Friday, May 19, 2017

CÁ NGỪ VÂY XANH

Cá ngừ vây xanh và Nhật bản:  Cá lớn – Giá cao – Quota – Đề nghị lệnh cấm – Trữ lượng – Nuôi cá ngừ vây xanh
Trong loạt bài này:
1.Cá ngừ vây xanh và Nhật bản.
2.
3.Lịch sử ngành nuôi cá ngừ vây xanh.
4.Những chi tiết về nuôi cá ngừ vây xanh.
5.Nuôi cá ngừ vây xanh với cá tự nhiên.
6.Nuôi cá ngừ ở Úc
7.Cá ngừ Chikuyo
8.Đánh bắt cá ngừ vây xanh
9.Đánh bắt cá ngừ vây xanh ở Eo biển Tsugaru
10.Sự suy giản của cá ngừ vây xanh
11.Quota cá ngừ vây xanh
12.Hạn chế cá ngừ vây xanh
13.Hạn chế cá ngừ vây xanh Địa trung hải
14.Đề nghị lệnh cấm cá ngừ vây xanh
15.Trữ lượng cá ngừ vây xanh
16.Mua cá ngừ vây xanh
17.Bán cá ngừ vây xanh ở Nhật bản
Cá ngừ vây xanh và Nhật bản.
Hơn 80% sản lượng cá ngừ vây xanh toàn cầu của thế giới được tiêu thụ ở Nhật bản. Nhập khẩu cá ngừ vây xanh tăng từ 340 tấn vào năm 1970 tới hơn 20.000 tấn vào năm 2008, với việc các công ty thương mại Nhật bản thường mua toàn bộ sản lượng đánh bắt của tàu. Tiêu thụ đạt tới 44.000 tấn vào năm 2006 trong đó sản xuất nội địa đạt ít hơn 15.000 tấn. Nhật bản tiêu thụ 25% sản lượng đánh bắt thế giới tính cho tất cả các loài cá ngừ. Không có gì ngạc nhiên khi Nhật bản là nước tiêu thụ cá ngừ lớn nhất thế giới. Họ nhập 36,989 tấn cá ngừ vào năm 2005.
Có khoảng 1.200 tàu cá tham gia đánh bắt cá ngừ bằng vàng câu trên khắp thế giới. 90% của những tàu này là từ Nhật bản, Trung hoa, Nam Hàn và Đài loan. Những tàu này thường ở biển trong khoảng 1 năm, chỉ tiến hành đánh bắt một số lần trong thời gian đó.
Vào tháng một năm 2009, chính phủ Nhật bản nói các đoàn tàu câu vàng của họ sẽ được cắt giảm 10% – 20% nhằm đáp ứng sự hạn chế đánh bắt cá ngừ cao hơn của quốc tế. Số lượng tàu đánh bắt biển sâu sẽ giảm từ 390 tới giữa 310 và 380 tàu. Số lượng tàu gần bờ cũng giảm từ 349 đến từ 300 hay 310 tàu. Sự việc này có thể làm mất 1.000 việc làm và nâng giá cá ngừ.
Vào tháng một năm 2011, một con cá ngừ vây xanh nặng 342 kg được bán tại chợ Tsukiji với giá kỷ lục 360.000 USD. Nó được bắt ở Toi, Hokkaido và đạt được giá cao vì chất lượng và độ tươi và sự việc sản lượng đánh bắt vào năm mới thấp do thời tiết xấu (538 cá ngừ vây xanh được bán đấu giá, ít hơn 33 con so với một năm trước đó). Con cá kỷ lục được mua chung bỡi Kyubei, một nhà hàng sushi nổi tiếng ở Ginza, và Itamae, một chuỗi nhà hàng ở Nhật và Hong Kong.
Vào tháng bảy năm 2010, con cá ngừ vây xanh lớn nhất bắt được từ năm 1986 được bán tại chợ Tsukiji. Con cá nặng 445 kg, được cân sau khi đã được bỏ nội tạng và làm sạch, được bắt ngoài khơi Nagasaki ở Nhật. Nó được đấu giá 3,2 triệu yên (7.200 yên/ kg). Con cá lớn nhất được bán ở Tsukiji là 496 kg bắt được vào tháng tư năm 1986. Con cá ngừ vây xanh lớn nhất từng bắt được là từ Canada nặng 497 kg vào năm 1995.
Nuôi cá ngừ vây xanh từ trứng ở Nhật bản
Người Nhật đang tiến hành nuôi thử nghiệm cá ngừ vây xanh bằng những trại kín khổng lồ ở đại dương. Các nhà nghiên cứu từ Trường đại học Kinki đang nuôi cá ngừ vây xanh trong các lồng hình tròn, rộng khoảng 70 mét, ở ngoài khơi Kushimoticho, Wakayama. Sau khi cá đạt độ dài 1 mét và nặng 30 kg và hàm lượng dầu của chúng đủ cao, chúng được bán thương mại ra thị trường. Một số đạt tới 350 kg. Cá ngừ được nuôi bằng mực và cá thu.
