Friday, May 19, 2017

Bài viết hay(4942)

Tuần qua đúng là không may cho Trump khi càng mở miệng ra là càng bị hố. Bố khỉ, 8 năm qua, đứa nào cũng xúm lại chê Obama dở tệ đủ điều; nhất là TS Nghĩa ở Bolsa luôn là lá cờ đầu chống lại "thằng mọi đen" và đảng DC. Hoá ra Trump còn tệ hơn Obama. Truyền thông Mỹ và thế giới xúm lại bề hội đồng Trump te tua mà TS Nghĩa không viết nỗi một bài tiếng Anh để làm Lê Lai cứu chúa. Dở thiệt!  Thằng con rể cũng trốn sau màn hình mà xài twitter để chọc chúng chửi tiếp. Chuyện dài của Trump chưa stop vì nước Mỹ cần một thằng hề chơi bạo lấy tiếng ngu nổi bật hơn Putin và Xi chứ. Trump xuống thì hết hot news sao? Ngày nào cũng có Trump - Ivanka - Melania là dân Mỹ đủ vui rồi; khỏi nhớ đến IS hay Taliban cho mệt. Xem ra Đảng CH ưu việt không kém gì đảng CSVN với Cả Lú. Sân khấu chính trị thế giới ngày càng nhiều đứa làm hề mà hổng biết mắc cỡ. Lì thiệt. Mặc kệ dân chúng chửi.

Bị qui là phản động, nhưng không đương nhiên bị truy tố?

Công an ngăn chặn người biểu tình trước Đại sứ quán Trung Quốc ở Hà Nội ngày 13/5/2014. AFP photo

Tháng 5 năm 2017, một người hoạt động xã hội dân sự ở Nghệ An là ông Hoàng Đức Bình bị bắt tạm giam. Ngoài lý do cáo buộc ông Bình là hoạt động tuyên truyền chống phá nhà nước, tờ báo mạng Công Lý của Tòa án nhân dân tối cao còn cáo buộc ông Bình có dính líu đến những tổ chức phản động mang màu sắc chính trị như NoU, Liên đoàn Lao Động Việt,… trong khi các tổ chức này chỉ là những tổ chức hoạt động xã hội dân sự.
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao bị qui kết là phản động, mà trong thực tế những tổ chức này và những thành viên vẫn hoạt động công khai?

