cân nảy mực nền kinh tế.
Nền kinh tế chỉ thay đổi khi tư duy lo sợ hội nhập và tận thu thuế đó thay đổi mà thôi.
__________
(*) Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
(**) Trước đó, tại Hội thảo “Thị trường xăng dầu và vấn đề thể chế” diễn ra sáng 16/5/2017, ông Phan Thế Ruệ Chủ tịch Hiệp hội Xăng Dầu Việt Nam nói: “Về động tĩnh tăng thuế bảo vệ môi trường lên 8.000 đồng/lít nhưng chưa có lộ trình cụ thể. Chúng tôi rất ủng hộ sớm điều chỉnh thuế nội địa lên, ít nhất là đưa thuế tiêu thụ đặc biệt và bảo vệ môi trường lên làm sao cho chiếm trên 50% cơ cấu giá để đảm bảo thu Ngân sách Nhà nước”, đồng thời nhấn mạnh: “Là người công dân phải có nghĩa vụ nộp thuế, đóng góp cho ngân sách. Khi thuế nhập khẩu giảm tiếp xuống 0% thì phải tăng thuế khác để bù vào”, dẫn lại theo http://dantri.com.vn/kinh-doanh/tang-thue-xang-len-8000-dong-lit-la-trach-nhiem-cua-cong-dan-20170516103901678.htm (BBT BVN chú giải).
Đinh Khương Duy(*)

Rolex của Bảo Đại

Chiếc đồng hồ  Rolex Reference 6062 của Vua Bảo Đại tiếp tục lập kỷ lục mức giá mới - hơn 5 triệu USD - trong phiên đấu giá cuối tuần trước tại Thụy Sĩ.
Bảo Đại là vị hoàng đế cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. Chiếc Rolex phiên bản giới hạn (thế giới chỉ còn ba chiếc) này được ông mua vào năm 1954 tại Geneva, trong thời gian tham dự Hội nghị Hòa bình tại Geneva về những tranh chấp ở Bán đảo Đông Dương. "Bao Dai" reference 6062 trở thành chiếc Rolex đắt nhất trong lịch sử, bởi nó hội tụ được cả ba yếu tố quan trọng: tình trạng cổ vật, độ hiếm và giá trị lịch sử.
Chiếc đồng hồ Rolex này, một di vật của triều Nguyễn, chắc chắn có giá trị không kém so với nhiều di vật từ thời đại này đang được trưng bày trong các bảo tàng (như là trang phục của phi tần hay ấn của hoàng hậu...). Nó gắn liền với những ngày tháng biến động nhất của cá nhân ông vua cuối cùng, lẫn lịch sử đất nước. Sau hội nghị Geneva ít lâu, Quốc trưởng Bảo Đại bị phế truất, còn Việt Nam cũng bước vào một chương khốc liệt mới.
Tôi chỉ biết thở dài tiếc nuối, rằng lại thêm một di vật nữa từng thuộc về Việt Nam đã ra khỏi biên giới đất nước. Trước cái đồng hồ này, rất nhiều những thứ khác như tranh, đồ cổ… đã lặng lẽ rời khỏi Việt Nam theo rất nhiều con đường khác nhau.
Mới đây, những kẻ buôn bán tranh lậu đã định mang tranh của cố họa sĩ Trần Văn Cẩn tuồn ra nước ngoài - những bức tranh được nhà nước liệt vào dạng bảo vật quốc gia cần phải gìn giữ. Rất may vụ này được phát hiện và ngăn chặn kịp thời.
Cách đây vài năm, họa sĩ, nhà phê bình mỹ thuật Phan Cẩm Thượng khi làm cuốn sách khảo cứu về Tô Ngọc Vân cũng xa xót thở than rằng, toàn bộ ký họa của Tô Ngọc Vân đã được bán cho một nhà sưu tầm tranh của Thái Lan. “Trời ơi, tất cả ký họa ghi nhận một thời chống Pháp của danh họa lại được nhà sưu tầm Thái Lan quan tâm khi mà những cơ quan chức năng thờ ơ với chúng”. Phan Cẩm Thượng đã thực hiện hai chuyến sang Thái Lan để đọc lại các tài liệu từ bộ ký họa ấy mà viết về Tô Ngọc Vân, một họa sĩ Đông Dương, một danh họa gắn liền với lịch sử mỹ thuật cách mạng Việt Nam.
Xa hơn nữa, khi tôi còn ở Đức, một người Việt đã móc ngoặc với giới buôn lậu đồ cổ, với hải quan, mang cả trống đồng từ Việt Nam sang bày bán công khai ở một tiệm bán hàng đồ cổ của anh ta tại Potsdam.
Những hiện tượng ấy hẳn nhiều người không lạ, bởi bao nhiêu năm, đã có biết bao báu vật, những đồ men sứ, những tượng đài, cả tượng phật cổ, những phù điêu không bao giờ tái tạo được và nhiều dạng thức cổ khác có tuổi hàng nghìn năm, sản xuất từ đời Lý, Trần được tuồn lậu ra nước ngoài và rơi vào tay giới sưu tầm ngoại quốc.
Câu chuyện 5 triệu USD được quyết định chỉ trong 8 phút đấu giá Rolex và những dòng chảy di sản ra nước ngoài đã khiến những người quan tâm đến giá trị cổ vật Việt xót xa và đặt ra câu hỏi thực sự: chúng ta đã thực sự có ý thức giữ gìn các báu vật của đất nước?
Tôi tin chúng ta có những tỷ phú Việt đủ sức bỏ ra 5 triệu USD thậm chí là hơn thế nữa để ngăn chiếc đồng hồ Bảo Đại, tranh Bùi Xuân Phái, Trần Văn Cẩn… chảy ra nước ngoài. Bởi họ đã bỏ hàng chục triệu USD để sưu tầm xe sang, kim cương và những mặt hàng xa xỉ khác. Nhưng dường như chưa nhiều người thực sự chưa biết, chưa ý thức được giá trị của di vật và cổ vật. Điều này có thể xuất phát từ sự hình thành quá muộn và không rõ ràng của thị trường kinh doanh, mua bán cổ vật ở Việt Nam.
Vì thế, phần còn lại thuộc về công việc của các nhà quản lý. Myanmar - một đất nước giàu giá trị di sản, nhưng chưa phát triển như chúng ta, từ lâu đã rất ý thức về việc bảo vệ cổ vật của đất nước họ. Tôi có thể dẫn ra một ví dụ nhỏ nhất. Trong cuốn hướng dẫn các du khách khi đến Myanmar, cơ quan quản lý văn hóa nước này khuyến cáo khách du lịch không nên mua các cổ vật, tượng Phật cũ vì chúng không được phép vận chuyển ra khỏi đất nước.
Tôi hy vọng cơ quan quản lý văn hóa nước ta một ngày nào đó cũng sẽ quan tâm hơn đến việc bảo vệ các di sản văn hóa; thay vì giám sát chuyện ăn mặc của các nghệ sĩ hay trừng phạt các cô gái đẹp đi thi chui.Nguyễn Văn Thọ

No comments:

Post a Comment