Vào năm 2009, các nhà nghiên cứu của Trường đại học Kinki đã cho nở 190.000 trứng cá ngừ vây xanh, trong đó 40.000 trứng nở thành cá con. Con số này rất ấn tượng nhưng tính ra chỉ 0.5% trứng sống sót. Khoảng 60 tấn thịt cá ngừ vây xanh được sản xuất. Được gắn nhãn Kindai maguro (Cá ngừ Trường đại học Kinki), nó có hàm lượng dầu cao hơn cá đánh bắt từ thiên nhiên.
Vào tháng sáu năm 2002, một nhóm thuộc Phòng thực nghiệm Thủy sản, Trường đại học Kinki do Giáo sư Hidemi Kumai dẫn đầu, trở thành những người đầu tiên nuôi nhân tạo cá ngừ vây xanh từ trứng cá ngừ. Hơn 5.000 trứng được sản xuất từ 6 con cá ngừ bảy năm tuổi và 14 con sáu năm tuổi, tất cả đều được sinh ra và nuôi trong lồng. Khoảng 160 con cá ngừ vây xanh nở vào năm 2002 vẫn còn sống vào năm 2006. Trung bình, chúng dài khoảng 1,2 mét và nặng 70 kg.
Các nhà nghiên cứu của trường Kinki cũng đã thành công trong việc nuôi kelp grouper và burhura, một loài cá lai tạo bỡi cá cam Nhật bản và cá cam sọc vàng. Phòng thí nghiệm này hy vọng bán trị giá 2 tỷ yên một năm từ cá do họ sản xuất. Họ bán cá con cho các nhà nuôi cá và cá tươi được chào mời là cá an toàn và chất lượng cao. Trường này nuôi thành công hơn 20 loài cá, bao gồm cá tráp đỏ, cá bơn halibut, cá rock progy và cá cam từ cuối những năm 1960.
Lịch sử ngành nuôi cá ngừ vây xanh.
Một nhóm thuộc trường đại học Kinki có thể cho cá ngừ đẻ trứng vào năm 1979 nhưng tất cả trứng và cá con đã chết trong vòng vài tuần. Khi cá ngừ đẻ trứng vài lần nữa vào năm 1980 và năm 1982 , cá con được giữ sống tời 57 ngày. Cá không được cho đẻ nữa cho đến năm 1994, sau đó tiến hành năm lần trong khoảng 1994 – 2001.
Trong khi đó, các nhà khoa học đã biết được cá con lớn là những con nhỏ hơn và điều này dẫn đến sự phân loại cá con theo kích cỡ. Vào năm 2004, có 1.800 cá con hai tới ba tháng được thả vào lồng nuôi. Nhưng một tháng sau, tất cả, ngoại trừ 40 con, đã chết. Một con sống được 246 ngày và đạt kích cỡ 1,3 kg. Nhóm này kết luận rằng cá chết là do lồng quá nhỏ, và thay thế lồng rộng sáu mét vuông bằng lồng hình bác giác rộng 12 mét làm từ sợi tổng hợp. Tỷ lệ sống một tháng tăng lên từ 16,4% vào năm 1995 tới 24.9% vào năm 1996.
Vì cá nhỏ có thể bơi rất nhanh nhưng không xoay trở tốt nên chúng thường va vào lưới của lồng cho tới khi chúng dài 25 cm. Năm 1998 nhóm đã phát triển lồng hình tròn sâu 6 mét và đường kính 30 mét. Trong lồng này, tỷ lệ sống một tháng là 55,7%.  Khoảng 400 con sống trong lồng trong hơn 2 năm. Nhóm này cũng phát hiện cá ngừ rất nhạy cảm với ánh sáng và tiếng ồn và phản ứng rất tiêu cực với sự có mặt của những chiếc xe hơi đi đến gần lồng.
Clean Seas Tuna, một công ty ở cảng Lincoln, Úc, đã đầu tư mười triệu đô la để cho cá ngừ đẻ trong bể trên bờ tại một làng cạnh vịnh Arno, 120 km phía bắc cảng Lincoln. Tại đó, cá ngừ vây xanh lớn được giữ trong một cái bể khổng lồ, được cung cấp các điều kiện môi trường để chúng nghĩ rằng chúng đã ra đến vùng sinh sản bằng cách giả dòng nước đại dương, tăng nhiệt độ nước trong bể và ánh sáng. Vào tháng 3 năm 2008, công ty công bố những đột phá: thu được mẻ trứng đầu tiên từ 20 con cá ngừ nặng khoảng 160 kg.
Clean Seas Tuna đã sinh sản cá ngừ vây xanh nhiều lần và sản xuất được cá con nhưng vẫn còn đang tìm ra cách cho ăn và chăm sóc cá con. Nhiều nhà đầu tư hoài nghi việc công ty Clean Seas có khả năng đạt được mục tiêu nuôi nhốt cá ngừ vây xanh và nói dù rằng họ có thành công thì chi phí cũng quá lớn không thể có lợi nhuận. Cá chỉ̉ phát triển thêm một ký một tháng. Một điều hấp dẫn với Clean Seas là công ty có thể bán cá ngừ vây xanh mà không phải chịu quota hạn chế. Công ty hy vọng bán 5.000 tấn một năm, lần bán đầu tiên là vào năm 2009.