Dùng từ ngữ chính trị, phản động để bôi xấu

Trong hai tuần lễ đầu tháng năm, năm 2017, ngoài ông Hoàng Đức Bình bị bắt tạm giam còn có hai người hoạt động xã hội nữa bị nhà cầm quyền Việt Nam truy nã là ông Bạch Hồng Quyền ở Hà Nội, và ông Thái Văn Dung ở Nghệ An.
Trong đó ông Bạch Hồng Quyền bị truy nã về tội gây rối, còn ông Thái Văn Dung bị truy nã về tội không chấp hành án sau khi ra tù. Ông Thái Văn Dung bị kết án 4 năm tù giam và 4 năm quản chế vào năm 2013 với tội danh hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, một người hoạt động xã hội dân sự nhận xét về những từ ngữ mà nhà cầm quyền dùng để chỉ những cá nhân hoạt động dân sự và những tổ chức của họ:
“Đó là một cái trò chơi về ngôn từ mà bảy tám chục năm nay người Việt Nam đã bị nhồi sọ. Tôi hay dùng cái thuật ngữ là cảnh sát tư tưởng, là cái bộ phận mà nó giám sát đầu óc con người, nó tẩy não người”.
Trong những nhóm mà báo chí Việt Nam gán cho là có màu sắc chính trị, hoặc đôi khi gọi là phản động có nhóm NoU. Nhóm này được hình thành từ những hoạt động phản đối Trung Quốc xâm lược biển đảo của Việt Nam. NoU có nghĩa là không chấp nhận đường ranh giới hình chữ U, còn gọi là đường lưỡi bò của Trung Quốc tự tuyên bố chiếm 90% diện tích biển Đông. Ngoài ra nhóm NoU cũng có những hoạt động từ thiện như trợ giúp người nghèo ở vùng núi, hay là cứu trợ nạn nhân bão lụt.
Một thành viên của tổ chức NoU ở Hà Nội là kỹ sư Nguyễn Lân Thắng cho biết tại sao những từ ngữ như là hoạt động chính trị, hay là phản động được dùng để chỉ trích, hoặc qui tội cho các nhóm hoạt động dân sự:
“Đấy, vấn đề nó là ở chỗ đấy, họ tìm một căn cứ mơ hồ nào đó, giống như từ trước đến nay họ thường hay có một cái bài là đổ cho tổ chức Việt Tân chẳng hạn. Làm cho không ai biết đấy là đâu, chỉ biết là phản động thế này thế kia. Người ta luôn có một lý do, một con ngáo ộp, để hợp thức hóa những việc làm phi pháp”.
Theo nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng hiện sống ở Sài Gòn thì có thể có hai lý do mà báo chí và bộ máy tuyên truyền của Đảng dùng những từ ngữ xấu để gán ghép cho các tổ chức dân sự: thứ nhất là họ không ý thức được việc làm của những tổ chức dân sự đó là những việc làm cần thiết để giúp đỡ người dân mà nhà nước không làm được, thứ hai, hoặc là đó là thói quen trấn áp của nhà cầm quyền.
Ông Phạm Chí Dũng đề cập đến hoạt động của những người vừa bị bắt hoặc truy tố như Bạch Hồng Quyền, Hoàng Đức Bình là đấu tranh vì môi trường, đòi đóng cửa nhà máy Formosa, tổ chức gây ra thảm họa môi trường Vũng Áng vào tháng tư năm 2016.