Vào tháng chín năm 2009, các nhà nghiên cứu ở Phòng thực nghiệm Thủy sản thuộc Đại học Kinki, ở Shirahama Wakayama và Công ty Clean Seas có cơ sở ở Úc công bố họ đã thành công trong việc cho đẻ cá ngừ vây xanh phương nam và sản xuất cá con, một bước có thể mở ra phương pháp nuôi thương mại cá ngừ vây xanh.
By Jeffrey Hays
Chi tiết nuôi cá ngừ vây xanh
Các nhà nghiên cứu tại Trường đại học Kinki tiên đoán Nhật bản sẽ có khả năng sản xuất 100% nhu cầu cá ngừ vây xanh tiêu thụ nội địa với cá nuôi từ trứng hơn là đánh bắt trong tự nhiên. Trong quá trình này:
1/ Trứng có đường kính 1 mm được thụ tinh
2/ Sau 35 giờ cá 3 mm được cho nở nhân tạo và cho ăn bằng sinh vật phù du trong 15 đến 20 ngày.
3/ Cá con dài từ 3 – 5 mm ăn các loài cá con mới cho nở trong 2 – 3 tháng
4/ Cá con dài 20 – 30 cm ăn thức ăn chế biến trong hơn 4 năm
5/ Cá trưởng thành là cá dài 1 mét – 1,5 mét.
Lồng nuôi cần độ sâu ít nhất 10 mét và đường kính 30 mét để cá không va chạm vào lưới. Lồng cần cách xa những hoạt động của con người vì cá dễ dàng bị hoảng loạn bỡi ánh sáng xe hơi hay tiếng ồn từ pháo hoa, khi một số cá bị thương từ việc tung vào lưới với tốc độ cao. Cá cũng rất dễ bị tổn thương với điều kiện nước xấu tạo ta bỡi những cơn bão. Chiếu sáng vào ban đêm được dùng để làm cho cá nhỏ quen với ánh sáng.
Cá ngừ vây xanh được cho là rất khó nuôi vì sự nhạy cảm của chúng với các điều kiện khi đẻ trứng. Cá không đẻ trứng khi nhiệt độ thấp hơn 26 độ C hoặc có quá nhiều gió hay mưa. Ngay cả khi trứng nở, cơ hội để chúng trở thành cá con dài 6 cm chỉ là 3%. Chỉ có 0,1% cơ hội cá có thể đạt tới kích thước bán được và được bán ra thị trường. Ngay cả khi cá trưởng thành, nhiều con thường bị chết vì hoảng loạn và đâm vào lưới hoặc một bên của nơi nuôi nhốt.
Cá ngừ vây xanh nuôi thường có hàm lượng dầu cao hơn cá tự nhiên. Chi phí chủ yếu của việc nuôi cá ngừ vây xanh là cho phí thức ăn. Một con cá dài 1 mét cần 15 kg cá sống để tăng 1 kg dầu, cần khoảng 1,5 – 2 tấn mực và cá thu để sản xuất 100 kg cá ngừ vây xanh. Các nhà khoa học hiện đang phát triển một loại thức ăn ít đắt đỏ hơn. Một trở ngại chính là làm sao chế biến ra một loại thức ăn cho cá không ảnh hưởng đến mùi vị của cá ngừ vì những gì cá ăn ảnh hưởng rất lớn đến mùi vị của thịt cá.
Giáo sư Kumai, người trải qua hơn 50 năm nghiên cứu cá ngừ vây xanh, nói với Yomiuri Shimbun: “ Có khả năng đáp ứng nhu cầu thế giới bằng cá nuôi. Trong tương lai, chúng tôi muốn thả cá nuôi trong lồng vào đại dương. Chúng tôi muốn thấy Kindau maguro bơi khắp địa cầu”.
Trại nuôi cá ngừ vây xanh với cá tự nhiên.
Trại nuôi cá ngừ vây xanh là những nơi cá được vây lại ở đại dương, được nuôi và nhốt trong các lồng khổng lồ dưới nước và được vỗ béo bằng cá sardine và cá ngừ trong khoảng thời gian từ vài tháng đến một năm.
Kỹ thuật này, vốn thật sự giống vỗ béo hơn là nuôi, là một cuộc cách mạng trong ngành công nghiệp cá ngừ vây xanh. Người nuôi vớt những đàn cá cá ngừ sinh sản và chuyển chúng vào những lồng rộng 50 mét và trở lại khu vực sinh sản bắt tất cả những con cá mà họ có thể bắt được. Thực tế này do vậy đặc biệt nguy hiểm tới trữ lượng đàn cá vì nó bắt một số lượng lớn cá tại nơi mà chúng tới sinh sản. Không chỉ là một số lượng lớn cá bị bắt, chúng cũng được dùng để sản xuất cá con.
Khoảng 20% cá ngừ vây xanh tiêu thụ ở Nhật là được nuôi từ cá tự nhiên. Khoảng 400.000 cá ngừ vây xanh đang được nuôi ở các trại cá vào năm 2010. Sojitz xuất khẩu cá ngừ nuôi từ Nhật bản vào Trung hoa.
Vì cá ngừ vây xanh bơi rất nhanh và quen với việc di cư quãng đường xa, chúng khó nuôi nhốt trong các lồng nhỏ. Lớp da mỏng có thể dễ bị nguy hiểm nếu bị đụng chạm bỡi bàn tay người và nếu đụng chạm nhiều có thể gây chết cá.
Nuôi cá ngừ vây xanh rất thông thường ở vùng Địa trung hải. thực tế này bắt đầu tại đó ở Croatia vào năm 1996 và sau đó là tại Ý, Tây ban nha và Thổ nhĩ kỳ. Ở Địa trung hải, cá ngừ vây xanh được bắt tại vùng sinh sản của chúng ngoài khơi Li-by. Chúng được vận chuyển xuống các lồng hộp dưới nước và được vỗ béo bằng bột cá, cá sardine, cá thu và mực, tới hai năm, để tăng lượng thịt nhiều dầu có giá trị ở thị trường Nhật bản. Theo báo cáo của WWF, ngành nuôi cá ngừ chịu trách nhiệm về việc tàn phá trữ lượng cá ngừ ở vùng Địa trung hải vì quá nhiều cá sinh sản bị bắt giữ. Các hãng Nhật bản sở hữu một phần đáng kể ngành công nghiệp nuôi cá ngừ vây xanh ở Địa trung hải.
Nuôi cá ngừ ở Úc
Nuôi cá ngừ vây xanh ở Úc bắt đầu vào những năm 1980 khi bị hạn chế bằng hạn ngạch đánh bắt và giá cá thấp đe dọa phá sản một số nhà hoạt động đánh bắt cá. Các ngư dân ở đó đã tìm ra cách vượt qua hạn ngạch và gia tăng lợi nhuận.
Các ngư dân Úc hoạt động theo hệ thống hạn ngạch hàng năm. Sau khi đánh bắt quá mức làm hủy hoại ngành đánh bắt cá ngừ vào những năm 1980, các ngư dân được yêu cầu có quota ưu đãi cá nhân cho họ quyền đánh bắt một số lượng cá nhất định hàng năm. Hệ thống quota rất quan trọng đối với các ngư dân. Các ngư dân từng thu được 600 đô la một tấn cá bán cho ngành đóng hộp bắt đầu kiếm được hơn 1.000 đô la một con cá, khi bán chúng cho những người mua ở thị trường Nhật bản. Quota rất đắt tiền. Chúng được mua và bán như những cổ phiếu.
Cá ngừ vây xanh nuôi ở Úc được bắt bằng lưới trong vòng 2 tuần vây cá và kéo từ từ tới các lồng nổi gần bờ. cá được nuôi và thu hoạch khi giá cao ở thị trường Tokyo. Cá được vỗ béo bằng cá mòi và cá cơm và được bán khi chúng gấp đôi kích cỡ vào khoảng 32 kg.
Có khoảng 2.000 cá ngừ được nhốt trong một lồng trị giá cỡ 2 triệu đô la. Chúng có giá trị cao nên được canh chừng bằng những người bảo vệ có vũ khí. Vào lúc thu hoạch, cá được đưa nhẹ nhàng vào một chiếc tàu (bất kỳ vết bầm nào cũng hạ giá trị của cá) và được giết chết và đông lạnh flash và đưa vào máy bay nhắm hướngTokyo.
Úc xuất khầu 10.000 tấn cá ngừ vây xanh trị giá 200 triệu đô la. Đa số là từ số lượng cá nuôi. Úc và New Zealand rất quan tâm về khả năng đánh bắt quá mức cá ngừ vây xanh ở Biển Nam bỡi các tàu Nhật bản.
Cá ngừ Chikuyo
Cá ngừ được nuôi ở các trại cá miêu tả như trên gọi là các ngừ chikuyo. Một trong những mục tiêu của quá trình này là làm tăng lượng dầu trong thân cá. Hàm lượng dầu cao cũng có nghĩa là tới 70% thịt cá được bán là thịt toro béo giá cao (bình thường chỉ 20% cá có thể bán là toro). Tuy nhiên do thiếu vận động, thịt cá hơi mềm và thiếu mùi vị và cơ thịt không săn chắc.
Phần lớn toro bán ở các quầy sushi là từ cá ngừ chikuyo. Nó bán được nửa giá toro cá ngừ tự nhiên và như thế là giá đã được giảm xuống để những người tiêu thụ bình thường có thể thưởng thức. Sự cung cấp nhiều cũng làm cho giá cá giảm hơn nữa. hiện nay toro chỉ còn ở mức 1.000 yên một ký so với 5.000 yên một ký được bán trong giai đoạn kinh tế bong bóng vào những năm 1980.