Đàn áp nhưng không thể truy tố chính trị

Có một câu hỏi đặt ra là tại sao cơ quan tuyên truyền của Đảng nói rằng một số tổ chức dân sự là phản động nhưng tại sao lại không truy tố và bắt giam tất cả thành viên của các tổ chức đó?
Ngoài ra Việt Nam còn tuyên bố là không cầm giữ những tù nhân chính trị, mà chỉ bắt giữ những người phạm tội lật đổ nhà nước hay gây rối trật tự xã hội mà thôi.
Hoàng Đức Bình (trái) đã bị bắt và Bạch Hồng Quyền đang bị truy nã do lên tiếng về vụ Formosa. RFA
Vậy tại sao báo chí Việt Nam lại cáo buộc những người bị bắt và truy tố là có những hoạt động liên quan đến chính trị?
Ông Lê Thăng Long, một cựu tù nhân chính trị, từng hoạt động trong tổ chức Con đường Việt Nam, một tổ chức chủ trương đấu tranh bất bạo động để dân chủ hóa xã hội Việt Nam, nói:
Thực tế là trong thời gian qua những tổ chức đó, người ta hoạt động công khai, người ta không buộc tội được họ, vì họ hết sức chuẩn mực và đúng luật pháp, đúng cái lẽ phải chung của loài người. Đảng độc tài thì họ không muốn mất đi cái vai trò quyền lực của họ. Họ tìm cách ngăn chận và nói xấu”.
Nhà báo tự do Phạm Chí Dũng bổ sung là những tổ chức xã hội dân sự như là NoU, Con đường Việt Nam, Liên đoàn Lao Động Việt, … nếu có đấu tranh thì đều dùng phương thức hoạt động bất bạo động, được thế giới chấp nhận, nên vì thế nhà cầm quyền chỉ có cách là bôi xấu họ:
“Nhà cầm quyền thực hiện một chính sách là kềm chế và sử dụng phản tuyên truyền của chính quyền để nói xấu những tổ chức này, làm cho những tổ chức này không có đất hoạt động, hoặc giảm ảnh hưởng trong quần chúng nhân dân”.
Trong những diễn biến chính trị xã hội tại bốn tỉnh miền Trung trong hai tuần lễ đầu tháng năm, với nhiều cuộc biểu tình vì môi trường, chống Formosa bị đàn áp, có ông Thái Văn Dung bị truy nã, nhưng ông không bỏ trốn, và cho đến giữa tháng năm, ông vẫn tự do không bị bắt.
Ông Nguyễn Lân Thắng giải thích sự không nhất quán đó:
“Thật ra họ cũng có rất nhiều bộ phận, rất nhiều cấp độ khác nhau, theo vùng miền cũng như là theo các kênh tổ chức của họ, cho nên là họ cũng không có một kế sách nhất quán, trong việc tuyên truyền, cũng như là trấn áp”.
Ngoài ra trong lúc những cuộc biểu tình vì môi trường chống Formosa diễn ra ở Hà Tĩnh và Nghệ An bị đàn áp, thì một đoàn vận động quốc tế các vấn đề nhân quyền và môi trường của Giáo phận Vinh, cũng là địa bàn các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh lại được phép lên đường sang châu Âu.
Nhà báo Phạm Chí Dũng nhận xét:
“Đàn áp thì đàn áp nhưng mà vẫn sợ, sợ một cái công đoàn Công giáo khổng lồ, không chỉ là ở Vinh đâu, mà cả ở những nơi khác họ hiệp thông với Vinh. Trước mắt là Vinh, 500 ngàn giáo dân và vài trăm linh mục. Mà ở Vinh thì tinh thần họ rất cao, họ kết thành một khối, mà khi người Công giáo kết thành một khối thì họ có thể trở thành một lực lượng”.
Ông Phạm Chí Dũng cũng đưa ra nhận xét là vì lý do bị áp lực quốc tế, nên nếu so sánh với 10 năm trước, thì số vụ bắt bớ những nhà hoạt động dân sự, hay bất đồng chính kiến đã giảm hẳn. Nhà cầm quyền chỉ dùng những tội danh có tính chất hình sự để bắt tạm giam, hay truy tố họ. Nhưng song song đó, trong việc tuyên truyền, nhà cầm quyền lại gán cho họ tội phản động chính trị, chỉ để bôi xấu.
Nhưng theo ông Nguyễn Lân Thắng, biện pháp tuyên truyền này có thể có tác dụng ngược, vì nó giúp cho dân chúng biết nhiều hơn đến những nhà hoạt động xã hội dân sự và tổ chức của họ.
 Kính Hòa, phóng viên RFA

Hải sản nguy hiểm từ hai phía


Cá dùng để làm chả cá ở Lý Sơn. RFA photo

Bài tường tình này xem như một lời cảnh báo sau những gì chúng tôi tận mắt chứng kiến cách mà người ta xử lý hải sản, gồm tôm, cá, cua, ghẹ, mực, nghêu… và cả rong biển, mực biển. Dường như sự nguy hiểm của các loại thực phẩm liên quan đến hải sản đều bắt nguồn từ hai phía gồm môi trường biển hiện tại và trách nhiệm của người bán hải sản. Trong đó, vấn đề trách nhiệm của người bán hải sản cần đặt lên hàng đầu và cần phải có điều chỉnh kịp thời nếu như họ không muốn gián tiếp giết chết đồng loại của mình.

Cách xử lý của người chế biến và bán hải sản ra sao?