Giá cả thấp hơn có nghĩa là toro cá ngừ chất lượng tốt hiện nay có sẵn tại các nhà hàng sushi. Nhật bản nhập khẩu 3.000 tấn cá ngừ chikuyo vào năm 1995 và 35.000 tấn vào năm 2005.
Cá ngừ chikuyo đặc biệt nhiều dầu. Khi lần đầu tiên bắt gặp cá này tại một nhà hàng sushi, một đầu bếp đã nói với Yomiuri Shimbun: cá ngừ này giống như một miếng mỡ lớn. Những người thích sushi thực sự nhận thấy mùi vị của nó khác với cá ngừ vây xanh tự nhiên”. Cá có nhiều dầu vì vậy thịt cá mềm hơn do chúng thiếu vận động khi chỉ bơi quanh những chiếc lồng nhỏ trong khi cá tự nhiên bơi trong đại dương rộng lớn.
Ở cá ngừ vây xanh tự nhiên, 30% tới 40% cá ngoại trừ đầu được phân loại là toro. Ở cá ngừ chikuyo, con số tăng lên từ 70% tới 80%.Đánh bắt cá ngừ vây xanh
Ở Nhật bản người ta thường dùng phương pháp dùng cần và dây hoặc câu vàng để đánh bắt cá ngừ vây xanh. Ở Đại tây dương, cá ngừ vây xanh được đánh bắt với máy bay chỉ điểm và phóng lao giết chết cá bằng dòng điện có năng lượng hàng trăm vôn. Những nơi đánh cá như vậy bao gồm biển Địa trung hải, gần Azores và các vùng nước ngoài khơi Boston.
Mùa cá ngừ vây xanh ở Cape Cod bắt đầu vào cuối tháng sáu khi cá di cư tới bắc Đại tây dương. Chi phí máy bay thường chiếm 25% tổng số tiền bán cá. Lao điện thường được dùng để giết cá vì các phương pháp dùng dây câu sẽ làm cá vùng vẫy trong thời gian dài, điều này sẽ làm nhiệt độ cá và tạo ra mùi vị không tốt gọi là ya-ke.
Ngay sau khi bị bắt và đưa lên tàu, cá ngừ vây xanh được bỏ nội tạng, đông lạnh ở -760F và đặt trong các thùng chứa giống cỗ quan tài được được xếp đầy đá và được chuyển ngay sau đó bằng đường hàng không tới Nhật bản. Ngay cả cá đánh bắt bỡi những người câu cá thể thao cũng có điểm đến là Nhật bản. Những nhà buôn cá sỉ ở Nhật bản liên lạc thường xuyên với những bến tàu đánh cá thể thao ở Miami và những nơi khác.
Tại các cảng nơi cá ngừ vây xanh được đánh bắt, “kỹ thuật cá ngừ” từ chợ cá Tsukiji đã hướng dẫn ngư dân Mỹ về kata của cá ngừ, hoặc hình dạng lý tưởng, và những điều cần biết về màu sắc, cơ thịt, hàm lượng cá và hình dạng cơ thể cá.
Đánh bắt cá ngừ ở Eo biển Tsugaru.
Vùng đánh bắt cá ngừ tốt nhất ở Nhật bản được nói là ở Eo biển Tsugaru ngoài khơi Omamachi ở tỉnh Aomori phía bắc Honshu. Cá ngừ vây xanh từ cảng Omamachi được gọi là Oma Maguro. Chúng bán được giá cao gấp đôi cá tại các cảng khác.
Cá tốt nhất ở Tsugaru được bắt vào mùa đông khi vùng nước trong eo biển có nhiều cá nhỏ cho cá ngừ ăn và nhiều con cá ngừ có trọng lượng trên 300 kg.
Cá ngừ vây xanh đặc biệt có giá trị tại thời điểm đó vì cá có nhiều dầu và cá ở những nơi khác có khuynh hướng suy giảm trong mùa đông. Các ngư dân mạo hiểm ra biển trong mùa biển động để đánh bắt cá ngừ. Một số mất ngón tay do bị cá cắn trong khi cố kéo những con cá lớn. Một ngư dân đã nói với tờ báo Yomiuri Shimbun: “trong mùa đông, tôi đánh cá ngay cả khi gió thổi 70 km/h vì nó rất đáng được mạo hiểm”.
Có sự xung đột giữa những người dùng kỹ thuật cần và dây và người dùng câu vàng. Những năm gần đây, vì giá cá tăng và chi phí đánh bắt cá cũng tăng, những người câu vàng đã xâm phạm vùng đánh bắt dành cho người dùng cần và dây. Câu vàng có chiều dài dây chính tới 3 km. Không chỉ những người bảo vệ phản đối, những ngư dân khác cũng không thích vì vàng câu tạo ra hỗn độn do bị vướng ở vùng đánh cá nổi tiếng.
Hình phạt tù một năm và 500.000 yên vì tái phạm không ngăn cản nổi những ngư dân câu vàng. Đã có trường hợp tàu câu vàng bị rượt đuổi và bao vây bỡi những người câu cần và dây, dây dài bị cắt đứt.
Vào tháng giêng năm 2010, một con cá ngừ nặng 232,6 kg được bán ở chợ Tsukiji với giá 16,28 triệu yên (175.000 USD) hoặc 70.000 yên/kg. Cá này được bắt ở Omamachi, tỉnh Aomori.
Sự suy giảm, quota và giá cả cá ngừ vây xanh
Một số tính toán đánh giá trữ lượng cá ngừ vây xanh đã giảm 80%. Số lượng cá ngừ vây xanh đại tây dương sinh sản được nghĩ là giảm xuống từ 250.000 con vào năm 1970 còn 100.000 con trong những năm gần đây.
Sự suy giảm này được cho là một phần do các tàu dùng lưới cuộn tròn đánh bắt một số lượng đáng kể cá ngừ trong một lần đánh bắt. Tổ chức Hòa bình xanh và các tổ chức quốc tế khác thường xuyên chỉ trích ngành thương mại cá ngừ vây xanh và các nhà hàng sushi ở Châu Âu không bảo vệ cá.
Lúc trước, có rất nhiều cá ngừ vây xanh đông lạnh được bán đấu giá tại chợ cá Tsukiji và chúng được xếp chồng lên nhau. Nó không còn tồn tại nữa. Một người buôn cá sỉ nói với phóng viên tờ Washington Post: “Chúng tôi quản lý ngành đánh bắt cá ngừ vây xanh quá lỏng lẻo. Hiện nay chúng tôi cần chi1ng sách cứng rắn hơn nhiều để chứng tỏ với thế giới chúng tôi có thể tự kiểm soát. Thay vì ăn cá ngừ hai lần một tuần, người Nhật đang thực hiện việc ăn hai lần một tháng. Chúng tôi phải chia xẻ những gì chúng tôi có. Nếu chúng tôi làm điều đó, tôi không nghĩ cá ngừ vây xanh tuyệt chủng”.
Quota cá ngừ vây xanh
Bất kỳ khi nào nói đến sự thiếu hụt hoặc đánh bắt quá mức cá ngừ vây xanh, những con mắt chắc chắn đều hướng về Nhật bản. Quota đánh bắt cá ngừ vây xanh vào cuối những năm 2000 là 23.900 tấn cho cá ngừ vây xanh Đại tây dương trong năm 2009, quota 24.900 tấn cho cá ngừ vây xanh Thái bình dương trong năm 2008 và 11.800 tấn cho cá ngừ vây xanh phương nam năm 2009.
Năm cơ quan kiểm soát nghề cá khu vực kiểm soát (hoặc ít ra là cố kiểm soát) đánh bắt cá ngừ vây xanh của thế giới. ICCAT chịu trách nhiệm kiểm soát ở Đại tây dương và Địa trung hải. Quota của ICCAT là 13.500 tấn trong năm 2010, giảm từ 20,000 tấn của năm 2009.
Quota cá ngừ vây xanh phương nam của Nhật bản là 6.000 tấn trong năm 2006. Theo một nhóm gọi là Ủy ban Bảo vệ Cá ngừ Vây xanh Phương nam (CCSBT), Nhật bản đánh bắt gấp hai lần số lượng cá ngừ vây xanh phương nam được phép đánh bắt giữa năm 2003 và 2005. Các ngư dân Nhật bản nói rằng họ chỉ đánh bắt vượt mức 6.000 tấn một năm nhưng dựa trên số lượng cá được bán, CCSBT tính toán rằng từ 10.000 tấn tới 16.000 tấn thực sự đã bị đánh bắt.
Hình phạt cho việc đánh bắt quá mức là CCSBT cắt giảm một nửa quota của Nhật xuống còn 3.000 tấn. Cơ quan quản lý nghề cá Nhật bản đã thừa nhận cá ngừ vây xanh bị đánh bắt quá mức và đồng ý quota 3.000 tấn trong vòng 5 năm bắt đầu từ năm 2007. Có những lo lắng sự việc này sẽ làm tăng giá.
Quota cá ngừ vây xanh Đại tây dương của Nhật bản chỉ bằng một phần tư so với trước kia. Tháng 11/2006, Nhật bản đã thực hiện một bước bất thường là tự nguyện cắt giảm quota cá ngừ Đại tây dương một phần để đối phó với nhiều sự cắt giảm nhập khẩu nghiêm khắc hơn.
Việc cắt giảm và quota không được xem là ảnh hưởng nguồn cung cấp hoặc giá cả cá ngừ vì nhiều người hy vọng chúng sẽ dẫn tới việc đánh bắt cá có trách nhiệm hơn. Giá cá ngừ vây xanh tăng thêm 20% ở Tokyo vào năm 2007. Trong nhiều trường hợp, các nhà hàng sushi đã không áp đặt chi phí này và chịu lỗ khi khách hàng của họ ăn quá nhiều sushi cá ngừ vây xanh. Giá cao đã làm cho cá ngừ vây xanh tiêu thụ ở các gia đình Nhật giảm 20%.