Một người không muốn nêu tên, từng là nhà buôn các loại hải sản ở miền Trung Việt Nam chia sẻ: “Cái người Việt Nam mình bây giờ chịu cảnh chết chậm, bởi con cá nó mới nhiễm độc, nó chưa chết thì mình đánh lưới về ăn. Biển độc vài chục năm mà mới có một năm thì làm sao mà hết độc. Con cá nó đánh về thì mình mua ăn chứ thực ra nói không độc là không đúng… Chính quyền nói là hết độc nhưng chính quyền nói thì làm sao mình tin được! Người mình dù sao cũng thành dân nhược tiểu rồi, cứ ăn từ từ rồi ngấm từ từ, đến khi đổ bệnh chết thì cứ nghĩ mình bị bệnh khác chết chứ đâu có nghĩ là mình bị nhiễm độc”.
Người này chia sẻ thêm là hiện nay, hầu như vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm của các loại hải sản hoàn toàn không có. Nếu may mắn lắm thì các cơ sở sản xuất có sự quản lý của ngành vệ sinh an toàn thực phẩm và hơn hết là cơ sở đó có nhiều người lao động, xuất hàng cho nước ngoài mới hi vọng đảm bảo khâu vệ sinh, an toàn thực phẩm. Còn lại, hầu như người Việt nói chung và chiếm số đông là ít quan tâm đến vệ sinh an toàn thực phẩm. Chuyện ruồi nhặng bâu vào thực phẩm, ướp lạnh quá lâu, để bị hôi thối rồi dùng chất hóa học tẩy là chuyện rất bình thường của các cơ sở chế biến thực phẩm nói chung và hải sản nói riêng.
Đặc biệt, khi mà cơn gió thị trường nặng mùi Trung Quốc kéo qua Việt Nam thì mọi chuyện trở nên đảo lộn. Người này đưa ra nhận xét trên và giải thích thêm là bởi hầu hết từ nông dân cho đến ngư dân, thương nhân Việt Nam khi bước vào sới đấu với dòng hàng hóa từ Trung Quốc đều phải chấp nhận một luật chơi chung, đó là giá cực rẻ, màu mè cực bắt mắt và vệ sinh hay chất lượng thì có các loại hóa chất hỗ trợ. Muốn có mùi thơm thì dùng hóa chất, muốn ngọt, ngon thì dùng đường hóa học, muốn sạch thì dùng thuốc tẩy, cứ như vậy mà sản xuất, mua bán…
Phơi rong biển trên đường lộ. RFA photo
Với kinh nghiệm buôn hàng hải sản lâu năm và từng tận mắt chứng kiến các loại cá để ruồi nhặng bâu đen đúa trước khi xay thành chả cá, người này khẳng định hầu hết các loại chả cá trên thị trường đều không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Và người này chua chát nói thêm là hình như cái bao tử của số đông người Việt đã quen chịu đựng với tất cả các loại thực phẩm nguy hiểm nên dường như ít thấy người nào bị ngộ độc vì chả cá, mà có khi ngộ độc rồi cũng không biết mình ngộ độc vì thứ gì.
Đó mới chỉ riêng chả cá, món phổ thông, dễ xài nhất Việt Nam, hiện tại, vấn đề an toàn vệ sinh cho cây rong biển cũng đáng bàn, đặc biệt là ở huyện đảo Lý Sơn, khu du lịch được cho là còn nguyên sơ và an toàn về môi trường biển. Hầu như các điểm thu gom và xử lý rong biển đều có vấn đề. Điều này chúng tôi từng chứng kiến một người đàn ông đi nhặt rong biển, tập trung vào một chỗ bên cạnh đống rác, sau đó mang về nhà phơi trên đường bê tông, xe cộ qua lại cán lên hàng trăm bận tạo thành một bánh rong biển mỏng dính. Khi lấy rong trở về, người ta phải dùng xẻng nạo từng mảng và rửa qua nước lạnh, sau đó xử lý bằng hóa chất tẩy trắng tinh, và phơi khô một lần nữa bán ra thị trường.
Lý giải cho việc phơi dưới đường bê tông để xe cán qua lại rồi mới tẩy trắng thay vì rửa sạch rồi phơi ngay từ đầu, một người chuyên cung cấp rong biển, không muốn nêu tên, nói rằng nếu để nguyên rong biển mà không chần qua bánh xe khi phơi thì hàm lượng mùi gây tanh và màu đen không thể nhả ra khỏi thân rong, người ta buộc phải mượn bánh xe và nhiệt độ của đường bê tông để làm cho rong vừa khô vừa vỡ những gì có màu đen, sau đó mới tẩy được, mới có loại rong biển trắng tinh, mới cạnh tranh nổi với các loại rong biển nhập từ Trung Quốc.
Lại thêm chuyện vì cạnh tranh với Trung Quốc! Và có vẻ như người làm rong biển rất hồn nhiên trong chuyện xử lý trắng cây rong, họ cũng không hay biết chất mà họ đang dùng tẩy rong là chất độc hại.

Độc từ biển

Đi thu nhặt rong biển ven bờ ở Lý Sơn, Quảng Ngãi. RFA photo
Chuyện độc từ biển thì có vẻ như ai cũng biết, nhưng nếu nói rằng những món gỏi rong biển quen thuộc ở các làng du lịch trong bữa cơm trưa, cơm tối đều có thể là những thứ độc hại thì ai cũng ngạc nhiên. Nhưng có một sự thật là hầu hết rong biển đều có vấn đề bởi cho đến thời điểm hiện tại, ít có ai dám khẳng định rong biển được lấy từ nguồn nước sạch, từ vị trí biển không nhiễm độc.
Ông Một, ngư dân ở Quảng Ngãi, chia sẻ: “Làm răng nó đủ an toàn được, vì cống xả Formosa thì nó xả thẳng ra biển mà, Nhật 30 năm sau nó còn vớt cá bỏ, mình mới một năm thì làm sao hết độc? Riêng cây rong biển thì không bao giờ hết độc, bởi các ống xả thành phố đều đưa ra sông, biển, mà rong và biển là loại hấp thụ chất bẩn nhanh nhất, cây rong biển phơi khô trên mặt đường rồi sau đó đem xử lý hóa học thì không thể nói là sạch được, an toàn được. Rau trồng thì đất mình cũng nhiễm độc, các loại phân bón hóa học và thuốc trừ sâu đều nhiễm vào đất và đất của mình thì nhiễm kim loại hết. Nói chung thì khó mà có cây rau sạch được. Nhật họ qua Việt Nam thuê đất trồng rau ở Lâm Đồng cũng phải xử lý đất cho sạch rồi mới dám trồng. Chỉ có người Việt Nam là sống trên những nơi gần cống rãnh, môi trường ô nhiễm vẫn thấy vui vẻ hạnh phúc thôi…!”.
Ông Một cho biết thời gian biển miền Trung bị nhiễm độc, ngoài các loài tôm, cá, mực, cua, ghẹ… bị chết, rong biển cũng chết hàng loạt và tự đứt gốc trôi nổi trên mặt biển. Dòng hải lưu và hướng gió mùa khô chuyển từ Bắc vào Nam, rong biển cũng trôi nổi theo chiều này, thường thì rong biển ở Hà Tĩnh sẽ xuất hiện ở bờ biển Huế và rong biển ở Huế lại trôi nổi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi. Điều này sẽ gây ra ngộ nhận về nguồn gốc rong biển và không ít rong biển từ vùng biển nhiễm độc đang trôi nổi trên thị trường.
Có thể nói rằng hiện tại, vấn đề hải sản nhiễm độc trôi nỗi trên thị trường đang là câu chuyện đau đầu của người Việt Nam, cùng với vấn đề này là thực phẩm không có nguồn gốc rõ ràng, thực phẩm Trung Quốc theo đường tiểu ngạch và các loại thực phẩm, hải sản trong nước được xử lý một cách thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm. Nói cho cùng, chợ và cửa hàng vốn là nơi cung cấp nguồn thực phẩm, lương thực cho con người. Nhưng với tình trạng con người thiếu trách nhiệm trong vệ sinh an toàn thực phẩm như hiện tại, mỗi cái chợ đều trở thành nơi phát tán độc hại và với đà này, khoảng cách giữa chợ và nghĩa địa đang ngày càng thêm xích lại gần hơn!
Nhóm phóng viên RFA tường trình từ Việt Nam