Hạn chế đánh bắt cá ngừ vây xanh
Sản lượng đánh bắt cá ngừ vây xanh bị cắt giảm xuống 39% trong năm 2010 so với năm trước đó còn 11.500 tấn và sản lượng đánh bắt của Nhật bản giảm còn 1.148 tấn.Trong năm 2010:
1/ Mức đánh bắt tối đa quốc tế cá ngừ vây xanh Thái bình dương có hiệu lực bằng mức đánh bắt vào năm 2002 – 2003.
2/ Quota đánh bắt với cá ngừ mắt to giảm xuống 30% trong 3 năm
3/ Các quy định đánh bắt cá ở Đại tây dương dường như được thắt chặt hơn. Tại chợ cá ngừ vây xanh, chỉ khoảng 1% cá được bán là cá đánh bắt từ biển. Phần còn lại là cá nuôi.Vào tháng 11 năm 2009, có lời đồn sẽ thiếu hụt cá ngừ vây xanh trong mùa nghỉ lễ và vì vậy giá cá tăng đột biến. Chính phủ phải ra tuyên bố bác bỏ tin đồn và các nhà cung cấp đã dự trữ đủ hàng.
Tại phiên bán đấu giá đầu tiên ở chợ Tsukiji vào năm 2010, số lượng cá bán giảm 20% so với năm trước đó. Một người bán sỉ nói với Yomiuri Shimbun: “Từ phiên đấu giá đầu năm, ít cá ngừ được đưa ra đấu giá, Giá tăng 20% so với năm ngoái. Tôi hy vọng đó không phải là dấu hiệu xấu”. Một viến chức trong một tổ chức cá ngừ nói: “Nếu sản lượng đánh bắt và tồn kho giảm, và nền kinh tế hồi phục, giá cá sẽ tăng”.
Hạn chế cá ngừ vây xanh Địa trung hải
Ủy ban bảo vệ cá ngừ Đại tây dương (ICCAT) kêu gọi cắt giảm 38,6 % sản lượng đánh bắt cá ngừ Đại tây dương trong năm 2010, mức giảm thấp nhất từ trước đến nay.
Trị giá cá ngừ đánh bắt bất hợp pháp hay không được báo cáo ước tính 4,5 tỷ USD đã xảy ra trong những năm 2000, phần lớn trong số đó được bán ở Nhật bản. ICCAT dự đoán sản lượng đánh bắt gấp đôi sản lượng cho phép. Ví dụ trong năm 2002 giới hạn đánh bắt ở Đại tây dương và Địa trung hải là 32.000 tấn nhưng ICCAT tính toán 50.000 tấn đã thực sự được đánh bắt. Số lượng lớn như vậy được đánh bắt bất hợp pháp vì các quốc gia đánh bắt từ chối đặt ra những tiêu chuẩn và thủ tục nêu lên vấn đề.
Roberto Bregazzi, một nhà phân tích công nghiệp cá ngừ, đã gọi thực tế này là  “ sự trốn thuế không thể dung thứ” và phỏng tính số lượng đánh bắt bất hợp pháp tăng từ 3.569 tấn trong năm 2004 tới 24.297 tấn trong năm 2008. Ông nói với tạp chí nghề cá Interfish: “Nhờ thế hệ mới của kỹ thuật đông lạnh sâu, các nhà buôn cá ngừ tươi và đông lạnh Nhật bản không còn phải đối mặt khẩn cấp với sự phân phối nhanh ở thị trường. Vì thế cá ngừ trở nên một mặt hàng mà người Nhật có thể tiên đoán được”.
Đề nghị lệnh cấm cá ngừ vây xanh
Vào tháng 3 năm 2010, một đề nghị cấm xuất khẩu cá ngừ vây xanh Đại tây dương bằng tuyên bố cá thuộc loài nguy cấp không được chấp thuận tại cuộc họp của Hội đồng 175 nước về giao dịch quốc tế các loài nguy cấp trong hệ động thực vật (CITIES), còn được gọi là Công ước Washington, ở Doha, Quata. Có lúc tưởng chừng đệ trình của Monaco sẽ được thông qua. Nó được ủng hộ bỡi Tổ chức bào tồn của Liên hiệp quốc, Mỹ, Liên minh Châu Âu, Pháp, Ý và một số nước Châu Âu. Trước cuộc bỏ phiếu, giá cá ngừ vây xanh tăng lên 6.500 yên một ký, so với 4.000 yên một vài tháng trước. Cuối cùng chỉ có 20 quốc gia bầu ủng hộ lệnh cấm, trong khi 68 chống, và 30 bỏ phiếu trắng. Phải đủ hai phần ba ủng hộ thì lệnh cấm mới được thông qua.