Bệnh vô cảm có từ đâu

Lẽ thường, người ta vô cảm khi người ta không hiểu biết, người ta chán nản và nhất là khi người ta đã mất lòng tin, người ta bất lực, người ta buông xuôi và lúc đó lòng ích kỷ lớn lên. Và bàng quan với sự vô cảm thì cũng là một loại… vô cảm.
Có ý kiến nhận xét bệnh vô cảm hiện nay đã giảm hơn trước chủ yếu biểu hiện trong những chuyện như giúp đỡ người gặp khó khăn, lên án tham nhũng, quan liêu, phê phán các cơ quan và quan chức nhà nước… Còn thì đa số dân ta vẫn vô cảm, hời hợt với những vấn đề lớn, về tương lai của đất nước và không hiểu những điều đó ảnh hưởng đến chính mình và tương lai của con cháu mình. Có ý kiến còn cho rằng bệnh vô cảm ngày nay còn nặng hơn vì vô cảm trước đây còn do không đủ thông tin, không hiểu, không ý thức đầy đủ, còn bây giờ là lảng tránh trách nhiệm, là ích kỷ và cơ hội.

Suy ngẫm, bệnh vô cảm là một đặc điểm tinh thần của chủ nghĩa xã hội. Điều này xem có vẻ là nghịch lý, nhưng đúng là sự thật. Khi cá nhân con người bị thể chế ngang nhiên xâm phạm quyền “tự do sống, mưu cầu hạnh phúc”, tức là làm việc và suy nghĩ theo cách mình muốn, đồng thời thể chế (Đảng Nhà nước) tự giành cho nó quyền đó, thì đương nhiên mối quan hệ nhân văn tự nhiên giữa con người với nhau và với xã hội sẽ biến dạng, mọi người đều trở thành vô cảm.
Trong chủ nghĩa xã hội thị trường giai đoạn đầu thì vô cảm càng phát triển. May mà có internet để con người không bị hoàn toàn biến thành những con chuột mù, hợp tác hoặc cắn nhau theo chỉ lệnh.
Nhớ lại cách đây khoảng gần chục năm, tôi đã viết bài: “Bệnh vô cảm lỗi tại ai?” cho đến nay vẫn còn mang nguyên tính thời sự.
Trong y khoa không có bệnh vô cảm mà chỉ có trạng thái thờ ơ với ngoại cảnh và bệnh lãnh cảm (thường chỉ về tình dục). Theo nghĩa chúng ta dùng hiện nay, thì nên gọi đúng tên là thói vô cảm, để chỉ một lối sống, thói quen dần dần trở thành như một căn “bệnh”.
Ở nước ta hiện nay, bệnh vô cảm gần như trở thành một căn bệnh xã hội có sức lây nhiễm rất cao. Đối tượng mắc bệnh này rất rộng rãi, đủ loại người từ quan chức lãnh đạo đến thường dân, thậm chí bao gồm cả những người có học, hiểu biết rộng, tôn trọng luật pháp tức là những người thuộc loại “tử tế”. Biểu hiện của bệnh vô cảm cũng thật đa dạng. Nhẹ nhất là người mắc bệnh, không biết nói lời “xin lỗi” khi làm sai và “cám ơn” khi được giúp đỡ. Họ tiếc một tràng vỗ tay khi xem xong một tiết mục thể thao, văn nghệ (có lẽ chẳng ở đâu như nước mình tiếng vỗ tay trong khán phòng thường rời rạc và tẻ nhạt đến thế!)
Bệnh vô cảm nặng hơn khi người bệnh quên đi trách nhiệm cứu người, giúp người bị nạn. Chúng ta ai cũng từng chứng kiến cảnh những đám đông trên đường phố khi có vụ tai nạn hoặc va chạm. Người lao vào cứu giúp thì ít, kẻ hiếu kỳ xúm vào xem rồi lặng lẽ bỏ đi thì nhiều! Có kẻ vô cảm đến mức độ dã man, vô lương tâm là lợi dụng cơ hội cướp đoạt tài sản của người bị nạn. Tệ hại hơn nữa, là có kẻ còn lạnh lùng dùng điện thoại di động quay cảnh một người bị xe cán cụt chân, nát thây rồi tung cảnh quay ấy lên mạng.
Người vô cảm thường là nhút nhát, ngại phiền phức, họ không dám tố giác, ngăn chặn kẻ gây ra tội ác. Thậm chí chính họ lại gây ra tội ác một cách vô thức như có trường hợp lái xe ô tô ấn còi inh ỏi khi biết trước đầu xe của mình là hai mẹ con đèo nhau bằng xe đạp, kết cục bi thảm là hai mẹ con bị giật mình hoảng hốt, cháu bé ngã, bị ô tô cán chết! Trong trường hợp này, lái xe đã bị xử phạt, nhưng nếu người lái xe ấy biết cảm thông, chia sẻ nỗi vất vả với mọi người xung quanh cũng đang chịu cảnh kẹt xe thì đâu đến nỗi!
Rồi chuyện đây đó, bác sỹ, y tá chểnh mảng nhiệm vụ, kém trách nhiệm khi cấp cứu làm người bệnh bị chết oan. Ngay cả việc trong lớp học, có các trường hợp thầy giáo cứ giảng bài đại khái cho hết giờ, còn để sức về “dạy thêm”, còn trò thì ngủ gật, nói chuyện riêng, nhắn tin… Ở đây, những thầy và trò ấy đều mắc bệnh vô cảm với nhau mà lẽ ra họ phải là những người cảm thông với nhau nhất.
Một dạng bệnh vô cảm còn biến chứng trong đe dọa những giá trị đạo đức cao cả thiêng liêng nhất của dân tộc “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”. Dư luận đã không ít lần xôn xao, phẫn nộ trước hành động “đánh bài chuồn” của một nhà tài trợ vàng, kim cương gì đó, sau khi đã đăng đàn hứa hẹn “nổ” như pháo, quảng cáo thương hiệu cá nhân mình, công ty mình. Có những người đã vô cảm đến mức lợi dụng các hoạt động từ thiện, cứu trợ nhân đạo để kiếm chác cả tiếng tăm lẫn tiền bạc! Nhưng chính hành động vô cảm, vô trách nhiệm ấy rất đáng xấu hổ.
Suy ngẫm về các loại vô cảm, thì dễ thấy hơn nguyên nhân và giải pháp, ở từng quốc gia, dân tộc, trong từng thời kỳ lịch sử, thậm chí đối với từng người. Có thể nhận diện một số loại vô cảm như: (1) Có vô cảm là một sự đồi bại nhân cách, và có vô cảm là một căn bệnh cần thông cảm và giúp chữa trị. (2) Có vô cảm toàn bộ và toàn diện, kể cả những trường hợp vô cảm với chính bản thân mình, vô cảm với cả thành công và thất bại, với cả niềm vui và nỗi buồn, và có vô cảm từng phần, trong từng lĩnh vực, đối với từng vấn đề. (3) Có sự vô cảm đối với cộng đồng, kể cả đối với vận mệnh của dân tộc, của đất nước. Vô cảm đối với đau thương, bất hạnh của người khác, đi như bóng liền hình với sự đặc biệt nhậy cảm, nhậy cảm đến riết róng, về những chuyện của bản thân, về lợi, danh, quyền, chức của chính mình. (4) Có sự vô cảm rất tỉnh thức, rất phô phang, hãnh diện về sự vô cảm của mình, và có sự vô cảm cố ý hoặc vô tình tiềm ẩn, tự dấu đi, ngấm ngầm tác động. (5) Có sự vô cảm thụ động, dẫn đến phủi tay chẳng làm gì, và có sự vô cảm chủ động, hăm hở truyền bá và thể hiện sự vô cảm bằng những “việc làm vô cảm” gây hại cho cộng đồng, cho người khác.