Đúng là một ý kiến cải lương nếu dùng biện pháp hạn chế thương lại cá ngừ dùng CITIES, phương pháp này được sử dụng để bảo vệ các lòai nguy cấp. Thông thường vấn đề đánh cá được xử lý bỡi các tổ chức bảo vệ nghề cá như Công ước quốc tế bảo tồn cá ngừ Đại tây dương (ICCAT). Những người ủng hộ lệnh cấm cho rằng cá ngừ vây xanh “đang trên bờ vực tuyệt chủng”. Trong số những lập luận chống lại lệnh cấm là nó làm tổn thương những ngư dân ở các nước phát triển và xem cá ngừ vây xanh là loài nguy cấp không được chứng minh bằng khoa học. Cuối cùng nhiều nước chọn chống lại lệnh cấm khi mối quan tâm về kinh tế vượt qua vấn đề bảo tồn.
Những thương nhân thở phào bỡi quyết định này nhưng những người bảo vệ môi trường lo lắng về tương lai của cá ngừ vây xanh và sự ổn định của nghề đánh bắt.
Dự trữ và bán cá ngừ vây xanh
Brehazzi cho rằng 47.000 tấn cá ngừ vây xanh đã được dự trữ ở Nhật bản vào tháng 6 năm 2009 với kỳ vọng ngành đánh bắt cá ngừ đã bị sụt giảm nghiêm trọng để đưa giá cá ngừ vượt trần. Ở Nhật bản, cá ngừ được bảo quản trong thời gian dài trong các kho chứa  nơi nhiệt độ được giữ ở -60 độ C. Việc dự trữ cá ngừ vây xanh trong các kho lạnh ở khắp Nhật bản được cho là đủ cho thời gian một năm đến 18 tháng. Sự dự trữ lớn như vậy làm giảm giá cá ngừ 10% trong năm 2009 trong khi có lời đồn thổi cá ngừ sắp sửa tuyệt chủng.
Cá ngừ vây xanh được bắt ngoài khơi New England được bán tại cảng cho những người mua Nhật bản, những người sẽ đánh giá màu sắc cá , hàm lượng dầu và hình dáng, và cũng trả giá dựa trên giá tại chợ Tsukiji vào ngày đó. Cá mua xong được đóng gói với đá lạnh, vận chuyển tới sân bay và được đưa lên máy bay của hãng Japan Airlines tại sân bay Kenendy ở New York cho chuyến bay 15 giờ tới Tokyo, nơi một con cá có thể bán được 80.000 USD.
Khi diễn tả khung cảnh tại bến tàu ở Bath, Maine, Theodore Betsor viết trong tờ Daily Yomiuri: “Sau 20 phút xem hàng, nhiều người mua trở lại xe tải của họ để gọi về Nhật bản bằng điện thoại cầm tay và hỏi giá cá buổi sáng từ chợ cá Tsukiji ở Tokyo. Người mua chào giá bằng cách viết ra giấy gởi cho quản đốc cảng, ông này chuyển bảng chào giá cao nhất đối với mỗi con cá cho người chủ cá”.
“Mỗi tờ giấy đấu giá bí mật được hồi hộp theo dõi bỡi một nhóm những người trẻ trung. Sau vài phút, phiên đấu giá khép lại và cá nhanh chóng được đưa lên phía sau của xe tải trong các thùng có nước đá xay nhỏ”. Những người đánh cá người Mỹ  thường thu được 10 – 20 đô la một pound cá ngừ vây xanh tại cảng.
Nhập khẩu cá ngừ vây xanh của Nhật bản ở khắp thế giới tăng từ 957 tấn vào năm 1984 tới 5.235 tấn năm 1993. Giá đạt đỉnh năm 1990 ở mức 34 USD một ký khi một con cá nặng 350 pound tiêu chuẩn được bán với giá 10.000 USD. Năm 2008 cá ngừ vây xanh được bán 23 USD một ký. Giá cao hơn chỉ được bán với những con cá có chất lượng thật cao.
Bán cá ngừ vây xanh ở Nhật bản.
Cá ngừ vây xanh trị giá 150.000 USD đã từng được bán ở chợ Tsukiji. Năm 2001, một con cá ngừ vây xanh nặng 202 kg được bắt ở Eo biển Tsugaru gần Omanachi ở Tỉnh Aomori được bán với một giá cao ngất 173.000 USD đạt khoảng 800 USD một ký.
Những năm gần đây, giá cả có giảm xuống. Cá ngừ vây xanh được bán 3.000 yên một ký vào năm 2008, so với 4.500 yên một ký năm 1989.
Ngày càng nhiều cá ngừ vây xanh có sẵn trong một ngày định trước là không đáng tin cậy và người mua dựa vào những kho hàng đông lạnh lớn để chứa vì thế họ không hết hàng. Cá ngừ đông lạnh bằng phương pháp “flash” đặc biệt có thể được bảo quản tới một năm mà không có thay đổi nào được nhận thấy về mùi vị.
Bản tiếng Việt của bienvanguoi.wordpress.com

No comments:

Post a Comment