Xã hội từ lâu đã chứng kiến sự nhậy cảm đẹp đẽ và sự vô cảm tồi tệ của con người, đã chứng kiến sự xấu xa đáng ghê tởm và sự cao thượng đáng tôn thờ của con người. Chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, nền giáo dục quốc gia, truyền thống gia đình, môi trường vi mô của sự sinh sống có ảnh hưởng đến sự vô cảm, nói chung là lớn, nhiều ít đến đâu tùy từng trường hợp, nhưng không sản sinh ra vô cảm, mà chỉ làm cho vô cảm nặng hay nhẹ, đông người mắc phải hay không đông người mắc phải.
Dửng dưng, thờ ơ, vô cảm thường được ghép vào hội chứng “Makeno”! Nếu “mổ xẻ” căn bệnh “vô cảm”, thì đó chính là sản phẩm của sự sa sút của đạo lý xã hội. Mà sa sút đạo lý xã hội lại là biểu hiện của sự đánh mất niềm tin vào công lý, vào chân lý.
Cội nguồn của cái đó là sự nói dối đã trở thành một căn bệnh xã hội, thấm vào từng đường gân thớ thịt của cơ thể xã hội do một giáo điều xơ cứng và tai hại đã chuyển thành kinh nhật tụng và hàng ngày được rao giảng bằng mọi cách có thể đắp vào tai, vào mắt mọi người. Người càng ít có điều kiện nắm bắt thông tin nhiều chiều càng trở thành nạn nhân của mạng lưới tuyên truyền này, như con ruồi mắc vào lưới nhện, càng giãy giụa càng bị thít chặt, đến một lúc trở thành con mồi của một cơ chế chưa tìm thấy lối ra. Đúng hơn là không dám tìm lối ra khi mà “chân trời” vẫn mở ra trước mắt. Ở đây có sự vô cảm của phường “giá áo túi cơm”, có sự vô cảm của người sống trong vỏ ốc [từ dùng của đại văn hào Nga Chekhov], những “trí thức trùm chăn”, sự vô cảm của người thiếu trách nhiệm với xã hội. Nhưng nói chung, đáng sợ nhất là của những người mất niềm tin vào xã hội, chỉ biết “tự cứu lấy mình”, một mệnh đề rất thiển cận đã từng được tụng ca như là một cứu cánh!
Thay cho lời kết: Có nguyên nhân và giải pháp khắc phục vô cảm chung cho một đất nước trong một thời kỳ, cũng có nguyên nhân và giải pháp khắc phục cho từng loại vô cảm, từng người vô cảm. Có nguyên nhân và giải pháp cơ bản, lâu dài khắc phục vô cảm, cũng có nguyên nhân và giải pháp trực tiếp, trước mắt khắc phục vô cảm. Cần nói, viết và làm những điều chung, cũng cần nói, viết và làm những điều riêng.
Bệnh vô cảm, lỗi tại ai? Đã đến lúc phải nghiên cứu một cách nghiêm túc, tìm hiểu cội nguồn, nguyên nhân sâu sa của căn bệnh vô cảm đang có nguy cơ bùng phát và lan truyền rộng rãi ở nước ta. Nếu là căn bệnh xã hội thì nguyên nhân tổng hợp bao gồm các yếu tố mang tính xã hội, kinh tế, văn hóa và chính trị. Các vị lãnh tụ cách mạng, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng: “Chúng ta không sợ kẻ thù nói xấu, chỉ sợ tự mình bôi xấu mình mà thôi!”.
Nói thẳng, nói thật, nói trên tinh thần khoa học và xây dựng về những căn bệnh xã hội đang có ở nước ta như bệnh vô cảm là điều rất cần làm để lành mạnh hóa một xã hội đã tự nêu ra cho mình những tiêu chí văn minh, tiến bộ nhất để mà phấn đấu.Tô Văn Trường

No comments:

Post a Comment